1.1. Trong bối cảnh chung của nền Giáo dục nước nhà, chất lượng dạy và học thực sự là vấn đề được quan tâm hàng đầu của toàn xã hội. Chất lượng thực trong dạy học là đào tạo ra được những con người có tri thức, kỹ năng, nhân cách toàn diện để có thể đáp ứng những yêu cầu đổi thay không ngừng của cuộc sống hiện đại. Trong lịch sử từ xưa tới nay thời đại nào xã hội phát triển là thời đó có nền giáo dục phát triển và ngược lại. Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định giáo dục có vai trò, vị trí vô cùng quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển xã hội, giáo dục luôn được coi là quốc sách hàng đầu. Vì vậy, câu hỏi đặt ra: làm thế nào để nâng cao được chất lượng giáo dục là vấn đề được quan tâm đặc biệt không chỉ ở Việt Nam mà còn ở tất cả các nước trên thế giới. Đổi mới quy trình, chương trình đào tạo và phương pháp dạy học là những vấn đề thời sự của tất cả hệ thống giáo dục. Rất nhiều phương pháp dạy học mới được thử nghiệm nhằm đào tạo những người lao động có bản lĩnh, có năng lực chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, sẵn sàng thích ứng với những đổi thay của xã hội hiện đại…Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong hoạt động tập thể để tự phát hiện, tự giải quyết các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống, từ đó tự chiếm lĩnh và vận dụng các kiến thức và kĩ năng cơ bản dưới sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên là một nhu cầu cấp thiết. Trong những năm gần đây, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta đã được Đảng, Nhà nước cũng như các cấp quản lí giáo dục rất quan tâm. Nghị quyết Trung ương II khoá VIII đã viết trong phần định hướng phát triển Giáo dục – Đào tạo đã chỉ rõ:“Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và các phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh nhất là sinh viên đại học” [1,tr.43]. Tiếp tục tinh thần đó, trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc khoá IX khi nói về giáo dục đào tạo, Ban chấp hành Trung ương cũng đã nhấn mạnh:“Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung phương pháp dạy và học, phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề” [2, tr.108, 109]. Trong “Luật giáo dục” được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 02/12/1998 ở chương I “Những quy định chung” đã nhấn mạnh tới yêu cầu và đổi mới phương pháp giáo dục là “phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của học sinh, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”. Chiến lược phát triển Giáo dục 2001- 2010 đã đề ra phương hướng: cùng hòa nhịp vào xu hướng đổi mới phương pháp dạy học đang diễn ra sôi nổi khắp nơi trên thế giới, việc đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta cần được xúc tiến mạnh mẽ hơn nữa trên cơ sở những quan điểm đầy đủ và thống nhất về đổi mới phương pháp dạy và học cũng như những giải pháp phù hợp, khả thi. Như vậy, trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, văn minh, vấn đề được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm là nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Để thực hiện được mục tiêu đó, trước hết phải đổi mới nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy. 1.2. Cùng với các môn học khác, môn Ngữ Văn có một vị trí vô cùng quan trọng trong hệ thống giáo dục. Môn Ngữ Văn là môn học về khoa học xã hội và nhân văn, có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những kiến thức về tiếng Việt, văn học và làm văn, hình thành và phát triển ở học sinh năng lực sử dụng tiếng Việt, năng lực tiếp nhận tác phẩm văn học. Qua môn học này, học sinh có thêm những hiểu biết về văn hoá, xã hội, lịch sử, đời sống nội tâm của con người và bản thân. Vì vậy đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng giảng dạy, nâng cao khả năng tiếp nhận, cảm thụ tác phẩm văn học cho học sinh luôn được người làm công tác dạy Ngữ Văn quan tâm. Muốn đạt được hiệu quả giáo dục cao nhất, việc giảng dạy văn học phải tiến hành sao cho phù hợp với đặc trưng bộ môn, vừa mang bản chất xã hội, vừa là một hiện tượng thẩm mỹ, hiện tượng nghệ thuật. Loại thể văn học là một vấn đề thuộc hình thức nghệ thuật của văn học, có liên quan khăng khít đến nội dung. Mỗi tác phẩm văn học đều tồn tại dưới hình thức một loại thể nhất định, đòi hỏi một phương pháp, một cách thức phân tích giảng dạy phù hợp với nó.Vì vậy, vấn đề loại thể văn học trong thực tế giảng dạy ở trường phổ thông đặt ra không những như một vấn đề tri thức mà chủ yếu còn là vấn đề về phương pháp. Nói đến vấn đề loại thể trong văn học là nói đến tính chính thể trong một tác phẩm với sự thống nhất của một nội dung nhất định trong một hình thức nhất định.Việc tìm hiểu đặc trưng loại thể văn học càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Đó là chìa khoá để khám phá những giá trị đích thực của từng tác phẩm, cùng với sự vận động và phát triển của nền văn học. Song song với dạy học văn học theo đặc trưng thể loại thì mỗi tác phẩm văn chương còn mang phong cách riêng của từng tác giả. Nói đến phong cách nghệ thuật tác giả là nói đến đặc điểm riêng trong cách thức thể hiện nội dung cũng như nghệ thuật tác phẩm. Muốn nghiên cứu, giảng dạy thành công một tác phẩm văn chương thì vấn đề thể loại và phong cách nghệ thuật tác giả cần quan tâm hàng đầu. Điều đó nhất thiết đòi hỏi phải có phương pháp và biện pháp dạy học phù hợp để đạt hiệu quả. Thực tiễn sư phạm chỉ ra rằng việc dạy học văn ở nhà trường Việt Nam chúng ta hiện nay đã bộc lộ không ít những hạn chế về nhiều mặt. Dạy và học văn đã không theo kịp công tác nghiên cứu và cũng vì thế mà không đảm nhiệm tốt nhiệm vụ của nó. Thực trạng các giờ dạy văn hiện nay còn đơn điệu, tẻ nhạt, khiến học sinh không hứng thú học văn dẫn đến chất lượng các giờ học văn ngày càng giảm sút. Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến thực trạng trên là khi phân tích tác phẩm văn học chúng ta không xác định đúng “chất của loại” trong thể, coi nhẹ phong cách nghệ thuật tác giả trong từng tác phẩm. Xa rời bản chất loại thể tác phẩm, xa rời phong cách nghệ thuật tác giả thực chất là xa rời tác phẩm cả về “linh hồn” lẫn “thể xác”. Vì vậy khi khai thác tác phẩm văn học không những không làm cho tác phẩm trở nên sống động, giàu sức gợi mà trái lại làm cho tác phẩm khô khan, tác phẩm chết cứng. Bên cạnh đó, bệnh công thức, dập khuôn máy móc, bệnh xã hội dung tục cũng đều sinh ra từ đó. Ngay cả giáo trình phương pháp dạy học văn cũng ít đi vào đặc trưng loại thể tác phẩm và chưa nghiên cứu sâu phong cách nghệ thuật tác giả. Điều đó dẫn tới hiện tượng cứ thấy truyện là dạy theo tự sự, thấy thơ là dạy theo hướng trữ tình. Quan điểm dạy học văn máy móc và thiếu khoa học như vậy đã làm giảm đi cái hay vốn có của đặc trưng bộ môn, của từng tác phẩm. 1.3. Văn học Việt Nam từ cổ điển đến hiện đại, qua từng giai đoạn, từng thời kỳ, hoà trong dòng chảy chung của quy luật phát triển vẫn ghi đậm dấu ấn riêng của từng tác giả. Có thể nói, chính họ với tài năng thể hiện qua thực tiễn sáng tác của mình đã tạo cho nền văn học dân tộc một diện mạo độc đáo, đa dạng về phong cách, phong phú về thể tài. Trong số những tác giả đó nhà thơ Tố Hữu có một vai trò quan trọng trên thi đàn cũng như trong nền văn học sử nước nhà. Ông vừa là nhà thơ đầu tiên của giai cấp vô sản – Người văn nghệ binh thứ nhất, theo cách nói của Nguyễn Đình Thi – vừa là con chim đầu đàn của nền thơ ca cách mạng Việt Nam hiện đại. Suốt nửa thế kỷ qua, thơ Tố Hữu không chỉ là đối tượng nghiên cứu của giới văn học nghệ thuật, mà còn là đối tượng để dạy và học trong các nhà trường phổ thông và đại học. Trong chương trình môn Ngữ Văn THPT, Tố Hữu là một tác gia có vị trí quan trọng và là lá cờ đầu của nền thơ ca hiện đại Việt Nam. Là một nhà thơ lớn, Tố Hữu không chỉ là người thể hiện sâu sắc tinh thần thời đại, mà còn là người đánh dấu một bước phát triển mới của thơ ca dân tộc. Thơ Tố Hữu đã thực sự trở thành một bộ phận không thể tách rời của đời sống tâm hồn Việt Nam. Từ già đến trẻ, người Việt Nam hầu như chẳng có ai là không thuộc, không yêu ít nhiều thơ Tố Hữu. Mỗi tác phẩm thơ Tố Hữu đều mang đậm đặc trưng thể loại và phong cách riêng của nhà thơ. Tuy nhiên việc dạy tác phẩm thơ Tố Hữu ở trường THPT hiện nay còn đơn điệu, tẻ nhạt, chưa xác định đúng “chất của loại” trong thể và chưa bám vào phong cách nghệ thuật của tác giả nên chưa tạo được hứng thú cho học sinh. Mặt khác thành tựu thơ ca mà nhà thơ Tố Hữu để lại cho nền văn học nước nhà chưa có được chỗ đứng xứng đáng trong lòng những người yêu văn chương. Với những trăn trở về hiệu quả tiếp nhận tác phẩm thơ Tố Hữu của học sinh THPT cùng với mong muốn tha thiết khám phá cái hay, cái đẹp của mỗi tác phẩm, tôi quyết định chọn đề tài: “Dạy học thơ Tố Hữu ở Trung học phổ thông theo đặc trưng thể loại và phong cách nghệ thuật”. Hi vọng, sự thành công của đề tài này sẽ góp một tiếng nói vào việc dạy học văn học theo đặc trưng thể loại và phong cách nghệ thuật cũng như tìm ra một hướng đi mới cho việc dạy học thơ Tố Hữu trong nhà trường phổ thông.
