Chất lượng trong giáo dục nhà trường nói chung và nhà trương đại học nói riêng hiện nay đang được Nhà nước hết sức quan tâm. Chất lượng giáo dục là càng được coi trọng hơn trong xu thế phát triển hiện nay, việc cạnh tranh về chất lượng đào tạo trong nhà trường và đặc biệt trong nhà trường đại học. Việc đảm bảo chất lượng giáo dục được quyết định bởi rất nhiều các yếu tố khác nhau. Tuy nhiên một trong những nhân tố đóng phần quan trọng quyết định chất lượng giáo dục, thực hiện chiến lược giáo dục chính là đội ngũ giảng viên của nhà trường. Điều này được nêu cụ thể tại Điều 15 Luật Giáo dục năm 2005: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục”. Vấn đề đảm bảo được chất lượng giáo dục trong nhà trường nói chung và nhà trường đại học nói riêng, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay thì cần phải có một đội ngũ giảng viên có chất lượng cao. Đảm bảo chất lượng đội ngũ giảng viên và không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên đã trở thành vấn đề quan trọng trong chiến lược phát triển của nhà trường. Để làm được điều này thì hơn bao giờ hết vấn đề đánh giá giảng viên đã trở thành một vấn đề cấp thiết. Điều này được nêu rõ trong những văn bản của Nhà nước. Như kết luận tại Hội nghị toàn quốc về chất lượng giáo dục đại học ngày 05 tháng 01 năm 2008: “Về giảng viên, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã và đang tiếp tục ban hành quy chế giảng viên và chuẩn giảng viên cho từng vị trí công tác. Tất cả giảng viên đại học đều phải có năng lực giảng dạy, nghiên cứu và phải được đánh giá qua sinh viên và đồng nghiệp về trình độ chuyên môn, kĩ năng sư phạm, năng lực quản lí giáo dục…. Trong Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học, ban hành theo QĐ số 65/2007/QĐ-BGDĐT ngày 01/11/2007, Điều 7, Tiêu chuẩn 4 về Hoạt động đào tạo cũng quy định việc “…có kế hoạch và phương pháp đánh giá hợp lí các hoạt động giảng dạy của giảng viên” và “…người học được tham gia đánh giá chất lượng giảng dạy của giảng viên khi kết thúc môn học” (Điều 9, Tiêu chuẩn 6 về Người học). Như vậy việc đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên hay có thể gọi là đánh giá giảng dạy (teaching evaluation) là một yêu cầu không thể thiếu được đối với một cơ sở đào tạo nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục. Là một trong những trường đại học tư thục đầu tiên được thành lập, sau 23 năm xây dựng và phát triển Đại học Thăng Long đã xây dựng cho mình một thương hiệu tương đối vững chắc trong xã hội về đào tạo và giáo dục. Tuy nhiên đứng trước các yêu cầu và thách thức mới thì việc làm thế nào để nâng cao chất lượng, năng lực làm việc, khả năng cống hiến và động cơ làm việc chơ đội ngũ giảng viên đã trở thành một vấn đề ngày càng cấp thiết và cấp bách. Để đảm bảo được chất lượng giảng viên thì việc đánh giá giảng viên có ý nghĩa hết sức quan trọng. Vì những lý do trên việc nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và các giải pháp cải tiến việc đánh giá giảng viên Đại học Thăng Long” nhằm đánh giá một cách xác thực năng lực, khả năng, trình độ, sự cống hiến và động cơ làm việc, thông qua đó nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, chất lượng giáo dục đào tạo và góp phần quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững của trường Đại học Thăng Long.
Trang 1GVCC Giảng viên cao cấp
KH&CN Khoa học - công nghệ
NCKH Nghiên cứu khoa học
TĐKT Thi đua khen thưởng
Trang 2DANH MỤC CÁC BẢNG
TrangBảng 2.1: Số lượng và cơ cấu giảng viên trường Đại học Thăng
long theo chức danh, trình độ trong các năm từ 2008 đến 2011
46
Bảng 2.2: Số lượng và cơ cấu giảng viên chia theo các khoa năm
học 2010-2011
48
Bảng 2.3: Số lượng và cơ cấu giảng viên trường Đại học Thăng
long theo độ tuổi năm học 2010 - 2011
Bảng 2.6: Hiểu biết của giảng viên về văn bản quy định yêu cầu
đối với giảng viên
56
Bảng 2.7: Đánh giá của giảng viên về các câu hỏi trong phiếu
Nhận xét môn học
56
Bảng 2.8: Báo cáo tổng hợp tình hình thực hiện quy định Nhà
trường theo tuần
Bảng 2.11: Đánh giá của giảng viên về tác động của công tác
