1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

một số nội dung cơ bản của tư tưởng hồ chí minh về đoàn kết quốc

154 952 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lý luận chính trị
Thể loại Bài viết
Năm xuất bản Chưa rõ
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 154
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam, chiến lược đoàn kết quốc tế là một trong những nhân tố góp phần đưa tới thắng lợi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trên lĩnh vực này, Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người vạch ra đường lối chiến lược đoàn kết quốc tế, Người vừa trực tiếp tham gia những hoạt động thực tiễn- đối nội và đối ngoại- nhằm từng bước kiến tạo và mở rộng mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược. Thực tiễn lịch sử trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ đã kiểm nghiệm trí tuệ Hồ Chí Minh trong việc giương cao ngọn cờ chính nghĩa, thức tỉnh lương tri nhân loại, biến điều này thành một lực lượng thực hiện đoàn kết quốc tế. “Việt Nam- Hồ Chí Minh” đã trở thành ngọn cờ vẫy gọi tăng cường sức mạnh cho phong trào phản chiến của các tầng lớp xã hội Mỹ nói riêng và nhân dân thế giới nói chung, sự hình thành trên thực tế một mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược vì độc lập tự do của dân tộc mình và cũng vì độc lập, tự do hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là nhịp cầu nối gắn kết lực lượng đồng minh chiến lược và các quốc gia láng giềng với cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không ngừng cụ thể hóa chiến lược đoàn kết quốc tế để gánh nặng đè lên vai dân tộc Việt Nam nhẹ bớt khi nhận được tình cảm, tấm lòng của bạn bè khắp năm châu. Bạn bè thế giới không chỉ chi viện, giúp đỡ Việt Nam về vật chất mà còn tích cực ủng hộ phong trào chống chiến tranh xâm lược Việt Nam về tinh thần. Từ những người lao động đến tầng lớp thanh thiếu niên, từ những nhà lãnh đạo đến những nhân vật hoạt động chính trị, xã hội nổi tiếng khắp nơi trên thế giới đã đứng lên phản đối cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ. Chính sự tin tưởng, hết lòng ủng hộ của bè bạn năm châu trong một mặt trận thống nhất như thế, đã góp phần quan trọng tới tiến trình thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của dân tộc Việt Nam. Thêm vào đó, theo tiến trình cuộc chiến tranh, tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế còn là một trong những nội dung quan trọng, xuyên suốt, quyết định tới diễn tiến của những sự kiện tiêu biểu, có khi mang tính bước ngoặt của chiến tranh. Chính bởi vậy, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế sẽ là một định hướng đúng đắn để hiểu sâu hơn về cuộc “chiến tranh Đông Dương lần thứ hai” đặt trong diễn tiến của Chiến tranh Lạnh. Vì vậy, để góp phần vào việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, và làm rõ thêm tiến trình của công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc từ 1954 đến 1975, chúng tôi chọn vấn đề: “Một số nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)” làm đề tài luận văn thạc sỹ. Hy vọng rằng, những quan điểm tư tưởng chỉ đạo cụ thể của Hồ Chí Minh để thực hiện đoàn kết quốc tế sẽ gợi mở cho công tác mở rộng hợp tác quốc tế hiện nay cái nhìn cụ thể hơn về sự việc, sự kiện, về cách đánh giá cũng như phương pháp xử lý các mối quan hệ phức tạp, đa chiều.

Trang 1

DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ VIẾT TẮT

CENTO Central Treaty Organization

CONEFO Conference of The New Emerging Forces

CPCMLTCHMNVN Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam

ĐCS&CN Đảng Cộng sản và Công nhân quốc tế

MTDTGPMNVN Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam

NATO The North Atlantic Treaty Organization

OECD Organisation for Economic Co-operation and Development

SEATO The Southeast Asia Treaty Organization

SEV Council of Mutual Economic Assistance

UNESCO United Nations Educational Scientific and Cultural Organization

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU -1

NỘI DUNG -11 CHƯƠNG 1.CHIẾN LƯỢC ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ THEO TƯ TƯỞNG 12

HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI KỲ 1954-1965 -12 1.1 Bối cảnh lịch sử của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong

những năm 1954-1959 -12

1.1.1 Những yếu tố trong nước tác động tới chiến lược đoàn kết quốc tế -12 1.1.2 Những yếu tố quốc tế tác động tới chiến lược đoàn kết quốc tế -15

Trang 2

1.2 Sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và những hoạt động thực tiễn của Người nhằm kiến lập đoàn kết quốc tế từ năm 1954 đến năm 1959 -23

1.2.1 Đoàn kết Việt-Xô-Trung, đoàn kết XHCN -23 1.2.2 Đoàn kết với các nước dân chủ nhân dân và ba nước Đông Dương -29

1.3 Chủ tịch Hồ Chí Minh với những hoạt động đối ngoại nêu cao chính

nghĩa hòa bình, thực hiện đoàn kết quốc tế và vận động nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược (1960-1965) -36

1.3.1 Tình hình trong nước và những diễn biến trong quan hệ quốc tế ảnh

hưởng đến cách mạng Việt Nam (1961-1965) -36 1.3.2 Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo đối ngoại về mối quan hệ Việt-Trung;

Việt-Xô trong tác động của mối quan hệ Trung-Xô -43 1.3.3 Chủ tịch Hồ Chí Minh và những hoạt động nêu cao chính nghĩa hòa

bình, vận động dân dân thế giới, động viên phong trào phản chiến của nhân dân Mỹ ủng hộ Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược -56

CHƯƠNG 2 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ

TRONG THỜI KỲ 1965 - 1975 -73 2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong những năm 1965 - 1969 -73

2.1.1 Đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh và sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí

Minh xây dựng đường lối đối ngoại chống Mỹ cứu nước 1965 - 1969 -73 2.1.2 Tiếp xúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhà thương lượng quốc tế và công cuộc vận động nhân dân thế giới đấu tranh làm thất bại “chiến dịch hòa bình” của Mỹ -79 2.1.3 Những hoạt động của Hồ Chí Minh nhằm thắt chặt quan hệ Việt-Trung; Việt-Xô và tiếp tục vận động nhân dân thế giới, huy động phong trào phản

chiến đòi đế quốc Mỹ xuống thang chiến tranh -81

2.2 Cách mạng Việt Nam kế thừa và phát huy hiệu quả chiến lược đoàn kết quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời kỳ 1969-1975 -110

2.2.1 Kế thừa và phát huy tư tưởng Hồ Chí Minh thực hiện đoàn kết quốc tế đánh bại “Việt Nam hóa chiến tranh” tiến tới ký kết Hiệp định Pari, thực hiện

“đánh cho Mỹ cút”(1969 -1973) -110 2.2.2 Tiếp tục kế thừa, phát huy thành quả tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế “đánh cho Ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (1973-1975) -121

Trên lĩnh vực này, Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người vạch ra đường lối chiến

Trang 3

nội và đối ngoại- nhằm từng bước kiến tạo và mở rộng mặt trận nhân dân thế giới ủng

hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược

Thực tiễn lịch sử trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ đã kiểm nghiệm trítuệ Hồ Chí Minh trong việc giương cao ngọn cờ chính nghĩa, thức tỉnh lương tri nhânloại, biến điều này thành một lực lượng thực hiện đoàn kết quốc tế “Việt Nam- HồChí Minh” đã trở thành ngọn cờ vẫy gọi tăng cường sức mạnh cho phong trào phảnchiến của các tầng lớp xã hội Mỹ nói riêng và nhân dân thế giới nói chung, sự hìnhthành trên thực tế một mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống đế quốc Mỹxâm lược vì độc lập tự do của dân tộc mình và cũng vì độc lập, tự do hòa bình, dânchủ và tiến bộ xã hội trên thế giới Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là nhịp cầu nối gắn kếtlực lượng đồng minh chiến lược và các quốc gia láng giềng với cuộc đấu tranh củanhân dân Việt Nam trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không ngừng cụthể hóa chiến lược đoàn kết quốc tế để gánh nặng đè lên vai dân tộc Việt Nam nhẹ bớtkhi nhận được tình cảm, tấm lòng của bạn bè khắp năm châu Bạn bè thế giới khôngchỉ chi viện, giúp đỡ Việt Nam về vật chất mà còn tích cực ủng hộ phong trào chốngchiến tranh xâm lược Việt Nam về tinh thần Từ những người lao động đến tầng lớpthanh thiếu niên, từ những nhà lãnh đạo đến những nhân vật hoạt động chính trị, xã hộinổi tiếng khắp nơi trên thế giới đã đứng lên phản đối cuộc chiến tranh xâm lược ViệtNam của đế quốc Mỹ Chính sự tin tưởng, hết lòng ủng hộ của bè bạn năm châu trongmột mặt trận thống nhất như thế, đã góp phần quan trọng tới tiến trình thắng lợi củacuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của dân tộc Việt Nam

Thêm vào đó, theo tiến trình cuộc chiến tranh, tư tưởng Hồ Chí Minh về đoànkết quốc tế còn là một trong những nội dung quan trọng, xuyên suốt, quyết định tớidiễn tiến của những sự kiện tiêu biểu, có khi mang tính bước ngoặt của chiến tranh.Chính bởi vậy, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế sẽ là một địnhhướng đúng đắn để hiểu sâu hơn về cuộc “chiến tranh Đông Dương lần thứ hai” đặt

trong diễn tiến của Chiến tranh Lạnh.

Vì vậy, để góp phần vào việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, và làm rõthêm tiến trình của công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc từ 1954

đến 1975, chúng tôi chọn vấn đề: “Một số nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954- 1975)” làm đề tài luận văn thạc sỹ Hy vọng rằng, những quan điểm tư tưởng chỉ đạo

Trang 4

cụ thể của Hồ Chí Minh để thực hiện đoàn kết quốc tế sẽ gợi mở cho công tác mở rộnghợp tác quốc tế hiện nay cái nhìn cụ thể hơn về sự việc, sự kiện, về cách đánh giá cũngnhư phương pháp xử lý các mối quan hệ phức tạp, đa chiều.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam ghi dấu trong lịch sử dântộc như một trong những thắng lợi vẻ vang nhất, đã và vẫn tiếp tục được nhận thức,cũng như nghiên cứu chuyên sâu Bài học về đoàn kết quốc tế, tập hợp, mở rộng mặttrận nhân dân thế giới ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc đã được nhậnđịnh nhất quán và đề cao ở cả tầm vóc đóng góp vào chiến thắng đã qua và tiền đề chonhững chiến thắng ngày hôm nay, mai sau của đất nước Các học giả với những côngtrình tiêu biểu có liên quan là: Lê Ngọc Ngọc Dũng, Phạm Xuân Nam, Văn TiếnDũng, Trần Nhâm, Trần Văn Quang, Nguyễn Đình Ước, Nguyễn Quốc Dũng, TrịnhVương Hồng, Phạm Khắc Lãm, Tường Hữu, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh,Văn Tiến Dũng, Đinh Nho Liêm, Lưu Văn Lợi, Trịnh Ngọc Thái, Hồ Sơn Đài, BùiĐình Thanh, Nguyễn Khắc Huỳnh…

Trong số đó, nổi bật là công trình Hậu phương lớn, tiền tuyến lớn trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975, (Nxb Từ điển Bách Khoa Hà Nội, 2005), chủ

biên Phan Ngọc Liên Công trình này đã dành hẳn một dung lượng thích đáng để tậphợp những nghiên cứu của nhiều tác giả trong nước phản ánh về đề tài nghiên cứu trênnhững mặt riêng lẻ và tính tới thời điểm xuất bản Chính bởi vậy, công trình có ý nghĩalớn ở sự kế thừa khi triển khai nghiên cứu đề tài

Bên cạnh đó là công trình Cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam tác động những nhân tố quốc tế của Nguyễn Khắc Huỳnh, mặc dù trong suốt quá trình phân

tích, lập luận từ đầu tới cuối đều không chỉ đích danh chiến lược đoàn kết quốc tế của

Hồ Chí Minh, nhưng lô gíc trình bày lại toát lên đóng góp to lớn, không thể phủ nhậncủa chiến lược đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh Ở phần kết luận, tác giả đã nhấnmạnh lại ba nhân tố đưa đến sự giúp đỡ to lớn của bè bạn năm châu cho công cuộckháng chiến của nhân dân Việt Nam Đặc biệt, nhân tố tiên quyết đã đưa tới thắng lợi

Trang 5

trong cuộc chiến anh dũng của nhân dân Việt Nam, đã được khẳng định chính làđường lối đoàn kết quốc tế và sự ứng xử khôn khéo của Trung ương Đảng LĐVN vàChủ tịch Hồ Chí Minh.

Cũng phải kể tới một số nghiên cứu chuyện khảo đã công bố trên các tạp chíkhoa học trong nước có nội dung phản ánh về đề tài nghiên cứu

Phạm Hồng Tung có bài: Phong trào hòa bình, phản đối cuộc chiến tranh của

Mỹ tại Việt Nam ở CHLB Đức, đăng trên Nghiên cứu lịch sử số 11 năm 2009; và bài

“Hồ Chí Minh và cuộc chiến tranh ở Việt Nam” trong hồi tưởng của Khrushchev, đăng trên Nghiên cứu lịch sử số 9, năm 2008 Tác giả đã từ phương pháp phân tích đa

chiều để đạt đến hiệu quả khảo sát chiều sâu, chiều rộng cũng như khía cạnh đa diệncủa vấn đề nghiên cứu Trên cơ sở này tác giả đã đưa đến những cách nhìn mới chomột vấn đề nghiên cứu tưởng chừng đã cũ

Bên cạnh đó còn là những chuyên luận có liên quan của các học giả: Lê MậuHãn, Mai Văn Bộ, Vũ Khoan, Trịnh Vương Hồng, Nguyễn Minh Đức, Triệu QuangTiến, Nguyễn Trọng Phúc, Nguyễn Văn Quyến, Nguyễn Cơ Thạch…

Một phần nội dung các công trình có sơ bộ khái quát, đánh giá về hoạt động, tưtưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh mở rộng mặt trận nhân dân thế giới để thực hiệnđoàn kết quốc tế

2.2 Những công trình nghiên cứu về chủ đề đoàn kết quốc tế, đối ngoại, ngoại giao của Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Xin điểm lại đây tên những học giả gắn với những công trình tiêu biểu nhất: LêVăn Yên, Nguyễn Phúc Luân, Xuân Thuỷ, Tôn Quang Phiệt, Ung Văn Khiêm,Nguyễn Thị Tình, Chu Đức Tính, Nguyễn Minh Hương, Nguyễn Viết Chung, NguyễnDuy Trinh, Mai Văn Bộ, Nguyễn Dy Niên, Hoàng Thu Giang, Nguyễn Mạnh Hùng,Nguyễn Đình Bin, Nguyễn Xuân, Lưu Văn Lợi, Nguyễn Thị Tình, Nguyễn Thuý Đức,Phạm Thuý Ngân, Phạm Bình Minh, Nguyễn Văn Sự, Nguyễn Ngọc Trường, ĐặngĐình Quý, Bùi Văn Hùng…

Và những luận án tiến sỹ liên quan của các học giả: Phạm Hồng Chương,Nguyễn Xuân Thông, Trần Minh Trưởng, Lương Viết Sang, Nguyễn Văn Bạo…

Đặc biệt là luận án tiến sĩ của học giả Hoàng Trang, được bảo vệ tại Học viện

Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 1995, có tên: Chiến lược đại đoàn kết của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975 Tác giả

đã đề cập đến việc đoàn kết các lực lượng, các quốc gia đấu tranh cho độc lập dân tộc,

Trang 6

tiến bộ xã hội và ủng hộ nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Mỹ trong suốt hai thập

kỷ được điều hành bởi Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh

Những công trình này đã cung cấp những tổng kết, đánh giá quan trọng về vaitrò của sách lược mở rộng mặt trận nhân dân thế giới nói riêng, của chiến lược đoànkết quốc tế nói chung, đồng thời đề cập đến nhiều sự kiện hoạt động, chỉ đạo của HồChí Minh trên lĩnh vực nghiên cứu

Thêm vào đó là những công trình nghiên cứu trực tiếp về Hồ Chí Minh vớicông tác đối ngoại và các cuốn sách phản ánh trực tiếp những tư tưởng, tiểu sử, sựnghiệp của Người (giai đoạn từ 1954-1969) có liên quan tới đề tài nghiên cứu: Hồ Chí