Trang 1CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
TNCS Thanh niên cộng sản
TP Tác phẩm
TPVC Tác phẩm văn chươngTPVH Tác phẩm văn học
TN Thực nghiệm
VB Văn bản
VB Việt Bắc
MỤC LỤC
Trang 2Lời cảm ơn i
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt ( xếp theo A B C ) ii
MỞ ĐẦU trang 1 1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 5
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Cấu trúc luận văn 9
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 10
1.1 Thể loại và dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại 10
1.1.1 Thể loại văn học 10
1.1.2 Dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại 13
1.2 Những vấn đề chung về thơ trữ tình 16
1.2.1 Khái niệm về thơ trữ tình 16
1.2.2 Đặc trưng của thơ trữ tình 17
1.2.3 Đặc trưng phong cách nghệ thuật tác giả 35
1.2.4 Đặc trưng phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu 39
Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG DẠY HỌC THƠ TỐ HỮU Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI VÀ PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT 44
2.1 Thực trạng dạy học thơ Tố Hữu ở THPT 44
2.1.1 Vị trí của thơ Tố Hữu trong Chương trình Ngữ văn THPT 44
2.1.2 Những thuận lợi, khó khăn 45
2.1.3 Thực trạng dạy học thơ Tố Hữu ở THPT 48
2.2 Định hướng dạy học thơ Tố Hữu ở THPT 54
2.2.1 Tìm hiểu xuất xứ 55
2.2.2 Cảm nhận ý thơ là khám phá nội dung và hình thức của bài thơ 57
2.2.3 Lí giải, đánh giá 66
Trang 3Chương 3: GIÁO ÁN VÀ THỰC NGHIỆM 72
3.1.Thiết kế giáo án thực nghiệm 72
3.1.1 Bài Từ ấy 72
3.1.2 Đoạn trích Việt Bắc 87
3.2 Những vấn đề chung về thực nghiệm 97
3.2.1 Mục đích thực nghiệm 98
3.2.2 Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm 98
3.3 Nội dung thực nghiệm và tiến trình thực nghiệm 99
3.3.1 Nội dung thực nghiệm 99
3.3.2 Tiến trình thực nghiệm 99
3.4 Kết quả thực nghiệm 100
3.4.1 Tiến hành kiểm tra 100
3.4.2 Kết quả kiểm tra 101
3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm 102
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC 111
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Trong bối cảnh chung của nền Giáo dục nước nhà, chất lượng dạy và học
thực sự là vấn đề được quan tâm hàng đầu của toàn xã hội Chất lượng thực trong dạy học là đào tạo ra được những con người có tri thức, kỹ năng, nhân cách toàn diện để có thể đáp ứng những yêu cầu đổi thay không ngừng của cuộc sống hiện đại Trong lịch sử từ xưa tới nay thời đại nào xã hội phát triển
là thời đó có nền giáo dục phát triển và ngược lại Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định giáo dục có vai trò, vị trí vô cùng quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển xã hội, giáo dục luôn được coi là quốc sách
Trang 4hàng đầu Vì vậy, câu hỏi đặt ra: làm thế nào để nâng cao được chất lượnggiáo dục là vấn đề được quan tâm đặc biệt không chỉ ở Việt Nam mà còn ở tất
cả các nước trên thế giới Đổi mới quy trình, chương trình đào tạo và phươngpháp dạy học là những vấn đề thời sự của tất cả hệ thống giáo dục Rất nhiềuphương pháp dạy học mới được thử nghiệm nhằm đào tạo những người laođộng có bản lĩnh, có năng lực chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, sẵnsàng thích ứng với những đổi thay của xã hội hiện đại…Phát huy tính tíchcực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong hoạt động tập thể để tự phát hiện,
tự giải quyết các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống, từ đó tự chiếm lĩnh
và vận dụng các kiến thức và kĩ năng cơ bản dưới sự tổ chức và hướng dẫncủa giáo viên là một nhu cầu cấp thiết
Trong những năm gần đây, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học ởnước ta đã được Đảng, Nhà nước cũng như các cấp quản lí giáo dục rất quan
tâm Nghị quyết Trung ương II khoá VIII đã viết trong phần định hướng phát triển Giáo dục – Đào tạo đã chỉ rõ:“Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và các phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian
tự học, tự nghiên cứu cho học sinh nhất là sinh viên đại học” [1,tr.43] Tiếp tục tinh thần đó, trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc khoá IX khi nói về giáo dục đào tạo, Ban chấp hành Trung ương cũng đã nhấn mạnh:“Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung phương pháp dạy
và học, phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề” [2, tr.108,
109]
Trong “Luật giáo dục” được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 02/12/1998 ở chương I “Những quy định chung” đã nhấn mạnh tới yêu cầu và đổi mới phương pháp giáo dục là “phải
Trang 5phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của học sinh, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”
Chiến lược phát triển Giáo dục 2001- 2010 đã đề ra phương hướng:
cùng hòa nhịp vào xu hướng đổi mới phương pháp dạy học đang diễn ra sôinổi khắp nơi trên thế giới, việc đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta cầnđược xúc tiến mạnh mẽ hơn nữa trên cơ sở những quan điểm đầy đủ và thốngnhất về đổi mới phương pháp dạy và học cũng như những giải pháp phù hợp,khả thi Như vậy, trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm xâydựng nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, văn minh, vấn đề được Đảng vàNhà nước đặc biệt quan tâm là nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo Đểthực hiện được mục tiêu đó, trước hết phải đổi mới nội dung chương trình vàphương pháp giảng dạy
1.2 Cùng với các môn học khác, môn Ngữ Văn có một vị trí vô cùng quan
trọng trong hệ thống giáo dục Môn Ngữ Văn là môn học về khoa học xã hội
và nhân văn, có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những kiến thức về tiếngViệt, văn học và làm văn, hình thành và phát triển ở học sinh năng lực sửdụng tiếng Việt, năng lực tiếp nhận tác phẩm văn học Qua môn học này, họcsinh có thêm những hiểu biết về văn hoá, xã hội, lịch sử, đời sống nội tâm củacon người và bản thân Vì vậy đổi mới phương pháp dạy học để nâng caochất lượng giảng dạy, nâng cao khả năng tiếp nhận, cảm thụ tác phẩm vănhọc cho học sinh luôn được người làm công tác dạy Ngữ Văn quan tâm.Muốn đạt được hiệu quả giáo dục cao nhất, việc giảng dạy văn học phải tiếnhành sao cho phù hợp với đặc trưng bộ môn, vừa mang bản chất xã hội, vừa
là một hiện tượng thẩm mỹ, hiện tượng nghệ thuật Loại thể văn học là mộtvấn đề thuộc hình thức nghệ thuật của văn học, có liên quan khăng khít đếnnội dung Mỗi tác phẩm văn học đều tồn tại dưới hình thức một loại thể nhấtđịnh, đòi hỏi một phương pháp, một cách thức phân tích giảng dạy phù hợpvới nó.Vì vậy, vấn đề loại thể văn học trong thực tế giảng dạy ở trường phổthông đặt ra không những như một vấn đề tri thức mà chủ yếu còn là vấn đề
Trang 6về phương pháp Nói đến vấn đề loại thể trong văn học là nói đến tính chínhthể trong một tác phẩm với sự thống nhất của một nội dung nhất định trongmột hình thức nhất định.Việc tìm hiểu đặc trưng loại thể văn học càng trở nênquan trọng hơn bao giờ hết Đó là chìa khoá để khám phá những giá trị đíchthực của từng tác phẩm, cùng với sự vận động và phát triển của nền văn học.Song song với dạy học văn học theo đặc trưng thể loại thì mỗi tác phẩm vănchương còn mang phong cách riêng của từng tác giả Nói đến phong cáchnghệ thuật tác giả là nói đến đặc điểm riêng trong cách thức thể hiện nội dungcũng như nghệ thuật tác phẩm Muốn nghiên cứu, giảng dạy thành công mộttác phẩm văn chương thì vấn đề thể loại và phong cách nghệ thuật tác giả cầnquan tâm hàng đầu Điều đó nhất thiết đòi hỏi phải có phương pháp và biệnpháp dạy học phù hợp để đạt hiệu quả.
Thực tiễn sư phạm chỉ ra rằng việc dạy học văn ở nhà trường ViệtNam chúng ta hiện nay đã bộc lộ không ít những hạn chế về nhiều mặt Dạy
và học văn đã không theo kịp công tác nghiên cứu và cũng vì thế mà không
đảm nhiệm tốt nhiệm vụ của nó Thực trạng các giờ dạy văn hiện nay còn đơn
điệu, tẻ nhạt, khiến học sinh không hứng thú học văn dẫn đến chất lượng cácgiờ học văn ngày càng giảm sút Một trong những nguyên nhân quan trọngdẫn đến thực trạng trên là khi phân tích tác phẩm văn học chúng ta không xácđịnh đúng “chất của loại” trong thể, coi nhẹ phong cách nghệ thuật tác giảtrong từng tác phẩm Xa rời bản chất loại thể tác phẩm, xa rời phong cáchnghệ thuật tác giả thực chất là xa rời tác phẩm cả về “linh hồn” lẫn “thể xác”
Vì vậy khi khai thác tác phẩm văn học không những không làm cho tác phẩmtrở nên sống động, giàu sức gợi mà trái lại làm cho tác phẩm khô khan, tácphẩm chết cứng Bên cạnh đó, bệnh công thức, dập khuôn máy móc, bệnh xãhội dung tục cũng đều sinh ra từ đó Ngay cả giáo trình phương pháp dạy họcvăn cũng ít đi vào đặc trưng loại thể tác phẩm và chưa nghiên cứu sâu phongcách nghệ thuật tác giả Điều đó dẫn tới hiện tượng cứ thấy truyện là dạy theo
tự sự, thấy thơ là dạy theo hướng trữ tình Quan điểm dạy học văn máy móc
Trang 7và thiếu khoa học như vậy đã làm giảm đi cái hay vốn có của đặc trưng bộmôn, của từng tác phẩm
1.3 Văn học Việt Nam từ cổ điển đến hiện đại, qua từng giai đoạn, từng thời
kỳ, hoà trong dòng chảy chung của quy luật phát triển vẫn ghi đậm dấu ấnriêng của từng tác giả Có thể nói, chính họ với tài năng thể hiện qua thực tiễnsáng tác của mình đã tạo cho nền văn học dân tộc một diện mạo độc đáo, đadạng về phong cách, phong phú về thể tài Trong số những tác giả đó nhà thơ
Tố Hữu có một vai trò quan trọng trên thi đàn cũng như trong nền văn học sử
nước nhà Ông vừa là nhà thơ đầu tiên của giai cấp vô sản – Người văn nghệ
binh thứ nhất, theo cách nói của Nguyễn Đình Thi – vừa là con chim đầu đàn
của nền thơ ca cách mạng Việt Nam hiện đại Suốt nửa thế kỷ qua, thơ TốHữu không chỉ là đối tượng nghiên cứu của giới văn học nghệ thuật, mà còn
là đối tượng để dạy và học trong các nhà trường phổ thông và đại học Trongchương trình môn Ngữ Văn THPT, Tố Hữu là một tác gia có vị trí quan trọng
và là lá cờ đầu của nền thơ ca hiện đại Việt Nam Là một nhà thơ lớn, Tố Hữukhông chỉ là người thể hiện sâu sắc tinh thần thời đại, mà còn là người đánhdấu một bước phát triển mới của thơ ca dân tộc Thơ Tố Hữu đã thực sự trởthành một bộ phận không thể tách rời của đời sống tâm hồn Việt Nam Từ giàđến trẻ, người Việt Nam hầu như chẳng có ai là không thuộc, không yêu ítnhiều thơ Tố Hữu Mỗi tác phẩm thơ Tố Hữu đều mang đậm đặc trưng thểloại và phong cách riêng của nhà thơ Tuy nhiên việc dạy tác phẩm thơ TốHữu ở trường THPT hiện nay còn đơn điệu, tẻ nhạt, chưa xác định đúng “chấtcủa loại” trong thể và chưa bám vào phong cách nghệ thuật của tác giả nênchưa tạo được hứng thú cho học sinh Mặt khác thành tựu thơ ca mà nhà thơ
Tố Hữu để lại cho nền văn học nước nhà chưa có được chỗ đứng xứng đángtrong lòng những người yêu văn chương
Với những trăn trở về hiệu quả tiếp nhận tác phẩm thơ Tố Hữu của họcsinh THPT cùng với mong muốn tha thiết khám phá cái hay, cái đẹp của mỗi
tác phẩm, tôi quyết định chọn đề tài: “Dạy học thơ Tố Hữu ở Trung học phổ
Trang 8thông theo đặc trưng thể loại và phong cách nghệ thuật” Hi vọng, sự thành
công của đề tài này sẽ góp một tiếng nói vào việc dạy học văn học theo đặctrưng thể loại và phong cách nghệ thuật cũng như tìm ra một hướng đi mớicho việc dạy học thơ Tố Hữu trong nhà trường phổ thông
2 Lịch sử vấn đề
2.1.Tình hình nghiên cứu dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể
loại và phong cách nghệ thuật
Những năm gần đây do yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, GVNgữ Văn các cấp đã được bồi dưỡng nhiều tri thức các thể loại văn học vàdạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại Bên cạnh đó cũng cónhiều công trình nghiên cứu, các tài liệu hướng dẫn phân tích tác phẩm vănchương theo loại thể Trên cơ sở những thành tựu về loại thể văn học và thipháp học, nhiều nhà nghiên cứu, nhà sư phạm tâm huyết đã đề xuất cáchthức, con đường dạy học sinh cảm thụ, tiếp nhận tác phẩm văn chương nóichung; thơ trữ tình nói riêng theo đặc trưng thể loại Các tác giả trong chuyênluận của mình khi nói về vấn đề giảng dạy và phân tích tác phẩm văn chươngđều không bỏ qua đặc thù thẩm mĩ của thể loại tác phẩm cần phân tích Tiêubiểu là các công trình của các tác giả:
Trần Thanh Đạm: Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể
Đại học Sư phạm, 2008)
Nhóm tác giả trường ĐHSP Hà Nội I: Nhà văn và tác phẩm trong trường phổ thông, Nxb Đại học Sư phạm, 2001.
Trang 9Nguyễn Viết Chữ: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể (NXB Đại học Sư phạm, 2006)
Hoàng Ngọc Hiến: Năm bài giảng về thể loại (Trường viết văn Nguyễn
phạm, là “một công đôi việc”, là “mũi tên đạt được hai đích”, là cần thiết với
nhà nghiên cứu đồng thời cần thiết với người giảng dạy
Ngoài ra, trong cuốn Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể,
tác giả Trần Thanh Đạm đã giải đáp phần nào những thắc mắc, băn khoăn củagiáo viên trong vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể Vì thế trongcông trình nghiên cứu này, một mặt tác giả giới thiệu một số kiến thức cơ bảnnhất về các loại, thể văn học chủ yếu có liên quan đến chương trình văn họcTHPT nhất là phần văn học Việt Nam xưa và nay Mặt khác, tác giả cũng đưa
ra phương pháp vận dụng đặc trưng các loại thể vào việc giảng dạy các tácphẩm trong chương trình Ngữ Văn THPT, có kết hợp phân tích một số bàitiêu biểu thuộc các thể loại khác nhau…
2.2 Tình hình nghiên cứu của chuyên ngành phương pháp dạy học văn về thơ
Tố Hữu và dạy học thơ Tố Hữu
Tố Hữu là một nhà thơ lớn của nền thơ ca Việt Nam Ông đã để lại chođời một sự nghiệp văn chương có giá trị cao Đời thơ của ông được tập hợp
trong 7 tập thơ, ra đời cùng với chiều dài lịch sử của dân tộc: Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa, Một tiếng đờn, Ta với ta Từ Từ ấy đến
Ta với ta là cả một cuộc hành trình dài của đời thơ Tố Hữu.