theo dõi tình hình chấp hành nội quy của Trường
của giảng viên
Trang 3Bảng 3.2: Bản Báo cáo kết quả giảng dạy của giảng viên2 93Bảng 3.3: Báo cáo đánh giá thực hiện công việc giảng dạy của
giảng viên trong bộ môn 3
Trang 4DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 1.1: Mô hình kiểu đánh giá “ngồi bên nhau” 15Hình 1.2: Mô hình tuần hoàn của việc đánh giá giảng viên 21Hình 1.3: Quy trình xây dựng chuẩn hoá nhiệm vụ giảng viên 33Hình 1.4 Các bước của quy trình đánh giá 39Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy của trường Đại học Thăng Long 44 Hình 2.1: Tổng hợp ý kiến về sử dụng thông tin đánh giá từ SV 67
Trang 51.2.8 Cơ sở đánh giá giảng viên theo chuẩn. 36
Chương 2: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CƠ HỮU
VÀ CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG
2.1 Giới thiệu tổng quan về trường Đại học Thăng Long 422.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 422.1.2 Tầm nhìn, sứ mạng và phương châm hoạt động của Trường 422.1.3 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ giảng viên 432.1.4 Mục tiêu, quy mô và chương trình đào tạo 492.2 Thực trạng công tác đánh giá kết giảng viên tại trường Đại học
2.2.1 Các tiêu chuẩn thực hiện công việc giảng dạy của giảng viên tại
Trang 62.2.2 Bộ phận phụ trách công tác đánh giá kết quả thực hiện công
việc giảng dạy của giảng viên tại trường Đại học Thăng Long 572.2.3 Các phương pháp đánh giá giảng viên tại trường Đại học Thăng Long 592.2.4 Chu kỳ đánh giá giảng viên tại trường Đại học Thăng Long 712.2.5 Thông tin phản hồi sau đánh giá giảng viên tại trường Đại học
2.2.6 Những thành tích, hạn chế và nguyên nhân của công tác đánh
giá kết quả thực hiện công việc của giảng viên tại trường Đại học
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP CẢI TIẾN VIỆC ĐÁNH GIÁ ĐỘI
3.1.1.Biện pháp 1: Xác định tiêu chuẩn đánh giá giảng viên phù hợp
3.1.2.Biện pháp 2: Tăng cương phối hợp trong việc thực hiện quy
3.1.3.Biện pháp 3: Coi trọng phương pháp Phản hồi 360 độ để đánh
giá giảng viên tại trường Đại học Thăng Long 863.1.4.Biện pháp 4: Hoàn thiện quy trình lấy ý kiến sinh viên về hoạt
động giảng dạy của giảng viên tại trường Đại học Thăng Long 983.1.5.Biện pháp 5: Tổ chức các buổi phỏng vấn đánh giá sau mỗi đợt
đánh giá thực hiện công việc giảng dạy của giảng viên 1013.1.6.Biện pháp 6: Sử dụng có hiệu quả hơn kết quả đánh giá thực hiện
công việc giảng dạy của giảng viên tại trường Đại học Thăng Long 103
3.2 Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 105
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chất lượng trong giáo dục nhà trường nói chung và nhà trươngđại học nói riêng hiện nay đang được Nhà nước hết sức quan tâm Chấtlượng giáo dục là càng được coi trọng hơn trong xu thế phát triển hiệnnay, việc cạnh tranh về chất lượng đào tạo trong nhà trường và đặc biệttrong nhà trường đại học
Việc đảm bảo chất lượng giáo dục được quyết định bởi rất nhiềucác yếu tố khác nhau Tuy nhiên một trong những nhân tố đóng phầnquan trọng quyết định chất lượng giáo dục, thực hiện chiến lược giáodục chính là đội ngũ giảng viên của nhà trường Điều này được nêu cụ
thể tại Điều 15 Luật Giáo dục năm 2005: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục”
Vấn đề đảm bảo được chất lượng giáo dục trong nhà trường nóichung và nhà trường đại học nói riêng, đặc biệt là trong giai đoạn hiệnnay thì cần phải có một đội ngũ giảng viên có chất lượng cao Đảm bảochất lượng đội ngũ giảng viên và không ngừng nâng cao chất lượng độingũ giảng viên đã trở thành vấn đề quan trọng trong chiến lược pháttriển của nhà trường Để làm được điều này thì hơn bao giờ hết vấn đềđánh giá giảng viên đã trở thành một vấn đề cấp thiết Điều này đượcnêu rõ trong những văn bản của Nhà nước Như kết luận tại Hội nghịtoàn quốc về chất lượng giáo dục đại học ngày 05 tháng 01 năm 2008:
“Về giảng viên, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã và đang tiếp tục ban hành quy chế giảng viên và chuẩn giảng viên cho từng vị trí công tác Tất cả giảng viên đại học đều phải có năng lực giảng dạy, nghiên cứu và phải được đánh giá qua sinh viên và đồng nghiệp về trình độ chuyên môn, kĩ năng sư phạm, năng lực quản lí giáo dục… Trong Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại
Trang 8học, ban hành theo QĐ số 65/2007/QĐ-BGDĐT ngày 01/11/2007, Điều
7, Tiêu chuẩn 4 về Hoạt động đào tạo cũng quy định việc “…có kế hoạch và phương pháp đánh giá hợp lí các hoạt động giảng dạy của giảng viên” và “…người học được tham gia đánh giá chất lượng giảng dạy của giảng viên khi kết thúc môn học” (Điều 9, Tiêu chuẩn
6 về Người học) Như vậy việc đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng
viên hay có thể gọi là đánh giá giảng dạy (teaching evaluation) là mộtyêu cầu không thể thiếu được đối với một cơ sở đào tạo nhằm đảm bảo
và nâng cao chất lượng giáo dục
Là một trong những trường đại học tư thục đầu tiên được thànhlập, sau 23 năm xây dựng và phát triển Đại học Thăng Long đã xâydựng cho mình một thương hiệu tương đối vững chắc trong xã hội vềđào tạo và giáo dục
Tuy nhiên đứng trước các yêu cầu và thách thức mới thì việc làmthế nào để nâng cao chất lượng, năng lực làm việc, khả năng cống hiến
và động cơ làm việc chơ đội ngũ giảng viên đã trở thành một vấn đềngày càng cấp thiết và cấp bách Để đảm bảo được chất lượng giảngviên thì việc đánh giá giảng viên có ý nghĩa hết sức quan trọng Vìnhững lý do trên việc nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và các giải phápcải tiến việc đánh giá giảng viên Đại học Thăng Long” nhằm đánh giámột cách xác thực năng lực, khả năng, trình độ, sự cống hiến và động
cơ làm việc, thông qua đó nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, chấtlượng giáo dục đào tạo và góp phần quan trọng đảm bảo sự phát triểnbền vững của trường Đại học Thăng Long
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề xuất được những giải pháp cải tiến việc đánh giá giảng viên Đạihọc Thăng Long nhằm nâng cao chất lượng, năng lực và động cơ làm việc củagiảng viên, thực hiện nhiệm vụ của trường trong bối cảnh mới
Trang 93 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận đánh giá giảng viên
- Phân tích và đánh giá thực trạng việc đánh giá giảng viên trường Đại họcThăng Long
- Đề xuất những giải pháp cải tiến việc đánh giá giảng viên trường Đại họcThăng Long
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Đội ngũ giảng viên trường Đại học Thăng Long
- Đối tượng nghiên cứu: Đánh giá giảng viên Trường Đại học Thăng Long
5 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được các biện pháp đánh giá năng lực và động cơ làm việc,
mà các biện pháp này đánh giá tốt và xác thực công việc giảng viên phụ tráchthì sẽ đóng góp một phần rất lớn trong việc nâng cao năng lực làm việc, động
cơ làm việc, khả năng đóng góp của giảng viên đối với nhà trường trong quátrình xây dựng và phát triển trường Đại học Thăng Long vững mạnh và bềnvững Đồng thời góp phần thực hiện sứ mạng của trường trong giai đoạn mới
6 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Về thời gian: Khảo sát đánh giá giảng viên nên nghiên cứu này sẽ tập trung
vào giai đoạn từ 2005 – 2011
7 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
Sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu liên quan nhằm phục vụ choviệc tìm hiểu các chính sách phát triển giáo dục, đánh giá giảng viên; Các tàiliệu được nghiên cứu bao gồm: Văn kiện, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước
về chính sách phát triển giáo dục đại học, đánh giá giảng viên , các văn bảnquy định của Nhà nước về đội ngũ giảng viên, về tiêu chí đánh giá giảng viên
Trang 10- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra bằng phiếu hỏi, phỏng
vấn Phương pháp được thực hiện với các đối tượng là giảng viên trườngĐại học Thăng Long nhằm khảo sát và thu thập thông tin về thực trạngđánh giá giảng viên, những điểm còn hạn chế
- Nhóm phương pháp khác: thống kê số liệu, phương pháp chuyên gia nhằm
kiểm chứng các giải pháp đề xuất cho việc đánh giá giảng viên Đại họcThăng Long
8: Cấu trúc luận văn