Minh: Về nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước, (Nxb Sự thật, 1967); Hồ Chí Minh: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công !, (Nxb Sự thật, 1973); Hồ Chí Minh: Dân tộc Việt Nam ta là một dân tộc anh hùng, (Nxb Sự thật, 1975); Hồ Chí Minh: Kết hợp chặt chẽ lòng yêu nước với tinh thần quốc tế vô sản, (Nxb Sự Thật, 1978); Bộ sách: Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử, 10 tập (xuất bản 2008)

và Hồ Chí Minh: Toàn tập, gồm 12 tập (xuất bản 1996) và 15 tập (xuất bản 2011) là

những công trình nghiên cứu công bố gần đây của tập thể tác giả Viện Hồ Chí Minh,thuộc Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia, đã cung cấp cho chúng tôi toàn bộtiến trình những sự kiện hoạt động, nội dung tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Viện Quan hệ Quốc tế: Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác ngoại giao, (Nxb, Viện Quan hệ Quốc tế Hà Nội, 1990); Hồ Chí Minh- Người chiến sỹ kiên cường của phong trào giải phóng dân tộc và phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, (Nxb Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1990); Học viện Quan hệ Quốc tế: Kỷ yếu Hội thảo khoa học: 50 năm Ngoại giao Việt Nam, 1995…

Bên cạnh đó là những tổng kết công cuộc kháng chiến chống Mỹ nói chung, vàchiến lược đoàn kết quốc tế nói chung của những lãnh tụ, học giả lớn: Trường Chinh,Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Lê Khả Phiêu, Trần Văn Giàu, Phạm Văn Trà,Trần Đình Huỳnh, Hoàng Chí Bảo, Đặng Quốc Bảo, Phùng Hữu Phú, Bùi ĐìnhPhong, Vũ Dương Huân, Nguyễn Khánh Bật, Phạm Ngọc Anh, Nguyễn Bá Linh,Đặng Văn Thái, Phan Ngọc Liên…

2.3 Những công trình nghiên cứu về lịch sử quan hệ quốc tế và cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam của các học giả nước ngoài

Các công trình là ấn phẩm sách của học giả nước ngoài: Harry S Ashmore,

W.C.Baggs: Misson to Hanoi, (G.P.Putnam’son, New York, 1968); Dainel S.Papp:

Trang 7

Vietnam: The view from Moscow-Paking-Washington, (Mc Farland, Co INC, North Carolina, 1981); Georges C Herring: The secret Diplomancy of the Vietnam war: the Negotianting Volumes of the Pentagon Papers, (University of Texas Press, Austin, 1983); Quang Zhai: China & The Vietnam wars, 1950-1975 (The University of North Carolina Press, 1999); Mart Atwood Lawrence: The Vietnam War- A concise internation history, (Oxford University Press, 2008); William S Turley: The Second Indochina war- A concise political and military history (Rowman & Littlefield

Publishers, INC, 2009)…

Và hai cuốn “The War at home: Vietnam and the American People 1964-1968” của Thomas Powere, “The movement: A History of the American New Left, 1959- 1972” của Irwin Unfer (1974) đã giới thiệu khái quát về phong trào đấu tranh của nhân

dân Mỹ ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, phản đối sự xâm lược củachính phủ Mỹ

Ngoài ra, còn phải kể đến những chuyên khảo trong mảng đề tài về Chiến tranh Lạnh, một trong những bối cảnh quốc tế tác động rất lớn đến cuộc kháng chiến chống

Mỹ của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX Năm 2010, Cambridge University Press đãtập hợp xuất bản những tư liệu quý về Cold War, trong đó, phải kể đến những bài tạpchí liên quan tới lịch sử kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam của các họcgiả: Thomas Perry Thornton, P J Honey, A M Halpern, King Chen, Jan S Prybyla,Kurt L London, H G Nicholas, Jay Tao, W E Willmott, Michael Yahuda, PhanThien Chau, Jean Lacouture, King C.Chen…[206] Những chuyên luận này xuất bảntrong thời điểm cuộc chiến tranh Việt Nam đang tiếp diễn, chính vì vậy, các học giảtập trung vào quan điểm chiến lược và sách lược cách mạng của cả Việt Nam và Mỹ,đồng thời cũng không bỏ qua sự đánh giá về những chính thể quốc tế có nhiều ít tácđộng tới tình hình chiến sự trên chiến trường như Liên Xô hay Trung Quốc v.v… Từnhững nhìn nhận và đánh giá có tính thực chứng, dường như, kết cục của chiến sự đãđược dự báo trước trong một số nghiên cứu Tính chính nghĩa của công cuộc khángchiến của nhân dân Việt Nam sẽ chiến thắng và những hành động xâm lược, leo thangchiến tranh phi nghĩa của Mỹ dù có tới mức nào, nhất định cũng sẽ bị thất bại

Khi chiến tranh đã kết thúc thì kết cục thắng-bại của cuộc chiến vẫn tiếp tụcđược các thế hệ sử gia nghiên cứu với những chuyên luận của: Gareth Proter, SteveChan, Phillip B.Davidson, Ronald H Spector, Jean Lacouture, Carlyle A Thayer, IlyaV.Gaiduk, Xiaoming Zhang, Ed.P.Lowe…[206]

Trang 8

Cũng phải kể thêm những nghiên cứu đạt kết quả trong những năm bắt đầu cho

một thế kỷ mới- thế kỷ XXI: Robert Scott: China, Russia and the United states (Council On Foreign Relations, Inc, 2004); King C.Chen: Hanoi with Peking: Policies and Relations- A Survey (University of California Press, 2007); Paul Ham: Vietnam: The Australian war, (Nxb Harper Collins, 2007); Mao Lin: China and the Escalation

of the Vietnam War The First Years of the Johnson Administration (The MIT Press, 2009); Nicholas Khoo: Breaking the Ring of Encirclement The Sino-Soviet Rift and Chinese Policy toward Vietnam, 1964–1968 (The MIT Press, 2010)…[206]

Nhìn một cách khái quát phải khẳng định rằng những công trình chuyên khảotrên có nội dung phản ánh “cuộc đụng đầu lịch sử” trên bán đảo Đông Dương, nơi cóthể coi là tâm điểm nóng của diễn trình cuộc Chiến tranh Lạnh Bằng phương phápnghiên cứu nghiêng về sử học thực chứng và khai thác nhiều nguồn sử liệu đa dạng,các học giả Đông, Tây đã góp thêm cái nhìn đa chiều về những khó khăn đến từ bốicảnh khách quan, và cũng từ đó, để nhìn ra bối cảnh quốc tế rất phức tạp khi Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã tiến hành xác lập và thực thi chiến lược đoàn kết quốc tế cho cáchmạng Việt Nam Mặc dù vậy, xét về tổng thể thì các công trình chuyên khảo của các

sử gia nước ngoài nói chung, hầu như chưa thẳng thắn thừa nhận một trong nhữngnguyên nhân dẫn tới sự thất bại của đế quốc Mỹ ở Việt Nam chính là sự ủng hộ, đoànkết của nhân dân thế giới thành một mặt trận giúp nhân dân Việt Nam chống đế quốcxâm lược

Thêm vào đó, không thể không kể tới một số lượng không nhỏ những cuốn sáchcủa học giả nước ngoài đã được dịch ra và xuất bản bằng tiếng Việt có thể liệt kê rađây: Ma-Đơn-len Riffô, Hăngri Kitsinggiơ, Giôdép Amtơ, Pitơ A.Pinlơ, N.Bớt sét,Hoàng Tranh, Maicơn Máclia, Nguyễn Tiến Hưng và Giêrơn L.Sedơ, Gabrien Côncô,Giăng Bápmit và Rốcselơ, Philíp B.Đavítsơn, Rô bớt S.Mc Namara, Ilya V Gaiduk,George C.Herring, H.V Schadler, Ron Moreau, Mark Mc Donald, Kari Huus, CraigThomas, Neil Sheehan, Bernard Fall, William Colby, Nguyễn Khắc Viện, Joe Allen,Nguyễn Phú Đức…

Các ấn phẩm khoa học này cũng cung cấp thêm nhiều sự kiện và cách đánh giákhác nhau, cũng như cảm hứng cho học viên khi nghiên cứu đề tài thuộc phạm trù hoạtđộng đối ngoại của Việt Nam trong đó có liên quan gián tiếp hoặc trực tiếp đến vai tròcủa Chủ tịch Hồ Chí Minh và bối cảnh, cũng như tiến trình của cuộc kháng chiếnchống Mỹ cứu nước Điển hình như những tư tưởng và hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí

Trang 9

Minh thực hiện đoàn kết với nhân dân Trung Quốc, Liên Xô và các nước dân chủ,XHCN ở khu vực và thế giới đã được ghi nhận thành biên niên biểu rõ ràng trong các

công trình nghiên cứu của: Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc (Nxb Sao Mới Bắc Kinh, 1990) hay Ilya V Gaiduk: Liên bang Xô Viết và chiến tranh Việt Nam ; hoặc N.Bớt sét: Tam giác Trung Quốc-Campuchia-Việt Nam và Pitơ A.Pinlơ: Nước

Mỹ và Đông Dương từ Rudơven đến Níchxơn (Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, 1986)…

Nhưng tựu chung lại, sự phản ánh của các công trình này về đề tài đang quan tâm vẫnchưa đạt tới sự khái luận, toàn diện, mà chỉ đơn lẻ phản ánh phần nào những khía cạnhriêng Nhiều cách nhìn nhận vấn đề của các sử gia phương Tây còn có lúc chủ quan,phiến diện

Nhìn tổng thể lại lịch sử nghiên cứu của vấn đề phải khẳng định rằng các côngtrình sử học trong và ngoài nước, khi tiến hành khai thác nhân tố đoàn kết quốc tế theo

tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ đề cập đến những khía cạnh riêng lẻ, có thể xét trên tiêu chínào đó là tiêu biểu cho sự ủng hộ của nhân dân thế giới cho cuộc cuộc kháng chiếnchống Mỹ, cứu nước của dân tộc Nhưng ngay cả khi đề cập về mặt trận nhân dân thếgiới, các công trình cũng chỉ đề cập chủ yếu, trọng tâm vào mặt trận nhân dân Mỹ đãgiúp đỡ, tác động tới tiến trình chiến tranh Việt Nam ra sao - phản ánh trong ngoạidiên của khái niệm “phong trào phản chiến”- mà chưa đề cập một cách khái quát, tổnglược đến những sự ủng hộ của các thành phần khác trong mặt trận nhân dân thế giớithực tế đã diễn ra trong lịch sử Những công trình nghiên cứu này cũng chưa đề cậpđầy đủ, sâu sắc đến tư tưởng và những chỉ đạo, hoạt động thực tiễn của Chủ tịch HồChí Minh trong quá trình xây dựng, mở rộng những ảnh hưởng tích cực của chiến lượcđoàn kết quốc tế

Chính vì vậy, mặc dù là đề tài đã được nghiên cứu khá phổ biến, nhưng lại thiếumột chuyên luận đề cập toàn diện và sâu sắc đến các chiều cạnh của vấn đề

3 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu

3.1 Mục đích

Mục đích của công trình này là nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ những nộidung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong thời kỳ cuộc khángchiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975), đồng thời phân tích, đánh giá vai trò, tác độngcủa tư tưởng và những hoạt động của Hồ Chí Minh trong quá trình hình thành, pháttriển của mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết, ủng hộ nhân dân Việt Nam kháng chiến,cứu nước

Trang 10

3.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích trên, nghiên cứu có các nhiệm vụ sau:

- Bằng các phương pháp nghiên cứu lịch sử và các phương pháp của Hồ ChíMinh học làm sáng tỏ tư tưởng mang tầm chiến lược, sách lược của Chủ tịch Hồ ChíMinh về đoàn kết quốc tế trong giai đoạn 1954-1975 Qua các sự kiện hoạt động củaChủ tịch Hồ Chí Minh cho thấy phương pháp xử lý các vấn đề quốc tế có sự khái quát

về phong cách, tư tưởng, vị thế và những đóng góp của Người

- Sưu tầm, xác minh sử liệu và trình bày một cách hệ thống các hoạt động củaChủ tịch Hồ Chí Minh bao gồm hoạt động trực tiếp của Người và những hoạt động đốingoại do Người chỉ đạo nhằm hình thành, mở rộng mặt trận nhân dân thế giới ủng hộViệt Nam chống đế quốc Mỹ và thực hiện đoàn kết quốc tế

- Góp phần làm sáng tỏ, phong phú, đầy đủ hơn nội dung và đóng góp của mặttrận nhân dân toàn thế giới, từ Âu sang Á, tới Châu Phi, Mỹ Latinh…(nòng cốt là mặttrận nhân dân Mỹ), ủng hộ Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược

4 Nguồn tư liệu

Những nguồn tư liệu chủ yếu được khai thác và sử dụng trong nghiên cứu gồm:4.1 Các bài nói, bài viết phản ảnh tư tưởng và hoạt động thực tiễn của Chủ tịch

Hồ Chí Minh trong Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử (10 tập), và Hồ Chí Minh toàn tập

(15 tập mới xuất bản với nhiều bài mới được bổ sung) sẽ là nguồn sử liệu gốc chophép đi sâu nghiên cứu về tư tưởng và hoạt động thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minhtrong lịch sử

4.2 Các văn kiện của Đảng và Nhà nước Việt Nam về đường lối đối ngoại, cácthư từ trao đổi, công hàm, bị vong lục của Nhà nước và Chính phủ Việt Nam với cácđối tác nước ngoài trong thời gian diễn ra cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước(1954-1975)

4.3 Các chuyên khảo, luận văn, các công trình nghiên cứu của các học giảtrong và ngoài nước viết về quan hệ quốc tế, công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứunước, về chiến lược đoàn kết quốc tế, hoạt động đối ngoại, ngoại giao, về sự nghiệp,con người và tư tưởng Hồ Chí Minh Nguồn sử liệu này sẽ được tổng hợp, xác địnhmức độ tin cậy, và được sử dụng có chọn lọc trong nghiên cứu, luận văn

Nhưng dù cố gắng thì việc tiếp xúc, thu thập sử liệu, tài liệu ở các phòng tưliệu, thư viện, từ các nguồn mở trong và ngoài nước vẫn không thể đầy đủ, bởi vấn đề

Trang 11

nghiên cứu ở tầm vĩ mô, do vậy, chất lượng của nghiên cứu sẽ không tránh khỏi nhữnghạn chế nhất định.

5 Giới hạn vấn đề và phương pháp nghiên cứu

5.1 Giới hạn vấn đề

Như tên của đề tài, chúng tôi nghiên cứu về những tư tưởng chỉ đạo hoạt độngđối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ 1954-1975 để thực hiện đoànkết quốc tế, nội dung của chiến lược này và những đóng góp của nó trong lịch sử cuộckháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam

Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi chỉ đề cập đến những sự kiện tiêubiểu nhất

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, trên cơ sở tuân thủ phương pháp luận mác-xíttrong nghiên cứu lịch sử, bên cạnh việc sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháplô-gíc phù hợp với yêu cầu nghiên cứu từng vấn đề của đề tài, chúng tôi đồng thời sửdụng phương pháp thống kê, so sánh theo lịch đại và đồng đại, kết hợp với phươngpháp nghiên cứu trong Hồ Chí Minh học nhằm làm sáng tỏ các luận điểm đưa ra lýgiải trong công trình

6 Đóng góp mới về mặt khoa học của nghiên cứu

- Làm rõ những cơ sở hay nền tảng hình thành chiến lược đoàn kết quốc tế củaChủ tịch Hồ Chí Minh Phân tích khoa học để rút ra kết luận: Yếu tố bên trong- chủquan hay bên ngoài- thuộc về khách quan đã có vai trò quyết định nổi bật tới chiếnlược đoàn kết quốc tế vào thắng lợi của công cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộcViệt Nam

- Bằng các sự kiện lịch sử của diễn trình cuộc kháng chiến, của những sự kiệntiêu biểu mà nhân dân thế giới ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam, nghiên cứu làm rõ nội dunghình thành, phát triển và vai trò cũng như đóng góp của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoànkết quốc tế trong công cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của dân tộc Việt Nam và

cả ngày nay

- Tái hiện lại một cách hệ thống những tư tưởng, hoạt động thực tiễn của Chủtịch Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian 15 năm (1954-1969) Trên cơ sở này kháiluận sâu sắc hơn nữa một ghi nhận trong lịch sử rằng: lãnh tụ Hồ Chí Minh đã thực sựtrở thành biểu tượng quy đồng các cuộc đấu tranh liên kết thành phong trào đấu tranh

và hướng tâm tới một Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống đế quốc Mỹ

Trang 12

- Nghiên cứu góp phần tổng hợp thêm những luận điểm cơ bản trong tư tưởngđối ngoại thực hiện đoàn kết quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh Đây cũng là nhữngvấn đề có ý nghĩa thiết thực, mang tính thời sự, phục vụ cho công cuộc vận động hợptác khu vực và quốc tế trong công cuộc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải Việt Namđặt trong bối cảnh không kém phần phức tạp của quan hệ quốc tế hiện nay.