Mỗi tập thơ Tố Hữu ra đời là một hiện tượng văn học lớn và đã thu hútgiới phê bình nghiên cứu một cách đông đảo Có đến hàng chục công trìnhnghiên cứu văn học về thơ ông Đáng chú ý hơn cả là những công trình của
Trang 10các nhà thơ nổi tiếng như: Xuân Diệu, Tế Hanh, Chế Lan Viên, Lưu TrọngLư,…; của các nhà nghiên cứu phê bình văn học có tên tuổi như: Hoài Thanh,Đặng Thai Mai, Hà Minh Đức, Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình Sử, vv… vàmột số bài viết của chính tác giả về đời mình và thơ mình Các công trìnhnghiên cứu, các bài viết tập trung vào một số vấn đề sau trong đời và thơ TốHữu:
Con đường thơ của Tố Hữu: gồm các bài viết về các tập thơ của ông,khuynh hướng vận động của thơ Tố Hữu
Phong cách nghệ thuật: là các công trình nghiên cứu các bài viết tậptrung khai thác, khám phá những giá trị đặc sắc trong thơ Tố Hữu cả về nộidung lẫn hình thức nghệ thuật
Luận đề về Tố Hữu: tác phẩm tiếp nhận và thưởng thức là những bàiviết đi sâu vào tìm hiểu, phân tích, thẩm bình một số bài thơ tiêu biểu của TốHữu qua các chặng đường thơ của ông
Hồi ức và kỷ niệm: gồm những kỷ niệm về một đời người và đời thơ
của Tố Hữu được tập trung trong Hồi ký của ông, các kỷ niệm đẹp về Tố Hữu
trong kí ức của bạn bè, đồng nghiệp, người thân
Nhìn lại những chặng đường đã qua, những mốc lớn trong đời thơ TốHữu ta dễ dàng nhận ra: giới phê bình, nghiên cứu dành nhiều trang viết vềcác chặng đường thơ Tố Hữu trước 1975 và đều thống nhất khẳng định TốHữu là đỉnh cao thơ trữ tình chính trị Việt Nam thế kỷ XX
Về dạy học thơ Tố Hữu trong chương trình phổ thông cũng có khánhiều đề tài, luận văn, luận án thuộc các chuyên ngành nghiên cứu
Về dạy học thơ Tố Hữu nói chung và thơ Tố Hữu ở THPT nói riêngtheo đặc trưng thể loại và phong cách nghệ thuật là một hướng nghiên cứumới Dẫu chưa có một công trình nào bàn về vấn đề dạy học thơ Tố Hữu theođặc trưng thể loại và phong cách nghệ thuật nhưng các công trình nghiên cứu
về dạy học nói chung và nhất là dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưngthể loại và phong cách nghệ thuật, cùng với những công trình nghiên cứu về
Trang 11thơ Tố Hữu là những tài liệu tham khảo quý giá đối với chúng tôi trong quátrình thực hiện đề tài này.
Trên cơ sở kế thừa và tiếp thu những thành tựu của những người đi
trước, tôi đề xuất đề tài dạy học thơ Tố Hữu ở THPT theo đặc trưng thể loại
và phong cách nghệ thuật.
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Vận dụng lý luận về tiếp nhận và cảm thụ tác phẩm văn chương, về đặctrưng thi pháp thể loại thơ trữ tình và phong cách nghệ thuật tác giả đề xuấtcác phương pháp cụ thể của việc dạy tác phẩm thơ Tố Hữu trong chươngtrình THPT theo đặc trưng thể loại và phong cách nghệ thuật nhằm nâng caochất lượng dạy học tác phẩm văn học, góp phần khẳng định ưu điểm và tínhkhả thi của hướng dạy tác phẩm theo đặc trưng thể loại và phong cách nghệthuật
Khái quát những kiến thức về thể loại và phong cách nghệ thuật
Khảo nghiệm dạy học tác phẩm thơ Tố Hữu trong chương trình THPT
ở một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Nam Định
Xác định phương hướng dạy học hợp lí và hiệu quả cho việc dạy họcthơ Tố Hữu ở THPT theo đặc trưng thể loại và phong cách nghệ thuật
Thiết kế bài dạy tác phẩm thơ Tố Hữu trong chương trình THPT theo đặctrưng thể loại và phong cách nghệ thuật Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng kếtquả nghiên cứu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Dạy học thơ Tố Hữu cho học sinh THPT.
4.2 Khách thể nghiên cứu: Học sinh lớp 11,12, GV dạy Ngữ Văn 11, 12, ở
một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Nam Định
4.3 Phạm vi nghiên cứu:
Đặc trưng thi pháp thể loại và phong cách nghệ thuật tác giả, cách tổchức hoạt động dạy học thơ Tố Hữu trong chương trình Ngữ Văn THPT theođặc trưng thể loại và phong cách nghệ thuật
Trang 12Tại trường THPT Xuân Trường B, huyện Xuân Trường và một sốtrường THPT thuộc địa bàn tỉnh Nam Định
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tham khảo các tài liệu, giáo trình cónội dung liên quan
Phương pháp khảo sát, thực nghiệm, thống kê, phân tích
Phương pháp nghiên cứu theo quan điểm liên ngành: vận dụng kiếnthức về Văn học Việt Nam, Lí luận dạy học hiện đại vào giải quyết đề tài
Phương pháp quy nạp, tổng hợp, khái quát
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu; Kết luận; Khuyến nghị; Tài liệu tham khảo vàPhụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng và định hướng dạy học thơ Tố Hữu ở THPTtheo đặc trưng thể loại và phong cách nghệ thuật
Chương 3: Thiết kế giáo án và thực nghiệm
có căn cứ để xác định được những tính chất của loại ở trong một thể nào đó
và khai thác đúng trọng tâm nội dung tác phẩm và tư tưởng mà nhà văn gửigắm trong tác phẩm đó
Trang 13Từ điển thuật ngữ văn học, do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc
Phi (đồng chủ biên) xác định thể loại văn học như sau: “Thể loại văn học là
dạng thức của tác phẩm văn học, được hình thành và tồn tại tương đối ổn địnhtrong quá trình phát triển lịch sử văn học, thể hiện ở sự giống nhau về cáchthức tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện tượng đời sống đượcmiêu tả và về tính chất của mối quan hệ của nhà văn đối với các hiện tượngđời sống ấy”
Trong quá trình sáng tác, các nhà văn thường sử dụng những phươngpháp chiếm lĩnh đời sống khác nhau, thể hiện những quan hệ thẩm mĩ khácnhau đối với hiện thực, có những cách thức xây dựng hình tượng khác nhau.Các phương thức ấy ứng với những hình thức hoạt động nhận thức khác nhaucủa con người - hoặc trầm tư, chiêm nghiệm, hoặc qua biến cố liên tục, hoặcqua xung đột,… làm cho tác phẩm văn học bao giờ cũng có sự thống nhất quyđịnh lẫn nhau về các loại đề tài, cảm hứng, hình thức nhân vật, hình thức kếtcấu và hình thức lời văn Ví dụ: nhân vật kịch, kết cấu kịch, hành động kịchvới lời văn kịch; hoặc nhân vật trữ tình, kết cấu thơ trữ tình với lời thơ, luậtthơ,… Người ta có thể tập hợp thành từng nhóm những tác phẩm văn họcgiống nhau về phương thức miêu tả và hình thức tồn tại chỉnh thể ấy Đó là
cơ sở khách quan tồn tại thể loại văn học và cũng là điểm xuất phát để xâydựng nguyên tắc phân chia thể loại văn học
Lí luận văn học dựa vào yếu tố ổn định mà chia tác phẩm văn họcthành các loại và thể (hoặc thể loại, thể tài) Loại rộng hơn thể, thể nằm trongloại Bất kì tác phẩm nào cũng thuộc một loại nhất định và quan trọng hơn là
có một hình thức thể nào đó Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng có ba loại: tự sự,trữ tình, kịch Mỗi loại lại bao gồm một số thể
Thể loại là dạng thức tồn tại chỉnh thể của tác phẩm Cùng một loạinhưng các thể khác nhau rất sâu sắc Ngoài đặc trưng của loại, các thể cònphân biệt nhau bởi hình thức lời văn (thơ và văn xuôi), dung lượng (truyệndài, truyện ngắn,…), loại nội dung cảm hứng (bi kịch, hài kịch, thơ trào
Trang 14phúng, thơ ca ngợi,…) Một số nhà nghiên cứu còn đề xuất cách chia thể theoloại đề tài, chủ đề, chẳng hạn: thơ tình, thơ điền viên, truyện lịch sử, truyệntâm lí xã hội, truyện phong tục,… Điều này cho thấy thể loại văn học là sựthống nhất giữa một loại nội dung và một dạng hình thức văn bản và phươngthức chiếm lĩnh đời sống Các thể loại văn học “là một phạm trù lịch sử Nóchỉ xuất hiện vào một giai đoạn phát triển nhất định của văn học và sau đóbiến đổi và được thay thế” (D.Li-kha-chốp), vì vậy khi tiếp cận với các thểloại văn học cần tính đến thời đại lịch sử của văn học và những biến đối, thaythế của chúng.
Bất kì tác phẩm văn học nào cũng đều tồn tại trong một dạng thức nhấtđịnh Đó là sự thống nhất mang tính chỉnh thể của một loại nội dung vớinhững phương thức biểu đạt và hình thức tổ chức tác phẩm, tổ chức lời văn.Thể loại văn học chính là sự phân chia loại hình tác phẩm theo những căn cứnêu trên Thể loại văn học là sự thống nhất giữa một loại nội dung với mộtdạng hình thức văn bản và phương thức tái hiện đời sống
Thể loại vừa có tính ổn định lại vừa có sự vận động, biến đổi trong tiếntrình văn học Mỗi thể loại được sinh ra ở một thời kì nhất định, rồi được duytrì, biến đổi hoặc mất đi trong các thời đại văn học khác, được thay thế bằngnhững thể loại khác Thể loại cũng gắn liền với đặc thù của từng nền văn họcdân tộc hoặc khu vực Nhưng trong quá trình giao lưu giữa các nền văn học,nhiều thể loại từ một nền văn học hoặc một khu vực đã được du nhập vào cácnền văn học khác, để trở thành những thể loại mang tính quốc tế, tuy vẫn có ítnhiều nét riêng ở mỗi nền văn học
Đọc và phân tích một tác phẩm văn học không thể không quan tâmđến đặc điểm thể loại của tác phẩm ấy Bởi vì thể loại chính là cơ sở tạo nêntính thống nhất chỉnh thể của một tác phẩm, tổ chức liên kết các yếu tố nộidung và hình thức, từ đề tài, chủ đề, cảm hứng đến hệ thống nhân vật, kết cấu
và lời văn nghệ thuật Thể loại không những quy định cách thức tổ chức tácphẩm mà còn định hướng cho việc tiếp nhận của độc giả, tạo nên kênh giao
Trang 15tiếp giữa tác phẩm và người đọc Thể loại của tác phẩm vừa có tính kế thừa,tính liên tục, lại vừa có tính độc đáo, tính biến đổi do sự sáng tạo của tác giả.
Vì thế, phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại không thể chỉ dừng lại ởnhững đặc điểm chung của một thể loại thể hiện trong tác phẩm, mà còn cầnphải chỉ ra nét riêng biệt, độc đáo, thể hiện sự sáng tạo không lặp lại của tác giả
Các tác giả trong cuốn Lý luận văn học (tập 2): Phương Lựu, Trần
Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam quan niệm: “Thể loại tác phẩm văn học là kháiniệm chỉ quy luật, loại hình của tác phẩm, trong đó ứng với một nội dungnhất định có một hình thức nhất định, tạo cho tác phẩm một hình thức tồn tạichỉnh thể”
Từ những điều trên, chúng tôi cùng thống nhất cách hiểu về khái niệmthể loại văn học như sau:
Thể loại văn học là phương thức tái hiện đời sống và thể thức cấu tạo vănbản
Tên gọi thể loại của tác phẩm cho ta biết: phạm vi và phương thức tiếp xúc,tái hiện đời sống; hệ thống các phương tiện, phương pháp thể hiện tương ứng
Phân loại tác phẩm văn chương chủ yếu dựa vào phương thức tái hiệnđời sống; cấu tạo tác phẩm; loại đề tài; chủ đề; thể văn: Tác phẩm văn họcđược chia ra làm ba loại chính: loại tác phẩm tự sự, loại tác phẩm trữ tình, loại tácphẩm kịch
Tác phẩm tự sự (nghĩa đen là kể việc) là loại tác phẩm dùng lời kể táihiện lại những việc làm biến cố nhằm dựng lại một dòng đời như đang diễn ramột cách khách quan, qua đó bày tỏ một cách hiểu và một thái độ nhất định.Tác phẩm tự sự bao giờ cũng có lời kể, lời miêu tả (của người kể chuyệnđang chứng kiến, kể ra theo một điểm nhìn) với một giọng điệu nhất định; cócốt truyện chính là cái biến cố xảy ra liên tiếp, sau cái này là cái kia hoặc làcái này làm nảy sinh cái kia, xô đẩy nhau tới một đỉnh cao buộc phải giảiquyết, giải quyết xong thì truyện dừng lại; có nhân vật và có rất nhiều loạihình thức ngôn ngữ như trần thuật, đối thoại, độc thoại…
Trang 16Tác phẩm trữ tình (nghĩa đen là chứa đựng tình cảm) là loại tác phẩmqua lời lẽ thể hiện nỗi niềm tâm trạng, những ảnh tượng trông thấy mà thểhiện các cảm xúc, thái độ chủ quan của con người với thế giới.
