1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giáo dục đạo đức cho sinh viên trường cao đẳng tài chính – kế toán quảng ngãi

124 449 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 4,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hoá, kinh tế, v.v… trên quy mô toàn cầu. Đặc biệt là toàn cầu hóa về kinh tế. Một mặt, tạo cơ hội cho những tổ chức, cá nhân có năng lực phát huy được tiềm năng của mình, đem lại lợi ích cho cá nhân và cho cả xã hội. Mặt khác, toàn cầu hóa kinh tế cũng đem đến tác động tiêu cực trong phát triển ổn định, bền vững nhất là đối với những nước đang phát triển như Việt Nam. Đó là việc đặt mục tiêu kinh tế và lợi nhuận lên trên hết, làm giàu bất chính bằng bất cứ giá nào. Điều đó, góp phần làm băng hoại nền đạo đức xã hội, làm cho quan hệ giữa người với người trở nên lạnh lùng, xa lạ, "không tình, không nghĩa" và đây thực sự là một nguy cơ của sự suy thoái đạo đức, lối sống con người Việt Nam hiện nay. Biểu hiện thông qua, lối sống sùng bái vật chất, cá nhân, vị kỷ, thực dụng, đua đòi, ăn chơi xa hoa, lãng phí, sống truỵ lạc, thác loạn, ưa dùng bạo lực... Lối sống đó đang phần nào tác động đến một bộ phận tầng lớp thanh niên, sinh viên. Chính vì thế, tại Đại hội IX, Đảng ta nhấn mạnh: “Đối với thế hệ trẻ, chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng đạo đức, lối sống, văn hoá, sức khoẻ, nghề nghiệp, giải quyết việc làm, phát triển tài năng, sức sáng tạo, phát huy vai trò xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [16, tr.50] đang là một yêu cầu cấp bách Là một giảng viên của Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toán Quảng Ngãi, nhận thấy sự cần thiết và tầm quan trọng của vấn đề giáo dục đạo đức cho sinh viên khi còn đang ngồi trên ghế nhà trường là lý do để tôi chọn đề tài “Giáo dục đạo đức cho sinh viên trường Cao đẳng Tài chính Kế - toán Quảng Ngãi hiện nay”.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

Chương 1 ĐẠO ĐỨC VÀ VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN 10

1.1 Đạo đức và chức năng của đạo đức 10

1.1.1 Đạo đức 10

1.1.2 Chức năng của đạo đức trong đời sống xã hội 15

1.2 Giáo dục đạo đức và vai trò của giáo dục đạo đức cho sinh viên 19

1.2.1 Giáo dục đạo đức 19

1.2.2 Vai trò của giáo dục đạo đức 20

1.2.3 Giáo dục đạo đức cho sinh viên 21

Chương 2 THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG TÀI CHÍNH - KẾ TOÁN HIỆN NAY 33

2.1 Vài nét về Quảng Ngãi và Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toán Quảng Ngãi hiện nay 33

2.1.1 Vài nét về Quảng Ngãi 33

2.1.2 Vài nét về Trường và sinh viên Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toán 35

2.2 Thực trạng và tình hình giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toán hiện nay 39

2.2.1 Quan niệm về đạo đức của sinh viên Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toán 39

2.2.2 Tình hình giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toán 67

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG TÀI CHÍNH -KẾ TOÁN QUẢNG NGÃI HIỆN NAY 77

3.1 Nâng cao hiệu quả công tác, phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh 77

3.2 Thiết kế, xây dựng nội dung chương trình đảm bảo các yếu tố của giáo dục đạo đức 80

Trang 2

3.2.1 Xây dựng nội dung giáo dục đạo đức phù hợp, bảo đảm sự kết hợp

giữa giáo dục đạo đức truyền thống với giáo dục đạo đức chuyên

môn nghiệp vụ, quản lý doanh nghiệp 80

3.2.2 Gắn chặt hơn nữa việc giáo dục đạo đức với thực hành đạo đức trong công tác hướng dẫn sinh viên thực tập, thực tế 84

3.3 Xây dựng môi trường kinh tế - xã hội lành mạnh, “trường học thân thiện, học sinh tích cực” 86

3.3.1 Xây dựng môi trường kinh tế - xã hội lành mạnh 86

3.3.2 Xây dựng “trường học thân thiện, học sinh tích cực” 94

3.4 Đổi mới công tác quản lý giáo dục đạo đức 99

KẾT LUẬN 103

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

PHỤ LỤC 109

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN TỚI LUẬN VĂN 124

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trongnền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốcgia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hoá, kinh tế, v.v… trên quy mô toàncầu Đặc biệt là toàn cầu hóa về kinh tế Một mặt, tạo cơ hội cho những tổ chức, cánhân có năng lực phát huy được tiềm năng của mình, đem lại lợi ích cho cá nhân vàcho cả xã hội Mặt khác, toàn cầu hóa kinh tế cũng đem đến tác động tiêu cực trongphát triển ổn định, bền vững nhất là đối với những nước đang phát triển như ViệtNam Đó là việc đặt mục tiêu kinh tế và lợi nhuận lên trên hết, làm giàu bất chínhbằng bất cứ giá nào Điều đó, góp phần làm băng hoại nền đạo đức xã hội, làm choquan hệ giữa người với người trở nên lạnh lùng, xa lạ, "không tình, không nghĩa" vàđây thực sự là một nguy cơ của sự suy thoái đạo đức, lối sống con người Việt Namhiện nay Biểu hiện thông qua, lối sống sùng bái vật chất, cá nhân, vị kỷ, thực dụng,đua đòi, ăn chơi xa hoa, lãng phí, sống truỵ lạc, thác loạn, ưa dùng bạo lực Lốisống đó đang phần nào tác động đến một bộ phận tầng lớp thanh niên, sinh viên

Chính vì thế, tại Đại hội IX, Đảng ta nhấn mạnh: “Đối với thế hệ trẻ, chăm logiáo dục, bồi dưỡng, đào tạo phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng đạo đức, lốisống, văn hoá, sức khoẻ, nghề nghiệp, giải quyết việc làm, phát triển tài năng, sứcsáng tạo, phát huy vai trò xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[16, tr.50] đang là một yêu cầu cấp bách

Là một giảng viên của Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toán Quảng Ngãi,nhận thấy sự cần thiết và tầm quan trọng của vấn đề giáo dục đạo đức cho sinh viên

khi còn đang ngồi trên ghế nhà trường là lý do để tôi chọn đề tài “Giáo dục đạo đức cho sinh viên trường Cao đẳng Tài chính Kế - toán Quảng Ngãi hiện nay”.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Có thể thấy rằng vấn đề về giáo dục đạo đức nói chung và giáo dục đạo đứccho sinh viên nói riêng từ rất lâu đã có sự quan tâm sâu sắc và chặt chẽ của các nhànghiên cứu, các học giả, của Đảng, Nhà nước cũng như của các tổ chức xã hội, tổ

Trang 4

chức nghề nghiệp thông qua các công trình nghiên cứu và công bố dưới nhữnggóc soi chiếu giá trị khác nhau về con người, nhân cách con người, về đạo đức, lốisống, lý tưởng, niềm tin đã có một số các tác phẩm chung nhất sau đây nghiên cứu

tin, Hà Nội; GS.TS Nguyễn Ngọc Long, PGS.TS Nguyễn Thế Kiệt (chủ biên, 2004)

“Giáo trình đạo đức học Mác-Lênin”, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội; Phan Thanh Long (chủ biên, 2006), “Lý luận giáo dục”, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.

Một số tác giả, tác phẩm với nhiều đề tài khác nhau nghiên cứu chuyên sâu

về vấn đề giáo dục đạo đức như:

Phan Huy Lê - Vũ Minh Giang (1996), Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay, Đề tài KX 07-02, T1, Hà Nội; Hoàng Chí Bảo (2001), Nhân cách và giáo dục văn hoá nhân cách, Tạp chí Triết học T1; Nguyễn Trọng Chuẩn (2001) Kinh tế

thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay và những biến động trọng lĩnh

vực đạo đức, Tạp chí Triết học (số 09); PGS.TS Nguyễn Thế Kiệt (2001) Quan hệ giữa đạo đức và kinh tế trong việc định hướng các giá trị đạo đức hiện nay, Tạp chí Triết học

(số 06); Đỗ Lan Hiền (2002), “Vấn đề giáo dục đạo đức trong bối cảnh phát triển kinh tế

thị trường”, Tạp chí Triết học (số 04);Vũ Trọng Dung (2004), Tác động của kinh tế thị trường đến đạo đức người cán bộ quản lý, Tạp chí Triết học, (số 05)

Tuy nhiên, trong vấn đề về đạo đức và giáo dục đạo đức thì đối tượng đượcquan tâm soi chiếu nhiều nhất cả về những điểm chung và những điểm đặc thù đóchính là của những học sinh, sinh viên và thanh niên - những con người gánh váctrên vai mình trọng trách xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩavới một số các công trình tiêu biểu như:

Trang 5

“Giáo dục đạo đức trong điều kiện phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay”

(Phạm Duy Chư, Luận văn thạc sĩ, Hà Nội 1996) góp phần làm sáng tỏ một số nộidung của khái niệm đạo đức và các chuẩn mực về đạo đức trong điều kiện nền kinh

tế thị trường ở nước ta hiện nay Đồng thời tác giả đề xuất một số phương hướng vàbiện pháp cơ bản để giáo dục đạo đức

“Giáo dục đạo đức cho sinh viên trường cao đẳng sư phạm Bến Tre - thực trạng và giải pháp” (Huỳnh Thị Hoàng Nâu, Luận văn thạc sĩ, Hà Nội 2004) Hệ

thống hoá vai trò giáo dục đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân cáchsinh viên Phân tích thực trạng đạo đức và công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên

ở Trường Cao đẳng Sư phạm Bến Tre Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nângcao chất lượng và hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên

“Vấn đề giáo dục đạo đức cho sinh viên ngân hàng ở Việt Nam hiện nay”

(Lê Thị Chung, Luận văn thạc sĩ, Hà Nội 2004) làm rõ tầm quan trọng của việc giáodục đạo đức cho sinh viên ngân hàng và đánh giá thực trạng của công tác này ở ViệtNam Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinhviên Ngân hàng hiện nay

“Quan điểm của Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cho thanh niên và vận dụng vào điều kiện hiện nay” (Nguyễn Thu Trang, Luận văn thạc sĩ, Hà Nội 2008)

phân tích nội dung quan điểm của Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cho thanh niênthông qua các bài nói, bài viết, việc làm và tấm gương đạo đức của Người Trìnhbày sự vận dụng và phát triển quan điểm của Người về giáo dục đạo đức cho thanhniên ở nước ta hiện nay xuất phát từ thực tiễn tình hình giáo dục trong nước và thếgiới Đề xuất một số giải pháp: tăng cường công tác giáo dục đạo đức cho thanhniên; giáo dục đạo đức cho thanh niên theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; kếthợp chặt chẽ giữa gia đình với nhà trường và xã hội; tăng cường vai trò của các tổchức đoàn thể xã hội; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nướcnhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho thanh niên ở nước ta hiện nay

Có thể thấy rằng vấn đề nghiên cứu các giá trị đạo đức và giáo dục đạo đứccho sinh viên, cho thế hệ trẻ cách mạng của nước ta ngày hôm nay và mai sau

Trang 6

không bao giờ là đủ Vậy nên, thông qua hàng loạt các bài viết, bài nói, công trìnhnghiên cứu về đạo đức, các giá trị đạo đức, giáo dục đạo đức như tác giả đã đề cập ở

trên nhưng chưa đề tài nào nghiên cứu, nhấn mạnh về vấn đề “giáo dục đạo đức cho sinh viên Tài chính - Kế toán” Vậy nên, tôi đi sâu nghiên cứu đề tài luận văn của mình là: “Giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Cao đẳng Tài chính Kế toán Quảng Ngãi hiện nay” với mong muốn sẽ làm rõ hơn và nổi bật lên vấn đề về

giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên góp phần vào sự phát triển ổn định, bềnvững của nền kinh tế nước nhà

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích

Luận văn làm sáng tỏ, vai trò, nội dung, thực trạng của công tác giáo dục đạođức cho sinh viên Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toán Quảng Ngãi, từ đó đề xuấtmột số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác giáo dục đạo đức chosinh viên Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toán Quảng Ngãi

3.2 Nhiệm vụ

Để thực hiện mục đích trên thì luận văn có nhiệm vụ làm rõ:

- Đạo đức và vai trò của giáo dục đạo đức cho sinh viên

- Thực trạng, nội dung đạo đức và giáo dục đạo đức cho sinh viên TrườngCao đẳng Tài chính - Kế toán Quảng Ngãi

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho sinhviên Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toán Quảng Ngãi