Nội dung chính của luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyếnnghị, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác đánh giá đội ngũ giảng viên
trường đại học
Chương 2: Thực trạng đội ngũ giảng viên trường và công tác đánh giá
đội ngũ giảng viên trường Đại học Thăng Long
Chương 3: Các giải pháp cải tiến việc đánh giá đội ngũ giảng viên
trường Đại học Thăng Long
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ GIẢNG VIÊN 1.3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hầu hết ở các quốc gia, đánh giá giáo dục ĐH được các trường rất coi trọng,
do đó việc đầu tư nhân lực và vật lực cho giáo dục ĐH được quan tâm thườngxuyên Mối quan tâm đến chất lượng là kết quả trực tiếp của sự gia tăng mối quantâm được các chính phủ biểu lộ với tính cạnh tranh quốc tế trong các nền kinh tếdựa trên sức mạnh của các lĩnh vực KH&CN Do đó, với quan điểm luôn luônthích ứng trong đào tạo và nghiên cứu, các trường ĐH thấy được sự cần thiết hìnhthành các phương pháp có hệ thống và phản hồi thường xuyên về hiệu suất của
GV trường ĐH, nguồn lực quan trọng nhất của họ
Theo các nhà nghiên cứu GDĐH phương Tây, mọi nền văn minh đều cầnđến GDĐH nhằm đào tạo lớp người tinh hoa để điều hành nhà nước trong mọilĩnh vực, nhưng chỉ trong thời kỳ Trung cổ ở châu Âu mới xuất hiện các thực thể
với tư cách là trường ĐH: một nhà trường bậc cao kết hợp giảng dạy với học thuật và được đặc trưng bởi quyền tự chủ và tự do học thuật Ngay ở trong thời
kỳ này, các trường ĐH ở châu Âu đã có cách kiểm tra việc giảng dạy của GVthông qua SV Hiệu trưởng chỉ định một Hội đồng SV, để ghi chép bài xem bàigiảng của GV có giảng dạy theo đúng lịch trình quy định của trường không, nếu
có sự thay đổi nhỏ nào ngoài quy định chung, Hội đồng này sẽ báo ngay choHiệu trưởng Hiệu trưởng sẽ phạt GV về những vi phạm đó [1]và [191]
Các trường ĐH và cao đẳng ở châu Âu từ thế kỷ XVI và XVII đã tiến hànhđánh giá GV bằng hình thức: vào cuối năm học đại diện Hội đồng quản trị và hiệutrưởng dự giờ quan sát việc GV đặt câu hỏi kiểm tra kiến thức cả năm học của
SV Nhược điểm của phương pháp này là không thể đánh giá được kiến thức tíchluỹ của SV trong một năm học và cũng không thể đánh giá được hiệu quả giảngdạy, vì theo Smallwood [21, tr.146] các GV chỉ hỏi các câu hỏi dễ dàng hoặc các
câu hỏi mang tính gợi ý để SV dễ dàng trả lời [19, tr.22]
Trang 12Vào đầu thế kỷ XX, việc đánh giá GV ở các trường ĐH châu Âu đã cónhững bước tiến mạnh mẽ Vào năm 1927 tại ĐH Purdue, Herman Remmers vàđồng nghiệp đã công bố bảng đánh giá chuẩn đã được kiểm nghiệm dùng cho
SV đánh giá GV Vào những năm 1960, GV các trường ĐH và cao đẳng đã nhậnthức rõ mục đích và ý nghĩa của các bảng đánh giá giảng dạy và đã tình nguyện
sử dụng bảng đánh giá chuẩn với mục đích cải tiến và điều chỉnh việc giảng dạycủa mình trên cơ sở phân tích các kết quả thu được của bảng đánh giá Vào cuốithập kỷ 70 hầu hết các trường ĐH ở châu Âu và ở Hoa Kỳ đã sử dụng 3 phươngpháp đánh giá hiệu quả giảng dạy: đồng nghiệp đánh giá, trưởng khoa đánh giá
và SV đánh giá, trong đó các thông tin thu thập được từ bảng đánh giá của SVđược cho là quan trọng nhất [20]
Từ những năm cuối thế kỷ thứ XX đến nay, nhiều học giả Âu - Mỹ [19]; [15]
và một số học giả khác đã tổng kết là các trường ĐH thường tập trung đánhgiá GV theo 3 lĩnh vực chính:
lĩnh vực “Trách nhiệm công dân” vào việc đánh giá tổng thể các hoạt
động của GV
Các trường ĐH trên thế giới, đặc biệt là những trường theo hệ thống tựchủ, có một truyền thống lâu năm và thực hành đánh giá GV thông qua cả cơchế chính thức và không chính thức Trước kia sự phát triển nghề nghiệp của
GV được xem là trách nhiệm cá nhân, thì hiện nay phát triển nghề nghiệp đangtrở thành trách nhiệm có tính quy hoạch của trường ĐH