Tác phẩm kịch (nghĩa đen là biểu hiện những căng thẳng đột ngột khácthường) là loại tác phẩm qua việc tái hiện những hành động xung đột kịch đểlàm tái hiện lên bản chất đời sống và bảy tỏ thái độ
Nói tóm lại, mỗi loại tác phẩm văn học lại có một phương thức kết cấuhình tượng văn học để phản ánh cuộc sống và biểu hiện tư tưởng của nhà văn.Nếu hình tượng thiên nhiều về phản ánh cuộc sống, với con người, sự việc, sựvật trong tính khách quan ta sẽ có những tác phẩm tự sự, nếu hình tượng thiênnhiều về biểu hiện tư tưởng, tình cảm… của con người, hiện thực trực tiếpbiểu hiện ý nghĩ chủ quan của tác giả ta sẽ có tác phẩm trữ tình Khi tác phẩm
tự sự tập trung, cô đọng đến mức bản thân các sự vật, sự việc có thể tự bộc lộđộc lập trên sân khấu hoặc trong trang sách… khi đó ta có tác phẩm kịch
1.1.2 Dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại
Từ lâu, vấn đề dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại đãđược các nhà lí luận nghiên cứu phương pháp quan tâm Giáo sư NguyễnThanh Hùng đã đi sâu vào giải quyết vấn đề giảng dạy tác phẩm trữ tình vàphương pháp giảng dạy thơ Tác giả viết “khi giảng dạy tác phẩm văn học trữtình cần chú ý những đặc trưng thể loại”, phải giúp HS lĩnh hội “hiện thựcnghệ thuật của tác phẩm” và “hiện thực riêng” Còn Phó giáo sư Nguyễn ThịThanh Hương khẳng định đặc trưng thể loại quy định phương thức lĩnh hội vàviệc lựa chọn những hoạt động chính của HS Tác giả chỉ rõ: với tác phẩm tự
sự, GV hướng dẫn HS đi sâu vào phân tích các nhân vật chính phụ, lý giải sốphận nhân vật chính thông qua hành động và xung đột Còn với tác phẩm thơphải định hướng cho HS tập trung phân tích nhịp điệu, luật thơ, nhạc tính,hình tượng thơ (nếu có), nhân vật trữ tình trong thơ trữ tình Tác giả còn cómột chuyên luận về dạy học truyện ngắn trong nhà trường THPT Từ đặctrưng thi pháp thể loại tác giả chỉ ra các bước phân tích một truyện ngắn: đọc
Trang 17dựng chân dung tác phẩm, xác định nhân vật chính phụ; tiếp cận đồng bộ tácphẩm; phân tích nhân vật; bình giá các chi tiết đặc sắc…
Trong cuốn Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể,
tác giả Nguyễn Viết Chữ đã xuất phát từ quan niệm văn học là “trò diễn bằngngôn từ”, ngôn từ trong văn học là một thứ ngôn ngữ đặc biệt được chưng cất
từ hiện thực ngôn ngữ toàn dân nên ngôn ngữ văn học có tính hình tượng, cótính chính xác, tính hệ thống, tính biểu cảm sinh động, tính hàm súc đa nghĩa,tính cá thể hóa cao, tác giả đã nhấn mạnh bằng ngôn ngữ, mỗi thể loại lại xâydựng hình tượng theo đặc trưng riêng và như vậy ngôn ngữ trong văn học vừađược sử dụng như những tín hiệu thẩm mỹ và đến lượt mình tác phẩm vănchương cũng chính là một tín hiệu thẩm mỹ Tác giả kết luận: Một tác phẩmvăn chương đích thực không phải chỉ đem đến thông tin mà phải là một hệthống tín hiệu kích thích để “bùng nổ” thông tin Ở đây, “cái thật”, “cái ảo”,
“cái thực” trong thế giới hình tượng nghệ thuật gợi mở ra bao điều thú vịtrong trường liên tưởng của người đọc Về cấu trúc, tác phẩm văn học thường
có nhiều tầng nghĩa, tầng ngữ nghĩa do ngôn ngữ trực tiếp đưa lại, tầng hìnhdung tưởng tượng từ hình ảnh, hình tượng tác phẩm tạo ra sự lung linh trongtưởng tượng của người đọc, tầng ý được suy ra từ hai tầng trên Theo tác giả,tác phẩm là đối tượng thẩm mỹ của quá trình dạy học vì thế người thầy giáongữ văn phải là người đọc đặc biệt, phải là sự hiện hữu nghệ thuật của nghệthuật, phương pháp của phương pháp Dạy học văn để nhận thức cái đẹp Mọiphương pháp dạy học phải xuất phát từ đặc điểm cảm thụ văn học của các lứatuổi của HS Trên cơ sở nhận thức lại về bộ môn văn trong nhà trường đã nêu,tác giả đã đưa ra phương pháp, biện pháp chung và những vấn đề chung cótính phương pháp khi tiến hành dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể
Một trong những phạm trù hàng đầu của Thi pháp học là thể loại, nóchi phối tất cả các yếu tố còn lại của hình thức tác phẩm Không phải ngẫunhiên mà sách giáo khoa hiện hành sắp xếp tác phẩm theo thể loại và mỗi khidạy - học tới một thể loại nào đó sách giáo khoa thường nêu chú thích về đặc
Trang 18trưng thể loại đó Có một số thể loại có thể nói lướt qua nhưng cũng có một
số thể loại cần phải được học thật kỹ trên lớp
Vấn đề dạy học theo đặc trưng thể loại đã được các nhà lý luận nghiêncứu phương pháp quan tâm Không thể có chung một loại phương pháp, cáchthức dạy và học cho tất cả các loại tác phẩm nói chung và từng tác phẩm nóiriêng Tác phẩm thuộc thể loại nào đòi hỏi cách dạy theo đặc trưng của thểloại ấy Thực tế giảng dạy tác phẩm khó khăn, phức tạp như vậy đòi hỏi GV
và HS cần trang bị những kiến thức về loại thể, đặc biệt là thi pháp loại thể đểhiểu sâu sắc về thơ trữ tình hơn Khi xác định đúng đặc trưng thể loại của tácphẩm cần phân tích GV sẽ lựa chọn được cách thức tổ chức, hướng dẫn địnhhướng phù hợp để giúp HS nắm được chiều sâu của tác phẩm để quá trình dạyhọc thực sự đạt kết quả
Tuy nhiên cũng cần lưu ý là:
Tìm hiểu thi pháp thể loại là cơ sở để phát hiện nét độc đáo của thipháp tác giả, thi pháp tác phẩm
Tiếp cận thi pháp thể loại không tách rời với việc tiếp cận đồng bộ tácphẩm văn chương trong nhà trường Thi pháp thể loại là vấn đề có tínhnguyên tắc chi phối quá trình đến với tác phẩm, giải mã tác phẩm nhưngnhững hiểu biết về hoàn cảnh lịch sử, văn hóa, tư tưởng thời đại và cá nhâncon người, tiểu sử nhà văn thì có thể lý giải được các yếu tố mờ ẩn trong tácphẩm
Vận dụng thi pháp vào giảng dạy tác phẩm văn chương phải gắn liềnvới lý luận dạy học hiện đại: phải đọc kỹ văn bản, xác định được “chất củaloại” của tác phẩm; phải nắm được những đặc điểm của hoạt động tiếp nhậntác phẩm văn chương; giáo viên Văn vừa là nhà khoa học, nhà sư phạm vừa
là người nghệ sỹ
Có thể nói, đặc trưng thể loại của tác phẩm là điều kiện đầu tiên quyếtđịnh hiệu quả của quá trình tiếp nhận của HS Người GV khi định hướng dạyhọc tác phẩm văn chương phải biết xuất phát từ đặc trưng thể loại của tác
Trang 19phẩm, đối tượng tác động, đối tượng tiếp nhận để tổ chức hướng dẫn học sinhphân tích, cảm thụ tác phẩm, từ đó tìm ra khả năng tác động đặc biệt của tácphẩm đó đối với HS trong lớp, đề ra yêu cầu về hoạt động của HS và GVsoạn giáo án và lập kế hoạch giảng dạy, tránh lối dạy rập khuôn, đơn điệu.
1.2 Những vấn đề chung về thơ trữ tình
1.2.1 Khái niệm về thơ trữ tình
Thơ trữ tình là một thể loại chiếm số lượng lớn nhất trong nền thơ canói chung Thơ trữ tình tồn tại cùng với con người qua hàng ngàn năm lịch
sử, dù vị thế của nó trong hệ thống thể loại văn học có thể thay đổi qua cácthời đại và cũng khác nhau ở từng nền văn học Trên thực tế, vấn đề giảngdạy thơ trữ tình không dễ vì đây là mảng thơ nghệ thuật thường có ý nghĩahàm ẩn, ý ở ngoài lời, nhiều khi phải tìm tòi, giải mã mới đến được tầngnghĩa sâu xa
Về khái niệm, chưa tìm thấy một định nghĩa hoàn chỉnh Tuy nhiên
trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi (đồng chủ biên) có một quan niệm khá sâu sắc về thể loại thơ trữtình như sau: “Thơ trữ tình là thuật ngữ chỉ chung cho các thể thơ thuộc loạitrữ tình, trong đó những cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữtình trước các hiện tượng đời sống được thể hiện một cách trực tiếp Tínhchất cá thể hoá của cảm nghĩ và tính chất chủ quan hoá của sự thể hiện lànhững dấu hiệu tiêu biểu của thơ trữ tình Là tiếng hát của tâm hồn, thơ trữtình có khả năng thể hiện những biểu hiện phức tạp của thế giới nội tâm, từcác cung bậc của tình cảm cho tới những chính kiến, những tư tưởng triếthọc”
Thuật ngữ thơ trữ tình được sử dụng nhằm phân biệt với thơ tự sự
thuộc loại tự sự
Tuỳ theo truyền thống văn học cụ thể, người ta có thể phân loại thơ trữtình qua nhiều cách khác nhau Trước đây, trong văn học Châu Âu, người tathường dựa vào cảm hứng chủ đạo mà chia thơ trữ tình thành bi ca, tụng ca,
Trang 20thơ trào phúng Ngày nay, người ta dựa vào đối tượng đã tạo nên cảm xúc của
nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình để phân chia thành thơ trữ tình tâm tình, thơ trữ tình phong cảnh, thơ trữ tình thế sự, thơ trữ tình công dân Các cách
phân loại như trên đều hết sức tương đối, nhiều khi xen lẫn và biến dạng.Nhưng dù sao sự phân loại cũng giúp ta thuận lợi hơn trong việc tìm hiểu cảmhứng chủ đạo, truyền thống nghệ thuật của bài thơ và khuynh hướng của nhàthơ
1.2.2 Đặc trưng của thơ trữ tình
1.2.2.1 Tứ thơ
Thơ hay do nhiều lẽ, hay ở ý sâu xa, ở tình cảm chân thành dào dạt, ởhình tượng đẹp, liên tưởng phong phú, ngôn ngữ điêu luyện, nhịp điệu mớimẻ…và quan trọng là ở sự độc đáo của tứ thơ Bài thơ có tứ làm cho kết cấutác phẩm thơ cân đối, chặt chẽ, đem lại xúc động mạnh, có sức ám ảnh chongười đọc Cho nên sáng tạo được tứ thơ hay, trước hết bộc lộ tài năng củanhà thơ
Tứ thơ là một thuật ngữ được nói đến từ lâu trong thi pháp học, nhưng
để nêu một định nghĩa rõ ràng và chính xác về nó quả thật không dễ dàng Cónhiều cách quan niệm về tứ thơ nhưng tựu chung có thể hiểu một cách đơngiản và ngắn gọn: Tứ thơ như một ý chính, ý lớn bao quát toàn bài thơ nhưngkhông phải là một ý tưởng hoàn toàn trừu tượng mà nó là những gì rất cụ thểcủa đời sống (một hiện tượng, một hình ảnh, một suy nghĩ…) được lựa chọnlàm điểm tựa cho sự vận động của cảm xúc “Tứ thơ là hình thức đặc biệt đểbiểu hiện ý nghĩa bài thơ một cách không trực tiếp” (Trần Đình Sử, Lí luậnvăn học, tập 2, NXB Đại học Sư phạm, tr 286) Còn cấu tứ là cách tổ chức tứthơ, tạo mạch vận động và những tương quan của tư tưởng, cảm xúc, hìnhtượng trong bài thơ
Nhìn chung, mỗi bài thơ đều được xây dựng trên một tứ thơ Có những
tứ thơ được xác lập công phu, phức tạp, có tứ thơ giản dị Ở dạng nào tứ thơcũng phải có sắc thái và dáng dấp cụ thể Nhiều bài thơ đứng được là nhờ cái
Trang 21tứ, tứ tạo nên chiều sâu của sáng tác thi ca Tuy nhiên từ cái tứ chung đến bàithơ là một chặng đường dài Người viết phải cụ thể hoá cái tứ chung ra thànhcác ý, những cảm xúc và những hình ảnh cụ thể Hay nói một cách khác,người viết phải hướng sự vận động của cảm xúc, suy nghĩ và hình ảnh phù
hợp với tứ thơ Tế Hanh tâm sự khi viết bài Mặt quê hương: “Cái tứ mặt
người yêu và mặt quê hương đến với tôi tương đối nhanh Nhưng khi pháttriển cái tứ ấy ra thành hình ảnh thì tôi phải suy nghĩ nhiều…Đoạn đầu tôi mở
tứ ấy, những đoạn sau tôi phát triển tứ ấy, lập ý bằng hình ảnh; đôi mắt giốngdòng sông, vầng trán là khoảng trời, cái miệng gợi đến một mảnh vườn, hơithở làm nhớ đến không khí” Rõ ràng, từ cái tứ ban đầu đến việc lập ý, pháttriển cảm xúc xây dựng hình ảnh cụ thể là một quá trình dài khá phức tạp
Trong sáng tạo nghệ thuật, có được một tứ hay là điều đặc biệt quantrọng Tứ chỉ đạo trực tiếp hướng vận động và phát triển của cảm xúc, suynghĩ và xây dựng hình ảnh Một tứ thơ hay phải là tứ thơ tạo được sự mới lạ,
có khi độc đáo nhưng vẫn tự nhiên, không phải là sự bố trí cố ý của nhà thơ.Nhiều tứ thơ tạo được sự bất ngờ cho người đọc, gần với những tình huống
kịch Có thể lấy bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy làm ví dụ Bài thơ có hai
hình tượng chính: “trăng” và “ta” (nhân vật trữ tình của bài thơ) Mối quan
hệ giữa hai nhân vật ấy có sự biến đổi theo bố cục của bài thơ Thời thơ ấu vàthời trai trẻ vào lính của nhân vật trữ tình Khi ấy trăng gần gũi, thân thiết vớicon người như người bạn tri kỉ Ở đoạn sau khi con người chuyển sang mộtkhông gian sống khác – nơi đô thị với đầy đủ tiện nghi: đèn điện, cửa gương,cao ốc thì vầng trăng trở thành kẻ xa lạ “Như người dưng qua đường” Sự đốilập giữa người và trăng ở hai giai đoạn, hai hoàn cảnh sống như vậy đã gợi ramột ý tưởng nhưng tứ thơ và cũng là chỗ sâu sắc trong tư tưởng của bài thơchỉ thực sự bật ra khi xảy ra một tình huống bất thường: lúc mất điện trongthành phố: “Thình lình đèn vụt tắt – Phòng buyn đinh tối om”, khi ấy nhânvật trữ tình vội mở toang cửa sổ và bất ngờ gặp lại vầng trăng vẫn sáng trong,vẹn nguyên trên bầu trời Vầng trăng ấy như gọi về cái không gian rộng rãi
Trang 22của đồng, bể, sông, rừng cũng là những năm tháng quá khứ của tuổi trẻ đượcgọi về Vầng trăng hiện ra như lời nhắc nhở về nghĩa tình, về sự thuỷ chungvới quê hương, với đồng đội, với nhân dân, với những năm tháng chiến tranhgian khổ nhưng cũng thật trong sáng, nên thơ.