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Trang 7

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quanđiểm của Đảng cộng sản Việt Nam về giáo dục và giáo dục đạo đức cho sinh viênViệt Nam

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duyvật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp một số phương pháp cụ thểnhư: phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống, so sánh, phỏng vấn, điều tra xã hộihọc… để trình bày những vấn đề đặt ra trong luận văn

6 Đóng góp mới về khoa học và ý nghĩa của luận văn

- Luận văn góp phần làm sáng tỏ vai trò, nội dung, tầm quan trọng của giáodục đạo đức cho sinh viên Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toán Quảng Ngãi hiệnnay

- Trên cơ sở đó đề ra các giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng và hiệuquả công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toánhiện nay

- Luận văn có thể làm tài liệu nghiên cứu để giáo dục đạo đức cho sinh viên

ở các trường Đại học, Cao đẳng hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luậnvăn gồm 3 chương, 8 tiết:

Chương 1: Đạo đức và vai trò của giáo dục đạo đức cho sinh viên

Chương 2: Thực trạng đạo đức và giáo dục đạo đức cho sinh viên TrườngCao đẳng Tài chính - Kế toán hiện nay

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho sinhviên Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toán Quảng Ngãi hiện nay

Trang 8

Chương 1ĐẠO ĐỨC VÀ VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN

1.1 Đạo đức và chức năng của đạo đức

1.1.1 Đạo đức

Theo nghiên cứu của một số các tác giả như: Trần Hậu Kiêm (1997) “Đạo đức học”, Nxb Giáo dục, Hà Nội; GS.TS Nguyễn Ngọc Long, PGS.TS Nguyễn Thế Kiệt (chủ biên), “Giáo trình đạo đức học Mác - Lênin”, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2004; Vladimir Soloviev, Karol Vojtyla, Albert Schweitzer (2004) “Triết học đạo đức”, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội; PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân (2007)

“Đạo đức kinh doanh và văn hóa công ty”, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, thì từ

“đạo đức” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ “Ethos” - đạo lý và tiếng Latinh là

“Moralital” - luân lý, có nghĩa là “phong tục, tập quán, thói quen, cách ứng xử, đặctính, loại hình tư tưởng”.Từ này xuất hiện lần đầu tiên trong tiếng Pháp vào năm

1265 Cicéron sau đó đã dịch từ “đạo đức” (éthique) qua từ “luân lý” (morale) trongtiếng La tinh, chính từ luân lý cũng bắt nguồn từ từ mores có nghĩa là “phong tục tậpquán” Sau đó tiếng Pháp đã dùng từ này lần đầu tiên vào năm 1530 Hai từ “luân lý”

và “đạo đức” ban đầu có chung một định nghĩa “cách hành xử được ấn định bởiphong tục, tập quán của một nước” Muốn phân biệt hai từ trên cần tìm hiểu lịch sửcủa các ý tưởng Ngay từ thời thượng cổ, người Hy Lạp đã coi đạo đức như suy nghĩ

về những nguyên tắc chỉ đạo cuộc sống con người trong khi đó thì người La Mã gáncho từ luân lý một hàm ý về luật, cả hai đều chứa đựng tập quán của hai dân tộc Lịch

sử đạo đức cho đến nay có rất nhiều những quan điểm khác nhau:

Trước C.Mác, các nhà triết học phương Tây, do duy tâm trong quan niệm vềlịch sử, nên mặc dù có những tư tưởng hợp lý nhất định về đạo đức, nhưng nhìnchung, họ không giải quyết được một cách thật sự khoa học những vấn đề căn bảncủa đạo đức học

Vấn đề căn bản nhất của đạo đức học là vấn đề bản chất của đạo đức Cáctôn giáo cũng như các nhà triết học trước Mác thường quy đạo đức về một cộinguồn, một bản nguyên phi lịch sử Bản nguyên đó hoặc là Thượng đế (tôn giáo),

Trang 9

hoặc là một nguyên lý tiên thiên (I.Cantơ), một ý niệm tuyệt đối tự phát triển(G.Hêghen), một bản tính người trừu tượng (L.Phoiơbắc) tiêu biểu với một sốquan điểm về đạo đức:

Theo Socrates (khoảng năm 469-399 tr.CN), một mặt đức hạnh là tri thức,bất cứ ai biết điều gì là đúng đắn tất sẽ thực hiện điều đó Hành vi sai trái chỉ xuấtphát từ sự vô minh Một người có hành động không đúng bởi vì, và chỉ vì, anh takhông biết cái gì là đúng đắn Không có một người tỉnh táo và lành mạnh nào lạichủ tâm làm tổn hại bản thân mình Nếu anh ta thực sự làm một điều như vậy, đơngiản chỉ vì phạm phải sai lầm nào đó trong quá trình hành động, hoàn toàn khôngphải do cố ý Không ai chủ định chọn lựa điều sai trái, bởi lẽ hành vi tội lỗi luônmang đến tai hoạ cho bản thân họ và người khác; mặt khác đức hạnh không chỉ làtri thức, bản thân nó cũng đồng nghĩa với hạnh phúc Bởi lẽ, hành vi đạo đức cũngchính là hành vi mang đến những điều tốt đẹp cho người thực hiện nó Hạnh phúckết thành quả từ đó

Theo Aristote (384-322 tr.CN), con người được sinh ra, không chỉ sống đểtồn tại, mà để sống một cuộc đời tốt đẹp - tuân thủ những nguyên tắc do lý trí củachính mình tạo ra, tuân theo bản chất tối thượng của mình Hành vi cá nhân cầnđược kiểm soát bởi các nguyên tắc đạo đức, sự tiết độ và né tránh mọi hình thức tháiquá hay bất cập Điều này đòi hỏi anh ta phải xác định hành vi đúng đắn cho từngtình huống cụ thể Đó không phải là một công việc dễ dàng, bởi lẽ mực thước vàđức độ có nghĩa là làm đúng việc, liên hệ đúng người, đúng nơi, đúng lúc, đúngmức, đúng cách và phục vụ cho mục đích đúng đắn, đối tượng của đạo đức là “lĩnhvực hoạt động của con người, với tư cách là một hành vi xuất phát từ một quyếtđịnh” Theo bản năng, con người đi tìm “cái lợi ích tối cao” của riêng mình và điều

đó thể hiện sự thành đạt của anh ta Đó là hạnh phúc, (thuyết duy hạnh phúc), mụcđích tối thượng của hoạt động của con người, nó không chỉ đơn thuần là khoái lạc,danh dự hay giàu sang, mà cũng không phải là cái gì tuyệt đối bởi vì của cải của conngười là ở sự hoà hợp hoạt động của tâm hồn với đạo đức Trong số các đức tính doAristote đề nghị, sự thận trọng có tính chất quyết định để đảm bảo cho hành động

có đạo đức: không thể làm người lương thiện theo đúng nghĩa, nếu không có đứctính thận trọng, và cũng không thể là người thận trọng nếu không có đạo đức luân

Trang 10

lý Đức tính này đảm bảo việc đánh giá đúng hành động của chúng ta và giúpchúng ta thoát khỏi những dục vọng Thái độ có đạo đức không xuất phát từ việcđánh giá, nó được hình thành trong thực tế: luyện tập, thói quen, học hỏi.

Kant (1724 - 1804), cho rằng thế giới vốn được hình thành trên cơ sở các quyluật đạo đức Vì thế, nếu theo đuổi một cuộc sống trái đạo đức, cá nhân sẽ phát hiện

ra rằng cuối cùng các quy luật ấy cuốn phăng mọi nỗ lực đi ngược lại với dòng chảycủa cuộc đời Một xã hội, tổ chức hay doanh nghiệp nào đó được vận hành trên nềntảng phi đạo đức chẳng bao giờ có được sự thành công lâu bền Một thương gia chỉquan tâm đến mục đích tạo ra lợi nhuận, bất chấp mọi phương tiện và thủ đoạn, sẽnhận ra rằng lừa đảo và gian trá chỉ mang đến sự bất tín nhiệm và tai hoạ về mặtluật pháp Giới doanh nhân và các nhà đầu từ thời hiện đại đánh giá tiếng tăm và uytín như một thứ tài sản thiết yếu; họ luôn đón chào và mong đợi khách hàng tìm đếnvới sản phẩm của mình trên tinh thần thiện ý

Ở phương Đông, đạo đức không phụ thuộc vào tôn giáo mà thường xuất phát

từ quan hệ giữa người với người và thường được giáo dục qua lăng kính của Nho

giáo, đó là quan điểm đức trị độc đáo của phương Đông trong đó Khổng Tử là một

đại biểu tiêu biểu cho “Thuyết đức trị” “Thuyết đức trị” có vai trò to lớn trong việc

bảo vệ tôn ti, trật tự đẳng cấp xã hội phong kiến phương Đông, giữ cho đất nước tháibình, thịnh trị theo quan điểm thống trị của xã hội phong kiến lúc bấy giờ Ý nghĩachính của Thuyết Đức trị là: Nếu mọi người trong cộng đồng đều tốt lành, lươngthiện cả thì xã hội tất yếu có trật tự, không cần phải có luật pháp Như vậy tất cảmọi người trong xã hội đều quy vào việc tu thân, giáo hoá con người

Với việc phát hiện chủ nghĩa duy vật lịch sử, C.Mác (1818-1883) không chỉ tạo

ra bước ngoặt cách mạng trong quan niệm về sự phát triển xã hội nói chung mà cònđặt cơ sở khoa học cho tất cả các lĩnh vực khoa học xã hội, trong đó có đạo đức học

Xuất phát từ vai trò của lao động sản xuất đối với sự hình thành, tồn tại vàphát triển con người, C.Mác đi đến quan niệm về tính quy định của phương thức sảnxuất đối với toàn bộ hoạt động của con người, xã hội loài người

Ngay từ trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ, ý thức đạo đức của những ngườimông muội trong các khu rừng và các hang động đã đặt ra yêu cầu là con người

Trang 11

phải thiết lập được mối quan hệ với nhau, phải hợp tác với nhau trong công việc sănbắt, hái lượm… hàng ngày Từ đó đã làm nảy sinh khát vọng tự nguyện, tự giác,bình đẳng, công bằng trong xã hội và đây chính là những biểu hiện đầu tiên của giátrị, chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức trong hình thức phát triển của nó.

Trong Lời tựa viết cho Góp phần phê phán khoa kinh tế - chính trị, C.Mác đã

viết: “Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định quá trình sinh hoạt xã hội,chính trị và tinh thần nói chung Không phải ý thức của con người quyết định sự tồntại của họ; trái lại, sự tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ” [34, tr.15].Mỗi hệ thống đạo đức ấy phản ánh và bảo vệ lợi ích của một giai cấp xã hội tươngứng Từ đó, Ăngghen (1820-1895) khẳng định: “Con người, dù tự giác hay không

tự giác, rút cuộc đều rút những quan niệm đạo đức của mình từ những quan hệ thựctiễn đang làm cơ sở cho vị trí giai cấp của mình, tức là những quan hệ kinh tế trong

đó người ta sản xuất và trao đổi” [34, tr.136]

Trong Chống Đuyrinh, cùng với việc phê phán quan niệm của Đuyrinh về

những chân lý đạo đức vĩnh cửu, Ph.Ăngghen đã khẳng định rằng, về thực chất vàxét đến cùng, các nguyên tắc, các chuẩn mực, các quan niệm đạo đức chẳng qua chỉ

là sản phẩm của các chế độ kinh tế, các thời đại kinh tế Ph.Ăngghen viết: “Từ dântộc này sang dân tộc khác, từ thời đại này sang thời đại khác, những quan niệm vềThiện -Ác đã biến đổi nhiều đến mức chúng thường trái ngược hẳn nhau” [34,tr.135] “Người da đỏ châu Mỹ xem việc lột da đầu người thật nhiều là công trạng,anh ta quan niệm việc làm này là lương thiện và anh hùng không chỉ hôm nay, màmãi mãi, không chỉ cho một mình anh ta, mà còn cho mọi con người tử tế NgườiGottentot nổi tiếng tuyên bố rằng thiện - đó là khi anh ta đánh cắp được thật nhiều

bò của người khác, còn ác - khi người khác đánh cắp bò của anh ta, thì dĩ nhiên anh

ta không xem cái nguyên tắc đạo đức ấy là của riêng mình, mà cho rằng đối với mọingười đánh cắp được thật nhiều của cải của người khác là thiện, còn để mất củamình là ác” [47, tr.32]

Ph.Ăngghen đặc biệt chú ý đến tính giai cấp của đạo đức Ông cho rằng,trong xã hội có phân chia giai cấp, mỗi hệ thống đạo đức đều biểu hiện lợi ích củamột giai cấp nhất định Không có đạo đức chung chung, đứng trên mọi sự phân biệt