Trang 13Ở các nước phương Tây trước những năm 1980 việc đánh giá GV thườngchỉ dựa vào kết quả học tập và phát triển của SV Còn từ thập kỷ 90 công tácđánh giá GV đã dần mang tính tổng hợp và toàn diện hơn Đánh giá bao gồm cảviệc thu thập, phân tích, giải thích và sử dụng các thông tin về con người nóichung Trong hoạt động đánh giá, thông tin được thu thập, xử lí, phân loại- haynói cách khác là thu thập các “bằng chứng” một yếu tố có tầm quan trọng hàngđầu Không có bằng chứng việc đánh giá chỉ là những ý kiến cá nhân chưa đủcăn cứ để có thể đưa ra những kết luận về một vấn đề gì Hơn nữa công tác đánhgiá liên quan tới việc đưa ra nhận xét về những vấn đề quan trọng như giá trị,chất lượng, hiệu quả của hoạt động của GV trong mối tương quan tới số đông
SV và các đồng nghiệp khác
Hiện nay, các trường ĐH tiếp nhận thực hiện đánh giá công việc giảng dạy
và phát triển cán bộ một cách khác nhau, ví dụ như một số GV chống đối rấtmạnh việc SV nhận xét công việc giảng dạy của mình Tuy nhiên, một điều hiểnnhiên là ở nơi nào mà có liên hệ giữa hệ thống đánh giá, phát triển và khuyếnkhích, như Ô-xtrây-lia, Canada, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ, thì ở nơi đó đạtđược những tiến bộ đáng kể trong việc đánh giá GV
Tuy nhiên, trong các trường ĐH của Việt Nam một số cơ sở, thậm chímột số cá nhân GV đã bắt đầu sử dụng đánh giá như một phương tiện để họchỏi, để tiến bộ Các phương thức tiến hành đánh giá khuyến khích SV thôngbáo cho GV những gì họ học được, những khó khăn họ phải trải qua trongsuốt quá trình học, và điều đó giúp GV liên hệ tốt hơn việc dạy với việc học
Đó chính là những dấu hiệu đáng mừng chứng tỏ rằng các GV đang sử dụngviệc đánh giá công việc của họ cho sự tiến bộ của chính bản thân họ.Năm
2006, đề tài trọng điểm cấp ĐH Quốc Gia Hà Nội mã số: QGTĐ.02.06:
“Nghiên cứu xây dựng các tiêu chí đánh giá hoạt động giảng dạy ĐH và NCKH của GV trong ĐH Quốc gia” do GS-TS Nguyễn Đức Chính và PGS-
TS Nguyễn Phương Nga chủ trì đã được nghiệm thu Đề tài nghiên cứu đãthực hiện được những nội dung chính sau đây:
Trang 14- Xem xét và phân tích đúc kết các kinh nghiệm về đánh giá hoạt độnggiảng dạy và NCKH của một số trường ĐH trên thế giới;
- Phân tích hiện trạng đánh giá hoạt động giảng dạy và NCKH của GV
ĐH Quốc gia Hà Nội trong những năm gần đây;
- Xây dựng mô hình đánh giá phù hợp với thực tiễn ĐH Quốc gia HàNội có tính đến xu thế hội nhập toàn cầu trong giáo dục ĐH;
- Xây dựng các tiêu chí đánh giá hoạt động giảng dạy và NCKH của GV.Đây là nghiên cứu do các chuyên gia trong lĩnh vực đo lường và đánhgiá trong giáo dục và các cán bộ quản lí giáo dục thực hiện, nên kết quảnghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc đưa khoa học đánh giá vào cáctrường ĐH của Việt Nam, đồng thời cũng là tiền đề cho các nghiên cứu ứngdụng đánh giá GV của các trường ĐH trong bối cảnh hiện nay
Giáo dục Việt Nam nói chung và giáo dục ĐH nói riêng, hoạt động của
GV trong nhà trường cũng thường được đánh giá thể hiện qua các đợt sơ kếthọc kỳ, tổng kết năm học và để đánh dấu những mốc đó các nhà quản lí dùngcác danh hiệu như: Lao động tiên tiến, Chiến sĩ thi đua các cấp, GV giỏi v.v với các tiêu chí định tính hoặc định lượng tuỳ theo mỗi giai đoạn Tuy nhiên
các kiểu đánh giá này cũng chỉ mang tính “tổng kết” và đôi khi cũng để lại
những dấu ấn tiêu cực như sự không hài lòng về tính khách quan của sự đánhgiá, sự thờ ơ với các danh hiệu thi đua khen thưởng
Tuy nhiên, trong các trường ĐH của Việt Nam một số cơ sở, thậm chí một
số cá nhân GV đã bắt đầu sử dụng đánh giá như một phương tiện để học hỏi,
để tiến bộ Các phương thức tiến hành đánh giá khuyến khích SV thông báocho GV những gì họ học được, những khó khăn họ phải trải qua trong suốtquá trình học, và điều đó giúp GV liên hệ tốt hơn việc dạy với việc học Đóchính là những dấu hiệu đáng mừng chứng tỏ rằng các GV đang sử dụng việcđánh giá công việc của họ cho sự tiến bộ của chính bản thân họ
Trang 15Hoạt động của GV trong trường ĐH cũng như bất kỳ một công việcchuyên môn nào khác, chịu áp lực của hai loại lợi ích: lợi ích cá nhân và lợiích của tập thể GV ĐH là những người có trình độ chuyên môn nghiệp vụcao, được xã hội, nhà trường, SV tôn vinh và kính trọng, đồng thời họ đượctạo mọi điều kiện để học tập, tu dưỡng và thăng tiến trong sự nghiệp củamình Mặt khác, xã hội, nhà trường, SV cũng đòi hỏi GV có tinh thần tráchnhiệm cao, toàn tâm toàn ý với công việc của họ Chính vì vậy việc đánh giá