Tứ thơ có một vị trí quan trọng, tuy nhiên có bài thơ có tứ hay nhưngchưa phải là một sáng tác hay bởi tứ thơ chưa được bồi đắp bằng cảm xúc
hình ảnh và ngôn ngữ chọn lọc Tứ thơ trong bài Sự sống chẳng bao giờ chán nản của Xuân Diệu là một tứ thơ hay xuất phát từ một quan điểm triết
học và nhân sinh tiến bộ Tuy nhiên những hình ảnh và cảm xúc cũng nhưngôn ngữ bài thơ chưa thật tương xứng với tứ thơ
Có những trường hợp tứ thơ được tạo thành gần gũi nhau nhưng hai bàithơ vẫn mang những nét riêng, độc đáo khác nhau Như trường hợp các bài
thơ Núi đôi của Vũ Cao, và Quê hương của Giang Nam rất gần gũi về tứ thơ
nhưng mỗi bài thơ lại phát triển và tạo nên những giá trị riêng Có thể nói, tứthơ phải đi đôi với tình Nếu chỉ có tình mà không có tứ hay thì tình cảm dễ bịtản mạn, thiếu sức liên kết tự bên trong Nếu chỉ có tứ mà không có tình thìthơ dễ rơi vào lí trí, những suy tưởng khô khan
1.2.2.2 Nhân vật trữ tình, cái tôi trữ tình, hình ảnh thơ, hình tượng thơ
Phương thức trữ tình là cách biểu đạt bằng lời trực tiếp của chủ thể trữtình Trong thơ, chủ thể trữ tình thường hiện ra trong hình thức cái Tôi trữtình hoặc hoá thân vào một nhân vật trữ tình
Cái tôi trữ tình là sự thể hiện một cách nhận thức và cảm xúc đối vớithế giới và con người thông qua lăng kính cá nhân của chủ thể và thông quaviệc tổ chức các phương tiện của thơ trữ tình, tạo ra một thế giới riêng biệtđộc đáo, mang tính thẩm mĩ nhằm truyền đạt năng lượng tinh thần ấy đến chongười đọc
Cái tôi trữ tình bộc lộ dưới nhiều dạng thức: Thường thì cái tôi trữ tình
dễ bộc lộ trực tiếp trong trường hợp viết về chính bản thân mình và trongnhững quan hệ riêng tư Trong trường hợp này cái tôi trữ tình trong thơ
Trang 23thường phổ biến là cái tôi của tác giả Trường hợp thứ hai là cảnh ngộ, sựviệc trong thơ không phải là cảnh ngộ riêng của tác giả Nhà thơ nói lên cảmnghĩ về những sự việc mà mình có dịp trải qua hoặc chứng kiến như một kỉ
niệm, một quan sát Tố Hữu với Ta đi tới, Chiến thắng Điện Biên; Huy Cận với Các vị La Hán chùa Tây Phương, Chân lí; Nguyễn Đình Thi với Đất nước; Hoàng Trung Thông với Bài ca vỡ đất, Ngày mùa…đều nằm trong
trường hợp này Cái tôi trữ tình là nhân vật trữ tình chủ yếu của sáng tác.Trường hợp thứ ba là những bài thơ trữ tình viết về một loại nhân vật nào đó
như Bà mẹ Việt Bắc của Tố Hữu, Anh chủ nhiệm của Hoàng Trung Thông.
Những nhân vật này có khi là những điển hình có thực ngoài đời như anhNguyễn Văn Trỗi, chị Nguyễn Thị Lý…Đó là nhân vật trữ tình của sáng táctồn tại bên cạnh cái tôi trữ tình của nhà thơ (trong trường hợp này cái Tôi trữtình là một loại nhân vật ít xác định cụ thể hơn) Chế Lan Viên có lí khi viết:
“Hãy từ bỏ cái tư thế đứng từ bản thân mình, từ kinh nghiệm của đời sốngriêng mình, cái tư thế lấy mình ra chịu trách nhiệm mà nói Tức thì bài thơhiện thực dường như không thực nữa và sẽ mất đi nhiều sức chấn động, ngânvang Khác nào ta nghe một tiếng nói giữa trời mà không biết là của ai”
Tuy nhiên, cần phải lưu ý khi tìm hiểu cái tôi trữ tình trong thơ làkhông nên đồng nhất cái tôi trữ tình với chủ thể nhà thơ trong mọi trườnghợp Nghệ sĩ là người có khả năng hình dung, tưởng tượng và hoá thân vàonhiều cảnh ngộ, tâm trạng của nhiều người bằng những kinh nghiệm, trảinghiệm của mình và năng lực riêng của người nghệ sĩ Nhà thơ với tư cách làngười phát ngôn, người bộc lộ nhận thức, phẩm chất tinh hoa của cộng đồng,cho nên cái tôi bao giờ cũng vươn lên thể hiện lí tưởng của dân tộc, của thờiđại
Nhân vật trữ tình là người trực tiếp thổ lộ những suy nghĩ và cảm xúctrong bài thơ Nhân vật trữ tình không có diện mạo, tiểu sử, hành động, lờinói, quan hệ cụ thể nhưng được thể hiện qua giọng điệu, cảm xúc, cách cảm,cách nghĩ Qua những dòng thơ ta như gặp tâm hồn người Đó chính là nhân
Trang 24vật trữ tình Nhà lí luận văn học Nga Ju.Tynianov đã đề xuất khái niệm này:
“Cái giọng của tác giả mà ta cảm thấy trong thơ (cá nhân nhà thơ, cái Tôi nhàthơ, tác giả với tính thứ nhất của nó) lại chính là bản thân tác phẩm nghệthuật, là khách thể nghệ thuật, là một loại thực tại khác so với thực tại sống,cho nên cái Tôi đó không phải là người sáng tạo đã tạo ra thế giới nghệ thuậtnày, mà chỉ là người dân sống trong thế giới được sáng tạo” Nhân vật trữtình là người sống trong thế giới nghệ thuật, về chừng mực nào đó cũng cósuy nghĩ , hành động tương tự như các nhân vật khác Khi tiếp xúc với vănbản trữ tình, việc đầu tiên là xác định nhân vật trữ tình là ai, để có thể hìnhdung vị trí, tư thế, nỗi niềm, tâm trạng của họ một cách phù hợp
Nhân vật trữ tình có khi biểu hiện trực tiếp cái tôi thứ hai của tác giả,
nhưng nhiều khi chỉ là cái tôi nhập vai trữ tình Trong bài thơ Bầm ơi, Tố
Hữu đã “phân thân” thành một anh bộ đội trong những ngày kháng chiến
chống thực dân Pháp, nhớ mẹ - người nông dân trung du miền núi, vất vả
nhọc nhằn Hay trong bài thơ Đồng chí, Chính Hữu đã “hoá thân” vào đối
tượng biểu hiện – người lính Tất nhiên ở đây cũng là tâm trạng của nhà thơ
về tình đồng chí gắn bó trong chiến tranh gian khổ Và nhà thơ Chính Hữucũng bộc bạch: “Tôi không phải là nông dân và quê hương tôi cũng khôngphải trong cảnh nước mặn đồng chua hoặc đất cằn sỏi đá Cái tôi trong bàithơ có những chi tiết không phải là của tôi mà là của bạn, nhưng về cơ bản làcủa tôi Tất cả những hình ảnh gian khổ của cuộc đời lính thiếu ăn, thiếu mặc,sốt rét, bệnh tật…bạn và tôi đều cùng trải qua Trong trường hợp đó chúng tôi
là một, gắn bó trong tình đồng đội” [11, tr.137] Do vậy, thế giới trữ tìnhkhông chỉ hạn hẹp trong một cá nhân nhà thơ, mà là một cấu trúc mở vô hạn,
có khả năng đề cập đến nhiều vấn đề, nhiều con người, nhiều số phận ngoàitiểu sử cá nhân nhà thơ
Cần phân biệt nhân vật trữ tình với nhân vật trong thơ trữ tình Nhânvật trong thơ trữ tình là đối tượng để nhà thơ gửi gắm tình cảm, là nguyên
nhân trực tiếp khơi nguồn tình cảm của tác giả Những bà bầm, em Lượm, mẹ
Trang 25Suốt, bà má Hậu Giang trong thơ Tố Hữu là nhân vật trong thơ trữ tình Đọc
bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên, ngoài nhân vật ông đồ, chúng ta còn thấy
nhân vật khác đang cảm xúc với rất nhiều cung bậc khác nhau: kính phục,thương cảm, nuối tiếc, ân hận…liên kết chuỗi tình cảm đó lại, ta hình dung ranhân vật trữ tình
Khi nghị luận về các tác phẩm thơ, cần tưởng tượng, tái hiện lại những hìnhảnh đằng sau câu chữ Tự tái hiện, dựng tả lại hình ảnh thơ với hình khối, đườngnét, màu sắc…thì càng nhận ra vẻ đẹp của lời thơ, tấm lòng và tài nghệ của ngườilàm thơ Phương thức nhân cách hóa cũng được Nguyễn Đình Thi sử dụng rấtthành công khi miêu tả bầu trời thu trên núi rừng Việt Bắc tự do:
Trời thu thay áo mới Trong biếc nói cười thiết tha
(Đất nước)
Tả bầu trời biếc, Nguyễn Đình Thi đã tiếp nối nét bút quen thuộc củanhiều thi nhân xưa trước một vẻ đẹp đặc trưng của mùa thu Nhưng qua niềmvui của con người được làm chủ giang sơn, đất nước, mùa thu ấy hiện lên nhưmột con người có dáng hình, sắc màu, giọng nói, tiếng cười lẫn tâm trạng.Hình ảnh thơ đằm thắm mà thanh thoát, bay bổng lạ kì
Các thủ pháp nghệ thuật mà thơ ca sử dụng thường rất phong phú, biếnhóa, gắn với phong cách riêng của nhà thơ Điều ấy đòi hỏi người đọc cần cótri thức phong phú và có ý thức tìm tòi, suy nghĩ Có thể so sánh lối xây dựnghình ảnh của Thố Hữu với Chế Lan Viên – hai nhà thơ cùng thế hệ Tố Hữuhay sử dụng chất liệu dân gian, thường vận dụng văn học dân gian để xâydựng hình ảnh thơ Anh giải phóng quân – con người đẹp nhất của thời đạiđánh Mĩ, được Tố Hữu ca ngợi:
Như Thạch Sanh của thế kỉ hai mươi Một dây ná, một cây chông cũng tiến công giặc Mĩ
(Bài ca xuân 1968)
Trang 26Ca ngợi chủ nghĩa anh hùng của dân tộc Việt Nam trong cuộc đương đầu với
đế quốc Mĩ tàn bạo, ông viết:
Chúng muốn đốt ta thành tro bụi
Ta hóa vàng nhân phẩm, lương tâm Chúng muốn ta bán mình ô nhục
Ta làm sen thơm ngát giữa đầm
(Việt Nam – máu và hoa)
Nếu Tố Hữu là hồn thơ đậm đà chất dân tộc thì Chế Lan Viên lại là câybút trí tuệ sắc sảo Nhà thơ này thích triết lí hay suy tưởng, thường tìm đếncách diễn đạt mới lạ, độc đáo, thậm chí có những lúc cầu kì, để làm nổi bậtvấn đề và tác động mạnh vào nhận thức người đọc, Chế Lan viên thường xâydựng hình ảnh thơ theo kiểu đối chọi, tương phản:
Đêm mơ nước, ngày thấy hình của nước Cây cỏ trong chiêm bao xanh sắc biếc quê nhà
Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa.