Trang 12

giai cấp Do đó, bất cứ thời đại nào cũng đều có mối quan hệ giữa cá nhân và xãhội Tùy theo trình độ phát triển của xã hội mà những lợi ích của cá nhân phù hợp íthay nhiều với lợi ích xã hội Trong những xã hội có giai cấp, nhưng không đốikháng, thì lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội cơ bản là thống nhất Tuy nhiên trong xãhội ấy, lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội không phải là đã hoàn toàn phù hợp, không

có mâu thuẫn Cho nên vấn đề đặt ra là phải điều chỉnh sao cho lợi ích cá nhân phùhợp với lợi ích xã hội, phụ thuộc vào lợi ích xã hội

Để thực hiện việc điều chỉnh hành vi của con người trong xã hội có giai cấpthì giai cấp thống trị nêu ra những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực làm tiêu chuẩncho hoạt động của cá nhân và của các cộng đồng người trong xã hội ấy Các nguyêntắc, quy tắc, chuẩn mực ấy dựa trên lợi ích kinh tế, chính trị của giai cấp thống trịkhông phải được đặt ra một cách tùy tiện mà thể hiện những quan hệ kinh tế củaphương thức sản xuất trong xã hội đó Nó được biểu hiện như yêu cầu tự nhiên,nhằm bảo đảm sự tồn tại và phát triển xã hội

Để những hoạt động của cá nhân không vượt ra khỏi những giới hạn xã hội,

xã hội dùng các biện pháp điều chỉnh, trong đó có những quan hệ đạo đức Sự phảnánh những yêu cầu chung, tất yếu của xã hội được biểu hiện ra như ý chí, nhà nước,pháp luật Yêu cầu của xã hội đối với cá nhân hay nhóm người trong xã hội nhấtđịnh có thể mang hình thức công khai, trực tiếp thông qua hệ thống pháp luật và đểđảm bảo những luật lệ đã được ban hành, Nhà nước áp dụng một hệ thống các biệnpháp trừng phạt theo mức độ vi phạm Trách nhiệm cá nhân về mặt đạo đức đượcbiểu hiện trước hết là gánh chịu sự đánh giá của dư luận xã hội về sự tự lựa chọncác hành vi đạo đức của mình Sau nữa nó còn được phán xử bởi chính lương tâmcon người về những động cơ, mục đích thầm kín của bản thân mình Trên cơ sở đó

mà nó nhận thức được những giá trị đạo đức chân thực và định hướng được hoạtđộng của mình phù hợp với lợi ích của xã hội và người khác

Đạo đức trong quan niệm của Hồ Chí Minh chính là toàn bộ những chuẩnmực xã hội nhằm điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ với người khác vàvới cộng đồng Dựa vào những chuẩn mực đó người ta đánh giá hành vi của mỗi

Trang 13

người theo các quan niệm về thiện và ác, về cái được làm và cái không được làmtrong đời sống

Vậy là, đạo đức không phải là một hiện tượng siêu nhiên, thần bí, không phải

là một lực lượng áp đặt từ bên ngoài vào xã hội, đạo đức không phải là sản phẩmchủ quan của con người mà sự ra đời và phát triển của đời sống đạo đức là do nhucầu cuộc sống của con người, của xã hội đặt ra Đạo đức là sự phản ánh những quan

hệ xã hội hiện thực được hình thành trên cơ sở kinh tế Vì vậy đạo đức học khôngchỉ dừng lại ở việc nghiên cứu hình thái tư tưởng tinh thần của đạo đức, mà còn chú

ý nghiên cứu nội dung khách quan của nó là những quan hệ đạo đức hiện thực.Trong đời sống đạo đức, những giá trị đạo đức được sáng tạo ra không chỉ tồn tạitrong ý thức, mà điều quan trọng là phải được thể hiện trong đời sống hiện thực ởtất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội

Với tư cách là những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực nhằm để điều chỉnhhành vi con người, nhân loại bao giờ cũng cần đến đạo đức Từ cổ đại đến hiện đại,

từ phương Đông đến phương Tây, không lúc nào vắng bóng hay thiếu sự hiện diệncủa đạo đức Khoa học - kỹ thuật càng phát triển, xã hội càng tiến bộ nhân loại

càng cần đến đạo đức Do vậy, “Đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình vì lợi ích xã hội, hạnh phúc của con người trong mối quan hệ giữa con người và con người, giữa cá nhân và tập thể hay toàn xã hội” [29, tr.7]

1.1.2 Chức năng của đạo đức trong đời sống xã hội

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội góp phần quan trọng xây dựng mốiquan hệ giữa người và người, giữa cá nhân và xã hội Chức năng của đạo đức làgiúp con người nhận thức, giáo dục và điều chỉnh suy nghĩ, hành động phù hợp vớinhững yêu cầu xã hội Nhờ vậy con người tự giác tuân theo những quy tắc, chuẩnmực trong xã hội Đạo đức còn có vai trò to lớn giúp con người sáng tạo hạnh phúc

và giữ gìn, bảo vệ cuộc sống tốt đẹp của xã hội và phẩm giá con người Những giátrị đạo đức cao cả có sức rung cảm sâu sắc làm thức tỉnh những tình cảm cao đẹp vàlâu bền trong tâm hồn con người Đạo đức xã hội chủ nghĩa chẳng những có ý nghĩanâng cao lòng tin của con người vào cuộc sống, nâng cao tính tích cực của họ, mà

Trang 14

bản thân nó cũng là sự biểu hiện lòng tin của con người và xã hội Vì vậy trongquản lý xã hội cần có sự quan tâm đúng mức của chức năng đạo đức Dưới đây lànhững chức năng cơ bản của đạo đức.

Chức năng giáo dục: Chức năng giáo dục của đạo đức nhằm hình thành cho

con người những quan điểm cơ bản nhất, những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mựcđạo đức cơ bản; nhờ đó con người có thể có khả năng lựa chọn, đánh giá đúng đắncác hiện tượng đạo đức xã hội cũng như tự đánh giá những suy nghĩ, hành vi củabản thân mình Vì thế công tác giáo dục đạo đức góp phần quan trọng vào việc hìnhthành, phát triển nhân cách con người mới Cùng với quá trình giáo dục nhờ hoạtđộng tích cực, con người càng hiểu rõ vai trò to lớn của lương tâm, ý thức, danh dự

và các phẩm chất đạo đức của cá nhân đối với bản thân mình trong đời sống cộngđồng Những tấm gương đạo đức cao cả có sức lôi cuốn con người, giúp họ học tập,rèn luyện hướng theo cái tốt đẹp, cái thiện

Những người cộng sản là những người sáng tạo nên các giá trị đạo đức cao cả

Đó là tinh thần chiến đấu dũng cảm, sự quên mình vì tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúccủa nhân dân trong cuộc đấu tranh vĩ đại và lâu dài của dân tộc Những tấm gương ấy

có sức thuyết phục và cổ vũ con người học tập, tu dưỡng để xứng đáng hơn nữa vàđáp ứng những nhu cầu của sự tiến bộ xã hội Bác Hồ - vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dânViệt Nam đã nêu một tấm gương sáng chói về đạo đức cách mạng Người coi đạo đức

là cái gốc của cán bộ, đảng viên Thực hiện lời dạy của người, nhiều cán bộ, chiến sĩ

đã lao động, chiến đấu quên mình, sẵn sàng hy sinh vì hạnh phúc của nhân dân, vìđộc lập tự do của Tổ quốc, vì lý tưởng cao đẹp của con người

Chức năng điều chỉnh hành vi: Sự tự điều chỉnh theo chuẩn mực đạo đức

biểu hiện thành những khái niệm về nhân phẩm, danh dự, đúng sai, thiện ác là cácyêu cầu của xã hội cho hành vi của mỗi cá nhân mà nếu không tuân theo có thể sẽ bị

xã hội lên án hoặc bị lương tâm cắn rứt Chuẩn mực đạo đức xã hội như một mệnhlệnh bản thân định hướng cho hoạt động của con người luôn biết hướng tới điều

“thiện” tránh điều “ác” Chuẩn mực đạo đức là phương thức tự điều chỉnh ưu việt vàđặc thù của xã hội loài người giúp con người có khả năng tự hoàn thiện và phát triểnngày một văn minh, tiến bộ hơn

Trang 15

Chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đức cần có một hệ thống quy tắc,chuẩn mực trong đời sống thực tiễn xã hội Thông qua đời sống của xã hội hiệnthực, bằng cách này hay cách khác sự kết hợp nhu cầu về lợi ích giữa cá nhân và tậpthể với lợi ích toàn xã hội làm cho xã hội phát triển bền vững hơn sẽ nâng giá trịmang đậm tính nhân bản, tính người của con người, của cá nhân, tập thể tham giavào hoạt động xã hội của cộng đồng người và xã hội loài người Do đó sự tự điềuchỉnh có vai trò hết sức quan trọng để mỗi cá nhân trong khi thỏa mãn những nhucầu đạo đức và lợi ích chính đáng của mình thì cũng lưu tâm, băn khoăn, và tìmcách giải quyết một cách hài hoà nhất với lợi ích của xã hội mà không phải tìm cáchlách luật và “lách lương tâm”.

Muốn có được sự điều chỉnh hợp lý, mỗi con người không phải chỉ biết dừnglại ở chỗ hài lòng với những cái đã có, với những mong muốn, mà điều quan trọng

là phải biết biến những mong muốn tốt đẹp ấy thành hành động thực tiễn và vớinhững hành động thực tiễn, trong quan hệ với xã hội, con người hiểu rõ mình, hiểusâu sắc thêm những giá trị đạo đức của thế giới mình đang sống, nâng mình lên mộtthang bậc giá trị mới Vì thế chức năng giáo dục và chức năng điều chỉnh của đạođức gắn bó mật thiết với chức năng nhận thức

Chức năng nhận thức: Các quan điểm, tư tưởng đạo đức là kết quả của sự

phản ánh đời sống xã hội Nhưng lại là công cụ nhờ đó con người nhận thức xã hội.Những quan điểm đạo đức tiến bộ, khoa học giúp con người nhận thức, đánh giáđúng đắn các quá trình vận động, phát triển đạo đức Nhờ những nguyên tắc, chuẩnmực đạo đức đã được nhận thức, con người phân biệt được cái đúng, cái sai, cái tốt,cái xấu, cái thiện cái ác trong đời sống Trên cơ sở đó mà định hướng một cáchđúng đắn hành vi của mình trong thực tiễn Trong quá trình tham gia vào đời sốngđạo đức thực tiễn, mỗi người nhờ nỗ lực của mình mà lại làm cho nhận thức đạođức của bản thân thêm sâu sắc và phong phú

Chức năng nhận thức có vai trò tác động vô cùng to lớn đến hành vi, cáchứng xử của con người với con người và môi trường: “Bấy giờ, (vào thời điểm sangã) mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng; họ mới kết lá vả làm khốche thân Nghe tiếng Đức Chúa Trời Vĩnh Hằng, con người và vợ mình trốn vào

Trang 16

giữa cây cối trong vườn để khỏi giáp mặt Đức Chúa Và Đức Chúa Trời Vĩnh Hằnggọi con người và hỏi: “Ngươi ở đâu?” Con người thưa: “Con nghe thấy tiếng Ngàitrong vườn và hoảng sợ, vì con trần truồng nên con lẩn trốn” Đức Chúa Trời hỏi:

“Ai cho ngươi biết là ngươi trần truồng?” Trong giây phút sa ngã từ thâm tâm conngười vang lên tiếng nói tối cao hỏi: Ngươi ở đâu? Ở đâu phẩm giá đạo đức củangươi? Con người vị chúa tể của thiên nhiên và hình ảnh của Chúa Trời, ngươi còntồn tại hay không? - Và ngay lập tức vang lên câu trả lời: Tôi nghe thấy tiếng nóicủa thần thánh, tôi hoảng sợ sự phấn kích và sự lộ hiện cái bản chất tự nhiên hạ

đẳng của tôi: Tôi xấu hổ tức là tôi tồn tại, không chỉ tồn tại bằng vật chất, còn cả

bằng tinh thần nữa, - tôi xấu hổ tính con vật của mình, tức là tôi còn tồn tại như làcon người” [47, tr.32]

Bằng hành động của chính mình và thử thách bản chất của mình, con ngườiđạt đến sự tự ý thức về sự tồn tại và về hành vi đạo đức của mình, khai phá ra nhữnggiá trị đạo đức mới, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của xã hội đương thời Nhữngquan điểm đạo đức sai lầm không giúp con người nhận thức đúng sự phát triển xãhội Điều đó làm cho hành động mắc sai lầm, không đạt được điều mà chủ thể mongmuốn Cho nên, những quan điểm đạo đức như vậy đưa lại nỗi thất vọng, không tintưởng vào cuộc sống và làm giảm sút ý chí cũng như khả năng nhận thức hoạt độngcủa con người