GV cũng phải nhằm ủng hộ, thúc đẩy cho sự phát triển của cá nhân họ, đồngthời cũng phải giúp cho sự tiến bộ của nhà trường
Đánh giá trong giáo dục về cơ bản là một hoạt động mang tính xã hội,
có tầm quan trọng hàng đầu đối với vấn đề chất lượng Nhiều nghiên cứu đãthừa nhận rằng việc đánh giá thường xuyên có tác động tích cực tới việc nângcao không ngừng chất lượng của quá trình dạy và học Do chất lượng là tráchnhiệm của tất cả mọi người, đặc biệt là những người có liên quan trực tiếp tớihoạt động giảng dạy, GV trở thành những người đóng vai trò chủ chốt trongviệc đánh giá công việc của chính họ Vấn đề là làm sao cho GV tham gia vàoviệc đánh giá một cách hợp lí và có hiệu quả, trong đó họ vừa là người đượcđánh giá vừa là người hỗ trợ cho việc đánh giá
Trong suốt lịch sử phát triển của giáo dục Việt Nam trong đó có giáo
dục ĐH, người thầy giáo luôn được xem là “kỹ sư tâm hồn”, có vai trò quyết
định trong việc không ngừng nâng cao chất lượng GD&ĐT Việc đánh giáhoạt động của người GV được tiến hành trong suốt giai đoạn lịch sử đó cũng
đã góp phần đào tạo một đội ngũ đông đảo các giáo sư, tiến sĩ, các nhà khoahọc giáo dục tài năng đang âm thầm làm công việc trồng người với mục tiêucung cấp nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Việc đánh giá GV có tầm quan trọng đối với nền giáo dục nước ta, dovậy trong việc đổi mới giáo dục ĐH hiện nay nó vẫn là vấn đề cần được đổimới để có thể góp phần vào việc nâng cao chất lượng của đội ngũ GV vàthông qua đó nâng cao chất lượng của GD&ĐT
Trang 16Một thực trạng thường thấy là các nhà quản lí giáo dục trong đó cóquản lí giáo dục ĐH, và kể cả các GV mặc dù hiểu rõ tầm quan trọng củacông tác đánh giá, nhưng thường không coi trọng đầu tư đúng mức cho côngtác này Những chỉ tiêu thi đua, tiêu chí bình xét các danh hiệu thườngmang tính chủ quan, thiếu độ tin cậy khoa học nên hạn chế nhiều tới hiệu quảcủa việc đánh giá Nguyên nhân của hiện tượng này có thể lí giải như sau:1) Các nhà quản lí giáo dục chưa quán triệt một nguyên tắc quan trọng của
công tác đánh giá là ‘‘mô tả đầy đủ và đánh giá đầy đủ” Cho đến nay chưa có
một công trình nghiên cứu nào mô tả đầy đủ công việc cần làm của GV Không
mô tả được đầy đủ hoạt động của GV thì không thể đánh giá được hoạt động
đó, người GV cũng không thể biết được hành vi nào cần cải tiến, hành vi nàocần loại bỏ, hành vi nào cần duy trì
2) Kết quả của việc đánh giá chưa được sử dụng đúng mục đích của nó Mộttrong những mục tiêu quan trọng của công tác đánh giá là cổ vũ việc học tập, tudưỡng, phấn đấu của GV Đánh giá thường được tiến hành trong nội bộ GVkhông có sự tham gia của SV (thường qua các phiếu điều tra), không tính đếnchất lượng công việc của GV thông qua kết quả học tập và phấn đấu của SV Dovậy việc đánh giá GV không giúp gì cho việc tiến bộ của SV trong suốt quá trìnhdạy học Hơn nữa các GV cũng thường ngại khi phải nhận xét, đánh giá đồngnghiệp, nhất là trong các đợt bình bầu các danh hiệu thi đua cuối năm học
3) Quá trình đánh giá thường không quan tâm đầy đủ tới mục tiêu kép củahoạt động này: sự tiến bộ của cá nhân và lợi ích cũng như trách nhiệm củatrường ĐH Các trường ĐH thường không chú ý đúng mức tới việc dùng kếtquả học tập, sự tiến bộ của SV trong việc xây dựng các tiêu chí đánh giá GV.Hơn nữa một số chỉ tiêu định lượng như số các bài báo đã công bố, số đề tàiNCKH đã tham gia có thể dẫn đến các hiệu quả không mong muốn là các GVchỉ tập trung vào kết quả công việc của họ nhiều hơn là chú ý đến việc làm gì
để thường xuyên cải tiến công việc của họ GV thường không có ý thức nghĩ
Trang 17chỉ sau khi kết thúc công việc Ví dụ, một số ít GV thực hiện một vài hìnhthức đánh giá SV ở cuối khoá học, với một số câu hỏi về việc GV đã dạy nhưthế nào, mà không giúp GV biết được những khó khăn mà SV phải trải quatrong cả quá trình và thông qua đó không giúp GV tự đánh giá mình và cónhững điều chỉnh cần thiết trong quá trình giảng dạy.