7 Bố cục của luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu

tham khảo, nội dung luận văn gồm 02 chương và những tiết cụ thể

Chương 1 Chiến lược đoàn kết quốc tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ (1954-1965)

Trên cơ sở khảo sát những chuyển biến trong nước và quốc tế có tác động tớicách mạng Việt Nam nhằm khái lược sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhưnhững hoạt động thực tiễn của Người kiến lập đoàn kết quốc tế Việt-Xô-Trung, đoànkết XHCN, đoàn kết công cuộc cách mạng của ba nước Đông Dương cũng như nhữnghoạt động nêu cao chính nghĩa hòa bình, vận động nhân dân thế giới ủng hộ Việt Namchống đế quốc Mỹ xâm lược của Hồ Chủ tịch là những nội dung chính yếu của tưtưởng về đoàn kết quốc tế của Hồ Chủ tịch trong một thập kỷ này

Chương 2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong thời kỳ

1965-1975

Tiến hành khảo sát những sự kiện lịch sử, tư tưởng chính qua hai thời kỳ

1965-1969 và 1965-1969-1975 làm rõ tư tưởng đoàn kết quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh đãgóp phần quan trọng tranh thủ được lực lượng vật chất và tinh thần của quốc tế cũngnhư đã được kế thừa và phát huy hiệu quả để dân tộc Việt Nam “đánh cho Mỹ cút,đánh cho Ngụy nhào”, thống nhất đất nước

NỘI DUNG

Đối ngoại là quan hệ giữa chủ thể là một nhà nước, một quốc gia, dân tộc vớimột chính thể hoặc nhiều chính thể, tổ chức giữ vai trò tương đương và quan hệ đốingoại thể hiện trên tổng hợp nhiều vấn đề: kinh tế, chính trị, văn hóa v.v Đối ngoại

có ngoại diên rộng hơn khái niệm ngoại giao Hay nói cách khác, ngoại giao chính là

sự cụ thể hóa đường lối đối ngoại đã được thể chế cho một đối tượng nhà nước, dântộc, tổ chức cụ thể, trong những điều kiện, bối cảnh cụ thể của lịch sử

Trang 13

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại là hệ thống các quan điểm về đấu tranhngoại giao, hoạt động ngoại giao và hợp tác phát triển, bao gồm cả đường lối chiếnlược, sách lược, phương pháp, nghệ thuật và phong cách Hồ Chí Minh

Đoàn kết quốc tế, theo đó, là một bộ phận quan trọng của đường lối đối ngoạiđược thực hiện bởi một thể chế nhà nước Đặc biệt tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kếtquốc tế là một bộ phận trong tư tưởng mang tầm chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh

về đại đoàn kết Theo đó, Người đã đặt cách mạng Việt Nam trong mối quan hệ bộphận, biện chứng với phong trào cách mạng thế giới- đấu tranh cho hòa bình, độc lậpdân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, cách mạng Việt Nam có quan hệ mật thiết với cáccuộc cách mạng phong trào đấu tranh của nhân dân tiến bộ trên khắp hành tinh Từ đó,sức mạnh của dân tộc Việt Nam chính là sự tranh thủ, phát huy, vận dụng, kết hợpgiữa đoàn kết dân tộc với đoàn kết quốc tế trong tiến trình cách mạng đánh đổ ngoạixâm, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và góp phần giữ gìn hòa bình, bảo vệnhững giá trị nhân văn, nhân quyền của nhân loại

Tư tưởng về đoàn kết quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh hình thành, phát triểnbắt nguồn từ chủ nghĩa Mác-Lênin, truyền thống dân tộc và văn hóa nhân loại, cùngvới đó là thực tiễn Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Trong tiếntrình của lịch sử dân tộc, chiến lược đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đượchoàn thiện và đưa vào thực tiễn đấu tranh cách mạng với hiệu quả cao Chính tư tưởng

về đoàn kết quốc tế đó đã tạo ra sức mạnh đưa tới thắng lợi vẻ vang của Cách mạngtháng Tám 1945 và kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

Từ năm 1954-1975, trong bối cảnh lịch sử mới, chiến lược đoàn kết quốc tế củaChủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục được phát kiến và phát huy sức mạnh vĩ đại trong tiếntrình cách mạng của dân tộc Việt Nam

CHƯƠNG 1 CHIẾN LƯỢC ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ THEO TƯ TƯỞNG

HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI KỲ 1954-1965 1.1 Bối cảnh lịch sử của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong những năm 1954-1959

1.1.1 Những yếu tố trong nước tác động tới chiến lược đoàn kết quốc tế

Trang 14

Sau khi giành được độc lập năm 1945, Việt Nam đi ngay vào kháng chiếnchống Pháp Chiến đấu trong vòng vây, hoàn cảnh hạn chế, Việt Nam chỉ có quan hệ

và tranh thủ sự giúp đỡ ít nhiều của Thái Lan, Miến Điện, phần nào của Ấn Độ,Inđônêxia…và Trung Quốc (sau năm 1949) Với chiến thắng Điện Biên Phủ và Hiệpđịnh Giơnevơ 1954, Việt Nam có vị trí xứng đáng trong phong trào giải phóng dân tộcthế giới và góp phần quan trọng cổ vũ phong trào, nhất là với các xứ thuộc địa củaPháp Cũng từ đây, cách mạng Việt Nam bước vào thời kỳ lịch sử mới

Chế độ thực dân cũ của Pháp chấm dứt trên toàn Đông Dương, nhưng chế độthực dân mới của Mỹ lại thay Pháp thống trị miền Nam Việt Nam, âm mưu chia cắtlâu dài Việt Nam, uy hiếp Campuchia và khống chế Lào

Ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ vừa được ký còn chưa ráo mực, Tổng thống

Mỹ Eisenhower đã tuyên bố: “Bản thân Hoa Kỳ đã không phải là một bên đương sựtrong các quyết định tại hội nghị và không bị các quyết định đó ràng buộc”[240, tr.55],

để biện minh cho hành động can thiệp của Mỹ vào miền Nam Việt Nam Với âm mưuchia cắt lâu dài Việt Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, làm căn cứ quân

sự ở Đông Nam Á, Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng, lập ra chính quyền taysai của Mỹ

Tiếp đó, để thoái thác vấn đề hiệp thương, tổng tuyển cử sau hai năm đình chiến(được quy định trong Hiệp nghị Genève), chính quyền Diệm tiến hành trưng cầu dân ý(10-1955) để bước đầu là phế truất Bảo Đại, sau đó tiến hành vận động bầu cử (3-1956), lập ra Quốc hội bù nhìn, suy tôn Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống của Chínhphủ VNCH (10-1956) Việc Mỹ chủ mưu giật dây cho Ngô Đình Diệm phá hoại Hiệpnghị Giơnevơ được thể hiện rõ ràng qua bức điện mật của Bộ trưởng Ngoại giaoDulles, gửi đại diện cho Mỹ tại Giơnevơ là Walter Bedell Smith: “Vì chắc chắn làtuyển cử thì cuối cùng có nghĩa là thống nhất nước Việt Nam dưới quyền ông Hồ ChíMinh, nên điều quan trọng hơn hết là trì hoãn tuyển cử càng lâu càng tốt sau khi kýhiệp định đình chiến là chỉ tuyển cử trong điều kiện không có sự đe dọa để tạo cho cácphần tử dân chủ có cơ hội tốt nhất”[134, tr.55] Thực hiện mưu đồ xây dựng mộtphòng tuyến chống cộng, tạo ra một “con đê ngăn làn sóng đỏ” ở khu vực Đông Nam

Á, Mỹ đã tập trung viện trợ kinh tế, quân sự, giúp Ngô Đình Diệm xây dựng đội quânngụy binh gồm nhiều sư đoàn chính quy, được trang bị vũ khí hiện đại

Dựa vào sự ủng hộ của Washington, chính quyền Ngô Đình Diệm tiến hành liêntục các chiến dịch tố cộng, diệt cộng, trong thời gian 5 năm (từ 1955 đến 1960) và đã

Trang 15

tàn sát dã man hàng chục ngàn cán bộ nhân dân miền Nam Chỉ tính riêng từ tháng

7-1955 đến tháng 2-1956, số đảng viên, cán bộ cách mạng bị Mỹ-Diệm bắt bớ lên tớihơn 800.000 người, trong đó số người bị giết chết là 93.362 người [45, tr 35] Các nhà

tù, trại giam, trại tập trung chật ních những người vô tội, họ bị hành hạ đánh đập, bịxâu dây thép qua tay rồi đem phơi nắng, hoặc bị buộc đá vào cổ ném xuống sông Ngô Đình Diệm còn sử dụng cả cách giết nguời từ thời trung cổ, đưa máy chém đikhắp miền Nam, chém giết những người cách mạng mà chúng gọi là “xử theo luật 10-59” Các vụ thảm sát tập thể ở Chợ Được, Vĩnh Trinh, Duy Xuyên, Hướng Điền, MỏCày, vụ đầu độc hàng nghìn tù chính trị ở Phú Lợi v.v , là những tội ác tày trời bị cảthế giới lên án

Ngay khi đế quốc Mỹ tiến hành áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới vào miềnNam Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên án sự can thiệp này của Mỹ đã làm cho

xã hội miền Nam hỗn loạn: các phe nhóm chống đối, tiêu diệt lẫn nhau làm cho nhiềuthường dân chết oan, nhiều nhà cửa, xóm làng bị thiêu cháy Người đã vạch rõ âmmưu, hành động xâm lược của đế quốc Mỹ không chỉ gây bao tại họa cho nhân dânViệt Nam mà nó còn “gây vạ” cho cả chính bản thân nước Mỹ:

"Khóc than khôn xiết sự tình,

Tự mình gây vạ chuốc mình vào trong”[119; tr 2]

Đối với dân tộc Việt Nam, Người chỉ rõ: “Đấu tranh là có khó khăn, nhưng phảinhận là có nhiều điều kiện thuận lợi, thuận lợi ở miền Nam nói riêng và ở Việt Namnói chung Thuận lợi là căn bản Cách đặt vấn đề là quan hệ Có đồng chí nói nước tamất một nửa nước Đáng lý phải thấy “nước ta mới thắng lợi một nửa nước” khác nhaunhiều” [106, tr 64]

Miền Bắc ở thời điểm tháng 8 năm 1956 đã có 13.774.300 người, trong đó7.172.300 nữ (chiếm 52,07%) và 6.602.000 nam (chiếm 47,87%) Dân thành thị là5,88%, dân nông thôn là 94,12% Diện tích miền Bắc lúc đó là 158.750 km2, miềnNam là 170.850 km2 Miền Bắc hoàn toàn giải phóng đi lên CNXH, trở thành mộtthành viên trong đại gia đình các nước XHCN [147] Cách mạng Việt Nam phát huyquan hệ tốt đẹp với các nước XHCN và phong trào giải phóng dân tộc

Vấn đề có tính chất sống còn và cấp thiết lúc này đặt ra cho nhân dân Việt Nam

là tiếp tục đấu tranh để thực hiện tổng tuyển cử thống nhất nước nhà, đồng thời, phảibảo vệ và xây dựng miền Bắc, góp phần giữ gìn hoà bình thế giới

Trang 16

Nhưng đế quốc Mỹ càng dính líu sâu và bám chặt lấy miền Nam Việt Nam là vìgiới cầm quyền Mỹ quyết tâm chiếm bằng được miền Nam Việt Nam làm thuộc địakiểu mới và căn cứ quân sự Muốn cho cuộc xâm lược được thuận lợi, đế quốc Mỹ đãcường điệu và “khoác” cho Việt Nam một “mục tiêu chiến lược” rộng lớn hơn vớihình ảnh quãng đê xung yếu ngăn “làn sóng đỏ” Để vào đứng chân được ở Việt Namlàm “nhiệm vụ ngăn chặn” đó, Mỹ cần có một chiêu bài chính trị Chiêu bài ấy, theolời đại tướng Mỹ Westmoreland, Mỹ vào miền Nam Việt Nam là: “Để bảo vệ thế giới

tự do, chống lại miền Bắc xâm lược miền Nam Việt Nam”[112, tr 24]

Như thế là Mỹ đã quyết bám lấy miền Nam Việt Nam và nhân dân Việt Namcũng quyết giải phóng miền Nam Mỹ phải dốc toàn lực và dùng đủ mọi loại vũ khí

hy vọng giành thắng lợi Việt Nam cũng sẵn sàng chấp nhận hy sinh để giành độclập, tự do Cuộc đấu tranh quyết liệt đó đã làm cho các mâu thuẫn của thời đại trở nêngay gắt nhất ở Việt Nam Do đó, cuộc đấu tranh giữa nhân dân Việt Nam và đế quốc

Mỹ đã trở thành một cuộc đụng đầu lịch sử

Ngày 5-1-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: “ Như vậy là ở Đông Nam

châu Á, chúng tôi- Việt Nam- đã đứng ở tiền đồn của mặt trận dân chủ và hoà bình toàn thế giới chống chủ nghĩa đế quốc và chiến tranh…”[100, tr 9] Nhận định của

Người ở vào thời điểm đó là một nhận định đúng đắn, khách quan Bởi vì, cuộc chiếntranh mà nhân dân Việt Nam, dù không muốn, đã bị xô đẩy tới chỗ buộc phải dốc hếtmọi nguồn lực vật chất và tinh thần, hy sinh hàng triệu mạng sống để vượt qua, đểbảo vệ được quyền sống trong độc lập, tự do, bảo vệ sự thống nhất và quyền tự quyếtcủa dân tộc mình Do vậy, cuộc đối đầu giữa hai phe TBCN và XHCN diễn ra ở ViệtNam không chỉ biểu hiện ở mức độ quyết liệt nhất, dưới hình thức tàn khốc nhất làchiến tranh, mà còn là sự đối đầu phức tạp nhất, không chỉ về ý thức hệ hay sự lựachọn chế độ chính trị - xã hội, mà còn là sự đối đầu giữa ý chí độc lập, tự chủ, tựquyết, tự do của dân tộc Việt Nam với âm mưu nô dịch, thống trị và chi phối của cácthế lực ngoại bang

Như thế là Việt Nam bị tạm thời chia cắt và nằm trong số những nước bị chiacắt từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai: Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên, Đức Haichế độ xã hội đối lập ở hai vùng của mỗi nước thể hiện mâu thuẫn cơ bản nhất củathời đại: mâu thuẫn giữa CNXH và CNTB Các nước bị chia cắt là hình ảnh thu nhỏcủa cuộc đấu tranh trên thế giới sau Chiến tranh thế giới II Tuy nhiên, ở Triều Tiên,

ở Đức, ở Trung Quốc không diễn ra cuộc đụng đầu lịch sử quyết liệt giữa hai thế lực

Trang 17

đối lập của thời đại như ở Việt Nam, bởi sự tác động chống chéo của các quan hệquốc tế đối với mỗi nước là khác nhau

1.1.2 Những yếu tố quốc tế tác động tới chiến lược đoàn kết quốc tế

Tình hình thế giới kể từ khi chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, nhất là từ sauchiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam, đã có những thay đổi lớn trên bản đồ chínhtrị, kinh tế, quân sự ở từng khu vực cũng như trên phạm vi toàn cầu

Về chính trị - quân sự, khi cuộc chiến tranh Việt Nam nổ ra, thì cũng là thờiđiểm đỉnh cao của chiến tranh Lạnh giữa hai hệ thống xã hội TBCN và XHCN, biểuhiện thông qua sự gia tăng nhanh chóng về chi phí quân sự và thành lập liên tiếp cáckhối, liên minh quân sự trên nhiều khu vực thế giới

Ngày 4-4-1949, Mỹ đứng ra thành lập khối quân sự Bắc Đại Tây Dương(NATO), đến ngày 8-9-1954 lại lôi kéo đồng minh thành lập tổ chức Hiệp ước ĐôngNam Á (SEATO) Bước sang năm 1955, Mỹ-Anh thành lập khối Bátđa ở Trung Đông(CENTO), cũng trong năm này, Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu thành lập khốiquân sự Vácsava

Miền Bắc Việt Nam hoàn toàn giải phóng đi lên CNXH, trở thành một thànhviên trong đại gia đình các nước XHCN Lúc này “đã hình thành một hệ thống XHCNthế giới, kéo liền từ Trung Âu đến Đông Nam Á và một tiền đồn XHCN đầu tiên ởChâu Mỹ Latinh” [74, tr 596], “ngang dọc gần ba mươi lăm triệu cây số vuông gắnliền thành một khối vững mạnh, một đại gia đình đoàn kết thân yêu”[74, tr 595].“PheXHCN được thành lập và ngày càng lớn mạnh sẽ là nhân tố quyết định sự phát triểncủa cách mạng thế giới và tương lai tươi sáng của loài người” [74, tr 596]