Trong các chức năng nêu trên thì chức năng giáo dục giữ vai trò hết sức quantrọng Nhờ có chức năng này mà con người đã tự giác điều chỉnh hành vi của mìnhlàm cho cá nhân và xã hội cùng tồn tại và phát triển, bảo đảm được quan hệ lợi íchgiữa cá nhân và cộng đồng, giúp cho con người nhận thức và hành động theo cáichân, thiện, mỹ, đẩy lùi cái ác, thúc đẩy sự tiến bộ và phát triển của xã hội… Tuynhiên hiệu lực của sự tác động trở lại đó lại phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố sau: Ýthức đạo đức đó là tiến bộ hoặc lạc hậu: Nếu tiến bộ nó sẽ có tác dụng thúc đẩy sựphát triển của xã hội Ngược lại nếu ý thức đạo đức lạc hậu, bảo thủ thì sẽ kìm hãm,cản trở sự phát triển của xã hội; mức độ thâm nhập của ý thức đạo đức đó trong quầnchúng nhân dân; phụ thuộc vào khả năng, năng lực của giai cấp cầm quyền

Trang 17

1.2 Giáo dục đạo đức và vai trò của giáo dục đạo đức cho sinh viên

1.2.1 Giáo dục đạo đức

Giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức của nhà giáo dục đến

đối tượng giáo dục nhằm thỏa mãn nhu cầu phát triển nhân cách riêng của mỗi đốitượng giáo dục và đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực của xã hội Sự tác độngcủa nhà giáo dục đến đối tượng giáo dục là sự tác động có mục đích, có tổ chức Đó

là sự tác động có nội dung, có chương trình, có kế hoạch, có phương pháp, có sựkiểm tra, đánh giá, có sự điều chỉnh, điều khiển cho phù hợp… Tất cả những điều

ấy là muốn nói hoạt động giáo dục là hoạt động có mục đích, có tổ chức của conngười chứ không phải là một hoạt động tự phát, tùy tiện

Giáo dục đạo đức - một phạm vi khái quát rộng lớn với tư cách quá trình

hình thành và phát triển những năng lực, những phẩm chất đạo đức của con người

Theo C.Mác, giáo dục đạo đức, nghĩa rộng đó là sự hình thành đạo đức, không quy

giản chỉ về việc truyền đạt, dạy dỗ những nguyên tắc, những chuẩn mực xã hội,những cách thức ứng xử giữa người và người theo những yêu cầu nhất định C.Mácđặc biệt chú ý đến việc tạo ra “hoàn cảnh có tính người”, “những điều kiện xứngđáng nhất, hợp với bản chất người nhất”, coi đó là cơ sở, đồng thời là một phươngdiện hữu cơ của giáo dục đạo đức, là điều kiện tối hậu quyết định sự phát triển đạođức con người

Giáo dục đạo đức là sự chuyển hóa ý thức xã hội có liên quan thành phẩmchất đạo đức, tư tưởng cá nhân, nội dung phẩm chất đạo đức, tư tưởng của conngười bao gồm lập trường chính trị, thế giới quan và phẩm chất đạo đức Do đó:

“giáo dục đạo đức là những tác động sư phạm một cách có mục đích, có hệ thống và

kế hoạch của nhà giáo dục tới người được giáo dục để bồi dưỡng cho họ nhữngphẩm chất đạo đức (chuẩn mực, hành vi đạo đức) phù hợp với yêu cầu của xã hội”[31, tr.94]

Giáo dục đạo đức căn cứ vào yêu cầu của xã hội nhất định, căn cứ vào quyluật hình thành phẩm chất tư tưởng, đạo đức để tiến hành chuyển tải các chuẩn mực

xã hội đến người được giáo dục một cách có mục đích, có kế hoạch thông qua việc

Trang 18

phát huy tính năng động chủ quan của người được giáo dục để hình thành nhữngphẩm chất tư tưởng đạo đức mà nhà giáo dục mong muốn Thầy giáo khi yêu cầuhọc sinh, sinh viên của mình thực hiện một nhiệm vụ giáo dục theo đúng chỉ dẫncủa thầy chính là thực hiện những yêu cầu, quy định của xã hội Con người dướiảnh hưởng của nhà trường, gia đình và xã hội, thông qua hoạt động tích cực của chủthể sẽ tiếp thu tư tưởng chính trị, quy phạm đạo đức xã hội rồi chuyển hóa thành đặctrưng cá tính ổn định của bản thân.

1.2.2 Vai trò của giáo dục đạo đức

Thứ nhất, giáo dục đạo đức có vai trò đặc biệt quan trọng trong hình thành

nhân cách của mỗi một con người cụ thể, bởi thông qua giáo dục đạo đức nó thểhiện tập trung tính chất và phương hướng của “xây dựng văn minh tinh thần xã hộichủ nghĩa” [28, tr.12] Vì về cơ bản xây dựng văn minh tinh thần là để nâng cao tốchất của con người, mà trong đó tố chất của con người như: sức khoẻ, tâm lý, tốchất khoa học, văn hoá, tố chất đạo đức tư tưởng thì tố chất đạo đức tư tưởng có tácdụng chỉ đạo Tố chất đạo đức tư tưởng bao gồm: thế giới quan, nhân sinh quan, giátrị quan, khuynh hướng chính trị, lý tưởng, đạo đức, tình cảm nó như linh hồn củacon người, nó lãnh đạo tất cả mọi hành động, quyết định mục đích và khuynhhướng hành động của con người Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, mởcửa nhiệm vụ cao cả của giáo dục đạo đức đó là giáo dục chủ nghĩa yêu nước, chủnghĩa tập thể, ý thức đạo đức cộng đồng, đạo đức nghề nghiệp, mỹ đức gia đình giúp con người có được những lý tưởng chung nhất về các giá trị trong công cuộcxây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tiến lên chủ nghĩa xã hội,chủ nghĩa cộng sản

Thứ hai, giáo dục đạo đức có vai trò góp phần chuyển các quan niệm đạo

đức từ tự phát sang tự giác, từ bị động sang chủ động, không ngừng nâng cao trình

độ nhận thức các giá trị đạo đức cho mỗi người từ trình độ nhận thức thông thườnglên trình độ nhận thức khoa học Để đạt trình độ cao, trình độ ý thức lý luận, đòi hỏiphải có quá trình giáo dục đạo đức, phải nhờ đến vai trò của đạo đức học Bởi vì,nhận thức khoa học phản ánh các giá trị đạo đức một cách gián tiếp, khái quát, cảnhững giá trị đạo đức hiện tại và cả những giá trị đạo đức của tương lai Qua giáo dục

Trang 19

đạo đức, nội dung các phạm trù, các quy tắc,… đạo đức được nhận thức một cách đầy

đủ, đúng đắn hơn và niềm tin của đối tượng được giáo dục là niềm tin khoa học Từniềm tin khoa học sẽ giúp cho chủ thể đạo đức điều chỉnh được hành vi của mình theoyêu cầu xã hội đặt ra

Thứ ba, giáo dục đạo đức có vai trò không chỉ nâng cao trình độ nhận thức

đạo đức, giữ gìn những giá trị, chuẩn mực đạo đức đã được các thế hệ trước tạo nên,

nó còn góp phần tạo ra những giá trị đạo đức mới; xây dựng những quan điểm,phẩm chất đạo đức mới, quan niệm sống tích cực cho mỗi đối tượng giáo dục, đồngthời, giáo dục đạo đức cũng góp phần tích cực vào việc khắc phục những quan điểmđạo đức lạc hậu, sự lệch chuẩn các giá trị nhân cách, chống lại các hiện tượng phiđạo đức đang đầu độc bầu không khí xã hội, tạo ra cơ chế phòng ngừa các phản giátrị đạo đức, phản giá trị văn hoá trong mỗi một nhân cách Ở đây có sự kết hợp chặtchẽ giữa cái “xây” với cái “chống” Đó là biện chứng giữa cái “xây” với cái

“chống” Vì trong cái “xây” có cái “chống” và ngược lại Trong mối quan hệ biệnchứng này, Hồ Chí Minh đã đạt đến trình độ mẫu mực của công tác giáo dục đạođức cách mạng cho cán bộ, đảng viên

1.2.3 Giáo dục đạo đức cho sinh viên

1.2.3.1 Sinh viên và đặc điểm tâm sinh lý của sinh viên

Sinh viên là những người mang đầy đủ những đặc điểm chung của con người

và xã hội loài người Nhưng bên cạnh đó, họ còn mang những đặc điểm riêng: trẻ,

có tri thức, dễ tiếp thu cái mới, nhạy cảm với các vấn đề chính trị xã hội, vì thế họ

có mối quan hệ sinh hoạt cộng đồng khá gần gũi với những người cùng và khác thế

hệ với họ Với những đặc điểm nêu trên họ có khả năng tiếp nhận cái mới nhanh vàlinh hoạt, thích nghi kịp thời với sự thay đổi nhanh chóng của xã hội hiện đại, vì thế

theo tôi, trong khuôn khổ luận văn thì Khái niệm sinh viên là: Sinh viên (chính quy)

là những người trong độ tuổi 18 đến 25, đang theo học tập trung chuyên nghiệp tại các trường Đại học và Cao Đẳng trong phạm vi cả nước, có sự phát triển hoàn chỉnh về mặt sinh lý, và sự thành thục mang tính tương đối về mặt tâm lý.

Sinh viên ngày nay là những người sinh ra và lớn lên trong thời kỳ đất nướcđổi mới, phần lớn họ ra đời vào những năm cuối và đầu của thập kỷ 80 - 90 của thế

Trang 20

kỷ XX mà chúng ta quen gọi họ là thế hệ 8X, 9X Phần đông họ có tuổi đời từ 18 đến

25 tuổi, môi trường làm việc của họ là tại các trường Đại học, Cao đẳng trong cảnước Đây là khoảng thời gian mà họ sẽ đứng trước nhiều bài học quan trọng về cuộcđời, như là tích luỹ tri thức chuyên nghiệp, khai phát tiềm năng trí lực, nuôi dưỡngphẩm chất cá tính, trau dồi đạo đức tư tưởng ; là đối tượng nhạy cảm nhất trướcnhững biến đổi vô cùng nhanh chóng của bản thân và môi trường sống quanh mình

Trước hết là giai đoạn biến đổi sinh lý của sinh viên: Đây là giai đoạn

phát triển đỉnh cao của quá trình sinh trưởng và phát triển của con người nói chung,giai đoạn này rơi vào khoảng từ 17 đến 20 tuổi Đây là giai đoạn hình dạng cơ thể,

cơ bắp, xương cốt đều biến đổi nhanh chóng Xét từ góc độ phát triển sinh lý, thìđây chính là giai đoạn phát triển mang tính ổn định của quá trình sinh trưởng từhình dạng cơ thể đến các hệ thống các cơ quan nội tạng và cơ năng Vì thế sự pháttriển sinh lý của sinh viên không chỉ đem lại cho họ tiền đề sinh lý tất yếu để họsinh hoạt và học tập độc lập, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển tâm lý,khiến họ tăng cường cảm giác đã là người lớn, nên yêu cầu độc lập tự chủ rất mạnh

mẽ, tinh thần hăng hái, muốn biểu thị năng lực của mình Ý thức giới tính được họcoi trọng, sự phát triển sinh lý cũng đặt cơ sở cho sự phát triển lành mạnh của quátrình tồn tại của con người và xã hội loài người và đây cũng chính là điểm nhấn đểmỗi cá nhân hình thành cái tôi, cái bản ngã, cái riêng có của mình để khẳng địnhmình trong xã hội và hình thành nên cái nhân sinh quan của mình đối với xã hội vàthời cuộc

Thứ hai, giai đoạn biến đổi tâm lý của sinh viên, trên cơ sở của sự phát

triển sinh lý thì sự biến đổi về mặt tâm lý của sinh viên cũng diễn ra hết sức nhanhchóng, họ có những nhận thức nhất định về xã hội và cuộc sống, họ đưa ra nhữngnhận định rất “người lớn” về cuộc sống xung quanh họ và các mối quan hệ khác bênngoài xã hội Điều này thể hiện:

+ Sự phát triển về trí năng của họ đã đạt đến trình độ cao, biết phán đoán,

biết phân tích, biết tổng hợp và cuối cùng là biết đưa ra nhận định, quan điểm củariêng mình về các vấn đề trong hiện thực cuộc sống Tình cảm của sinh viên ngàycàng phong phú và mạnh mẽ, trong nhận thức về các quan hệ xã hội, trong quan