(Người đi tìm hình của nước) Trong Tiếng hát con tàu, chỉ một vế đưa ra so sánh, ông dùng liên tiếp
năm hình ảnh cụ thể, giàu sức gợi cảm:
Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa.
Như thế, chỉ qua phương diện xây dựng hình ảnh thơ, chúng ta có thểphần nào nhận ra phong cách độc đáo của một nhà thơ
Tình cảm trong thơ là nhân tố trực tiếp xây dựng hình tượng thơ Mộtcuốn tiểu thuyết, một vở kịch thường vận động và phát triển trên cơ sở củanhững xung đột trong tác phẩm và trên cái nền của một cốt truyện Bản thân
sự cấu tạo và thành phần trong một cốt truyện cũng thể hiện những dấu vết và
Trang 27những bước phát triển của sự vận động Thơ trữ tình thường không có cốttruyện, nhưng vẫn có sự vận động và phát triển của nội dung Tình cảm trongthơ là động lực chủ yếu của sự chuyển động của hình tượng thơ Nhìn chungbài thơ nào cũng có sự chuyển động của hình tượng Tuy nhiên, những dạngthức và mức độ của sự chuyển động thường khác nhau Trong nhiều sáng tácthơ ca cổ, hình tượng thơ ngưng đọng hơn Khi những yếu tố cảm xúc lùi lại
về phía sau, người viết chú ý đến thơ nên họa, đến việc sáng tạo những hệthống hình ảnh kế tiếp nhau làm nền cho hình tượng thì các bài thơ lúc đónhư một bức tranh nhiều màu sắc Thơ ca hiện đại chú trọng nhiều đến sự vậnđộng tự nhiên của cảm xúc, đến những diễn biến và đổi thay của các trạngthái cảm nghĩ Nhất là với hình thức thơ tự do thì người sáng tác có ý thức thểhiện chân thực những cảm nghĩ tự nhiên nhất trong một hình thức không gò bó
Do đó, hình tượng thơ vận động dưới nhiều dạng thức phong phú, có khi vậnđộng một cách tuần tự bình thường, có khi vận động một cách đột biến, có khivận động theo dạng thức quy nạp, có khi vận động theo dạng thức diễn dịch, vậnđộng đối xứng, vận động song song, vận động nhất tuyến, vận động đa tuyến
Trong bài thơ Đêm nay Bác không ngủ của Minh Huệ, cảm xúc vận
động tuần tự, hình tượng thơ như phù sa được bồi đắp cho đến khi thật màu
mỡ, phong phú Hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày càng được tô đậm, inrất sâu, rất đẹp trong tâm trí người đội viên Quá trình vận động của hìnhtượng thơ qua nhiều bước phát triển, hình tượng thơ nâng dần đến mức đẹplộng lẫy mà vẫn giản dị, gần gũi:
Đêm nay Bác ngồi đó Đêm nay Bác không ngủ
Vì một lẽ thường tình Bác là Hồ Chí Minh
Anh đội viên tự giải đáp được những nỗi băn khoăn và lòng tràn ngậpniềm kính mến, thương yêu Sự vận động của cảm xúc trong thơ nhiều khichuyển hoá thành sự vận động của suy nghĩ Ranh giới giữa cảm xúc và suy
Trang 28nghĩ trong thơ không phải là một ranh giới xác định không thể vượt qua Mộtsuy tưởng trừu tượng tất nhiên khác rất xa với một cảm xúc sôi nổi tự nhiên.Nhưng nếu cảm xúc được gia tăng thêm chiều sâu lắng đọng, gia tăng thêmnhững liên tưởng thì cảm xúc sẽ đi về hướng suy tưởng và ngược lại Dường
như mỗi câu thơ, mỗi khổ thơ đều có sự vận động này Chế Lan Viên trong Tiếng hát con tàu viết:
Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ Nơi nao qua lòng lại chẳng yêu thương Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn Hình tượng thơ trong đoạn trên đã vận động từ cảm xúc đến suy tưởng.
Từ những tình cảm nhớ thương mảnh đất, con ngưòi tác giả đã nâng cảm xúcthành một suy nghĩ Ranh giới giữa cảm xúc và suy nghĩ được vượt qua nhẹnhàng khi câu thơ vừa rung động về cảm xúc, vừa lắng sâu về suy nghĩ
1.2.2.3 Ngôn ngữ trong thơ trữ tình
Nếu “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” (M Gorki) thì mọi khảnăng biểu đạt, sức mạnh và vẻ đẹp của ngôn ngữ văn học được thể hiện đầy
đủ hơn cả trong thơ Ngôn ngữ thơ mang đầy đủ các đặc điểm của ngôn ngữvăn học nói chung đồng thời lại có những đặc điểm riêng
Trước hết, có thể dễ dàng nhận thấy ngôn ngữ thơ tuy cũng bắt nguồn
từ ngôn ngữ trong đời sống, nhưng được tổ chức đặc biệt, nói như giáo sưPhan Ngọc: “Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để buộcngười tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải nghĩ cho chính hình thức ngôn
ngữ của nó” Vì thế, thơ có thể nói được những điều hết sức lắng đọng, kết tinh
mà nhiều khi văn xuôi không nói được Nguyễn Đình Thi có hai câu thơ:
Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát trời chiều
(Đất nước)
Trang 29Câu thơ thứ nhất diễn tả một cách cô đọng, tập trung tình cảnh làng
xóm quê hương bị giặc chiếm đóng Hình ảnh “cánh đồng quê chảy máu” chỉ
có năm chữ mà gợi lên nhiều liên tưởng khác nhau: cảnh những trận càn củagiặc trên đồng lúa, cảnh giặc đuổi người, bắn người trên đồng lúa Sức gợicủa câu thơ tiếp theo càng lớn hơn nữa, qua lời thơ, tưởng chừng như làngxóm, đồng quê không còn cửa nhà, cây cối, chỉ còn dây thép gai của giặc bao
trùm lên tất cả, như xé rách cả bầu trời Cùng với “chảy máu”, hai chữ “đâm nát” gợi nên biết bao đau đớn Trong tương quan ngôn ngữ đó, hai chữ “trời chiều” không gợi sự êm ả, bình yên mà lại gợi màu đỏ của máu Đó là một
mảng trời chiều đỏ rực khi mặt trời vừa lặn, những dây thép gai lởm chởmnhư đâm nát cả bầu trời, làm cho nền trời cũng ứa máu Câu thơ tả cảnh màthật ra ẩn chứa tình Biết bao nỗi xót xa, đau đớn, lòng căm thù trào dângtrong lòng người chiến sĩ…
Ngôn ngữ thơ thường có nhiều từ ngữ cảm thán, hô gọi, những câu hỏi
tu từ và sử dụng phổ biến các phương thức chuyển nghĩa như so sánh, ẩn dụ,hoán dụ, tượng trưng Phân tích ngôn ngữ thơ không thể bỏ qua các biện pháp
tu từ ấy, nhưng không thể chỉ dừng lại ở việc gọi tên, chỉ ra từng biện pháp
mà điều quan trọng là làm rõ giá trị về phương diện tạo hình và biểu hiện củamỗi thủ pháp Hơn nữa, chất thơ của ngôn ngữ một bài thơ cũng không dừnglại ở biện pháp tu từ, không phải chỉ được tạo nên bằng những cách chuyểnnghĩa Nhiều bài thơ rất ít sử dụng các biện pháp ấy mà vẫn đậm đà chất thơ
Có nhiều câu thơ gần như lời nói thường mà không kém phần thi vị:
Không có kính, ừ thì ướt áo Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi
(Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật)
Nhạc tính là đặc điểm rất quan trọng của ngôn ngữ thơ Tính nhạc đượchình thành từ nhịp điệu của câu thơ, từ âm thanh của các chữ, bao gồm cả sự
Trang 30phối hợp các thanh điệu và sử dụng vần giữa các dòng thơ Nói về nhịp điệu,nhà thơ Nga Maiakôpxki cho rằng: “Nhịp điệu là sức mạnh cơ bản, là nănglực cơ bản của câu thơ Không giải thích được nó đâu, chỉ có thể nói về nhịpnhư nói về từ lực hoặc điện Từ lực và điện, đó là những dạng của nănglượng” Tiếng Việt là loại hình ngôn ngữ đơn lập nhưng lại phong phú về hệthống nguyên âm, phụ âm và các thanh điệu Đó là một thuận lợi rất lớn cho
việc tạo nhạc tính của thơ Ví dụ về đoạn thơ nổi tiếng sau đây trong bài Em ơi…Ba Lan của Tố Hữu:
Em ơi, Ba Lan mùa tuyết tan Đường bạch dương sương trắng nắng tràn Anh đi, nghe tiếng người xưa vọng
Một giọng thơ ngâm, một giọng đàn.