Về kinh tế, cho tới cuối thập kỷ 50 đầu 60, tỷ trọng công nghiệp của các nướcXHCN chiếm khoảng 30% sản lượng công nghiệp toàn thế giới [10, tr 138] Nếu sosánh về tốc độ phát triển trong cùng thời gian thì các nước thuộc Hội đồng tương trợkinh tế (SEV) có tốc độ phát triển tăng trung bình là 10,4%, còn các nước tư bản thuộckhối OECD (Khối các nước Hiệp ước an ninh và hợp tác châu Âu) chỉ tăng 5,4% [10,

tr 138] Đáng chú ý, trong hệ thống XHCN, Liên Xô là nước trụ cột, đã có tốc độ tăngtrưởng kinh tế hàng năm rất cao và ổn định Bên cạnh đó, các nước khác như TrungQuốc, Ba Lan, Tiệp Khắc cũng duy trì tốt tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm, cácmặt hàng công nghiệp, sản phẩm nông nghiệp đủ đáp ứng nhu cầu trong nước và hỗtrợ các nước yếu hơn theo khuôn khổ hợp tác kinh tế xã hội chủ nghĩa Trên cơ sở nềnkinh tế phát triển tương đối ổn định, các nước XHCN không những đủ khả năng đương

Trang 18

đầu với sự bao vây, phá hoại về kinh tế của chủ nghĩa đế quốc mà còn góp phần tíchcực vào việc giúp đỡ các nước mới giành được độc lập Do đó, xét về tương quan lựclượng trên chính trường thì phong trào cách mạng thế giới đang chiếm ưu thế, nhất làthành công của Liên Xô trên lĩnh vực hạt nhân vào năm 1947 đã phá vỡ thế độc quyền

vũ khí nguyên tử, sau đó là sự kiện Spútnhíc, năm 1957, với việc Liên Xô chinh phụckhoảng không vũ trụ đã gây mối lo ngại đặc biệt cho Mỹ, bởi nước Mỹ từ đây sẽkhông thể yên ổn, nếu một cuộc chiến tranh mới nổ ra

Như vậy, với sự trưởng thành và lớn mạnh nhanh chóng, phe XHCN khôngnhững là chỗ dựa cho phong trào giải phóng dân tộc, mà còn là yếu tố căn bản ngăn đemưu toan áp đặt sự thống trị các dân tộc bằng chiến tranh xâm lược Việc lập lại cânbằng và có phần chiếm ưu thế về quân sự của phe XHCN còn làm đảo lộn chiến lượctoàn cầu của Mỹ, từ chiến lược “trả đũa ào ạt”, buộc Mỹ phải chuyển sang chiến lược

“phản ứng linh hoạt” đầu năm 1960 Tất nhiên, còn một lý do khác nữa buộc Mỹ phải

có sự điều chỉnh về chiến lược, đó là sự bùng nổ của phong trào giải phóng dân tộc

Cùng với sự tự khẳng định của hệ thống XHCN, sự phát triển của phong tràogiải phóng dân tộc trên khắp các lục địa Á-Phi-Mỹ Latinh đã làm tan rã từng mảng hệthống thuộc địa đưa nhiều quốc gia bước vào thời kỳ độc lập về chính trị và bắt đầucuộc đấu tranh thoát dần khỏi sự phụ thuộc vào kinh tế Từ chiến thắng Điện Biên Phủcủa Việt Nam (1954) đến đầu những năm 60, đã có hàng chục nước noi gương ViệtNam đứng lên phát động đấu tranh vũ trang và giành độc lập dân tộc Ở Châu Phi đángchú ý có cuộc đấu tranh của nhân dân Angiêri (1954-1962), sự kiện kênh đào Xuyê(1956), Cônggô chống Bỉ (1960), cách mạng Ănggôla (1-1961), Môzămbích chống BồĐào Nha (5-1962) - năm 1960 được gọi là năm châu Phi Ở Trung Đông, thắng lợi củacuộc cách mạng Irắc (7-1958) làm tan vỡ khối quân sự CENTO do Anh - Mỹ dựnglên Đặc biệt sôi động là ở khu vực châu Mỹ Latinh, nơi mà lâu nay Mỹ coi là “sânsau” là “ao nhà” thì hắng lợi của cách mạng Cuba (1959) lập nên nhà nước XHCN ởTây bán cầu, ngay sát cạnh Mỹ đã động viên, thúc đẩy phong trào đấu tranh vũ trang ởcác nước khác trong khu vực như Vênêduêla, Goatêmala, Nicaragoa, Côlômbia nổ rangày càng mạnh mẽ Điều đáng chú ý là, các dân tộc sau khi giành được độc lập, tuykhuynh hướng phát triển xã hội có khác nhau, nhưng đều có điểm chung là định hướngphát triển đất nước theo đường lối độc lập, tự chủ và ủng hộ phong trào hòa bình, tiến

bộ xã hội Tình hình đó đã thu hẹp phạm vi ảnh hưởng của chủ nghĩa đế quốc, làm các

Trang 19

nước đế quốc phải căng mình ra đối phó ở khắp nơi, đồng thời buộc họ phải xác lậpnhững quan hệ mới với những nước thuộc địa, phụ thuộc.

Sự ra đời của các nước mới giành được độc lập trong điều kiện quốc tế lúc đó

đã dẫn đến sự ra đời của “Phong trào không liên kết” Là một phong trào đấu tranh chotiến bộ xã hội, “Phong trào Không liên kết” đặc biệt dâng cao dưới tác động của cuộckháng chiến anh dũng của nhân dân Việt Nam Phong trào này quy tụ được đông đảocác quốc gia mới giành được độc lập, do đó cùng có tiếng nói chung với Việt Namtrong cuộc đấu tranh đòi hòa bình, độc lập, dân chủ Tuy mới ra đời (1955-1961)[222], nhưng Phong trào Không liên kết đã sớm thể hiện vai trò quy tụ một lực lượngkinh tế-chính trị mới: Lực lượng thế giới thứ ba Điều đó có nghĩa là trên bản đồ chínhtrị thế giới từ thời điểm này, ngoài khu vực của các nước thuộc hai hệ thống TBCN vàXHCN, còn có khu vực chính trị - kinh tế của các quốc gia mới độc lập Cho đếnnhững năm 60, các quốc gia này chiếm tới 60% tài nguyên và 62 % dân cư thế giới[208, tr 81], nhưng lại là những nước nghèo nhất, lạc hậu nhất Chính vì vậy, mâuthuẫn giữa các nước trong thế giới thứ ba với các nước tư bản phát triển ngày càng gaygắt Bởi ngoài hậu quả bị ảnh hưởng do chính sách cai trị bóc lột thực dân họ còn chịutác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, trong đó sự bóc lột thông qua đầu tưcông nghệ, tiền vốn làm cho sự phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu thêm về khoảngcách Để đòi lại quyền lợi của mình, lực lượng thế giới thứ ba không còn con đườngnào khác là phải đoàn kết nhau lại đấu tranh cho một trật tự thế giới mới

Việc các nước tư bản trước đây lệ thuộc vào viện trợ Mỹ (thông qua kế hoạchMácsan), đến thời điểm này cũng bắt đầu ly tâm thoát khỏi vòng cương tỏa của Mỹ đãcho thấy thế giới đang có những vận động mới Minh chứng là các sự kiện thành lậpnhững liên minh kinh tế mang tính khu vực như: “Khối thị trường chung Châu Âu”(1957); “Khối mậu dịch tự do châu Âu” (1959) để cạnh tranh với Mỹ Sang tới năm

1958, nước Pháp đòi rút hết căn cứ quân sự của NATO ra khỏi nước này

Như thế, đế quốc Mỹ đã lao vào chiến tranh Việt Nam trong một thế quốc tế vàquốc nội không mấy thuận lợi Trong quan hệ quốc tế thời điểm đó, Mỹ không chỉ lo

sợ nguy cơ cộng sản tràn như “làn sóng đỏ” mà còn lo ngại nguy cơ “cộng sản đoàn”,

ở đây là đoàn kết, cho nên đã rất coi trọng đối ngoại Trong đó, các mũi ngoại giaoquan trọng nhất mà Mỹ nhằm vào là Liên Xô và Trung Quốc, hai địch thủ lớn nhất của

Mỹ, hai đồng minh chủ yếu của Việt Nam Đối với Mỹ, nhiệm vụ ngoại giao với hainước này là kiềm chế, giữ chân hai nước không trực tiếp can thiệp vào chiến tranh, tác

Trang 20

động để hai nước giảm giúp Việt Nam, lợi dụng mâu thuẫn giữa hai nước để làm suyyếu “hậu phương quốc tế” của Việt Nam và khi cần thì vận dụng vai trò của hai nướctrong việc thực hiện các ý đồ của Mỹ.

Nhưng nói tới đoàn kết, bất phân trong phạm vi, quy mô vĩ mô hay vi mô củamột bối cảnh nhất định, người ta không thể không chú ý tới nội dung “cô đọng” nhất

của nó, đó là lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc Quan hệ giữa các nước lớn trong công

cuộc kháng chiến chống Mỹ, ở phạm vi vươn tới của tư tưởng đoàn kết quốc tế củaChủ tịch Hồ Chí Minh cũng không nằm ngoài phạm trù lợi ích này

Liên Xô, Trung Quốc, hai đồng minh chiến lược của cách mạng Việt Nam cũng

có những tính toán nhất định trong vấn đề lợi ích dân tộc, hơn nữa, họ còn là nhữngnước lớn cho nên vấn đề lợi ích nước lớn, lợi ích “thủ lĩnh” là một trong những điềukiện khách quan đối với sự nghiệp đoàn kết quốc tế của cách mạng Việt Nam Chiếntranh Lạnh chính là cuộc chiến tranh thể hiện rõ nhất quá trình đấu tranh về mặt lợi íchdân tộc giữa các quốc gia, đóng vị thế là các cường quốc trên thế giới ở thời điểm này

Mà biểu hiện là trong cả những tính toán ở tầm chiến lược hay sách lược của hai nướcthì Liên Xô muốn giữ Trung Quốc trong phạm vi khống chế của mình, còn TrungQuốc cũng muốn tách khỏi “cái bóng” của Liên Xô, có vai trò độc lập, bình đẳng vàtrở thành người lãnh đạo cách mạng thế giới Từ đó dẫn đến xung đột giữa hai nướclớn về chính trị, hợp tác, cho đến xung đột biên giới

Trong vấn đề Việt Nam, hai nước này cũng có những tính toán khác nhau Liên

Xô giúp Việt Nam vì vấn đề lợi ích chiến lược, kiềm chế làm suy yếu Mỹ, tạo điềukiện để Liên Xô cân bằng chiến lược với Mỹ Liên Xô cũng muốn qua việc giúp ViệtNam để đề cao vị thế đứng đầu trong phong trào cách mạng thế giới của mình Trongkhi đó, để củng cố hòa hoãn với Mỹ, Liên Xô lại mong muốn sớm có giải pháp hòabình ở Việt Nam

Trung Quốc giúp Việt Nam vì nghĩa vụ với đồng minh, cũng vì lợi ích chiếnlược, kiềm chế Mỹ, bảo đảm an ninh của Trung Quốc ở phía nam Trung Quốc cũngmuốn nổi trội trong sự nghiệp giúp Việt Nam, muốn Việt Nam đánh Mỹ lâu dài, chođến lúc Mỹ thật sự suy yếu và Trung Quốc có thể có vai trò như đã từng có ở Hội nghịGiơnevơ năm 1954 “Không thể để Mỹ tiêu diệt cách mạng Việt Nam, nhưng giúpViệt Nam, Trung Quốc còn có những tính toán khác, hoàn toàn ích kỷ và nguy hiểmcho cách mạng thế giới và cách mạng Việt Nam Trung Quốc đẩy cho Mỹ và ViệtNam đánh nhau để phá thế hai cực Xô - Mỹ hình thành từ sau chiến tranh thế giới thứ

Trang 21

hai và phá xu thế giảm căng thẳng giữa Liên Xô và Mỹ đã đạt được từ những năm đầucủa thập kỷ 60, Trung Quốc đã lợi dụng xu hướng cách mạng trên thế giới, dùng luậnđiệu “cách mạng triệt để” nhất, hăng hái chống đế quốc Mỹ nhất, đặc biệt là muốn độcquyền nắm cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống Mỹ, giương cao ngọn cờ

“cách mạng” vừa chống Mỹ, vừa chống Liên Xô, hòng giành quyền lãnh đạo cáchmạng thế giới Giúp Việt Nam, Trung Quốc hy vọng nắm Việt Nam để lặp lại điềuTrung Quốc đã làm tại Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954, Trung Quốc muốn đẩy ViệtNam đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng để khi đàm phán thì Trung Quốc sẽđứng ra đàm phán với Mỹ, Trung Quốc sẽ lấy thế mạnh trong vấn đề Việt Nam để đàmphán toàn bộ các vấn đề châu Á”[49, tr 16]

Mâu thuẫn Xô-Trung như thế đã bắt đầu bộc lộ bất đồng công khai kể từ sauchuyến thăm Bắc Kinh của N.Khơrutsốp (1954) Mặc dù những người cộng sản đã cốgắng xóa đi mối bất hòa giữa họ bằng việc tổ chức hai hội nghị các Đảng Cộng sản vàcông nhân (1957 và 1960), có tới hơn 80 đảng và tổ chức tham dự, nhưng như lờituyên bố của N.Khơrútsốp: “Cuộc xung đột với Trung Quốc là không thể tránhkhỏi”[199, tr 68] Ngoài sự rạn nứt Trung-Xô đã xấu đi từ thời I.V.Xtalin lúc này lạicàng đáng lo ngại hơn với việc Anbani công khai đứng về phía Trung Quốc để đả kíchLiên Xô, gây bất đồng sâu sắc trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế

Đặc biệt trong vấn đề giúp Việt Nam, hai nước Xô-Trung cũng có những chủtrương và việc làm có tính chất chống nhau Nói cách khác, đường lối chiến lược củahai nước Xô-Trung đã đặt Việt Nam vào tình thế phải chịu sức ép rất lớn Trong hoàncảnh vừa thiếu về thực lực, lại vừa có nhu cầu nhận viện trợ giúp đỡ toàn diện của cảLiên Xô và Trung Quốc, Việt Nam phải xử lý “mối quan hệ tay ba” sao cho không có

sự biểu hiện thiên lệch Nhất là khi mối quan hệ này thường xuyên bị tác động, chiphối bởi một tác nhân có thế lực và đầy mưu mô là đế quốc Mỹ

Trước tất cả những tác động trái chiều của quan hệ quốc tế thời điểm đó, Chủtịch Hồ Chí Minh đã nghiên cứu, phân tích kỹ lưỡng chính sách từng nước, tìm rađiểm còn khác nhau và những điểm tương đồng mà mẫu số chung lớn nhất là chống đếquốc, bảo vệ an ninh, hòa bình, làm nghĩa vụ đối với đồng minh Từ đó, dân tộc ViệtNam đã vận dụng linh hoạt đường lối độc lập, tự chủ, đoàn kết quốc tế, tạm gác cácbất đồng, nắm chắc và phát huy “mẫu số chung” của tình đoàn kết để thực hiện côngcuộc kháng chiến chống Mỹ

Trang 22

Nhưng hệ thống các nước XHCN nói chung ở thời điểm này, mặc dù có cùng ýthức hệ mà vị trí địa lý, địa chính trị khác nhau nhưng cũng đã có những suy tính khácnhau về lợi ích chiến lược và chính sách trong vấn đề Việt Nam Một số nước mớigiành được độc lập có khuynh hướng chính trị, xã hội khác, thậm chí trái ngược,không ủng hộ Việt Nam mà còn đi theo Mỹ Tình hình “ly tâm” cũng bắt đầu diễn ratrong nội bộ ổn định, ở Ba Lan xảy ra sự kiện Pôdơnan (6-1956) làm chấn động dưluận trong phe XHCN Tháng 10-1956, đến lượt Hungari, những thế lực chống đối đãlợi dụng những sai lầm của Đảng và Nhà nước để kích động nhân dân nổi dậy lật đổchính quyền Phải hơn một tháng sau, với sự can thiệp trực tiếp của quân đội Liên Xô,chính phủ Hunggari mới có thể kiểm soát được tình hình Đó là những biểu hiện đầutiên về khủng hoảng chính trị nội bộ rất đáng lo ngại Tuy nhiên, điều đáng quan tâmthực sự chính là sự bất đồng, mâu thuẫn giữa các nước XHCN với nhau, bởi nó lànguyên nhân cơ bản làm suy yếu hệ thống XHCN.