Trang 21

điểm về cái đẹp cái xấu, về cái thiện, cái ác, lương tâm, nghĩa vụ, nhân phẩm, danh

dự, lẽ sống Tất cả những điều ấy thể hiện trình độ học vấn và trình độ nhận thức

về xã hội của sinh viên được nâng lên về chất

+ Sự phát triển về tình cảm, tính hai mặt trong nhận thức về tình cảm của

sinh viên cũng được thể hiện một cách rất rõ ràng trong sự lựa chọn giữa cái đúng

và cái sai bởi họ dễ bị kích động, dễ bị thuyết phục và lôi kéo, dễ bị lợi dụng, dễthông cảm cho nên dễ bị mắc lừa, tình cảm không ổn định cho nên, nhiều khi tathấy họ rất trẻ, rất năng động, rất nhiệt tình, rất hăng hái, khí phách, cũng có lúcchính con người đó, ta thấy họ nản chí, thất vọng, mệt mỏi, không muốn đấu tranh,bằng lòng với cuộc sống, thậm chí là sa đà và đánh mất bản thân mình Sau đây làmột vài điểm mà chúng ta có thể thấy rõ nhất “tính hai mặt về nhận thức tình cảmtrong biến đổi tâm lý của sinh viên” Mô hình so sánh dựa trên: “7 thói quen củabạn trẻ thành đạt” [11, tr.53-54]

việc được nhiều người biết đến

Bạn quan tâm quá mức tới những gì người khácnghĩ về bạn

Bạn nhìn đời lạc quan Bạn tỏ ra ngạo mạn để che giấu sự bất an của mìnhBạn sống có mục đích Bạn tự huỷ hoại bản thân mình bằng ma tuý,

phim khiêu dâm, sự phá phách hay tham giacác băng nhóm xấu

Bạn hạnh phúc với thành công

của người khác

Bạn dễ ghen tức, nhất là khi ai đó thân cận vớibạn có được thành công

+ Sự tự ý thức về bản thân, là sinh viên, nên phần lớn họ phải sống xa gia

đình (vì các trường Đại học và Cao đẳng thường tập trung tại các tỉnh và thành phốlớn) và bắt đầu cuộc sống tự lập, ban đầu là kí túc xá với cuộc sống tập thể, đây lànơi mà cái tôi và cái ta cần phải “lượng nhau mà sống”, tức là ngoài những cái củamình họ còn phải biết dung nạp những cái khác biệt với mình của người khác để

Trang 22

cùng “chung sống hoà bình” về tính cách, tâm lý, lối sống, hành vi ứng xử ; thứhai là trong lớp học và trong một số lĩnh vực xã hội khác họ tỏ ra thông minh, tự tin,hiếu thắng, yêu cầu được tôn trọng và lắng nghe những ý kiến, những tâm tư củahọ; thứ ba là một số diễn biến tâm lý tiêu cực xảy ra với họ khi họ gặp những bấttrắc xảy ra trong học tập, trong tình yêu, trong quan hệ với bạn bè, thầy cô đó làchán nản, thấy cuộc sống thật vô nghĩa, tự ti, không hiểu mình và thậm chí một sốsinh viên vì không tìm được con đường đi tiếp theo cho mình nên tìm đến sự giảithoát mà họ cho là tốt nhất đó chính là cái chết

+ Ý thức giới tính phát triển, Vì được sống trong môi trường tự lập với đầy

đủ ý nghĩa của từ này sinh viên được tự do nhiều hơn, rời khỏi môi trường gò bó,giám sát của gia đình, nhà trường và trong các mối quan hệ chật hẹp của bạn bè thờiphổ thông trong thành phố của một tỉnh lẻ hoặc làng, xã nào đó của luỹ tre làng, củanông thôn Việt Nam Sinh viên, với sự phát triển bình thường, trưởng thành về mặtsinh lý và tâm lý thì đây là giai đoạn diễn ra nhu cầu cần có sự chia sẽ của ngườikhác phái về các vấn đề trong học tập, trong quan hệ với bạn bè, thầy cô, trong cáccông tác đoàn, hội và họ đã tự tìm đến nhau mà ta gọi đó là tình yêu, có rất nhiềucuộc tình của sinh viên diễn ra rất đẹp, họ cùng nhau vươn lên tạo chỗ đứng củamình trong xã hội và được đặt cho cái tên goi là “đôi bạn cùng tiến”, nhưng cũng cómột thiểu số trong họ đã biến cái tình yêu đẹp và thiêng liêng ấy thành tội lỗi, thành

sự huỷ diệt tương lai của bản thân, gia đình và cộng đồng

Hiện nay đất nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh

tế quốc tế, quá trình đó đã, đang đưa lại cho đất nước ta nói chung và cho sinh viênnói riêng những thời cơ xen lẫn những thách thức lớn:

Những thời cơ: Cơ hội để mở rộng và tiếp cận thị trường hàng hóa, dịch vụ

trên thế giới, có điều kiện để mở rộng thị trường xuất nhập khẩu ra ngoài biên giớiquốc gia; có vị thế bình đẳng trên trường quốc tế, có điều kiện để đảm bảo lợi íchcủa đất nước, của dân tộc đồng thời thúc đẩy nhanh quá trình cải cách của đất nước

có hiệu quả hơn; là thành viên của tổ chức WTO nên môi trường kinh doanh củachúng ta ngày càng được cải thiện

Trang 23

Những thách thức: So với các nước trong khu vực và trên thế giới về trình

độ phát triển nước ta đang có khoảng cách tụt hậu khá xa vì vậy còn phải chịu nhiềuthiệt thòi trong quá trình cạnh tranh trên thị trường; cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắthơn, với nhiều đối thủ hơn Sự cạnh tranh ở đây thể hiện ở chất lượng sản phẩm, ởchính sách quản lý, chiến lược phát huy nội lực và thu hút đầu tư nước ngoài, nhữngđiều kiện này ở nước ta còn yếu và kém; sự hội nhập sâu rộng dẫn đến sự phụ thuộcvào nhau giữa các nước tăng lên Sự biến động của nền kinh tế các nước tác độngmạnh đến nước ta Vì vậy, đòi hỏi chúng ta phải có năng lực dự báo, phân tích tìnhhình và có phản ứng chính xác để hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực tác động từbên ngoài

Đứng trước tình hình đó, với vị trí, vai trò là người chủ hiện tại và tương laicủa nước nhà, sinh viên Việt Nam là lực lượng sung mãn về thể lực, giàu khát vọng,hoài bão, có nhu cầu, có khả năng tiếp thu nhanh nhạy những thành tựu khoa họccông nghệ, kỹ thuật và quản lý hiện đại trên thế giới, năng động sáng tạo, chủ độnghọc hỏi những cái mới, cái tiến bộ của nhân loại Vì vậy, cùng với sự phát triển củađất nước, thái độ và ý thức chính trị của sinh viên đã có những chuyển biến tích cực,sinh viên ngày càng quan tâm và có trách nhiệm hơn đối với những vấn đề của quêhương, đất nước, những vấn đề trong khu vực và trên thế giới Ý thức lập nghiệpcủa sinh viên cũng cao hơn, tinh thần xung phong, tình nguyện, ý thức chia sẻ, tinhthần tương thân, tương ái đã được khơi dậy với một chất lượng mới, sinh viên đãchủ động và tự tin hơn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Những quan niệm về tốt, xấu, công bằng, bình đẳng cũng đang có sự dịchchuyển nhất định Những dịch chuyển này đã giải phóng về mặt tư tưởng, quanniệm trước những giá trị đạo đức lỗi thời, hướng sinh viên đến sự chuẩn bị chonhững hành động có tính hiệu quả sau này khi gia nhập vào thị trường nhân lực.Những quy tắc ứng xử của sinh viên vì thế cũng biến đổi, các nguyên tắc thiết thực,hiệu quả, phù hợp với yêu cầu mới của thời đại công nghiệp được họ hướng tới.Những rào cản đạo đức nào không còn phù hợp trong việc điều chỉnh hành vi sẽ bịvượt qua, thể hiện khá rõ nét ở sinh viên

Trang 24

Nhưng điều đáng chú ý là vẫn với những yếu tố tác động có tính tích cực ởtrên, thì cũng chính những yếu tố này, một bộ phận sinh viên đã đẩy lên quá cao,đến mức lệch chuẩn, nghiêng sang khía cạnh tiêu cực Chính ở nơi đây thể hiện sựmâu thuẫn biện chứng trong ý thức đạo đức của đối tượng này tác động hai chiềuthuận và nghịch của cùng một yếu tố.

Tác động tiêu cực rõ nét nhất là biểu hiện tính thực dụng trong quan niệmđạo đức và hành vi ứng xử ở một bộ phận không nhỏ sinh viên hôm nay Trào lưudân chủ hoá, làn sóng công nghệ thông tin và việc nâng cao dân trí đã làm ý thức cánhân được tăng lên, đặc biệt trong những người trẻ có học vấn là sinh viên Họ ýthức cao về bản thân mình và muốn thể hiện vai trò cá nhân Tuy nhiên, cái cá nhânnhiều khi lấn át cái cộng đồng, họ coi lợi ích cá nhân quan trọng hơn tất cả Mộtsinh viên kinh tế trong một cuộc phỏng vấn đã cho rằng, kinh doanh là hoạt độngđem lại lợi nhuận cho mình bằng bất cứ giá nào và không cần đếm xỉa đến vấn đềđạo đức

Tác động tiêu cực tiếp theo là, cùng với sự du nhập lối sống và sản phẩmcông nghệ hiện đại từ các nước phát triển, đã dần dần làm không ít sinh viên xa rờicác giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp vốn vẫn đang phù hợp với thời kỳ hiện đại.Hình thành tư tưởng hưởng thụ, ăn chơi, đua đòi, chịu tác động của tệ nạn xã hội, dễ

bị dao động về mặt định hướng đạo đức và lối sống trong bối cảnh một nền kinh tế

-xã hội mở cửa Các quan niệm đạo đức trong một bộ phận sinh viên đang bị lệchchuẩn, đặc biệt có quan niệm cho rằng, đạo đức và lợi ích cá nhân là hoàn toàn đồngnhất trong mọi lúc, ở mọi nơi Bên cạnh đó, trong nhiều sinh viên, xuất hiện thái độđòi hỏi hơn là sự hy sinh, ước muốn hưởng thụ nhiều hơn đóng góp, ít chú ý đếnnghĩa vụ và trách nhiệm công dân

Cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sinh viên đang đứng trước nhiềukhó khăn thách thức lớn đó là: trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kiếnthức kinh tế, quản lý, kiến thức pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật của sinh viênnhìn chung còn thấp Trong sinh viên nhận thức về học nghề, chọn nghề, định hướngnghề nghiệp còn nhiều lệch lạc, việc làm và thu nhập thấp vẫn đang là những vấn đềbức xúc đối với họ Rồi sức khoẻ và thể chất của sinh viên nước ta còn thấp hơn các

Trang 25

nước trong khu vực và trên thế giới rất nhiều, bên cạnh đó một bộ phận không nhỏtrong sinh viên thiếu ý thức rèn luyện để hoàn thiện nhân cách của mình, non kém vềnhận thức chính trị, chưa xác định được lý tưởng sống đúng đắn…

Như vậy, có thể nói, toàn cầu hoá là một làn sóng vô cùng mạnh mẽ kéo theotất cả mọi quốc gia, mọi dân tộc, mọi gia đình và cá nhân vào cuộc Không một ai,không một quốc gia nào có thể đứng ngoài Sinh viên Việt Nam là một trong nhữngđối tượng chịu ảnh hưởng khá mạnh của xu thế toàn cầu hóa Họ là nguồn nhân lựcđầy sức mạnh, trẻ và có tri thức, có khả năng tiếp cận nhanh chóng với cái mới vàthay đổi linh hoạt - những tố chất rất cần thiết cho một thời kỳ phát triển mới Vìvậy, việc phát huy tính tích cực và điều chỉnh những hành vi lệch lạc trong ý thứcđạo đức của sinh viên, có tác dụng vô cùng to lớn trong việc phát triển và sử dụngnguồn lực quý này Khẳng định điều này, tại Đại hội IX, Đảng cộng sản Việt Nam

đã chỉ rõ, việc chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo, phát triển toàn diện về chínhtrị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, văn hoá, sức khoẻ, nghề nghiệp cho thế hệ trẻ ViệtNam hôm nay để đội ngũ này có điều kiện phát triển tài năng và sức sáng tạo, pháthuy vai trò xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là trách nhiệmcủa cả hệ thống chính trị và toàn xã hội

Trước những thuận lợi và khó khăn của đất nước cũng như của bản thânmình, hơn lúc nào hết sinh viên Việt Nam phải nhận thấy rõ vị trí, vai trò của mìnhđối với sự phát triển của đất nước Phải nhận thức được khó khăn lớn nhất của mìnhtrong giai đoạn này là sự cạnh tranh quyết liệt về trí tuệ để đạt tới những đỉnh caocủa khoa học, kỹ thuật và công nghệ cũng như trình độ quản lý Để vượt qua đượckhó khăn đó, đòi hỏi rất cao ở sinh viên là phải tự học tập, tự rèn luyện để nâng caotrình độ về mọi mặt, phải trau dồi bản lĩnh chính trị, giữ vững lý tưởng xã hội chủnghĩa, phấn đấu thực hiện mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, côngbằng, văn minh” [21, tr.24]

Để cùng đất nước vượt qua những khó khăn, trước mắt mỗi sinh viên phải nỗlực nhiều hơn, đặc biệt là phải mở rộng tầm hiểu biết của mình về tình hình thế giới

để có tư duy, hành động phù hợp hơn Đây vừa là trách nhiệm, nghĩa vụ, vừa là

Trang 26

quyền lợi của sinh viên, của tổ chức đoàn để cùng đất nước gặt hái được nhiềuthành công trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

1.2.3.2 Vai trò của giáo dục đạo đức cho sinh viên

Công tác giáo dục đạo đức đang được tiến hành theo tinh thần kết hợp giữa

lý luận và thực tiễn, giữa truyền đạt và nêu gương với tiêu điểm là cuộc vận động

“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” Cuộc vận động này đang

được triển khai sâu rộng trên phạm vi toàn quốc thông qua nhiều hình thức hoạtđộng sinh động đã khẳng định giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, đồngthời khẳng định ý nghĩa trong quan niệm của C.Mác về giáo dục đạo đức

Phương pháp giáo dục đạo đức theo kiểu “tầm chương trích cú” không cònphù hợp, cần phải đưa học sinh - sinh viên vào các xử lý tình huống thực tế Giáodục đạo đức trong nhà trường cần giảm thiểu những vấn đề cao xa, lớn lao, thay vào

đó cần kiên trì bồi đắp lòng nhân ái, tính trung thực, lòng tự trọng, nếp nghĩ và lốisống lành mạnh, trọng đạo lý, sống có kỷ luật. 