Những câu thơ giàu chất nhạc, bay bổng, nhẹ nhàng bởi có sự hoà nhịpcủa những âm, những thanh, những vần, những nhịp…Phần lớn các âm đều
có thanh bằng (Em ơi, Ba Lan, mùa, tan…) hoặc thanh trắc cao (tiếng, trắng, nắng…), chỉ có 4 thanh trắc thấp (bạch, vọng, giọng, giọng) thì 3 thanh hoà
vận cùng nhau, vang lên như mấy tiếng nhạc trầm giữa giai điệu cao chung
Vần là yếu tố quan trọng về hình thức để liên kết các dòng thơ và giúpcho người đọc dễ nhớ, dễ thuộc hiều nhà thơ còn sử dụng vần ngay trongmột câu thơ để tạo âm hưởng trùng điệp Có thể nhận thấy, nhạc điệu củađoạn thơ nảy sinh không chỉ là sự phối hợp giữa các thanh bằng trắc mà còn
do sự hiệp vần của các tiếng trong từng câu hoặc giữa các câu: “Lan” với
“tan”, “tràn”; “đường” với “dương”, “sương”; “trắng” với “nắng”…
Nhịp điệu của câu thơ một phần chính được tạo nên bởi cách ngắt nhịpgiữa các chữ Các thể thơ cách luật thường có cách ngắt nhịp tương đối ổnđịnh tạo ra âm hưởng quen thuộc của mỗi thể Chẳng hạn thơ thất ngôn cổđiển thường ngắt nhịp 3/4 thơ ngũ ngôn ngắt nhịp 2/3, thơ lục bát thường cónhịp cân xứng 2/2/2 hoặc 2/2/4 Tuy nhiên, đối với những nhà thơ tài năng,cách ngắt nhịp của những thể thơ ấy cũng linh hoạt, tạo sự mới lạ cho câu
Trang 31thơ Đến thơ hiện đại, khi câu thơ chuyển dịch sang kết cấu điệu nói, thì cáchngắt nhịp càng hết sức tự do, để góp phần thể hiện nhịp điệu và sắc thái cảmxúc tình cảm và tăng cường khả năng miêu tả, tạo hình cho bài thơ Ví dụ đọccâu thơ của Xuân Diệu:
Đi mau! Trốn rét, trốn màu Trốn hơi, trốn tiếng, trốn nhau, trốn mình
có thể dễ dàng nhận thấy sự phân chia thành những đoạn tiết tấu đều đặn màmột đoạn gồm 2 âm tiết và được ngắt theo nhịp 2/2
Tìm hiểu nhịp điệu của bài thơ còn phải lưu ý đến nhịp điệu của hìnhảnh, cảm xúc tức là nhịp của điệu bên trong cấu trúc tác phẩm Trong thơ tự
do, khi vần không còn giữ vai trò quan trọng thì nhịp điệu, nhất là nhịp điệucủa hình ảnh và cảm xúc càng có ý nghĩa lớn trong việc tạo nhạc tính và sức
lôi cuốn của bài thơ Tố Hữu qua bài Quê mẹ đã thể hiện cái nhịp điệu riêng
vừa đằm thắm yêu thương, vừa thiết tha sâu lắng khơi dậy những kỉ niệm quamột dòng sông, một điệu hò thân thuộc:
Tiếng hát đâu mà nghe nhớ thương Mái nhì man mác nước sông Hương
Hò ơi tiếng mẹ ru nhè nhẹ Cay đắng bao nhiêu nỗi đoạn trường
Qua một câu hát, điệu hò gợi nhịp, từ trong sâu thẳm tâm hồn trở dậy một nỗinhớ thiết tha, một tình yêu thương trìu mến như nhịp sóng âm thầm, dìu dặt
Như vậy, nhạc tính của đoạn thơ, bài thơ là sự tổng hợp của nhiều yếu
tố, từ thanh điệu cao, thấp, độ âm vang của các chữ, đến vần, cách ngắt nhịp
và cả nhịp điệu của hình ảnh, cảm xúc, các yếu tố ấy phối hợp, tổng hợp, tổnghoà theo những cách khác nhau ở mỗi câu thơ, đoạn thơ, bài thơ để tạo nênnhạc tính riêng, thể hiện tài năng sáng tạo của nhà thơ Tìm hiểu nhạc điệucủa bài thơ và giá trị biểu hiện của nó, cần chú ý đến sự tổng hoà các yếu tốnói trên Đồng thời cũng không thể tách rời hai mặt âm thanh và ngữ nghĩacủa từ, của câu thơ
Trang 321.2.2.4 Kết cấu thơ trữ tình
Trong văn học có hai hình thức kết cấu phổ biến: Kết cấu của nhữngsáng tác có cốt truyện và kết cấu của những sáng tác không có cốttruyện.Trong dạng kết cấu của những sáng tác không có cốt truyện thì kết cấucủa thơ trữ tình mang ý nghĩa tiêu biểu nhất “Kết cấu là sự tổ chức quá trìnhvận động bên trong của các trạng thái cảm xúc, là sự phân bố các đoạn thơ,các khổ thơ, các câu thơ, là cách thức sử dụng các hình ảnh, các hình tượngthơ trên cơ sở một tứ thơ nhất định Qua đó, nêu bật chủ đề - tư tưởng của tácphẩm Về một phương diện nào đó có thể nói, nhiệm vụ chủ yếu của kết cấutrong tác phẩm thơ ca là xác lập và triển khai tứ thơ” [10, tr.146]
Mỗi bài thơ thường biểu hiện một tâm trạng nên thơ trữ tình thườngkhông dài (trừ trường hợp có đưa vào nhiều yếu tố tự sự, có khi gần như kểlại một câu chuyện thì bài thơ không thể ngắn) Nhưng để tâm trạng biểu hiệnmột cách tập trung và gây được hiệu quả truyền cảm thì cần đến nghệ thuật tổchức kết cấu của bài thơ Về cơ bản kết cấu của tác phẩm thơ trữ tình chính làmạch diễn biến của tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình Tìm hiểu nộidung trữ tình của bài thơ nhất thiết phải tìm ra được mạch diễn biến, triểnkhai của tâm trạng, cảm xúc, suy tư của chủ thể trữ tình Kết cấu là toàn bộ tổchức phức tạp của bài thơ, bao gồm mọi yếu tố và tầng bậc của tác phẩm, đểbài thơ thành một chỉnh thể thống nhất và sinh động Kết cấu chi phối việc tổchức mọi yếu tố (ngôn từ, chất liệu, hình ảnh, hình tượng, giọng điệu, cảmxúc, ý tưởng) nhưng yếu tố cơ bản quy định nên kết cấu của một bài thơchính là mạch diễn biến của cảm xúc và ý tưởng Nó làm nên cốt lõi của bàithơ và chi phối sự tổ chức mọi yếu tố khác, giống như xương sống của một cơthể Tư tưởng, cảm xúc trong thơ không thể tách rời, mà hoà quyện thốngnhất ngay cả khi nhà thơ đưa ra một triết lí thì cũng không tồn tại khách quan,lạnh lùng như một luận lí Nhưng cảm xúc và tư tưởng trong thơ không tồntại trần trụi và trừu tượng mà phải được hoá thân trong hình ảnh, hình tượngthơ Như vậy, tìm hiểu kết cấu bài thơ cũng chính là tìm ra kết cấu hình tượng
Trang 33của tác phẩm, tức là sự tổ chức và mối quan hệ trong thế giới hình ảnh, hình
tượng thơ Trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ Thanh Hải cũng lấy tựa đề của
tác phẩm là hình tượng trung tâm của bài thơ Bài thơ bắt đầu bằng nhữngxúc cảm trực tiếp, hồn nhiên, say sưa trước vẻ đẹp và sức sống của mùa xuânthiên nhiên Từ đó, mở rộng ra thành mùa xuân của đất nước vừa cụ thể vớingười cầm súng, người ra đồng, vừa khái quát : “Đất nước như vì sao – Cứ đilên phía trước” Từ cảm xúc, mạch thơ chuyển sang biểu hiện suy nghĩ vàước nguyện của nhà thơ được làm nhành hoa, một cách chim, góp mùa xuânnhỏ của đời mình vào mùa xuân lớn của đất nước, của cuộc đời Bài thơ kếtthúc bằng sự trở về với những cảm xúc thiết tha, tự hào về quê hương, đấtnước qua điệu dân ca xứ Huế
Kết cấu trong thơ trữ tình chủ yếu là sự tổ chức bên trong, gắn chặt vớivấn đề cấu tứ của bài thơ Kết cấu thường theo rất sát những đặc điểm vàdạng thức vận động của tứ thơ Chủ đề, tư tưởng trong một bài thơ bộc lộ trênnhững ý tưởng khái quát và được triển khai trong tứ thơ Người đọc có thểtiếp nhận và cảm thụ một phần cái hay của bài thơ cũng như có thể tóm tắtđược nội dung bài thơ qua cấu tứ tuy không có cốt truyện Tứ thơ được xáclập và triển khai đến đâu thì kết cấu cũng vươn theo đến đấy “Tứ thơ là mộtnhân tố của nội dung gắn bó rất chặt chẽ với kết cấu Sự vận động và hìnhthành trọn vẹn của kết cấu phụ thuộc vào kết quả của sự triển khai tứ thơ vànội dung bài thơ” [12, tr.389]
Sự phát triển của nội dung bài thơ phải trải qua nhiều chặng đường từ
mở đầu cho đến kết thúc Các khâu mở đầu, tâm điểm và kết thúc của bài thơ
có ý nghĩa quan trọng đối với việc tổ chức và kết cấu, đặc biệt là khâu tâmđiểm và kết thúc Trong thơ trữ tình, sự vận động của cảm xúc và suy nghĩbao giờ cũng được triển khai xoay quanh một tâm điểm, điểm sáng từ đấy soirọi cho toàn bài và cũng từ đấy tiếp nhận và quy tụ mọi cảm xúc, suy tưởng.Phát hiện và phân tích về tâm điểm hay điểm sáng trong bài thơ là thích hợpvới thể loại thơ trữ tình vì thực chất trong mỗi sáng tác trữ tình đều có một
Trang 34trọng điểm về tư tưởng và cảm xúc, từ đấy quy định mọi sự vận động của thơ.Tâm điểm của bài thơ có khi nằm ở trung tâm của sáng tác, có khi nằm ởphần kết thúc nhưng nói đúng hơn là nó có mặt ở tất cả các thành phần trongmột bài thơ Đọc một khổ thơ trong một bài bao giờ người đọc cũng phải thấyđược những cảm xúc và hình ảnh trong một bộ phận gắn bó và phục vụ chocái toàn thể như thế nào Đến với một đoạn thơ, một bài thơ, không nên vàkhông thể quan tâm ngang bằng nhau đối với tất cả các từ, các câu Cần có ýthức tìm và tìm trúng các từ, các hình ảnh, chi tiết, câu thơ… qui tụ ý tình chủ
yếu và sâu xa của tác giả Chữ “hồng” ở cuối bài thơ Mộ (Chiều tối) của Hồ
Chí Minh theo Hoàng Trung Thông: “Chỉ một chữ ấy thôi nó đủ cân lại với
cả hai mươi bảy chữ kia dầu nặng đến mấy đi nữa”, chữ “hồng” là nhãn tự
của bài thơ, nơi cô đọng những tình cảm lớn lao, cao đẹp của Hồ Chí Minhtrong hoàn cảnh bị đày ải nghiệt ngã
Một khâu quan trọng trong kết cấu thơ trữ tình là kết thúc bài thơ Mộtkết thúc hay sẽ có tác dụng gợi ý tổng hợp và gây ấn tượng mạnh mẽ về bàithơ Trong thơ ca cổ, vị trí của câu kết thúc có khi rơi vào một định lệ gò bó,nhưng cũng nhiều khi bất ngờ một cách sáng tạo Trong thể thơ thất ngôn tứtuyệt, tầm quan trọng của câu kết được nhân lên nhiều lần để gói trọn mộtcảm xúc lắng đọng, gây bất ngờ trong liên tưởng Thơ tứ tuyệt của Hồ ChíMinh ở câu kết bao giờ cũng có sức nặng về tư tưởng và độc đáo về nghệthuật Với các thể thơ tự do, câu kết thúc không có một vị trí xác định và cũngkhông bị ràng buộc theo quy tắc gò bó nào Người viết có thể rộng rãi suy
nghĩ, sáng tạo qua phần kết thúc Bài thơ Cái giếng đầu làng của Tế Hanh
kết thúc đầy bất ngờ và sáng tạo Tâm điểm bài thơ cũng nằm ngay trongphần kết thúc, đúc lại như một phương châm hành động đanh thép, quyết liệt:
Gió hôm nay là bão nổi ngày mai Trời chớp giật tất đến ngày sét đánh
Trong thơ trữ tình có thể thấy một số kiểu kết cấu thường gặp như: Kếtcấu theo mạch hồi tưởng, theo sự mở rộng của không gian, theo sự mở rộng
Trang 35của thời gian, theo cách suy tưởng từ cụ thể đến khái quát, theo mạch diễnbiến các sự kiện…Ngoài ra còn có thể kể đến những cách kết cấu khác như:kết cấu sóng đôi, kết cấu đối đáp, kết cấu vòng tròn Mỗi bài thơ có thể phốihợp nhiều cách kết cấu để làm cơ sở cho sự tổ chức tác phẩm Trong thơ hiệnđại, đặc biệt là một số khuynh hướng hiện đại chủ nghĩa như thơ siêu thực,
thơ “vụt hiện” theo kiểu “lối viết tự động”…thì sự tổ chức bài thơ hoàn toàn
tự do, nhiều khi chỉ là những mảnh ghép rời rạc, bản “tốc kí” về những gì vụthiện ra trong tiềm thức, vô thức…Khi nhấn mạnh vai trò của vô thức, coi thơtrước hết là sự biểu hiện của những bí ẩn trong tiềm thức, vô thức thì cũngkhông cần đến tính chặt chẽ và hợp lí của kết cấu, hay rộng hơn, của cấu trúctác phẩm
1.2.2.5 Tình cảm, cảm xúc trong thơ trữ tình
Có thể nói, từ xưa đến nay khi nói đến đặc trưng cơ bản nhất của thơ,các ý kiến đều gặp nhau ở sự khẳng định thơ là tiếng nói của tình cảm, cảmxúc, là tiếng nói, khúc hát của tâm hồn Nhà thơ Sóng Hồng đã viết trong bài
Cùng bạn đọc: “Thơ là hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi Người làm thơ
phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng Nhưng thơ làtình cảm và lí trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật Tình cảm
và lí trí ấy được diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ qua những lời thơtrong sáng vang lên những nhạc điệu khác thường” (17, tr.8) Đúng như vậy,thơ không miêu tả sự vật bên ngoài, không kể các sự việc xẩy ra mà chỉ biểuhiện các xúc động nội tâm, những tình cảm, cảm nhận của con người trước sự
việc, giúp ta hiểu con người chủ thể ở bên trong Hoàng Lộc trong bài Viếng bạn đã nói lên thật xúc động và đau đớn tình cảm của người chiến sĩ trước cái
chết của đồng đội Tình cảm tha thiết, chân thực được đẩy lên cao đỉnh điểm.Trạng thái và cường độ cảm xúc phù hợp với cách diễn đạt đã tạo nên nhữngcâu thơ xúc động lòng người Vì thế, tình cảm chính là sinh mệnh của thơ.Tình cảm mãnh liệt ở đây là sự rung động mãnh liệt ở bên trong, sự dày vò,chấn động trong tâm hồn, người làm thơ phải sống rất sâu vào tâm hồn mình,
Trang 36lắng nghe các xao động, biến thái tinh vi trong lòng để đau đớn, sướng vuivới những gì trong ấy
Tình cảm mãnh liệt luôn là điều kiện hàng đầu của thơ Tình cảm trongthơ là tình cảm được ý thức, được siêu thăng, tình cảm được lắng lọc qua cảmxúc thẩm mĩ, gắn liền với khoái cảm của sự tự ý thức về mình và về cuộc đời
Vì vậy, tình cảm trong thơ phải là tình cảm lớn, cao thượng, thấm nhuần tưtưởng nhân văn Trong thơ trữ tình, nhà thơ luôn nhìn mình theo một con mắt
rộng hơn chính mình, một con mắt phổ quát Ở bài thơ Sóng, nhà thơ Xuân
Quỳnh cũng thành thực phơi trải lòng mình:
Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức
Mượn hình ảnh con sóng ngoài đại dương, Xuân Quỳnh đã diễn tả nỗinhớ cồn cào, da diết, không thể nào nguôi Nỗi nhớ như thống trị cả khônggian, thời gian, đi sâu vào trong tiềm thức Những cung bậc của nỗi nhớ đượcXuân Quỳnh bộc lộ vô cùng thiết tha và thành thực Có thể nói, nỗi nhớ củanhân vật trữ tình trong bài thơ trên được ý thức như là một nỗi nhớ phổ quát,bao trùm cả vũ trụ Và đặt trong tình cảm phổ quát ấy thì nỗi nhớ tưởng nhưtan chảy cả cõi lòng có phần như được chia sẻ và thấu hiểu
Tình cảm trong thơ trữ tình còn là nhân tố trực tiếp xây dựng hìnhtượng thơ Tình cảm ở trong thơ không ở trạng thái tĩnh mà luôn luôn có xuhướng vận động để phát triển và hình thành trọn vẹn một tứ thơ, một ý tưởngtrong thơ Sự vận động của hệ thống cảm xúc rất đa dạng Giang Nam trong
bài thơ Quê hương cũng bộc lộ những sắc thái cảm xúc khác nhau: tình yêu
quê hương, tình cảm với những con người cụ thể Cảm xúc vận động tuỳ theođặc điểm của mối quan hệ qua các lứa tuổi của đôi nam nữ Kỉ niệm ấu thơ có
Trang 37chim, có bướm, có tiếng cười khúc khích của trẻ thơ đùa nghịch Những nămkháng chiến xa nhà, một phút giây gặp gỡ khi bộ đội hành quân qua làng, mộtcái nhìn yêu thương đằm thắm ấm mãi lòng người ra đi
Trong sự vận động của cảm xúc thơ có một hình thái vận động phổbiến là vận động từ cảm xúc đến suy nghĩ, từ những rung động trực tiếp đếnchiều sâu của nhận thức Tình cảm trong thơ không mâu thuẫn với lí trí Cảmxúc và suy tưởng có khả năng tạo nên những kết hợp Sự suy tưởng trong thơkhông thích hợp với dạng thức thuần tuý, trừu tượng, không khô khan màchất triết lí trong thơ là triết lí từ cuộc sống với những tình cảm cụ thể và
những hình ảnh sinh động Khi Nguyễn Khoa Điềm viết trong đoạn trích Đất Nước (trích trong trường ca Mặt đường khát vọng):
Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời.