Với tầm quan trọng như trên, việc tiến hành, nghiên cứu đổi mới công tác đánh giá GV ở các trường ĐH cần được tiếp tục quan tâm nghiên cứu, triển khai để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ĐH
1.4 Một số khái niệm
1.4.1 Giảng viên đại học
Theo một định nghĩa của đạo luật về Giáo dục năm 1989 của New Zealand
nêu rằng: văn bằng ĐH là cái được cấp để công nhận việc hoàn thành môt chương trình học trình độ cao mà:
a.) Được giảng dạy chủ yếu bởi những người gắn bó với NCKH;
b) Nhấn mạnh những nguyên lý chung và kiến thức cơ bản xem như là cơ
sở để làm việc và học hành một cách chủ động." [7]
Điểm a) của định nghĩa trên đây có thể hiểu giảng viên là người dạy có
khả năng NCKH hay nói rõ hơn “GV là nhà khoa học có kỹ năng sư phạm có thể giảng dạy được ở bậc ĐH”, điều này cho thấy GV ĐH muốn giảng dạy
tốt phải biết NCKH Chính NCKH tạo nên kỹ năng và thói quen tìm kiếmthông tin và xử lý thông tin, đây là các kỹ năng quan trọng hàng đầu củagiảng viên ĐH trong thời đại hiện nay
Luật Giáo dục nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2005, định
nghĩa "nhà giáo" như sau:
- Nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sởgiáo dục khác
- Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau: a) phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt;b) đạt trình độ chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ; c) có đủ sức khoẻ theo yêucầu của nghề nghiệp; d) Lý lịch bản thân rõ ràng
Trang 18- Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mần non, giáo dục phổ thông, giáo dụcnghề nghiệp gọi là giáo viên; ở cơ sở giáo dục ĐH và sau ĐH gọi là GV Vậy GV là những nhà giáo giảng dạy ở các trường ĐH, cao đẳng, có tiêuchuẩn, chức trách, nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Nhà nước vànhững quy định cụ thể của từng trường ĐH, cao đẳng nói riêng GV vừa cónhiệm vụ của người viên chức nhà nước vừa có chức trách nhà giáo, nhà khoahọc, nhà hoạt động xã hội Tại Điều 46 của Điều lệ trường ĐH, quy địnhnhiệm vụ của GV, ngoài nhiệm vụ được quy định tại các Điều 63, 64 của LuậtGiáo dục và cụ thể sau đây:
- Hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy và NCKH được quy định theo giờ chuẩn do
Bộ GD&ĐT ban hành đối với các chức danh và ngạch tương ứng;
- Giảng dạy theo nội dung, chương trình đã được Bộ GD&ĐT, trường ĐHquy định Viết giáo trình, bài giảng, tài liệu phục vụ giảng dạy - học tập theo
sự phân công của các cấp quản lý;
- Không ngừng tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, cải tiến phương phápgiảng dạy để nâng cao chất lượng đào tạo;
- Tham gia và chủ trì các đề tài NCKH, phát triển công nghệ, dịch vụ khoahọc và công nghệ và các hoạt động khoa học và công nghệ khác;
- Chịu sự giám sát của các cấp quản lý về chất lượng, nội dung, phương phápđào tạo và NCKH;
- Hướng dẫn, giúp đỡ người học trong học tập, NCKH, rèn luyện tư tưởng,đạo đức, tác phong, lối sống.[14]
1.2.2 Đội ngũ giảng viên
Đội ngũ là khối đông người được tập hợp và tổ chức thành lực lượng Độingũ GV là một tập thể người có cùng chức năng, cùng nghề nghiệp cấu thànhtrong một tổ chức và là nguồn nhân lực trong các cơ sở đào tạo ĐH Đội ngũ
GV là một tập thể người được gắn kết với nhau bằng hệ thống mục đích cócùng nhiệm vụ trực tiếp giảng dạy và giáo dục SV trong trường ĐH và cao
Trang 19đẳng, cùng chịu sự ràng buộc của những qui tắc có tính hành chính của ngành
và của Nhà nước Ngạch công chức đối với nhà giáo ở các cơ sở giáo dục ĐH
và sau ĐH gồm: GV, GVC, GVCC Thực tế trong trường ĐH hiện nay, lựclượng tham gia giảng dạy còn có những GV theo chế độ hợp đồng, cho nên để
bao quát chúng tôi sử dụng tập hợp từ đội ngũ GV để chỉ toàn bộ những
người tham gia giảng dạy gồm: viên chức giảng dạy (trong biên chế), GV hợpđồng làm việc, GV thỉnh giảng
Đội ngũ GV là lực lượng chủ yếu, giá trị cơ bản cũng như vốn quí nhấtcủa trường ĐH và cao đẳng, với tri thức, tài nghệ và kinh nghiệm, sự hiểu biếtsâu sắc về bản chất quá trình đào tạo trong nhà trường, là nhân vật trung tâmtrong nhà trường quyết định chất lượng và hiệu quả GD&ĐT góp phần hìnhthành mô hình nhân cách nhà chuyên môn có trình độ cao theo mục tiêu đàotạo bằng giảng dạy, giáo dục và tổ chức cuộc sống cho SV Vì vậy, đầu tư chonguồn nhân lực - tập thể sư phạm mà nòng cốt là đội ngũ GV trong nhàtrường ĐH là tạo điều kiện cốt yếu, cần thiết cho việc nâng cao chất lượng vàhiệu quả đào tạo trong nhà trường