Hồ Chí Minh trong giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên cũng không

ưa nói những điều cao xa, chung chung về đạo đức và cũng không đồng ý cách giáodục đóng khung trong sự tu tâm, dưỡng tính để tìm thấy sự yên ổn, thanh khiết của

cá nhân Đạo đức cách mạng phải được thể hiện trong hành động, chỉ có hành độngcách mạng thanh niên mới thể hiện giá trị đạo đức của mình

Đối với mỗi một trường Đại học, cao đẳng khác nhau thì ngoài những nộidung giáo dục đạo đức mà ta coi là “khuôn mẫu” thì phải có những hình thức, nộidung giáo dục mang tính đặc thù của môn học, ngành học, trường học Ví dụ đốivới sinh viên các trường mầm non, cần phải giáo dục ở họ sự dịu dàng, đức tính yêunghề, yêu trẻ…; đối với học viên trong học viện kỹ thuật quân sự thì phải giáo dục

họ tình yêu quê hương, yêu đất nước, trung thành tuyệt đối với sự nghiệp cáchmạng của Đảng…; còn đối với sinh viên Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toánQuảng Ngãi thì phải giáo dục ở họ tính cẩn thận, trung thực, nguyên tắc, khiêm tốn,dũng cảm…

Cần dạy cho sinh viên những giá trị đạo đức cơ bản của con người thay choquá nhiều kiến thức triết học, hàn lâm, thiếu vắng việc hình thành những thói quen

Trang 27

đạo đức và kỹ năng sống đúng đắn trong thực hành, trong giao tiếp, trong địnhhướng nghề nghiệp và trong tác nghiệp chuyên môn “Người có đạo đức là ngườibiết rèn luyện tài năng và không được phép ngồi yên bên cạnh dòng thác lịch sửđang cuồn cuộn chảy xiết, như ẩn sỹ ngồi trong tháp ngà Người có đạo đức làngười ý thức được rõ ràng mình cần phải làm gì và mình sẽ đi đến đâu Đó là sựnghiệp to lớn của cả tập thể, cả dân tộc và nói rộng ra là cả nhân loại, mà mỗi ngườiphải thấy cho hết vị trí của mình và hành động hết mình cho sự nghiệp chung củadân tộc và nhân loại” [13, tr.144].

Việc giáo dục đạo đức trong nhà trường thường chú trọng tới nề nếp kỷcương tới nội quy, tới chương trình khung của Bộ giáo dục và của nhà trường, đặcbiệt là nhấn mạnh đến kết quả của các kỳ thi kết thúc học phần chứ ít quan tâm đếnhành vi ứng xử thực tế của sinh viên, tình cảm của sinh viên với môn học, ngànhhọc và với giảng viên đứng lớp, hết giờ, hết môn cả thầy và trò đều hết tráchnhiệm Chương trình học quá ôm đồm, nặng về lý thuyết, thiếu kỹ năng sống,không tạo được dấu ấn để hình thành nhân cách sinh viên và do đó hành trang vàođời của họ cũng đã bị thiếu hụt một mãng “đạo đức nghề nghiệp” tuy nhỏ nhưnghậu quả lại vô cùng nặng nề và sâu sắc Bởi theo các nhà tâm lý học - xã hội thì sựcắn rứt của lương tâm có thể lẽo đẽo theo ta suốt cuộc đời, hoặc có thể phai nhạtdần, nhưng sự hổ thẹn thì tồn tại rất lâu Vì thế người ta thường nói “sự hổ thẹnđáng sợ hơn cái chết” Vì vậy, thanh niên, sinh viên nên lấy lương tâm làm hạt nhânđạo đức của nhân cách để luôn tự răn mình trong mọi hành động, để những ngàysau của cuộc đời gặt hái được những trái ngọt đích thực, những thành quả của laođộng, học tập và cống hiến

Giáo dục đạo đức cho sinh viên có vai trò tạo dựng sự ổn định trật tự lâu dàicủa xã hội Bất kỳ một xã hội nào cũng cần sự ổn định, nó là tiền đề, là cơ sở để xãhội phát triển bền vững Giáo dục đạo đức cho sinh viên là bảo đảm cho sự ổn địnhlâu dài của xã hội Bởi xã hội chính là sự liên kết của nhiều cá nhân mà trong đóthanh niên, sinh viên là những đại biểu tiêu biểu nhất, là rường cột tương lai, là sựchuẩn bị đầy đủ nhất, toàn diện nhất, là sự kết tinh của những gì được coi là tinh tuýnhất, thuần khiết nhất, đẹp nhất của dân tộc và của thời đại cho vị trí là người chủtương lai của nước nhà, của một Việt Nam “tiến cùng thời đại” Nếu cá nhân nào

Trang 28

cũng có lý tưởng, lối sống phù hợp với xã hội, biết bổn phận của mình, có đạo đứctốt được hình thành qua công tác giáo dục đạo đức ở trong và ngoài nhà trường thì

kỉ cương, phép nước sẽ được duy trì tốt hơn, xã hội sẽ phát triển ngày một hoànthiện hơn

Giáo dục đạo đức cho sinh viên bảo đảm tính chất và định hướng của nhàtrường xã hội chủ nghĩa Trong nhà trường xã hội chủ nghĩa ở nước ta, lãnh đạonhà trường, giáo viên và những người làm công tác giáo dục khác đều truyền thụ,giáo dục hệ thống, lập trường chính trị, quan điểm, thế giới quan của chủ nghĩaMác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước vàcác phẩm chất xã hội chủ nghĩa cho sinh viên Giáo dục, đào tạo sinh viên trở thànhngười xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa có đức, vừa có tài, vừa có sức khỏe

Giáo dục đạo đức cho sinh viên có vị trí hàng đầu và chủ đạo trong giáo dục

ở nhà trường bởi nó giữ vai trò định hướng cuộc sống, duy trì được các giá trị đạođức mà những thế hệ trước đã tạo ra và lựa chọn các giá trị của thế hệ hôm nay Ví

dụ như: Ý thức bảo vệ chủ quyền đất nước, lòng nhân đạo, sự khiêm tốn, lòng vịtha, tôn trọng lẽ phải Trên cơ sở đó giúp sinh viên nhận thức được những giá trị tolớn của đạo đức và nó chính là ý nghĩa đích thực của cuộc sống Khi những giá trị

đó trở thành tình cảm, động lực nó sẽ thôi thúc con người vượt qua mọi khó khăn,gian khổ vươn lên trong cuộc sống

Giáo dục đạo đức cho sinh viên có vai trò quan trọng trong việc phát triển vàhoàn thiện nhân cách của mỗi cá nhân Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về giáodục - đào tạo thanh niên, vấn đề cơ bản và nổi bật nhất là quan điểm giáo dục toàndiện Trong giáo dục toàn diện, Hồ Chí Minh luôn coi trọng đến Đức - Tài, và mốiquan hệ hai mặt đó trong sự hoàn thiện nhân cách con người mới Trong mối quan

hệ “đức - tài”, Hồ Chí Minh coi đạo đức là cái gốc của người cách mạng, là vấn đề

có ý nghĩa quyết định của việc xây dựng con người mới Tại hội nghị tổng kết

phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt” của ngành giáo dục phổ thông và sư phạm,tháng 08 năm 1963, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Nội dung giáo dục cần chú trọnghơn nữa về đức dục” [38, tr.451], để hoàn thiện nhân cách người thanh niên xã hộichủ nghĩa Vì vậy, Người yêu cầu thanh niên phải thấm nhuần tinh thần làm chủ

Trang 29

nước nhà và phải học tập trau dồi đạo đức cách mạng, bởi vì: “cũng như sông thì cónguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốcthì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏimấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [39, tr.252].

Trên cơ sở vị trí, vai trò của sinh viên và những điểm đã phân tích ở trên ta

có thể rút ra được một số đặc trưng của giáo dục đạo đức cho sinh viên như sau:

Thứ nhất, căn cứ vào tuổi tác, sức khoẻ, tâm sinh lý, trình độ học vấn, trình

độ nhận thức thì giáo dục đạo đức cho sinh viên đó phải là những phong trào cótính cộng đồng cao nhưng vừa phải kích thích được động cơ học tập và bồi dưỡngtinh thần cầu tri thức ở sinh viên ; vừa biểu hiện được cái tôi cá nhân để sinh viêngắn bó mình với phong trào vì lợi ích của chính họ và của cộng đồng

Thứ hai, căn cứ vào xu thế toàn cầu hoá cần phải giáo dục ở họ năng lực tiếp

nhận, năng lực lĩnh hội tri thức nhân loại, khẳng định mình trên trường quốc tế bằngthực tiễn năng lực trí tuệ, bằng uy tín, bằng sự hợp tác tôn trọng lẫn nhau chứ khôngphải bằng phương pháp “bẻ khoá”, bằng những thủ đoạn gian lận để đạt được mục tiêu

Thứ ba, căn cứ vào mục tiêu phát triển đất nước cần phải giáo dục ở sinh

viên tinh thần yêu nước thông qua việc sống có trách nhiệm với bản thân, phải giữlời hứa với bản thân, phải làm những việc tử tế (tránh xa những việc ích kỷ, vị lợicho bản thân), phải trung thực, và quan trọng nhất là phải đánh thức tài năng củamình góp phần việc nhỏ, năng lực của cá nhân mình vào công cuộc xây dựng đấtnước - xã hội xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Giáo dục đạo đức cho sinh viên có vai trò là động lực, là sự bảo đảm đối với

sự trưởng thành và phát triển lành mạnh của sinh viên Lịch sử hình thành và pháttriển của đạo đức nó cũng gắng liền với quá trình hình thành và phát triển của lịch

sử nhân loại từ cổ đến kim, từ phương Đông đến phương Tây, từ những quan điểmchưa đầy đủ, phiến diện, thậm chí duy tâm trong nhận thức về đạo đức đến các quanđiểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử cụ thể trong nhận thức về đạo đức biểuhiện khác nhau ở mỗi thời đại lịch sử khác nhau như của Mác - Ăngghen, Lênin, Hồ

Trang 30

Chí Minh trong cách nhìn của mình về các hình thái kinh tế - xã hội để nêu lên vấn