Như thế, Việt Nam kháng chiến chống Mỹ, một nước mạnh về tiềm lực, lại cónhiều phương tiện và thủ đoạn ngoại giao để lôi kéo các nước về phía mình, đồng thờilại dùng nhiều thủ đoạn tác động đến các đồng minh của Việt Nam, đặc biệt là lợidụng mâu thuẫn Xô-Trung để hạn chế hai nước ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam, tận dụngvai trò hai nước để giúp Mỹ tìm giải pháp có lợi cho họ Cuộc chiến tranh rất khôngcân sức này còn xảy ra trong bối cảnh của cuộc khủng hoảng nghiêm trọng và sự chia

rẽ sâu sắc trong phong trào cách mạng thế giới Trong tình hình đó, cuộc chiến đấukiên cường của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược có ý nghĩa to lớn đốivới vận mệnh của nhân dân thế giới và đối với cuộc khủng hoảng trong phong tràocách mạng thế giới Nếu đế quốc Mỹ đè bẹp được cuộc chiến đấu của nhân dân ViệtNam thì số phận của hòa bình và cách mạng trên thế giới sẽ ra sao? Chưa bao giờ sốphận của một dân tộc nhỏ lại gắn chặt với số phận của nhân dân thế giới đến như thế

Vấn đề Việt Nam với tất cả tầm vóc như vậy đã không còn bó hẹp trong phạm

vi quốc gia hay khu vực, mà đang có xu hướng bị quốc tế hóa bởi sự có mặt của cácquốc gia đại diện cho quyền lực của thế giới Riêng đế quốc Mỹ, mưu đồ quốc tế hóavấn đề Việt Nam, Mỹ đã sử dụng chính sách “cây gậy và củ cà rốt”, tích cực xúc tiếncho sự ra đời của khối Cửu Long, gồm có ba nước Campuchia, Lào, Thái Lan, mụcđích nhằm biến ba nước dọc sông Mê Kông thành những “tên lính xung kích” chốnglại cách mạng Việt Nam Ngoài việc viện trợ kinh tế, quân sự ồ ạt cho Philippin, TháiLan, Mỹ còn bỏ một khoản tiền lớn ra thuê đất lập căn cứ quân sự ở Cò Rạt, Utapao

Trang 23

(Thái Lan), Cờlác (Philippin) Đối với hai nước Lào và Campuchia trên bán đảo ĐôngDương, Mỹ quyết tâm mua chuộc và dùng mọi thủ đoạn để lôi kéo, buộc chính phủcác nước này phải tuân theo sự “giật dây” của Mỹ Trước sự cám dỗ của Oasinhtơn,

tháng 5-1955, Chính phủ Campuchia lại ký tiếp Hiệp ước viện trợ kinh tế Để đổi lấy

những thùng vũ khí và những đồng đôla Mỹ, chính quyền Campuchia đã cho thi hànhchính sách khủng bố đối với lực lượng kháng chiến, làm cho lực lượng cách mạngCampuchia suy yếu nghiêm trọng

Tuy nhận viện trợ của Mỹ, nhưng do tính hai mặt của những người lãnh đạoCampuchia, họ lại chủ trương thân Pháp (một nước có mâu thuẫn với Mỹ trong liênminh quân sự Bắc Đại Tây Dương - NATO) Vì lẽ đó, Mỹ đã ra lệnh cho chính quyềnNgô Đình Diệm đánh chiếm tỉnh Stungtreng thuộc biên giới phía đông củaCampuchia Còn ở phía tây, theo lệnh Mỹ, Chính phủ Thái Lan cũng cho quân đánhchiếm khu vực đền Preah Vihear, gây căng thẳng về quân sự ở nhiều khu vực biêngiới Lúc này, Campuchia đã phải tỏ rõ thái độ: tháng 2-1956, quốc vương Xihanúctuyên bố không gia nhập khối SEATO mà sẽ thi hành đường lối hòa bình trung lập(tháng 9-1957, Quốc hội Campuchia thông qua đạo luật về hòa bình trung lập) Tìnhthế đã bắt buộc Campuchia một mặt thắt chặt ngoại giao với Pháp, mặt khác phải mởrộng quan hệ đối ngoại với Liên Xô, Đông Âu và Trung Quốc Đây là nhân tố thuậnlợi cho Việt Nam và Đông Dương trong quá trình xúc tiến thành lập mặt trận đoàn kết

ba nước Đông Dương chống đế quốc Mỹ

Tình hình ở Lào sau năm 1954 cũng có nhiều diễn biến phức tạp Được sự hậuthuẫn của Mỹ, Kàtày lật đổ chính quyền của Thủ tướng Phuma và lên nắm quyền (10-1954), xây dựng nên một chính quyền thân Mỹ Bằng viện trợ và cố vấn, Mỹ nhanhchóng gạt ảnh hưởng của Pháp khỏi Lào, từng bước áp đặt chế độ thực dân kiểu mới

và biến Lào thành một căn cứ quân sự lý tưởng giữa Trung Quốc và Việt Nam, “một vịtrí chiến lược như con dao găm vào Đông Nam Á” [125, tr 11-13] Nhưng do mâuthuẫn nội bộ giữa các phe phái trong quốc hội và chính phủ, tháng 7-1956, chính phủcủa Kàtày bị đổ, thay vào đó là sự trở lại ghế thủ tướng của Hoàng thân XuvanaPhuma

Thi hành chính sách hòa bình, trung lập và hòa hợp dân tộc, chính phủ Phumatiến hành đàm phán với Pathét Lào, (tháng 10-1957 ở Viêng Chăn), ký Hiệp định đìnhchiến và thành lập chính phủ liên hiệp có đại diện của Pathét Lào tham gia Điều đólàm Mỹ không hài lòng, vì vậy, tới tháng 7-1959, lực lượng thân Mỹ đã làm đảo chính

Trang 24

lật đổ chính phủ liên hiệp, bắt giam Hoàng thân Suphanuvông và nhiều lãnh tụ củaPathét Lào, đưa Phủi Sananikon lên nắm quyền Nhưng chính phủ này cũng tồn tạikhông lâu, tháng 12-1959, Mỹ lại cho bọn tay sai làm đảo chính, thay thế Sananikonbằng một nhân vật mới là Phumi Nôxavẳn, một phần tử chống cộng cực đoan hơn.

Trước sự đàn áp, bắt bớ của chính phủ cánh hữu tay sai Mỹ, các lực lượng yêunước và trung lập ở Lào đã có những phản kháng mạnh mẽ Ngày 19-5-1959, tiểuđoàn 2 Pathét Lào đã nổ súng chống lại các lực lượng phái hữu, vượt vòng vây Ngày23-5-1960, lực lượng hoạt động bí mật đã giải thoát Hoàng thân Suphanuvông cùngnhiều lãnh tụ Pathét Lào đưa về căn cứ kháng chiến an toàn Từ đây, phong trào cáchmạng Lào bước sang giai đoạn mới, sát cánh cùng nhân dân Việt Nam trong cuộc đấutranh chống đế quốc Mỹ

Như thế, nhìn chung lại, từ tất cả những sự kiện chồng chéo, phức tạp của tìnhhình quốc tế cũng như khu vực đã cho thấy công cuộc kháng chiến chống Mỹ mà dântộc Việt Nam phải thực hiện đã mang ý nghĩa quốc tế, thời đại lớn lao Và yêu cầu tiênquyết để công cuộc kháng chiến này tất thắng phải bắt nguồn từ việc phát huy hiệu quảchiến lược, sách lược đoàn kết quốc tế theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh Bởi

đế quốc Mỹ đã lợi dụng được những yếu tố tiêu cực trong hệ thống XHCN để thựchiện âm mưu xâm lược Việt Nam, đánh phá phong trào giải phóng dân tộc nhưng Mỹkhông thể ngăn chặn sự động viên, ủng hộ và giúp đỡ to lớn của các nước XHCN vàcủa phong trào giải phóng dân tộc cho cách mạng Việt Nam Tin tưởng ở sự nghiệpchính nghĩa của dân tộc mình, tin ở xu thế thời đại, từng bước Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã triển khai chiến lược đoàn kết quốc tế, tố cáo chính sách xâm lược, hành động phinghĩa của đế quốc Mỹ, đồng thời thể hiện nguyện vọng hòa bình, độc lập, tự do chínhđáng của nhân dân Việt Nam và quyền tự bảo vệ thiêng liêng của mình trước dư luậntoàn thế giới Bằng thực tiễn cuộc đấu tranh anh hùng và chính nghĩa của mình, Chủtịch Hồ Chí Minh và dân tộc Việt Nam đã từng bước quy tụ, tập hợp được các lựclượng hòa bình, dân chủ, tiến bộ xã hội trên toàn thế giới, kể cả nhân dân Mỹ ủng hộcuộc đấu tranh chống xâm lược của mình, cô lập cao độ đế quốc Mỹ và từng bướcgiành thắng lợi

1.2 Sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và những hoạt động thực tiễn của Người nhằm kiến lập đoàn kết quốc tế từ năm 1954 đến năm 1959

1.2.1 Đoàn kết Việt-Xô-Trung, đoàn kết XHCN

Trang 25

Đứng trước bối cảnh lịch sử trong nước và quốc tế nhiều ngổn ngang, chồngchéo, sự chỉ đạo đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là việc xác lập nhữngnguyên tắc và chính sách đối ngoại mới Đây cũng là điều kiện tiên quyết để phá vỡthế cô lập, mở rộng quan hệ ngoại giao khu vực và quốc tế, tạo ra môi trường thuận lợi

để đón nhận sự giúp đỡ của các nước anh em, mặt khác làm tăng uy tín Việt Nam trêntrường quốc tế

Tại Hội nghị BCHTƯ lần thứ 6 (khóa II), tháng 7-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã đọc một bản báo cáo quan trọng trong đó tập trung phân tích những thay đổi về tìnhhình thế giới và trong nước đưa ra nhận định về kẻ thù mới và trực tiếp của nhân dânViệt Nam là đế quốc Mỹ Mặc dù có những biến động lớn trong quan hệ quốc tế,Người khẳng định rằng: “Mục tiêu bất di bất dịch của ta vẫn là hòa bình, độc lập,thống nhất, dân chủ Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thìlinh hoạt”[27, tr 8]

Vận dụng sự linh hoạt này và cụ thể hóa đường lối đối ngoại hòa bình của đấtnước, tại Hội nghị BCT tháng 9-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày cụ thể hơnchiến lược, sách lược trong chính sách ngoại giao của Nhà nước, đối với từng khu vực

và với từng đối tác Người nhắc lại nguyên tắc chung là: “Xây dựng và phát triển quan

hệ ngoại giao với bất kỳ nước nào dựa theo nguyên tắc bình đẳng, hai bên cùng có lợi,tôn trọng lãnh thổ, chủ quyền của nhau”[25, tr 12] Tuy nhiên, theo Hồ Chí Minh ViệtNam phải dựa chủ yếu vào phe XHCN, bởi đây chính là lực lượng mà dân tộc ViệtNam có thể tin cậy, trông chờ vào sự giúp đỡ cả về vật chất lẫn tinh thần

Đường lối ngoại giao có định hướng, có trọng tâm như thế, một mặt biểu thị sựtôn trọng và khẳng định xu hướng gắn kết với phe XHCN của nhà nước VNDCCH,mặt khác cho thấy sự đánh giá đúng đắn về vai trò của hai nước lớn Xô-Trung Chủtrương này được Hồ Chí Minh khẳng định lại trong Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (3-1955): “Củng cố không ngừng tình đoàn kết hữu nghị với Liên Xô, Trung Quốc và cácnước XHCN khác, thực hiện việc phối hợp chặt chẽ với các nước anh em trong hoạtđộng quốc tế và đấu tranh ngoại giao”[25, tr 23]

Thực hiện mục tiêu trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã tínhtoán, cân nhắc rất thận trọng tất cả những nhân tố chủ quan và khách quan để định rachủ trương, biện pháp cách mạng sao cho vừa đáp ứng được yêu cầu cách mạng miềnNam và bảo vệ được miền Bắc, vừa đoàn kết được đồng minh, nhất là Liên Xô, TrungQuốc

Trang 26

Thêm vào đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhìn ra những chia rẽ trong quanđiểm, hành động của Liên Xô và Trung Quốc bắt đầu từ những năm 50, thế kỷ XX.Cho nên vào tháng 8 năm 1956, Người nêu rõ thêm mục đích của chiến lược đoàn kếtquốc tế, đó là cần phải củng cố và phát triển sự thống nhất tư tưởng của các đảngMácxít-Lêninnít trên diễn đàn quốc tế rộng rãi Người khẳng định, mục tiêu này cũngchính là một phần quan trọng trong đường lối quốc tế của Đảng LĐVN Bởi vì, thựchiện đoàn kết quốc tế ở phạm vi giai cấp vô sản quốc tế của các Đảng anh em chính làyêu cầu của thời đại, yêu cầu của thực tiễn Tiến hành công cuộc đoàn kết này cũngchính là hiện thực “sự nhất trí về lợi ích giữa cuộc đấu tranh để giải phóng các dân tộckhỏi cách đế quốc chủ nghĩa và cuộc đấu tranh giải phóng quần chúng lao động khỏichế độ bóc lột tư bản chủ nghĩa…Trong cuộc đấu tranh để thống nhất Tổ quốc, ĐảngLĐVN không bao giờ lại tự tách mình với các đảng anh em Đảng lấy toàn bộ thựctiễn của mình để chứng minh rằng chủ nghĩa yêu nước triệt để không thể nào tách rờivới chủ nghĩa quốc tế vô sản, và khối liên minh anh em giữa tất cả những người đấutranh cho sự nghiệp chung, cho việc giải phóng loài người, cho sự xây dựng một xãhội không có giai cấp, cho sự chung sống hoà bình và cho hoà bình bền vững là không

gì lay chuyển nổi”[81, tr 969]

Để biến chủ trương, đường lối của Đảng thành quan điểm tương đồng, nhậnđược sự ủng hộ, giúp đỡ của cả Liên Xô, Trung Quốc cũng như của bạn bè quốc tế,Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành hàng loạt hoạt động đối ngoại nổi bật của Đảng vàNhà nước VNDCCH Những chuyến công du ngoại giao của Người được thực hiệntrong thời điểm này nhằm mục đích thắt chặt thêm tình hữu nghị giữa nhân dân, Chínhphủ Việt Nam với nhân dân các nước anh em, các nước bạn

Từ ngày 22-6 đến 18-7-1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu thăm chính thứcTrung Quốc, Mông Cổ và Liên Xô để kêu gọi các đồng minh gây sức ép lên Mỹ vàDiệm Tuy nhiên kết quả chuyến đi không được khả quan Cả Liên Xô và Trung Quốcđều đang tìm cách giảm căng thẳng với Mỹ và không muốn để Việt Nam trở thành trởngại Để bù lại, cả hai hứa sẽ tăng viện trợ kinh tế (Trung Quốc viện trợ 200 triệu cònNga viện trợ 100 triệu đô), đồng thời cung cấp lương thực chống lại nạn đói đang đedọa miền Bắc [209, tr 71-73] Ngày 22-7-1955 trong bài phát biểu khi về nước, Chủtịch Hồ Chí Minh đã cảm ơn sự giúp đỡ của Liên Xô và Trung Quốc, tuy nhiên, Ngườicũng chỉ rõ rằng nhân dân Việt Nam sẽ phải dựa vào chính sức mình để thống nhất đấtnước

Trang 27

Những cuộc viếng thăm này đã khẳng định sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ củanhân dân các nước XHCN đối với nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp giữ gìn hòabình, củng cố miền Bắc và đấu tranh thực hiện Hiệp định Giơnevơ thống nhất ViệtNam Sự đoàn kết, giúp đỡ đó không chỉ là tinh thần, chính trị mà trên thực tế đã giúp

đỡ toàn diện cho sự nghiệp khôi phục, củng cố và phát triển hậu phương miền BắcViệt Nam với mức độ ngày càng tăng

Tiếp đó, từ ngày 6 tháng 7 đến ngày 30 tháng 8 năm 1957, Chủ tịch Hồ ChíMinh tiếp tục dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ nước VNDCCH lên đường đithăm chín nước: Triều Tiên, Tiệp Khắc, Ba Lan, Cộng hoà Dân chủ Đức, Hunggari,Nam Tư, Anbani, Bungari và Rumani Trước và sau khi đi thăm các nước nói trên, HồChí Minh đều có các cuộc đi thăm không chính thức và hội đàm với lãnh đạo cao nhấtcủa hai nước Trung Quốc, Liên Xô Phát biểu về mục đích chuyến đi, Hồ Chí Minh nói:

“Cuộc đi thăm này có ý nghĩa rất quan trọng là thắt chặt hơn nữa tình hữu nghị sẵn cógiữa các nước chúng ta, làm cho nhân dân các nước chúng ta hiểu rõ nhau hơn, hợp tác

và giúp đỡ nhau hơn trong cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc, hòa bình thế giới vàCNXH”[158, tr 487] Thực hiện đúng tinh thần đó, trong các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc vớinhân dân và lãnh đạo các nước, Hồ Chí Minh đã thể hiện tình cảm chân thành và biết ơn

về sự ủng hộ to lớn mà nhân dân các nước XHCN đã và đang dành cho nhân dân ViệtNam Người cũng bày tỏ mong muốn và tin tưởng rằng tình đoàn kết giữa các nướcXHCN ngày càng được xây dựng bền chắc hơn dưới ngọn cờ tư tưởng của chủ nghĩaMác-Lênin Đặc biệt, trong các cuộc trao đổi, hội đàm với lãnh đạo Đảng và Nhà nướcLiên Xô, Người đã thẳng thắn tỏ rõ quan điểm của Đảng LĐVN về các vấn đề quốc tế

có liên quan đến quan hệ hai nước, cố gắng xóa đi mối nghi ngờ và sự hiểu lầm làmcăng thẳng quan hệ đôi bên