thì những câu thơ là lời nhắc nhủ thế hệ trẻ về trách nhiệm với đất nướcnhưng không mang giọng “giáo huấn” khô khan bởi nhà thơ vận dụng khéoléo và tinh tế qua hình thức trò chuyện tâm tình của đôi trai gái yêu nhau vàthấm đẫm tình cảm chân thành từ đáy lòng nhà thơ
Tuy nhiên, thực tế phát triển thơ cũng chỉ ra rằng mối liên hệ mối liên
hệ giữa cảm xúc và suy nghĩ trong thơ được biểu hiện bằng nhiều dạng vẻphong phú, phức tạp Có khi chỉ một câu thơ cũng biểu lộ cả cảm xúc và suynghĩ cũng có khi chất suy nghĩ được bộc lộ ra ở phần đúc kết, khái quát hoátrong một bài thơ Lại có trường hợp, chất suy nghĩ được bộc lộ kín đáo trongchiều sâu của những cảm xúc đằm thắm và chất cảm xúc được biểu hiện bêntrong những suy nghĩ tưởng như khô khan, trừu tượng…
1.2.3 Đặc trưng phong cách nghệ thuật tác giả
Nhà văn lớn trước hết là nhà văn có tư tưởng Tư tưởng một nhà văn cóthể gói trong khái niệm tư tưởng nghệ thuật (idéc poetique) Nó không đối lập
Trang 38với tư tưởng chính trị, nhưng không đồng nhất với tư tưởng chính Tất nhiên
nó không phải là những khái niệm khô khan của lý trí Nó là cả một bầu trờitâm huyết của nhà văn đối với cái đẹp của cuộc sống con người, là tư tưởngthấm nhuần tình cảm thẩm mỹ, là nhận thức đầy nhiệt hứng, là sự phát hiệnthế giới bằng toàn bộ hệ thần kinh cùng rung lên một nhịp Một cách chiếmlĩnh thế giới như thế tất phải đẻ ra hình tượng, và gắn với hình tượng như linhhồn với thể xác Tư tưởng nghệ thuật được quan niệm như vậy tất nhiênkhông thể là một tư tưởng chung chung “siêu cá thể” Nó phải có đặc sắcriêng của cá tính nghệ sĩ Nhà văn lớn phải là nhà văn có tư tưởng riêng, cóphát hiện riêng về chân lý đời sống, có triết lý riêng của mình về nhân sinh –một thứ triết lý đầy tình cảm cảm xúc và đầy hình tượng, tạo ra một thế giớinghệ thuật riêng cho mình Tư tưởng ấy là cơ sở của thi pháp và phong cáchnhà văn
Phong cách văn học là sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thốnghình tượng biểu hiện nghệ thuật nói lên sự độc đáo của nhà văn trong quátrình cảm nhận và phản ánh cuộc sống Mỗi tác giả có một cách nhận thức vàphản ánh cuộc sống của mình, tuy nhiên, chỉ riêng sự khác biệt chưa thể làmnên phong cách Chỉ những nhà văn có bản lĩnh và tài năng mới đủ sức tạo ranhững nét riêng độc đáo, lặp đi lặp lại mang tính thống nhất trong cả nội dunghoặc hình thức tác phẩm, đó là những dấu ấn quen thuộc giúp độc giả nhận ragương mặt của nhà văn
Phong cách văn học có những biểu hiện đa dạng, phong phú Trướchết, mỗi nhà văn luôn muốn tạo cho mình một hướng quan sát và khám pháriêng về hiện thực cuộc sống Trong những tác phẩm văn xuôi thời kỳ 1930 –
1945, Ngô Tất Tố quan tâm tới số phận cơ cực của những người nông dân
trong cảnh bần cùng hoá Tắt đèn; Nam Cao đặc biệt quan tâm tới sự tha hoá
và khát vọng chống trả lại sự tha háo của con người trước những tác động
nghiệt ngã của hoàn cảnh sống Đời thừa, Chí Phèo; Thạch Lam lại trăn trở lo
âu trước tình trạng sống nhàm chán, vô nghĩa, buồn tẻ của những thân phận
Trang 39bé nhỏ trong xã hội Hai đứa trẻ Cách nhìn con người cũng làm nên phong
cách riêng của mỗi nhà văn Nhân vật của Nguyễn Tuân luôn là biểu tượngcủa cái Đẹp toàn thiện toàn mĩ Nhân vật của Nam Cao trong những sáng táctrước 1945 như những mảnh vỡ của bi kịch khi mọi ước mơ, khát vọng caođẹp lần lượt bị huỷ hoại trước thực tế Nhân vật của Nguyễn Công Hoanthường ngô nghê, khờ khạo trước những cạm bẫy cuộc đời Rất nhiều nhânvật của Vũ Trọng Phụng xuất hiện như những nhân cách méo mó trong mộtthế giới “vô nghĩa lí”
Phong cách còn là giọng điệu riêng của mỗi tác giả Trong Một thời đại trong thi ca, Hoài Thanh và Hoài Chân đã giúp người yêu thơ nhận ra
từng gương mặt thi nhân với “một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màngnhư Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như NguyễnNhược Pháp, và tha thiết, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu” Đó chính lànhững nét khắc hoạ tinh tế của Hoài Thanh và Hoài Chân về phong cách củamỗi nhà thơ trong phong trào Thơ mới 1932- 1945
Phong cách cũng được tạo bởi những yếu tố hình thức như tư duynghệ thuật, ngôn ngữ, kết cấu tác phẩm, thể loại Thơ Nguyễn Đình Thi đậm
chất tạo hình (Ôi những cánh đồng quê chảy máu – Dây thép gai đâm nát trời chiều), thơ Tố Hữu lại nghiêng về biểu cảm, thơ Chế Lan Viên giàu chất
suy tưởng, triết lí mang vẻ đẹp trí tuệ sâu sắc, Ngôn ngữ văn Nguyễn Tuântrau chuốt, hoa mĩ, ngôn ngữ văn Kim Lân dung dị, đời thường, Truyệnkhông có cốt truyện, mỗi truyện ngắn tựa như một bài thơ trữ tình đượmbuồn, đó là phong cách độc đáo của văn Thạch Lam Những thiên tuỳ bút tàihoa, phóng túng mang đậm dấu ấn của cái “tôi” cá nhân được coi là thể loạiđắc địa cho nhà văn Nguyễn Tuân Thể thơ lục bát quê kiểng, ngọt ngào nhưdành riêng để Nguyễn Bính gửi gắm những tâm tình mộc mạc chân quê trongtác phẩm của mình
Ở mỗi thời đại nhất định, do sự chi phối của những điều kiện văn hoá,lịch sử, xã hội cụ thể, các sáng tác văn học có thể có những nét chung về tư
Trang 40duy nghệ thuật và kĩ thuật biểu hiện Thời cổ đại, con người bị chi phối nghiệtngã bởi điều kiện khách quan của hoạt động sinh tồn, hoàn toàn phụ thuộcvào cộng đồng, là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng, các nhânvật văn học không được khắc hoạ cá tính riêng mà được xây dựng như nhữngđại diện ưu tú cho sức mạnh, vẻ đẹp và phẩm chất của cộng đồng- đó là
trường hợp của Đăm Săn trong sử thi Đăm Săn Chế độ phong kiến với
những ràng buộc nghiêm ngặt của tam cương, ngũ thường cũng là nguyên
nhân tạo nên tính quy phạm của văn học trung đại Cụ thể, đó là quan điểm
văn dĩ tạo đạo, thi dĩ ngôn chí, là tư duy nghệ thuật theo những khuôn mẫu ở
một số thể loại văn học với những quy định chặt chẽ về kết cấu, niêm luật, hệthống điển tích, điển cố và những thi liệu, văn liệu quen thuộc v.v Cuộcchiến tranh giải phóng dân tộc vô cùng ác liệt kéo dài suốt ba mười năm đòihỏi sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân xung quanh Đảng, Bác Hồ , đó làhoàn cảnh đặc biệt của xã hội Việt Nam thời kỳ 1945- 1975 chi phối tính chất
chung của một nền văn học mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn Công cuộc đổi mới đất nước từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã
đem đến cho đời sống văn học một luồng gió mới, văn học dần vận động theo
khuynh hướng dân chủ hoá, mang tính nhân bản, nhân văn sâu sắc Đề tài
được mở rộng từ hiện thực đời sống chính trị - xã hội đến những mảng hiệnthực bề bộn, phức tạp của cuộc sống nhân sinh thế sự Sự vận động xuôi
chiều, lạc quan tươi sáng trong những mô típ chủ đề hữu hạn và đơn nhất
trước 1975 đã được bổ sung và đi sâu vào diễn biến bất ngờ, bí ẩn trong tính
đa nghĩa của các tầng bậc chủ đề Từ thuần tuý là những nhân vật loại hìnhvới chức năng cơ bản nhằm thể hiện sinh động phẩm chất, tính cách cơ bảncủa cộng đồng, biểu dương chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cáchmạng Việt Nam, nhân vật văn học sau 1975 luôn được khám phá và thể hiện
ở chiều sâu cảm thức, giúp nhà văn phản ánh những mảng hiện thực phongphú, phức tạp của cuộc sống đời thường v.v