đề đạo đức

Đạo đức và giáo dục đạo đức có một số chức năng cơ bản đó là chức nănggiáo dục; chức năng điều chỉnh hành vi và chức năng nhận thức Trong các chứcnăng trên thì chức năng giáo dục của đạo đức là có vai trò quan trọng hơn cả, bởichỉ có thông qua giáo dục (giáo dục ở đây không nhất thiết là ở trường học conngười ta mới được giáo dục về mặt đạo đức) con người mới có khả năng tự điềuchỉnh hành vi của mình một cách tốt nhất phù hợp với những yêu cầu của xã hộiđương thời và do đó mới có thể nhận thức được một cách đầy đủ nhất thế nào lànhững hành vi đạo đức đẹp, những chuẩn mực đạo đức phù hợp với trình độ pháttriển chung của con người và xã hội loài người, thế nào là những hành vi, nhữngchuẩn mực lệch lạc, những “cái khung” gò bó con người ta vào đó, không cho họđược tự do phát triển và vì thế tất yếu “cái khung” rào cản chật hẹp cản trở sự pháttriển sẽ bị phá huỷ, mà ta hay gọi đó là “vượt rào” Do vậy, nhiệm vụ của giáo dụcđạo đức đó là trong khi giáo dục con người ta những nhận thức về các giá trị truyềnthống tốt đẹp cần được lưu truyền, tôn vinh thì mặt khác phải làm cho họ nhận thứcđược những cái đã từng tồn tại, từng tốt đẹp trong quá khứ, nhưng đến giờ vai tròlịch sử của nó đã hết thì nhất định phải xếp nó vào “kho tàng” truyền thống, để tiếptục tìm kiếm những giá trị mới Giáo dục đạo đức cho sinh viên tạo dựng sự ổn địnhtrật tự lâu dài của xã hội, bảo đảm tính chất và định hướng của nhà trường xã hộichủ nghĩa

Trang 31

Chương 2 THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG TÀI CHÍNH - KẾ TOÁN HIỆN NAY

2.1 Vài nét về Quảng Ngãi và Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toán Quảng Ngãi hiện nay

2.1.1 Vài nét về Quảng Ngãi

2.1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Quảng Ngãi nằm ở miền Trung Trung bộ, có nhiều núi đồi cao, gò, thunglũng và biển cả chia làm các vùng miền riêng biệt Vùng miền núi chiếm gần bằng2/3 diện tích Vùng miền đồng bằng: đất đai phần lớn là phù sa nhiều cát, đất xấu.Quảng Ngãi trải dài từ 14°32' đến 15°25' Bắc, từ 108°06′ 109°04′ Đông, tựa vàodãy núi Trường Sơn hướng ra biển Đông, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía Namgiáp tỉnh Bình Định, phía Tây giáp tỉnh Kon Tum, đến phía Đông giáp biển Đông.Nằm ở vị trí trung độ của cả nước, Quảng Ngãi cách Thủ đô Hà Nội 883 km về phíaBắc và cách thành phố Hồ Chí Minh 838 km về phía Nam

Quảng Ngãi là một tỉnh Duyên Hải nằm trong vùng kinh tế trọng điểm MiềnTrung, nằm giữa hai Thành phố lớn là Đà Nẵng ở phía Bắc (130 km) và Quy Nhơn

ở phía Nam (180 km), có đường quốc lộ 1A và đường sắt thống nhất đi qua, gần sânbay Chu Lai (30 km) Đặc biệt quốc lộ 24 nối Quảng Ngãi với Kom Tum, Gia Lai,Buôn Ma Thuột và các tỉnh phía nam Lào

Cũng như các địa phương nằm trong khu vực miền Trung, thời tiết ở QuảngNgãi vô cùng khắc nghiệt, là mảnh đất nắng lắm, mưa nhiều Vào mùa hè thì nắng,nóng, khô, hanh, oi bức từ 5 giờ sáng đến 7 giờ tối, còn vào mùa đông thì nhân dânlại đối mặt với bão lũ, thiên tai, sạt lở Lũ, lụt ngày càng bất thường với cường độngày càng khốc liệt Dù nắng nóng và mưa lũ đã thành quy luật, nhưng mỗi nămQuảng Ngãi vẫn bị thiệt hại hàng trăm tỷ đồng Nhiều người chết, bị thương Cuộc

sống của hàng ngàn người dân gặp khó khăn khi mưa lũ đổ về “Theo thống kê của Ban Chỉ huy PCLB&TKCN tỉnh, từ năm 1999-2010, Quảng Ngãi đã hứng chịu 90 cơn bão, 62 cơn áp thấp nhiệt đới, 55 trận lũ Hơn chục năm qua, bão, lũ đã cướp

Trang 32

đi sinh mạng của 397 người, làm 1.112 người bị thương; 7.644 ngôi nhà bị cuốn trôi, đổ sập, 82.272 ngôi nhà bị tốc mái, hư hỏng, hàng trăm tàu thuyền bị đánh chìm, hư hỏng Tổng thiệt hại về kinh tế ước khoảng 6.665 tỷ đồng.”

2.1.1.2 Truyền thống tinh thần cách mạng của nhân dân Quảng Ngãi

Quảng Ngãi là một trong những địa phương có tinh thần tiên phong cáchmạng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ

Quảng Ngãi sớm hưởng ứng mạnh mẽ chủ trương Cần vương cứu nước.

Phong trào Cần vương ở Quảng Ngãi kết thúc với sự thất bại của cuộc vận động cứunước do Trần Du lãnh đạo (1895 - 1896), gần như cùng lúc với sự chấm dứt củaphong trào Cần Vương

Cuộc vận động Duy tân ở Quảng Ngãi đánh dấu một bước chuyển biến

quan trọng trong lịch sử đấu tranh yêu nước chống Pháp của nhân dân trong tỉnh,góp phần cùng với phong trào Duy tân cả nước khơi dậy, nuôi dưỡng lòng yêunước, vận động tân văn hóa, tân sinh hoạt, đề xướng dân quyền, đề cao nghềnghiệp, cải thiện sản xuất, phát triển công nông thương nghiệp, xây dựng một nềngiáo dục chống từ chương, khoa cử, đề cao khoa học, chữ Quốc ngữ Cuộc đấutranh này nhằm đòi lại giá trị thực của người Việt Nam, chống vọng ngoại, chốngchủ nghĩa cá nhân, đề cao đoàn thể, phát huy nội lực, tiếp tục kế thừa và phát triểntruyền thống chuộng cách tân của dân tộc, trực tiếp châm ngòi cho phong tràochống sưu thuế 1908 Phong trào đã thể hiện sự gan dạ và kiên quyết, tinh thần anhdũng quật khởi của nhân dân Quảng Ngãi (chủ yếu là nông dân) trong cuộc tranhđấu giành độc lập, tự do

Tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc của nhân dân Quảng Ngãi thể hiện rõ rệt

trong việc tham gia phong trào đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu và để tang Phan Chu Trinh trong những năm 1925 - 1926 Từ trong phong trào dân tộc, dân

chủ, tầng lớp thanh niên yêu nước Quảng Ngãi đã tập hợp thành các nhóm yêu nước

ở địa phương như Hội Thiếu niên Ái quốc, Công Ái xã… Các nhóm yêu nước nàyđều chưa có đường lối chính trị rõ ràng, chỉ nhằm mục đích tập hợp lực lượng vàchờ cơ hội đấu tranh giành độc lập Song, việc thành lập các nhóm yêu nước trênđây đã thể hiện yêu cầu về một con đường cứu nước mới, tiến bộ của nhân dânQuảng Ngãi, đồng thời thể hiện sự cần thiết phải có một tổ chức yêu nước tiên tiến

Trang 33

để tập hợp, lãnh đạo họ Tuy phong trào cách mạng trong Tỉnh có những bướcthăng trầm, nhưng nhân dân Quảng Ngãi vẫn kiên quyết đứng lên đấu tranh chốngxâm lược

Tóm lại, trong điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên và truyền thống anhhùng cách mạng của cha anh, nhân dân Quảng Ngãi đã vượt lên những gian nan vàthách thức để xây dựng một quê hương Quảng Ngãi mạnh và đẹp Đây là kết quảcủa một quá trình tích lũy gian nan, chuẩn bị kiên trì các điều kiện về tự nhiên và xã

hội, bao trùm lên tất cả đó là sự kế thừa và phát triển truyền thống yêu nước Việt

Nam một cách khoa học và sáng tạo, phục vụ cho yêu cầu cách mạng ngày càngđược nâng cao và đổi mới, tạo nên một truyền thống nổi bật của nhân dân QuảngNgãi là tinh thần yêu nước nồng nàn, kiên trì, gan dạ, nhạy bén tiếp thu những cáitiến bộ của thời đại, biết chớp lấy thời cơ, cải biến hoàn cảnh và thay đổi cục diệncủa Tỉnh nhà

2.1.2 Vài nét về Trường và sinh viên Trường Cao đẳng Tài chính

-Kế toán

Với những đặc điểm thuận lợi như trên, Trường Cao đẳng Tài chính - Kếtoán phát huy được tối ưu lợi thế của một tỉnh trung tâm Ngoài Trường Cao đẳngTài chính - Kế toán, Quảng Ngãi còn có các trường Đại học, Cao đẳng khác như:Trường Đại học Phạm Văn Đồng; trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ ChíMinh - phân hiệu Miền Trung; trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghiệp Quảng Ngãi;trường Cao đẳng Nghề Kinh tế Công nghệ Dung Quất; trường Cao đẳng Nghề cơgiới

Tiền thân của Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toán là Trường Trung học Tài chính - Kế toán 3 được thành lập ngày 28/6/1976 trực thuộc Bộ Tài chính Qua

hơn 35 năm xây dựng và trưởng thành, Trường đã gặt hái được nhiều thành tựutrong sự nghiệp giáo dục và đào tạo Ngày 29/12/1997 Trường được Thủ tướng

Chính phủ nâng cấp thành Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toán Đến nay,

Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toán lại được Thủ tướng Chính phủ một lần nữa

nâng cấp lên thành Trường Đại học Tài chính - Kế toán vào ngày 13/07/2011 đáp

ứng nhu cầu mở rộng đào tạo nguồn nhân lực không chỉ chủ yếu cho khu vực MiềnTrung và Tây Nguyên mà là đào tạo nguồn lực Tài chính - Kế toán trong phạm vi

Trang 34

toàn quốc Đây là cơ sở đào tạo Công lập thuộc Bộ Tài chính nằm trong hệ thốnggiáo dục quốc dân, có nhiệm vụ đào tạo và bồi dưỡng cán bộ có trình độ Đại học,Cao đẳng và các trình độ thấp hơn trong lĩnh vực kinh tế, tài chính - tiền tệ, kế toán,quản trị kinh doanh, hệ thống thông tin quản lý, tiếng Anh; thực hiện nghiên cứukhoa học trên lĩnh vực kinh tế - tài chính - kế toán, phục vụ nhu cầu phát triển kinh

tế - xã hội

Trường đóng tại Thị trấn La Hà, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi - mộttỉnh có vị trí thuận lợi trong toàn địa bàn nói chung, vùng kinh tế trọng điểm MiềnTrung nói riêng, đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn về đào tạo nguồn nhân lực cán bộtài chính - kế toán phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, du lịch, dịch vụ của cáctỉnh trên địa bàn Miền Trung, Tây Nguyên và phát triển các khu công nghiệp, khukinh tế trong vùng, đặc biệt là khu kinh tế Dung Quất, khu kinh tế mở Chu Lai, khukinh tế - thương mại Chân Mây, khu kinh tế Nhơn Hội, Vân Phong, Vũng Áng,Nghi Sơn… trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh

tế quốc tế

1 Về cơ sở vật chất bao gồm: Tổng diện tích đất có 20,59 ha; 35 phòng học,

4 dãy nhà ký túc xá và 02 nhà ăn; 1 thư viện, các phòng ban chức năng của cán bộ,giảng viên; các trang thiết bị phục vụ cho công tác giáo dục và đào tạo

2 Về nguồn lực con người bao gồm: Đội ngũ giảng viên hiện có 199 người;cán bộ quản lý có 68 người

3 Về các phòng, ban chức năng và các đơn vị trực thuộc: Các phòng banchức năng; các tổ chức phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học và đơn vị sự nghiệptrực thuộc; các Khoa và Bộ môn

4 Về các tổ chức Đảng, Đoàn thể: tổ chức Đảng cộng sản Việt Nam; Côngđoàn; Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Hội sinh viên; Chi hội cựu chiến binh

Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toán hiện có 4.542 sinh viên Sinh viên củaTrường đến từ khắp mọi miền của Tổ quốc nhưng chủ yếu tập trung ở khu vựcMiền Trung và Tây Nguyên Sinh viên Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toán đượctuyển từ số học sinh đăng ký dự thi đại học có nguyện vọng học tại Trường từ cáckhối thi A và D, đa số có độ tuổi từ 18 đến 22, trẻ trung, năng động, nhiệt tình,chăm ngoan, biểu hiện tập trung ở một số đặc điểm như sau:

Trang 35

Về học tập: Nhìn vào bảng số liệu dưới đây qua các năm với hai hình thức đào tạo theo học chế niên chế đối với các khoá học liên thông khoá 4 và khoá 5 (bảng 2.3), cao đẳng chính quy khoá 09 và khoá 10 (bảng 2.4) và học chế tín chỉ đối với các khoá học Cao đẳng chính quy khoá 11, khoá 12, khoá 13 ở (bảng 2.5) Bảng 2.3. Kết quả học tập của sinh viên cao đẳng Liên thông K4

và K5

XS G K TBK TB Y K XS G K TBK TB Y K 2009-2010 0 1 19 126 72 3

Cộng 1 8 80 238 107 7 1 0 2 19 120 58 20 1

Nguồn: Phòng Đào tạo Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toán Quảng Ngãi

Bảng 2.4. Kết quả học tập của sinh viên cao đẳng chính quy K09

Nguồn: Phòng Đào tạo Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toán Quảng Ngãi

Tỉ lệ sinh viên đạt từ loại khá trở lên đối với hệ cao đẳng liên thông đạt16,61%, còn đối với hệ cao đẳng chính quy (niên chế) là 32,14%

Bảng 2.5 Kết quả học tập của sinh viên cao đẳng chính quy

Trang 36

Nguồn: Phòng Đào tạo Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toán Quảng Ngãi

Đối với hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ ở cả ba khóa 11, 12 và 13 cho thấykết quả sinh viên đạt loại khá trở

lên chiếm tỷ lệ là 35,15%

So sánh với cả hai hình

thức đào tạo thì sinh viên được

đào tạo theo mô hình học chế tín

chỉ học tập có hiệu quả tốt hơn

xét theo tỉ lệ số lượng sinh viên

xếp loại kết quả học tập xuất

sắc, giỏi, khá so với mô hình

đào tạo theo học chế niên chế

Tuy nhiên, mô hình đào tạo theo

Nguồn: Phòng Đào tạo Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toán Quảng Ngãi

Như đã phân tích ở kết quả học tập, so sánh sinh viên được đào tạo theo họcchế niên chế và sinh viên đào tạo theo học chế tín chỉ có sự phân cấp mạnh mẽ giữa

Trang 37

sinh viên khá giỏi và sinh viên không đạt yêu cầu, thì ở bảng số liệu kết quả rènluyện cũng cho chúng ta con số tương đương.