Những cố gắng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong 55 ngày đêm hoạt động ngoạigiao ở các nước XHCN Đông Âu và Liên Xô, Trung Quốc đã thu được kết quả tốt đẹp

Về mặt kinh tế và quốc phòng, sau chuyến đi này không chỉ riêng Liên Xô, Trung Quốctiếp tục viện trợ với khối lượng lớn cho Việt Nam, mà các nước XHCN khác cũng đãcam kết dành cho Việt Nam sự giúp đỡ bằng vật chất với số lượng đáng kể Trên đường

đi và về, đoàn có lưu lại ít hôm ở Trung Quốc Sau chuyến thăm, trả lời câu hỏi tìnhhình ở Việt Nam đã được các nước chú ý như thế nào Người nói: “Các đồng chí lãnhđạo các nước anh em đều chú ý tới tình hình Việt Nam và ủng hộ cuộc đấu tranh hòabình của nhân dân Việt Nam để thống nhất Tổ quốc”[80, tr 486] Đó chính là biểu

Trang 28

hiện của tinh thần quốc tế chân chính, hữu nghị Người đặc biệt nhấn mạnh: “các nướcanh em, đứng đầu là Liên Xô và Trung Quốc đã ủng hộ chúng ta Chúng ta cũng nhậnđược sự đồng tình ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới, nhất là nhândân các nước Á - Phi, Ấn Độ, Nam Dương, Miến Điện, Ai Cập, v.v ”[80, tr 486]

Sau chuyến đi, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn dành thời gian viết xong cuốn sách

Liên Xô vĩ đại (ký bút danh Trần Lực do Nxb Sự thật ấn hành tháng 10-1957), tuyên

truyền về những thành tựu của nhân dân Liên Xô trong công cuộc xây dựng CNXH vàcoi đó là tấm gương cho các nước noi theo Thực chất, qua việc làm này, Hồ Chí Minhmuốn gửi đến các nhà lãnh đạo Liên Xô bức thông điệp về lập trường kiên định trướcsau như một của nhân dân Việt Nam trong quan hệ với Liên Xô

Để củng cố thêm thành quả hoạt động đối ngoại này, đến cuối năm 1957, Chủtịch Hồ Chí Minh còn tiến hành liên tiếp hai chuyến công du Liên Xô, Trung Quốc Từngày 9 đến ngày 19 tháng 11 năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đoàn đi Moscow,lần này là để tham gia Hội nghị 64 ĐCS&CN quốc tế Mục tiêu của Hội nghị cácĐCS&CN quốc tế đã đề ra là thống nhất quan điểm tiến lên XHCN bằng con đườnghòa bình Nhưng theo các báo cáo của đoàn Italia và Đức thuật lại thực tế Hội nghị đãdiễn ra lại chỉ chủ yếu là Liên Xô và Trung Quốc tranh luận, bất đồng với nhau vềquan điểm, điều này đã làm hạn chế sự tham dự và đóng góp của các Đảng Cộng sản

và Công nhân đại biểu Chính trong “khúc quanh” đó của lịch sử quan hệ quốc tế, Chủtịch Hồ Chí Minh đã đóng vai trò quan trọng trong việc thu hẹp những bất đồng giữahai “người anh cả” là Liên Xô và Trung Quốc Trong tham luận của mình đọc tại Hộinghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết những vấn đề chiến lược, sách lược của cáchmạng thế giới, xác định quy luật phổ biến của cách mạng XHCN v.v Người đặc biệtnhấn mạnh đến vấn đề đoàn kết giữa các đảng và các nước XHCN trên cơ sở chủnghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Tronghoàn cảnh quốc tế hiện nay, khi bọn đế quốc đang âm mưu phá hoại sự nhất trí của cácnước trong phe XHCN, Hội nghị này có một ý nghĩa đặc biệt to lớn”[80, tr 577] Nhờnhững cố gắng của đoàn đại biểu Việt Nam và một số đoàn đại biểu khác, bản Tuyên

bố của Hội nghị Matxcơva (1957) đã được thông qua với nội dung tăng cường đoànkết và thống nhất các đảng Mác-xít Lêninnít về mặt tư tưởng, nhất trí về sự cần thiếtphải lập ra mặt trận thống nhất rộng rãi, phát triển và củng cố phong trào công nhânquốc tế

Trang 29

Thắng lợi thu được từ hoạt động ngoại giao này của Hồ Chí Minh chẳng nhữnglàm tăng uy tín Việt Nam trên trường quốc tế, góp phần củng cố tình đoàn kết trong hệthống XHCN và phong trào cộng sản, mà còn làm cho quan hệ Việt - Xô, Việt - Trungtrở lại gắn bó hơn, giảm bớt những nghi ngờ, hiểu lầm đáng tiếc trước đây “Tháng 3-

1959, Liên Xô nối lại Hiệp định viện trợ, cho Việt Nam vay thêm 100 triệu rúp, nhậnxây dựng và trang bị kỹ thuật cho 21 đài khí tượng và 156 trạm thủy văn ở miền Bắc.Ngày 14-6-1960, Liên Xô ký Hiệp định kinh tế cho vay, tiếp tục cho Việt Nam vay trảchậm 350 triệu rúp để mua trang thiết bị máy móc Liên Xô cũng đồng ý cử thêm cán

bộ chuyên gia sang giúp Việt Nam (số chuyên gia Liên Xô có mặt ở Việt Nam tínhđến năm 1960 là 1547 người), đồng thời nhận đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật, vàvăn hóa cho Việt Nam (đến năm 1960 có 420 thực tập sinh và 1.267 sinh viên đã vàđang theo học tại các trường đào tạo của Liên Xô) Kim ngạch ngoại thương giữa hainước, năm 1960 tăng lên 30 lần so với năm 1955, Liên Xô đứng hàng đầu trong số cácnước buôn bán với Việt Nam Trên đà phát triển quan hệ mọi mặt, ngày 31-7-1958,Hội hữu nghị Xô-Việt đã được thành lập ở Matxcơva, đánh dấu bước tiến triển mới vềmặt ngoại giao giữa hai nước”[172, tr 5-10]

Trên các diễn khác nhau, lãnh tụ Hồ Chí Minh cũng tích cực tham gia vận động

để mở rộng không ngừng quy mô, lực lượng của chiến lược đoàn kết, hữu nghị quốc

tế Bên cạnh những cuộc viếng thăm, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đảng và Chính phủViệt Nam còn có nhiều hoạt động góp phần củng cố và tăng cường tình đoàn kết vớicác Đảng, Chính phủ và nhân dân các nước XHCN như tham dự ngày Quốc khánh, dựĐại hội Đảng của các nước anh em, gửi điện mừng những dịp trọng đại thậm chí là kếtnghĩa và thi đua giữa các tổ chức kinh tế-xã hội của Việt Nam và các nước XHCNkhác

Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế tiếp tục có những tranh cãi gay gắt

về mặt tư tưởng giữa đường lối Mác-xít Lêninnít và các khuynh hướng cơ hội, “hữukhuynh” và “tả khuynh”, Hồ Chí Minh đã nhiều lần kêu gọi tinh thần đoàn kết củanhững người cộng sản, đồng thời phân tích về tính khoa học, đúng đắn trong cả lý luận

và thực tiễn của học thuyết Mác-Lênin đối với phong trào cách mạng thế giới Một loạtbài viết của Hồ Chí Minh được công bố trên các phương tiện thông tin trong nước và

nước ngoài, thể hiện rõ quan điểm và đường lối quốc tế của Đảng LĐVN, như: Chủ nghĩa Lênin và công cuộc giải phóng các dân tộc bị áp bức, (báo Pravda-Liên Xô, ngày 18-4-1955); Củng cố và phát triển sự thống nhất tư tưởng của các đảng mác-xít-

Trang 30

lêninnít, (báo Pravada, Liên Xô, ngày 3-8-1956); Cách mạng tháng Mười và sự nghiệp giải phóng các dân tộc phương Đông (Nxb Chính trị quốc gia Liên Xô, 10-1957)

v.v Nội dung các bài viết trên, Người khẳng định ảnh hưởng to lớn và ý nghĩa quyếtđịnh của Cách mạng tháng Mười, của chủ nghĩa Mác-Lênin đối với thắng lợi củaphong trào giải phóng dân tộc trên thế giới Bên cạnh đó, người ta cũng thấy ở đây lậptrường giai cấp và những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin về hợp tác và liên minhquốc tế bước đầu được vận dụng có nguyên tắc và phù hợp với tình hình thực tiễn

Điển hình của sự vận dụng có nguyên tắc ấy là việc Hồ Chí Minh chấn chỉnhnhững quan điểm sai lạc của một số cán bộ đã có phản ứng bột phát sau những sự kiệnxảy ra ở Liên Xô (cuộc đấu tranh nội bộ trong ĐCS Liên Xô), ở Ba Lan, ở Hunggari(1956) Người nghiêm khắc phê bình những tư tưởng a dua, biệt phái, mà theo Ngườinhư thế tức là can thiệp vào công việc nội bộ của nước bạn Người chỉ đạo, công táctuyên truyền cần hết sức cẩn thận khi đưa tin tức, bình luận tránh gây ra tranh cãikhông cần thiết Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quán triệt: “Cuộc đấu tranh củng cố hòabình, thực hiện thống nhất của nhân dân ta là một bộ phận của cuộc đấu tranh cho hòabình thế giới Do đó, ta cần phải phối hợp chặt chẽ với các nước anh em trong phe ta

và tranh thủ sự đồng tình của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới”[25, tr 18] Ởđây cần phải hiểu rõ không phải Hồ Chí Minh thủ tiêu đấu tranh, hoặc “dĩ hòa vi quý”,

mà thực sự muốn đề cao tư tưởng đoàn kết quốc tế, tôn trọng nguyên tắc không canthiệp nội bộ để tránh sự chia rẽ, bất đồng đáng tiếc

Ngày 16-11-1957, Người tham luận tán thành Tuyên bố hòa bình của Hội nghị

Đại biểu các ĐCS&CN các nước xã hội chủ nghĩa Người cũng nhấn mạnh, công cuộcđấu tranh của dân tộc Việt Nam đang tiến hành chống chủ nghĩa đế quốc, trước hết làchủ nghĩa đế quốc Mỹ, không chỉ nhằm “thực hiện hòa bình thống nhất đất nướcchúng tôi (mà) Chúng tôi cũng có nhiệm vụ phải bảo vệ hòa bình ở Châu Á và trêntoàn thế giới” [82, tr 557]

Nhờ những nỗ lực hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quan hệ với Liên

Xô, Trung Quốc và các nước XHCN như thế mà Việt Nam đã tạo ra vị thế mới củamình trong quan hệ quốc tế, qua đó cũng tăng cường sức mạnh về nhiều mặt Nhữngchuyến viếng thăm liên tục của những người lãnh đạo cao nhất các nước XHCN đếnViệt Nam, cùng với hàng loạt các tuyên bố chung, các hiệp định được ký kết chứng tỏrằng chính sách ngoại giao của Đảng, Nhà nước và những hoạt động của Hồ Chí Minh

đã được các nước XHCN hoàn toàn nhất trí, ủng hộ Nhiều nguyên thủ của các nước

Trang 31

XHCN đã đến Việt Nam: tháng 3-1958, Thủ tướng Rumani Kivu Stoica; tháng

10-1958, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Bungari Vancô Sécvencốp; 22-10-10-1958, PhóThủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Anbani Bekia Balaku; 17-11-1958, Thủ tướngCHDC Đức Ốttô Gơrốptơvôn; 1-4-1959, Thủ tướng Hungari Pherensơ Myynni; 30-8-

1959, Bí thư thứ nhất BCHTƯ Đảng Nhân dân Cách mạng Mông Cổ, Chủ tịch Hộiđồng Bộ trưởng Mông Cổ Xêđenban; 6-10-1959, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Ba LanQ.Davátxki; ngày 3-2-1960, Chủ tịch Quốc hội Tiệp Khắc Phiếclinhgơ; 9-5-1960, Thủtướng Trung Quốc Chu Ân Lai; 30-11-1960, Thứ trưởng ngoại giao Cuba HéctoRodrghét Lom Mác v.v Tất cả các đoàn đại biểu này đều được Chủ tịch Hồ ChíMinh đón tiếp, gặp gỡ, hội đàm và ký Tuyên bố chung ) Các đoàn đại biểu đã đemđến cho nhân dân Việt Nam nguồn động viên, sự khẳng định về tình đoàn kết giữanhân dân Việt Nam với các nước anh em trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ

1.2.2 Đoàn kết với các nước dân chủ nhân dân và ba nước Đông Dương

Tháng 4-1955, tại Băngđung (Inđônêxia), 29 nước Á Phi đã họp và ra bản

Tuyên bố mười nguyên tắc hòa bình, trung lập Đây là cuộc tập hợp lực lượng chính

thức đầu tiên của các nước độc lập dân tộc được giải phóng sau Chiến tranh thế giớithứ hai Và cũng là một sự kiện mang tính bước ngoặt trong phong trào giải phóng dântộc vì đây là lần đầu tiên các nước độc lập dân tộc tập hợp nhau biểu thị lập trường và

ý chí chung là chống chủ nghĩa thực dân, tăng cường đoàn kết giữa các nước, ủng hộcác phong trào đang đấu tranh, đề cao chung sống hòa bình Vì vậy, Hội nghị BăngĐung có tác động mạnh mẽ và lâu dài đối với phong trào dân tộc và Thế giới thứ ba.Tại Hội nghị này, đoàn đại biểu Việt Nam do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu

đã có những đóng góp tích cực vào việc hình thành và phát triển xu thế hòa bình, trunglập tiến bộ, vừa tập hợp lực lượng chống đế quốc, ủng hộ các nước đòi giải phóng dân

tộc Nhận rõ tầm vóc của sự kiện lịch sử này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài Chúc mừng Hội nghị Á-Phi, bút danh C.B, đăng báo Nhân dân số 412, bày tỏ sự đồng tình,

ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân Việt Nam đối với cuộc đấu tranh của nhân dân cácnước châu Á và châu Phi Những hoạt động tăng cường đoàn kết với các nước Á Phiđòi độc lập dân tộc của cách mạng Việt Nam lúc này đã tranh thủ được sự đồng tìnhcủa nhiều nước Do đó, sự ủng hộ quốc tế rộng lớn đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứunước của nhân dân Việt Nam cũng tăng lên

Bước sang năm 1958, trong khi nhân dân miền Nam phải đối mặt trực tiếp với

sự bạo tàn của chính quyền thực dân kiểu mới Mỹ-Diệm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã

Trang 32

thực hiện chuyến thăm tới Ấn Độ và Liên bang Miến Điện trong 14 ngày, từ ngày 4đến ngày 17-2-1958 với mục đích: “Thắt chặt hơn nữa tình hữu nghị giữa Việt Nam,

Ấn Độ và Miến Điện, đồng thời để tăng cường tình đoàn kết giữa các dân tộc Á - Phi,

do đó thêm lực lượng giữ gìn hòa bình thế giới”[159, tr 29] Tại thủ đô Ấn Độ, Chủ tịch

Hồ Chí Minh khẳng định: “Miền Nam Việt Nam là thịt của thịt chúng tôi, là máu của máuchúng tôi”[159, tr 30] Chính vì thế, công cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ mà

toàn thể dân tộc Việt Nam đang tiến hành chính là để viết tiếp một chân lý: “một dân tộc biết đoàn kết nhất trí, quyết tâm chiến đấu và được sự ủng hộ của nhân dân thế giới, thì cuối cùng nhất định giành được tự do độc lập” [83, tr 40] Người khẳng định

dứt khoát: “Chúng tôi kiên quyết phấn đấu để thực hiện thống nhất đất nước trên cơ sởđộc lập và dân chủ bằng phương pháp hoà bình Có chính nghĩa, có sức đại đoàn kếttoàn dân, có sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới, chúng tôi tin chắc rằngnước Việt Nam nhất định sẽ thống nhất”[83, tr 45] Như thế, không phải ngẫu nhiên ởthời điểm này, Ấn Độ đã được Người chọn trở thành một diễn đàn lớn cho nhữngtuyên bố về lập trường của cách mạng miền Nam, cho việc bày tỏ nguyện vọng thiếttha mà chính đáng của cả dân tộc Chủ tịch Hồ Chí Minh và đoàn đại biểu Việt Nam

đã đi thăm nhiều cơ sở sản xuất, nghiên cứu khoa học và tiếp xúc với nhiều tầng lớpnhân dân lao động ở nhiều địa phương Thủ tướng Ấn Độ J.Nêru trong bài phát biểuchào mừng đã nói: “Chúng ta đã tiếp xúc với một người mà người ấy là một bộ phậncủa lịch sử châu Á Chúng ta gặp gỡ một vĩ nhân, đồng thời chúng ta gặp gỡ một đoạnlịch sử ” Và: “Thật là một sự sung sướng mà có một người vĩ đại và đáng yêu đến vớichúng ta và, mặc dù những mâu thuẫn trên thế giới hiện nay, người ta vẫn cảm thấynhân đạo, hữu nghị và tình thương yêu nó sẽ xoá được mọi mâu thuẫn.” [83, tr 99].Đến với nhân dân Ấn Độ như thế, Người đã mở cánh cửa hòa bình cho tinh thần đoànkết quốc tế giữa hai dân tộc ngay từ trong khó khăn, thử thách của chiến tranh, củamâu thuẫn mà chủ nghĩa đế quốc, thực dân đang gây ra

Đến tháng 2-1959, Hồ Chí Minh tới thăm đất nước Inđônêxia là một trongnhững nước sáng lập ra Phong trào không liên kết, nơi tổ chức hội nghị Băng Đungnăm 1955 Thành công trong chuyến đi này của Hồ Chí Minh đã khai thông chiếc cầunối giữa Việt Nam với các nước trong khu vực Đông Nam Á và các nước khác ở Châu

Á, châu Phi, do đó, Việt Nam có được sự ủng hộ giúp đỡ của một lực lượng vô cùng tolớn, đó là các quốc gia thuộc Phong trào không liên kết

Trang 33

Nhìn từ góc độ khu vực, các cuộc viếng thăm hữu nghị với các nước Ấn Độ,Mianma, Inđônêxia mà Hồ Chí Minh đã thực hiện sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm

1954 thể hiện tầm nhìn xa rộng của Người khi đã đưa đất nước bước những bước đầutiên hòa vào sức mạnh của thời đại

Trên cơ sở có quan hệ hữu hảo với các nước sáng lập Phong trào Không liênkết, cùng với uy tín của mình, Việt Nam nhanh chóng nhận được sự ủng hộ hoàn toàncủa các nước mới trỗi dậy (GANEFO) ở cả châu Á, châu Phi, và Mỹ La Tinh Đây là

sự chuẩn bị quan trọng cho việc xúc sự hình thành một mặt trận nhân dân thế giới ủng

hộ Việt Nam chống đế quốc Mỹ, góp phần củng cố hòa bình ở châu Á và thế giới

Riêng về quan hệ đoàn kết với Lào và Campuchia, đứng trước những sự kiệnđuợc nhiều người xem như là “sự phản bội” của hai quốc gia láng giềng Campuchia vàLào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có ý kiến chỉ đạo làm dịu đi tình hình căng thẳng khuvực, tránh đối đầu dẫn đến đổ vỡ, sa vào âm mưu của thế lực đế quốc Theo Người,Việt Nam sẽ không thể ổn định nếu không có mối quan hệ thân thiện với các nướctrong khu vực, đặc biệt là các nước trên bán đảo Đông Dương Do đó, Người chỉ thị:

“Về quan hệ nhà nước cần hòa hoãn quan hệ với Lào và Campuchia trên cơ sở thihành Hiệp định đình chiến, làm tiêu tan những hoang mang của họ”[25, tr 11] Tháng1-1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra tuyên bố, bày tỏ quan điểm Việt Nam sẵn sàng đặtquan hệ hữu nghị với Vương quốc Lào, ủng hộ chính sách hòa bình trung lập của Lào,lên án Mỹ âm mưu phá hoại việc thi hành Hiệp định Giơnevơ và Hiệp định Viên Chăn(về Lào)

Đối với Campuchia, mặc dù xảy ra những sự việc đáng tiếc, song Việt Nam vẫnkiên trì đường lối ngoại giao mềm dẻo, đoàn kết Tháng 10-1957, Chủ tịch Hồ ChíMinh cử một đoàn đại biểu Chính phủ sang thăm Campuchia, bày tỏ thái độ thiện chícủa Việt Nam ủng hộ Campuchia trước sức ép của Mỹ và tay sai

Nhờ những đối sách ngoại giao mềm dẻo, sáng suốt này, cách mạng Việt Nam

đã bước đầu làm thất bại âm mưu chia rẽ của kẻ thù và tạo tiền đề cho việc thiết lậpliên minh chiến đấu Việt-Lào-Campuchia ở giai đoạn sau Sự kiện tháng 8-1956, Thủtướng Lào Xuvana Phuma sang thăm Việt Nam, và sự kiện tháng 9-1957, Campuchiatuyên bố trung lập, không tham gia SEATO và sau đó cắt đứt quan hệ ngoại giao vớiChính quyền Sài Gòn là một thắng lợi trong đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Hơn thế nữa, để định hướng tích cực cho những khó khăn của quan hệ quốc tếthời kỳ này, cũng từ năm 1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định nhất quán về

Trang 34

phương tiện mà nhân dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia sẽ sử dụng để tiến hành

đoàn kết quốc tế đó chính là sự ủng hộ Năm nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình mà

Chính phủ Trung Quốc, Ấn Độ và Miến Điện đã tuyên bố Ngày 25-6-1955, tại BắcKinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi đi thông điệp: “Nhân dân Việt Nam tin chắc rằngmọi sự phân tranh trên thế giới đều có thể giải quyết bằng cách hoà bình; tin chắc rằngcác nước dù chế độ xã hội khác nhau và hình thái ý thức khác nhau cũng đều có thểchung sống hoà bình được… Nước VNDCCH sẵn sàng đặt mọi quan hệ thân thiện hợptác với bất cứ một nước nào trên nguyên tắc: tôn trọng sự hoàn chỉnh về chủ quyền vàlãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp nội trị của nhau, bìnhđẳng cùng có lợi và chung sống hoà bình Chúng tôi tin chắc rằng sự hợp tác đó sẽ có lợicho cả đôi bên và có lợi chung cho công cuộc hoà bình toàn thế giới Cuộc đấu tranhanh dũng của nhân dân Việt Nam được nhân dân yêu chuộng hoà bình toàn thế giớiđồng tình và ủng hộ đã giành được thắng lợi vĩ đại và tiếp tục tiến tới thắng lợi cuốicùng…”[82, tr 4-5] Tiếp đó, ngày 29-10-1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏngvấn của ông Leroy Hanxen chủ bút hãng U.P của Mỹ ở khu vực Châu Á Người khẳng

định về chính sách đối ngoại, “triết lý hướng dẫn chúng tôi là sự thực hiện Năm nguyên tắc chung sống hoà bình” Cũng từ đây trở đi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn nhất quán khẳng định và vận dụng Mười nguyên tắc Banđung và Năm nguyên tắc chung sống hòa bình để xử lý thành công nhiều vấn đề đối ngoại phức tạp, thực hiện

sự thống nhất, đoàn kết giữa Việt Nam với các đối tượng khác nhau trong suốt tiếntrình lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ

Từ năm 1959, cách mạng Lào đã chuyển sang thời kỳ mới, kết hợp đấu tranhchính trị với đấu tranh vũ trang nhằm hoàn thành mục tiêu dân tộc dân chủ Vì vậy,khối đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào càng có điều kiện phát triểntoàn diện

Đối với Campuchia, Hồ Chí Minh thống nhất quan điểm tôn trọng độc lập dântộc và chính sách trung lập của Campuchia Người mong muốn có sự thân thiện, tincậy lẫn nhau Đây chính là cơ sở để cho mối quan hệ Việt Nam - Campuchia ngàycàng phát triển tốt Nhờ vậy, các tổ chức của Việt kiều yêu nước ở Campuchia có điềukiện hoạt động thuận lợi Ngay cả một số cá nhân trong lực lượng chống Diệm trongquân đội Sài Gòn chạy sang Campuchia đã có cơ sở liên lạc, giác ngộ để trở về thamgia Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam khi Mặt trận thành lập

Trang 35

Phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam, từ nông thôn tới thành thị từ sauHiệp định Giơnevơ đã chứng minh trên thực tế một mặt trận dân tộc thống nhất ở miềnNam đã hình thành Do vậy, nhờ có khối đoàn kết toàn dân được củng cố và tăngcường mà phong trào đấu tranh của đồng bào ở miền Nam từ cuối năm 1956 đến năm

1959 ngày càng phát triển mạnh Từ năm 1957, có 2 triệu lượt người tham gia đấutranh chính trị; năm 1958 có 3,7 triệu và năm 1959 có gần 5 triệu lượt người [141, tr.64] Nhưng chính sách phát xít của Mỹ - Diệm tiếp tục khiến cách mạng miền Nam chịunhiều tổn thất, hy sinh Cách mạng miền Nam đứng trước những thử thách cực kỳnghiêm trọng

Tình hình trong nước, quốc tế với những mối mâu thuẫn đan xen phức tạp hơntrước, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định triệu tập Hội nghị lần thứ XV(khóa II) khai mạc ngày 13-1-1959, đặt miền Nam Việt Nam trong cách mạng chungcủa cả nước và cách mạng thế giới Chủ trì Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ:

“Trong lúc tình hình thắng tốt, ta tiếc gì mà cù nhằng, ta chú ý đẩy lùi địch từng bước,giành từng thắng lợi đó là đang có khả năng nhiều hơn, khi có cơ hội ta đánh đổ luôn

không nên bỏ những thắng lợi nhỏ Địch rất là dại Nó càng bộc lộ hung ác của nó.

Dân cũng phản đối nó, thế giới càng phản đối nó, nó càng gần chỗ diệt vong ”[68, tr.3] Ý kiến chỉ đạo của Bác đã chỉ rõ tranh thủ kết hợp sức mạnh đoàn kết toàn dân tộcvới sức mạnh đoàn kết với bè bạn quốc tế sẽ một trong những cơ sở quan trọng Đểthêm quyết tâm cho Hội nghị, Trung ương đã nhất trí với chủ trương cách mạng miền

Nam tiến hành theo hướng cơ bản : Khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.

Nhưng cũng ở thời điểm này, đường lối đối ngoại cùng tồn tại hòa bình-giữcách mạng trong “thế thủ” đang thắng thế trong phong trào cộng sản quốc tế Mâuthuẫn Xô-Trung phát sinh và ngày càng gay gắt Xuất phát từ chiến lược và lợi ích dântộc của mỗi nước, Liên Xô, Trung Quốc đều giúp Việt Nam, nhưng cũng muốn ViệtNam phải theo chiến lược của họ Liên Xô khuyên Việt Nam phải thi đua xây dựnghòa bình, làm cho miền Bắc mạnh lên sẽ phát huy tác dụng đối với miền Nam TrungQuốc lại cho rằng Việt Nam “chỉ có thể dùng phương châm thích hợp là trường kỳ maiphục, tích trữ lực lượng, liên hệ quần chúng, chờ đợi thời cơ”[12, tr 40] Đó chính làtính chất phức tạp về chính trị quốc tế, đối với việc hoạch định đường lối chỉ đạo cáchmạng Trong tình hình thế giới có hai phe, sự giao lưu và thông tin quốc tế mở rộng,lợi ích của mỗi nước đều gắn chặt với lợi ích của phe và của cộng đồng quốc tế, nênnhững lời khuyên, những ý kiến gợi ý của Liên Xô, Trung Quốc và bè bạn xa gần dù ở

Trang 36

khía cạnh, quan điểm nào, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam cũng đều phảisuy nghĩ, nghiên cứu nghiêm túc, tính toán thận trọng để quyết định cho đường lốicách mạng của dân tộc mình Phải làm sao để vừa giữ vững độc lập tự chủ, vừa tranhthủ được sự đồng tình, ủng hộ của các nước anh em đối với nỗ lực chống “chiến tranhmột phía” mà Mỹ đang tiến hành ở miền Nam.

Theo thông lệ lúc bấy giờ trong quan hệ đối ngoại, Đảng Lao động Việt Nam đãgửi văn bản Nghị quyết Hội nghị lần thứ XV của Trung ương Đảng LĐVN cho ĐCSLiên Xô và ĐCS Trung Quốc để tranh thủ ý kiến và sự giúp đỡ Đầu năm 1960, đồngchí Lê Duẩn dẫn đầu phái đoàn của Đảng LĐVN sang Liên Xô, Trung Quốc, trao đổi

về Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu lần thứ III Đảng Lao động Việt Nam.

Bí thư thường trực ĐCS Liên Xô Kuxơnen đã tiếp và làm việc với đoàn Trước khi

trao đổi Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội III của Đảng LĐVN, Kuxơnen nói:

ĐCS Liên Xô không đồng tình với chủ trương trong Nghị quyết XV Phải củng cốmiền Bắc, qua đó rồi thống nhất, không có chuyện vũ trang, khởi nghĩa [166, tr 98]

Hơn thế nữa, Liên Xô và Trung Quốc cũng đang mâu thuẫn đã gay gắt về quanđiểm, chủ trương Khi đoàn Việt Nam sang Trung Quốc, Tổng bí thư Đặng Tiểu Bìnhtiếp và làm việc Đặng Tiểu Bình đồng ý phương hướng chung của cách mạng miềnNam đã đề ra trong Nghị quyết XV, nhưng nhấn mạnh: hoạt động vũ trang chỉ nên đếnquy mô đại đội Như vậy, Trung Quốc nhất trí với Việt Nam, nhưng vẫn có mức độ[166, tr 110]

Một sử gia phương Tây nhận xét:“Sau này, Việt Nam mới học được võ lợi

dụng mâu thuẫn để thủ lợi, còn hiện tại họ chỉ biết cầu xin hai ông anh làm lành vớinhau” [215, tr 69]

Lịch sử đã ghi nhận trong mối quan hệ Việt-Trung-Xô ở thời đoạn này, Chủtịch Hồ Chí Minh tiếp tục đóng vai trò nhà ngoại giao chiến lược Người đã thực hiệncuộc nghỉ hè ba vạn hai ngàn cây số từ 30-6 đến 26-8-1959 Người đã đến 10 nướccộng hòa Xô Viết, qua thăm 19 thành phố của Liên Xô, 5 tỉnh và 7 thành phố củaTrung Quốc, đã gặp nhiều bạn cũ và thêm nhiều bạn mới, đã tiếp xúc với nhiều tầnglớn nhân dân thuộc nhiều dân tộc khác nhau, qua đó xây dựng nên mối quan hệ đặcbiệt, cảm thông và nồng thắm giữa nhân dân các nước với nhân dân Việt Nam

Khi nghị quyết XV của Trung ương được quán triệt tới các tỉnh, không khí nổidậy trong quần chúng đã bùng lên ở khắp nơi Ngày 17-1-1960, tỉnh ủy Bến Tre phátlệnh đồng khởi, nhân dân Bến Tre đoàn kết nhất tề nổi dậy diệt ác phá đồn, đập tan bộ

Trang 37

máy cai trị, hệ thống kìm kẹp của địch ở thôn, xã Hòa nhịp với Bến Tre, các tỉnh Tân

An, Mỹ Tho, Trà Vinh, Cần Thơ, Bạc Liêu, Rạch Giá, Châu Đốc… nhân dân cùngđứng dậy đồng khởi Ở miền Đông Nam Bộ, ngày 26-1-1960, từ Tây Ninh đến BiênHòa, Thủ Dầu Một, Bà Rịa…các lực lượng vũ trang đã hỗ trợ đắc lực cho quần chúngnổi dậy giành quyền làm chủ

Khí thế quần chúng trong đồng khởi lên rất cao Các đoàn thể cách mạng củanông dân, thanh niên, phụ nữ… phát triển mạnh Nhân dân giúp nhau sản xuất, bảođảm đời sống, nông dân thiếu ruộng được cách mạng cấp Đồng Khởi đã nối liền vùnggiải phóng từ Trị-Thiên qua Tây Nguyên đến các tỉnh Nam Trung Bộ và Nam Bộthành một thể thống nhất

Như thế là, trong hoàn cảnh khủng bố man rợ của kẻ thù, cách mạng bị tổn thấtnặng nề, tưởng sẽ khó có thể phục hồi lại được, thì Hồ Chủ tịch và Đảng LĐVN đãnuôi dưỡng, giáo dục và xây dựng khối đoàn kết toàn dân, biết dựa hẳn vào khối quầnchúng đông đảo, phát động và khơi sâu ý chí căm thù, nuôi dưỡng lòng dũng cảm vàtrí tuệ cách mạng của quần chúng, thổi bùng ngọn lửa quật khởi trong toàn dân thànhcao trào nổi dậy khắp nông thôn miền Nam, phá vỡ ách kìm kẹp của địch, mở ra cụcdiện mới cho cách mạng miền Nam

Hơn thế, cao trào Đồng khởi chẳng những đã góp phần củng cố và tăng cườngkhối đoàn kết nhân dân miền Nam, mà nó còn góp phần quan trọng bảo vệ và củng cốmiền Bắc, cổ vũ, khích lệ nhân dân miền Bắc đoàn kết chặt chẽ, hăng hái hơn nữa đểthi đua xây dựng hậu phương cho cách mạng cả nước