Về hoạt động phong trào: Hoạt động phong trào là bề nổi của Đoàn thanh

niên nhằm mục đích tuyên truyền, thu hút sinh viên vào các hoạt động lành mạnh,

bổ ích góp phần mang lại hiệu quả trong việc rèn luyện nhân cách, khả năng giaotiếp, ứng xử, củng cố tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái trong sinh viên :Phong trào văn hoá văn nghệ; phong trào thể dục thể thao; phong trào chung sứccùng cộng đồng

2.2 Thực trạng và tình hình giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toán hiện nay

2.2.1 Quan niệm về đạo đức của sinh viên Trường Cao đẳng Tài chính

-Kế toán

Được sự giúp đỡ của Thầy hướng dẫn và sự cho phép của Ban giám hiệuTrường Cao đẳng Tài chính - Kế toán vào tháng 10 năm 2011 tác giả luận văn đã tiếnhành khảo sát 495 sinh viên thuộc khoá học 12 và 13 tại trường với 98 câu hỏi tậptrung vào 5 vấn đề cơ bản liên quan trực tiếp đến đề tài của luận văn và đã thu đượckết quả như sau:

2.2.1.1 Vấn đề về động cơ, thái độ học tập của sinh viên

Động cơ và thái độ học tập là khâu then chốt nhất trong học tập và sinh hoạtcủa sinh viên, nó thể hiện trình độ nhận thức của mỗi cá nhân và phương hướng nỗlực nội tại của toàn bộ hoạt động học tập của cá nhân đó với bản thân, gia đình và

xã hội, nó thể hiện nội hàm và đặc trưng thời đại mà sinh viên đang sống Muốn biếtđược động cơ và thái độ học tập của sinh viên tác giả cần tìm hiểu một số lý dokhiến sinh viên lựa chọn loại nghề nghiệp mà tác giả đang nghiên cứu trên cơ sởbảng khảo sát với bốn câu hỏi đầu tiên của “nhóm câu hỏi thứ nhất” và câu hỏi thứhai của “nhóm câu hỏi thứ hai” Theo kết quả điều tra được:

Động cơ đầu tiên để các em đăng ký tuyển sinh vào trường là “vì uy tín và

chất lượng đầu ra của trường” chiếm 61,14%;

Động cơ thứ hai, đây là loại nghề “dễ kiếm ra tiền” chiếm 36,01%;

Động cơ thứ ba, đây là loại nghề “dễ xin được việc làm” chiếm 55,86%;

Trang 38

Động cơ thứ tư, “chọn theo nguyện vọng và nghề truyền thống của gia đình”

chiếm 32,35%;

Động cơ thứ năm, “chọn theo sở thích của bản thân” chiếm 65,54%

Động cơ và thái độ là hai kết quả không tương thích bởi khi vào Trường sinhviên phải đối mặt với những cái “rất mới” kể cả về không gian, thời gian, conngười, nơi chốn và thậm chí là mới và xa lạ đối với các môn học, các khái niệm, cácphạm trù… Vì thế, khi xác định vào học tại Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toánthì thái độ học tập của sinh viên cũng cần phải có một sự thay đổi mới để phù hợp

và theo kịp với chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ của Trường

Với phương pháp đào tạo theo học chế tín chỉ, yêu cầu sinh viên phải tíchcực, chủ động trong việc tìm hiểu và lĩnh hội kiến thức, sinh viên phải nổ lực họctập nhiều và nhiều hơn nữa bằng những giờ tự học, tự nghiên cứu, phần lớn cácchương trình, nội dung học tập đều đã được cắt giảm giờ lên lớp thay vào đó là cácgiờ tự học, tự nghiên cứu ở nhà của sinh viên Ví dụ, những năm 2006 trở về trướcsinh viên năm thứ nhất và thứ hai được học các môn học như: Triết học 45 tiết,Kinh tế chính trị học 45 tiết, Chủ nghĩa xã hội khoa học 45 tiết, tổng cộng 3 môn là

135 tiết nhưng giờ cả ba môn này gộp chung lại thành môn Những nguyên lý cơ bảncủa Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ mới có 75 tiết, điều đó muốn nói lên rằng nếu sinhviên muốn nắm được môn học mà dân chuyên ngành chúng tôi gọi là “3K” - khó,khô, khổ này thì phải đầu tư công sức, đầu tư thời gian, dày công nghiên cứu thìmới không bị rơi vào trong những môn học lại nhiều nhất và thi lại nhiều nhất vàcũng là một trong những môn học bị ghét nhất

Kết quả điều tra được cho thấy gần 50% sinh viên chỉ dành 1 giờ đồng hồcho một môn học mỗi ngày và thậm chí là có đến 14,84% trong số đó không dànhmột chút thời gian nào cho việc học thường nhật mà chỉ chờ cho đến thi và kiểm tramới học Như vậy, thời lượng dành cho một môn học mỗi ngày của sinh viên làkhông đủ để đảm bảo cho việc tiếp thu kiến thức mới ở lớp và tất nhiên là điều nàycũng dẫn đến một hệ luỵ là kết quả học tập cũng sẽ bị ảnh hưởng không nhỏ, có đến67,8% sinh viên đạt kết quả học tập trung bình và yếu

Trang 39

Cũng tương ứng với kết quả học tập nêu trên thì khi khảo sát về nguyên nhânkhiến sinh viên có kết quả như vậy họ trả lời là “nản, không muốn học nhưng khôngbiết làm thế nào, vì ham chơi nhưng sẽ tập trung học nước rút vào các kỳ cuối vàhọc yếu nên không theo kịp bài giảng” chiếm đến 53,48% Đây rõ ràng là những lờibiện hộ cho trọng trách mà sinh viên đang gánh vác trên vai mình về trách nhiệmhọc tập đối với bản thân, gia đình và xã hội Họ chưa xây dựng được cho mình mộtđộng cơ và thái độ học tập nghiêm túc, chưa có tinh thần cầu thị về tri thức, chưaxây dựng được mục đích chính xác cho việc học.

Vậy nên, cùng với

những nguyên nhân nêu trên

thì nhiều hiện tượng tiêu cực

đã xảy ra trong quá trình học

và thi đánh giá kết quả môn

học, đó là việc sinh viên sử

dụng tài liệu trong phòng thi,

trao đổi bài với bạn, rồi thì tìm

cách hối lộ thầy cô giáo môn

học, đó là cái nếp, là thói quen,

là thái độ bàng quan với khối

kiến thức mà họ đang tiếp cận,

sao cũng được thi không qua thì thi lại, học không qua thì học lại, thờ ơ và vô tráchnhiệm với ngay chính nhiệm vụ bản thân chiếm đến 52,5% sinh viên (tức 260 sinhviên tham gia khảo sát trả lời câu hỏi) Đây quả là một con số đáng báo động

Khi bàn về mục đích học tập thì có 2,91% sinh viên không xác định được mục

đích học tập của mình là để làm gì, số còn lại xác định học là để kiếm một việc làm

có thu nhập cao, để tiến thân, để cống hiến… nhưng tác giả tin chắc

là phần lớn số sinh viên này mới chỉnói lên mơ ước của bản thân chứchưa thực sự hiểu “một việc làm cóthu nhập cao” là như thế nào, đòi

Trang 40

hỏi ở họ những gì về trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực thựcnghiệm, đạo đức chức nghiệp,… Nói tóm lại, muốn có một công việc như mongmuốn thì sinh viên phải phấn đấu, nỗ lực toàn diện, hết mình trong môi trường họcđường của giáo dục - đào tạo chuyên nghiệp.

Mặc dù đã xác định được mục đích học tập cho riêng bản thân nhưng chỉ 61sinh viên chọn trên 3 phương án lựa chọn phong cách học tập tốt trong tổng số 492sinh viên trả lời chiếm 12,4% Số còn lại dù là chọn phương án nào thì cùng đều là

thiếu sót, khập khiễn, thiếu sự hoàn bị cho một phong cách học tập tốt Bởi,“Mục đích học tập là nhận thức và theo đuổi tự giác của một người đối với ý nghĩa và tác dụng xã hội của học tập, là lý tưởng của người đó, thể hiện cụ thể từ hướng trong học tập và sinh hoạt Mục đích học tập nó chi phối phương hướng nỗ lực nội tại của toàn bộ hoạt động học tập” [28, tr.137].

Xác định được mục đích học tập là một chuyện, nhưng xây dựng cho đượcmột phương pháp học tập hiệu quả lại là một chuyện khác nếu các em không tuânthủ nghiêm ngặt được những gì mình đã nêu ra trong phương pháp học tập, mà yêucầu tối thiểu nhất là phải tuân thủ cho bằng được thời gian biểu, kế hoạch học tậphàng ngày, hàng giờ theo lịch trình và dự kiến môn học, kiên quyết chống lại kẻ thùcủa học tập đó là bệnh “lười biếng”… thì các em sẽ không thể thành công, khôngthể vươn cao và vươn xa hơn trong học tập và trong sự nghiệp

Đối với các môn học cơ sở và cơ sở ngành thì 75,68% sinh viên khẳng định

đó là các môn học cung cấp lượng tri thức nguồn cho sự ổn định và phát triển bềnvững của tri thức khoa học chuyên nghiệp; 79,37% sinh viên tích cực học tập nângcao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và các kiến thức liên quan đáp ứng nhu cầungày càng cao của xã hội thông qua việc các em tham gia học thêm các văn bằng,chứng chỉ khác ngoài chương

trình đào tạo Mặc dù còn nhiều

Ngày đăng: 20/07/2014, 17:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3. Kết quả học tập của sinh viên cao đẳng Liên thông K4 và K5 - giáo dục đạo đức cho sinh viên trường cao đẳng tài chính – kế toán quảng ngãi
Bảng 2.3. Kết quả học tập của sinh viên cao đẳng Liên thông K4 và K5 (Trang 35)
Bảng 2.4. Kết quả học tập của sinh viên cao đẳng chính quy K09 và K10 - giáo dục đạo đức cho sinh viên trường cao đẳng tài chính – kế toán quảng ngãi
Bảng 2.4. Kết quả học tập của sinh viên cao đẳng chính quy K09 và K10 (Trang 35)
2.2.2.2. Hình thức và phương pháp giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường   Cao đẳng Tài chính - Kế toán - giáo dục đạo đức cho sinh viên trường cao đẳng tài chính – kế toán quảng ngãi
2.2.2.2. Hình thức và phương pháp giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toán (Trang 70)
Bảng 3.1. Lịch trình giảng dạy - giáo dục đạo đức cho sinh viên trường cao đẳng tài chính – kế toán quảng ngãi
Bảng 3.1. Lịch trình giảng dạy (Trang 76)
Phụ lục 2. Bảng điểu tra xã hội học - Giáo dục đạo đức cho sinh viên  Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toán hiện nay - giáo dục đạo đức cho sinh viên trường cao đẳng tài chính – kế toán quảng ngãi
h ụ lục 2. Bảng điểu tra xã hội học - Giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toán hiện nay (Trang 111)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w