Cùng với phong trào Đồng khởi trong nước như thế, sự đoàn kết quốc tế đối vớicách mạng Việt Nam cũng tăng lên Hòa chung với khí thế Đồng Khởi của nhân dânmiền Nam, cứu nước, phong trào dân tộc đã thành công rộng rãi Ở thời điểm này, trêntrường quốc tế nhiều tổ chức tập hợp lực lượng đã hình thành như Tổ chức Thống nhấtchâu Phi (OAU), Phong trào Không liên kết; Tổ chức đoàn kết Á-Phi-MỹLaTinh Việt Nam nhận được sự ủng hộ của nhiều nước độc lập dân tộc, của nhiềuphong trào Angiêri, Mali, Miến Điện và nhiều nước luôn luôn ủng hộ Việt Nam.Inđônêxia, mặc dầu chính quyền độc tài (Shuharto) và bị Mỹ lôi kéo mạnh mẽ vẫn từchối tham gia giúp Mỹ

Tại diễn đàn Liên Hợp Quốc và nhiều diễn đàn quốc tế khác, cùng với các nướcXHCN, Inđônêxia luôn luôn có tiếng nói của các nước dân tộc lên án Mỹ xâm lược,ủng hộ Việt Nam Hội đồng hòa bình thế giới do ( Inđônêxia làm chủ tịch ) đã quyết

Trang 38

định lấy ngày 20-7 hàng năm làm “Ngày ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam”, “Ngày Việt Nam” Ngày 20-7-1959, hưởng ứng khí thế Đồng khởi,

“Ngày Việt Nam” đã được tổ chức ở hơn 20 nước trên thế giới đòi Mỹ rút khỏi miền

Nam Việt Nam, đòi Diệm chấm dứt khủng bố, tàn sát và hủy bỏ luật lệ phát xít Tạinhiều nước, đã có những đợt đấu tranh mạnh mẽ lên án hành động đàn áp, khủng bố dãman của Mỹ - Diệm đối với những người yêu nước ở miền Nam Việt Nam Nổi bật làđợt đấu tranh lên án Mỹ- Diệm dùng thuốc độc thảm sát hàng nghìn người yêu nước bịgiam ở Phú Lợi năm 1958 Đây cũng chính là cơ sở để Hồ Chí Minh quyết định vềmặt đường lối vận động thành lập mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chốngxâm lược Mỹ ở giai đoạn sau

Là một người phương Đông nhưng đã từng sống tới 30 năm ở phương Tây, tớithời điểm này của cách mạng, Hồ Chí Minh đã dùng triết lý phương Đông kết hợp hàihòa với văn hóa phương Tây trong ứng xử đối ngoại rất nhuần nhuyễn, do đó vừa giữđược sự tinh tế, mềm dẻo lại vừa đảm bảo nguyên tắc, mục tiêu cách mạng Song hơnhết là tư tưởng đoàn kết, thái độ chân thành của Hồ Chí Minh đã phần nào làm lu mờnhững vấn đề hẹp hòi dân tộc, cơ hội chủ nghĩa, đó là cơ sở tạo ra niềm tin, sự cảmthông và nâng cao vị trí của Việt Nam - Hồ Chí Minh trên trường quốc tế Rõ ràng là

uy tín và nỗ lực hoạt động của Người có ý nghĩa tạo ra bước ngoặt trong quan hệ quốc

tế của Việt Nam ở thời điểm này Tóm lại, hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ ChíMinh trong thời gian từ tháng 7-1954 đến tháng 9-1960 (tức là từ sau Hội nghịGiơnevơ đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III), đã đạt được kết quả to lớn và toàndiện, trên cả phạm vi khu vực và thế giới

1.3 Chủ tịch Hồ Chí Minh với những hoạt động đối ngoại nêu cao chính nghĩa hòa bình, thực hiện đoàn kết quốc tế và vận động nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược (1960-1965)

1.3.1 Tình hình trong nước và những diễn biến trong quan hệ quốc tế ảnh hưởng đến cách mạng Việt Nam (1961-1965)

Thực hiện đường lối Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9-1960),miền Bắc tiến hành nhiệm vụ xây dựng CNXH Đây là nhiệm vụ trọng tâm và đượcxác định là: “Nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạngnước ta” [34, tr 33-34] Xây dựng miền Bắc thành căn cứ địa chung của cả nước đãtrở thành một yêu cầu tiên quyết Cần phải tập trung lực lượng cho công cuộc xâydựng cơ sở vật chất, kỹ thuật nhằm nâng cao mức sống của nhân dân, tạo ra lực lượng

Trang 39

sản xuất mới có khả năng đáp ứng với quan hệ sản xuất mới Trên cơ sở đó sẽ xâydựng tiềm lực quốc phòng đủ mạnh để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc và chiviện cho miền Nam.

Với sự cố gắng của mọi tầng lớp nhân dân và được sự giúp đỡ to lớn của cácnước XHCN anh em, trong thời gian thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, miền Bắc

đã có những thay đổi về mọi mặt, thực sự trở thành hậu phương vững chắc của cảnước Tính đến năm 1963, đã có từ 30-40 ngàn cán bộ chiến sỹ lực lượng vũ trang từmiền Bắc hành quân vào chiến trường B Các đoàn vận tải quân sự 559 (vận tải đườngbộ), đoàn 125 (vận tải biển) đã bí mật chở hơn 5.000 tấn vũ khí, phương tiện chiếntranh vào tận chiến trường của miền cực Nam và Đông Nam Bộ [143, tr 85]

Nhờ có sự chi viện kịp thời của miền Bắc, quân và dân miền Nam đã liên tục

mở các cuộc tấn công, phá vỡ hệ thống đồn bốt, ấp chiến lược của ngụy quyền, làmphá sản âm mưu “bình định” Các trận đánh lớn giành thắng lợi trên cả hai phươngdiện quân sự và chính trị như trận Ấp Bắc (1-1963), đánh dấu sự thất bại của chiếnthuật “thiết xa vận”, “trực thăng vận”, báo hiệu sự phá sản hoàn toàn của chiến lược

“chiến tranh đặc biệt” Trận Bình Giã (1964), Ba Gia-Đồng Xoài (hè thu 1965) chothấy xương sống của “chiến tranh đặc biệt” là chủ lực ngụy, dù được tăng cường cốvấn Mỹ xuống tận cấp đại đội cũng đã bị bẻ gãy Đến đây xem như “chiến tranh đặcbiệt” đã thất bại, cho dù trước đó Mỹ đã đổi ngựa giữa dòng, đảo chỉnh lật Diệm (11-1963)

Và cho đến khi giặc Mỹ gây chiến tranh phá hoại ở miền Bắc (8-1964), choquân đổ bộ vào miền Nam (3-1965) thì nhiệm vụ xây dựng hậu phương miền Bắc đãđược chuẩn bị chu đáo để đối phó với sự leo thang chiến tranh của đế quốc Mỹ, sẵnsàng đánh Mỹ và thắng Mỹ

Sở dĩ miền Bắc có thể nhanh chóng trở thành hậu phương vững chắc của cảnước và có đủ điều kiện sẵn sàng chiến đấu chống chiến tranh của giặc Mỹ, ngoài yếu

tố phát huy sức lực của quần chúng nhân dân, phải kể đến sự hỗ trợ to lớn, hiệu quảcủa các nước XHCN, trong đó chủ yếu là hai nước Liên Xô và Trung Quốc

Nhưng bước sang những năm đầu thập kỷ 60, điều đáng lo ngại là mâu thuẫnXô-Trung đã phát triển theo hướng không tích cực, ngày càng gay gắt hơn và đã lênđến đỉnh điểm tại Đại hội Đảng Cộng sản Rumani tháng 6-1960, có tới hơn 60 Đảngtham dự Ngày 20-6-1960, khi hai đoàn Liên Xô-Trung Quốc công khai đả kích nhau

về chiến lược của phe XHCN trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh Một mặt, Trung Quốc

Trang 40

kiên quyết phủ nhận vai trò lãnh đạo phe XHCN của Liên Xô, đồng thời không chịu

ký vào Tuyên bố chung của Hội nghị Sau vụ việc, Liên Xô còn quyết định gọi tất cả

các chuyên gia ở Trung Quốc về nước [100, tr 601]

Chính vì thế mà, mặc dù, cuộc Đồng Khởi của đồng bào miền Nam thực chất lànhững cuộc khởi nghĩa từng phần, bước sang đến giữa năm 1960 tiếp tục phát triểnthành cuộc chiến tranh cách mạng, vừa đấu tranh quân sự, vừa đấu tranh chính trị làmtan rã từng mảng lớn hệ thống chính quyền tay sai Mỹ Và cũng nhờ Đồng Khởi,phong trào cách mạng miền Nam có những bước tiến triển vượt bậc, nhưng điều nàylại không nhận được sự tán đồng của hai nước đồng minh chiến lược Liên Xô vàTrung Quốc

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc từ lâu vẫn có ý định duy trì tình trạng Việt Nam

bị chia cắt thành hai miền, vì thế họ thường xuyên thuyết phục Việt Nam phải “trường

kỳ mai phục”, không nên tiến hành đấu tranh vũ trang ở miền Nam Chủ tịch TrungQuốc Mao Trạch Đông nói: “Vấn đề là phải giữ biên giới hiện có Phải giữ vĩ tuyến17…Thời gian có lẽ dài đấy Tôi mong đợi thời gian dài thì sẽ tốt” [12, tr 24] Tổng

Bí thư ĐCS Trung Quốc Đặng Tiểu Bình còn dọa: “Dùng lực lượng vũ trang để thốngnhất nước nhà sẽ có hai khả năng: một là thắng và một khả năng nữa là mất cả miềnBắc” [12, tr 24] Sở dĩ có tình trạng ấy, ngoài những lý do đã nhìn thấy trong chiếnlược toàn cầu của Trung Quốc, tâm lý ngại Mỹ, sợ “đốm lửa” chiến tranh sẽ lan sang

cả Trung Quốc, làm cho những người lãnh đạo Bắc Kinh e ngại Họ nói: “Cần hết sứctránh việc trực tiếp tham gia chiến tranh…cần tính đến một cuộc phiêu lưu của Mỹ”[12, tr 28]

Đối với Liên Xô, thực hiện đường lối “hòa hoãn” Xô-Mỹ, Liên Xô chủ trươnggiữ nguyên hiện trạng hai miền của Việt Nam, không ủng hộ đường lối đấu tranh vũtrang của Đảng LĐVN ở miền Nam để tránh “đụng chạm” với Mỹ (lý do Liên Xô đưa

ra là sợ “đốm lửa cháy rừng”, sợ nổ ra chiến tranh thế giới thứ III) Đại hội lần thứXXII Đảng Cộng sản Liên Xô đã diễn ra từ ngày 10-10 đến 21-10-1961 Đây là Đạihội diễn ra ngay khi mâu thuẫn Xô-Trung xuất hiện và trên thực tế, lịch sử đã ghi nhậntrong những ngày Đại hội họp, mâu thuẫn này đã không được khắc phục, hơn thế nữa,

nó còn bùng phát tới đỉnh điểm, đó là khi Chu Ân Lai bỏ về Bắc Kinh giữa chừng

Bước sang năm 1962, quan hệ quốc tế ở thời điểm này có quá nhiều biểu hiệnlàm cho người ta nghĩ rằng thế giới hình như vẫn chỉ tồn tại có hai cực, bởi ở đó, nhiềuvấn đề quốc tế lớn trở thành đề tài giải quyết tay đôi Xô-Mỹ Điển hình như các cuộc

Ngày đăng: 20/07/2014, 17:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị lần thứ 15 của BCHTƯĐ, tháng 1- 1959- Trường Nguyễn Ái Quốc sao lại- ký hiệu M76-3953, Lưu trữ tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh
15. Trường Chinh (1991): Chủ tịch Hồ Chí Minh và cách mạng Việt Nam, Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh và cách mạng Việt Nam
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nxb. Thôngtin lý luận
Năm: 1991
16. Nguyễn Viết Chung (1954): Đế quốc Mỹ can thiệp vào chiến tranh xâm lược Việt, Miên, Lào nhất định sẽ thất bại nhục nhã , Nxb, Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đế quốc Mỹ can thiệp vào chiến tranh xâm lượcViệt, Miên, Lào nhất định sẽ thất bại nhục nhã
Tác giả: Nguyễn Viết Chung
Năm: 1954
17. Phạm Hồng Chương (1993): Đấu tranh ngoại giao của Việt Nam chống đế quốc Mỹ trong giai đoạn 1965-1973, LA.PTS KHLS, ĐH Tổng hợp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đấu tranh ngoại giao của Việt Nam chống đế quốcMỹ trong giai đoạn 1965-1973
Tác giả: Phạm Hồng Chương
Năm: 1993
18. Trần Quang Cơ (2003 ): Hồi ức và suy nghĩ, bản mềm trên internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồi ức và suy nghĩ
19. Lê Cuờng (2005):Quan điểm "Bốn biển đều là anh em" trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí Cộng sản, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bốn biển đều là anh em
Tác giả: Lê Cuờng
Năm: 2005
20. Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay : Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh 19-5-1890 - 19-5-2010, Nxb Chính trị - Hành chính – 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay : Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tếkỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh 19-5-1890 - 19-5-2010
Nhà XB: NxbChính trị - Hành chính – 2010
21. ĐHKHXH&NV- ĐHQGHN (1-2013): Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế: Hiệp định Paris 40 năm nhìn lại, bài của Trần Thị Vinh: Canađa với Hiệp định Paris 1973: Nhìn lại và luận giải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế: Hiệpđịnh Paris 40 năm nhìn lại", bài của Trần Thị Vinh
22. ĐHKHXH&NV- ĐHQGHN (1-2013): Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế: Hiệp định Paris 40 năm nhìn lại, bài của Nguyễn Khắc Huỳnh: Hiệp định Paris 40 năm nhìn lại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế: Hiệpđịnh Paris 40 năm nhìn lại", bài của Nguyễn Khắc Huỳnh
23. ĐHKHXH&NV- ĐHQGHN (2005): Việt Nam trong tiến trình thống nhất đất nước, đổi mới và hội nhập, Nxb. ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam trong tiến trình thống nhất đấtnước, đổi mới và hội nhập
Tác giả: ĐHKHXH&NV- ĐHQGHN
Nhà XB: Nxb. ĐHQGHN
Năm: 2005
24. Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh (2005): Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước-những vấn đề khoa học và thực tiễn: Kỷ yếu Hội thảo Khoa học kỷ niệm 30 năm giải phóng miền Nam 30.4.1975- 30.4.2005, Nxb. ĐHQG Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứunước-những vấn đề khoa học và thực tiễn: Kỷ yếu Hội thảo Khoa học kỷ niệm 30năm giải phóng miền Nam 30.4.1975- 30.4.2005
Tác giả: Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. ĐHQG Tp.HCM
Năm: 2005
25. Đảng Cộng sản Việt Nam: Biên bản họp Bộ Chính trị (9-1954), ĐVBQ 92, Cục lưu trữ Trung ương Đảng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên bản họp Bộ Chính trị (9-1954)
26. Đảng Cộng sản Việt Nam: Biên bản họp Bộ Chính trị (12-1965 và 1-1966), ĐVBQ 92, Cục lưu trữ Trung ương Đảng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên bản họp Bộ Chính trị (12-1965 và 1-1966)
27. Đảng Cộng sản Việt Nam: Biên bản Hội nghị BCHTƯĐ lần thứ 7 (khóa II), ĐVBQ 29, Cục lưu trữ Trung ương Đảng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên bản Hội nghị BCHTƯĐ lần thứ 7
28. Đảng Cộng sản Việt Nam: Biên bản Hội nghị BCHTƯĐ lần thứ 9 (khóa III), ĐVBQ 58, Cục lưu trữ Trung ương Đảng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên bản Hội nghị BCHTƯĐ lần thứ 9
29. Đảng Cộng sản Việt Nam: Biên bản Hội nghị BCHTƯĐ lần thứ 12 (khóa III), ĐVBQ 61, Cục lưu trữ Trung ương Đảng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên bản Hội nghị BCHTƯĐ lần thứ 12
30. Đảng Cộng sản Việt Nam: Biên bản Hội nghị BCHTƯĐ lần thứ 13(khóa III), ĐVBQ 62, Cục lưu trữ Trung ương Đảng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên bản Hội nghị BCHTƯĐ lần thứ 13
31. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II), tháng 8 – 1955, tài liệu lưu trữ tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trungương Đảng (khoá II)
32. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986): Một số văn kiện của Đảng về chống Mỹ, cứu nước, Hà Nội, tập 1, Nxb. Sự thật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn kiện của Đảng về chống Mỹ, cứunước
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật Hà Nội
Năm: 1986
220. Dẫn lại theo: http://tuoitre.vn/The-gioi/76630/Phan-chien.html Link

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w