1.2.5 Đánh giá trong giáo dục
Đánh giá là hoạt động thu thập và xử lí thông tin một cách có hệ thống đểxác lập giá trị của đối tượng [21] Quá trình GD-ĐT là sự tác động lên đốitượng nhằm tạo ra những biến đổi nhất định trong đối tượng đó Muốn đánhgiá được những biến đổi đó đạt được mức độ nào thì phải đánh giá hành vicủa đối tượng trong một tình huống nhất định Đánh giá cho phép chúng taxác định mục tiêu giáo dục được đặt ra có phù hợp hay không và có đạt đượchay không, việc giảng dạy có thành công hay không và người học có tiến bộđến đâu Trong giáo dục đánh giá vừa là một lĩnh vực nghiên cứu của khoahọc quản lí giáo dục, vừa là một công cụ hữu hiệu của quản lí giáo dục nhằmphán đoán giá trị của giáo dục để điều chỉnh, kiểm nghiệm trình độ phát triểncủa sự nghiệp giáo dục và cải tiến để giáo dục ngày càng đáp ứng tốt hơn nhucầu của cộng đồng xã hội
Trang 20Với tư cách vừa là một lĩnh vực của khoa học quản lí giáo dục, vừa là mộtcông cụ của quản lí giáo dục, đánh giá giáo dục bao hàm những đặc trưng cơbản sau:
- Tính khách quan - Cơ sở khách quan của đánh giá là những thông tin vềgiáo dục được thu thập một cách toàn diện, có hệ thống
- Tính khoa học - Những thông tin được xử lí một cách khoa học, được phântích, lưu giữ thuận tiện cho việc phán đoán chính xác
- Tính thích ứng phổ biến - Khái niệm đánh giá giáo dục phải thích ứng và dễdàng sử dụng trong toàn bộ hệ thống giáo dục
- Tính mục đích - Đánh giá không phải là hoạt động tự thân Kết quả đánh giáphải được phản hồi cho những tổ chức và cá nhân tương ứng để họ có thể cónhững quyết sách phù hợp, thúc đẩy cải cách giáo dục, nâng cao chất lượng,hiệu quả của giáo dục
Với tư cách là một chuyên ngành của khoa học quản lí giáo dục, đánh giá
có đối tượng nghiên cứu là các mô hình đánh giá, các tiêu chuẩn, tiêu chí, các công cụ đánh giá, quy trình đánh giá Còn đánh giá giáo dục với tư cách là công
cụ của quản lí giáo dục là “Sự thu thập, chỉnh lí, xử lí, phân tích một cách toàn diện, khoa học, hệ thống những thông tin về giáo dục, để rồi phán đoán giá trị của nó nhằm thúc đẩy công cuộc cải cách giáo dục, nâng cao trình độ phát triển của giáo dục, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cộng đồng xã hội” [3]
1.2.6 Đánh giá giảng viên
Trong cuốn “Đánh giá GV” tác giả L.A Braskamp và J.C Orey giảithích từ đánh giá (asses) thông qua từ gốc Latin asitere là “ngồi bên nhau”.Hoạt động đánh giá bắt đầu trở nên quan trọng trong thời kỳ chiến tranh thếgiới thứ II khi quân đội Mỹ mở rộng các trọng tâm đánh giá lựa chọn phicông và lính đặc vụ quan trọng [4] Hoạt động đánh giá cũng được mở rộngđang lĩnh vực giáo dục, kể cả giáo dục phổ thông và giáo dục ĐH
Trang 21Đánh giá trong giáo dục còn là là căn cứ vào các thông tin định tính và định lượng để đưa ra những kết luận về năng lực và phẩm chất của sản phẩm giáo dục Đánh giá cũng là quá trình thu thập thông tin về năng lực và phẩm chấtcủa người học và sử dụng các thông tin đó để đưa ra quyết định về người học và dạy học trong tương lai Trong giảng dạy ở nhà trường, các đánh giá trong tiến trình thường gắn chặt với người dạy, tuy nhiên các đánh giá kết thúc thường bámsát vào mục tiêu dạy học đã được đề ra và có thể tách khỏi người dạy
Đánh giá (assessment) GV trong cách hiểu của quan điểm "ngồi bên
nhau", chúng tôi mô tả qua hình ảnh: Các đồng nghiệp ngồi bên nhau, hỗ trợ nhau bằng cách đưa ra những nhận xét xây dựng, thiện chí, những gợi ý cho
sự tiến bộ, sự cùng quan tâm tới lợi ích của tập thể và gìn giữ những giá trị của nhà trường ĐH, thông qua kết quả mong đợi được diễn giải dưới dạng tiêu chuẩn, tiêu chí mô tả hoạt động nghề nghiệp.
Về đánh giá hoạt động của GV, với cách hiểu đánh giá là “ngồi bên nhau” nhiều nhà nghiên cứu về công tác đánh giá GV đã nhấn mạnh sự đan
xen của nhiều yếu tố trong quá trình này L.A Braskamp và J.C.Orey [17] đã
sơ đồ hoá việc đánh giá ở mô hình 1.1
Hình 1.1: Mô hình kiểu đánh giá “ngồi bên nhau”
Ngồi bên nhau
Sử dụng bằng
chứng
Hình thành kết quả mong đợi
Thu thập sắp xếp bằng chứng
Trang 22Theo mô hình 1.1, các yếu tố: hình thành kết quả mong đợi; lựa chọn vàsắp xếp bằng chứng; sử dụng bằng chứng - hoạt động trong bối cảnh “ngồibên nhau” - theo cách hiểu đã được đề cập ở trên.
Nếu một trường ĐH vừa mong muốn thúc đẩy sự phát triển của GV,vừa mong đáp ứng các mục tiêu phát triển của nhà trường thi việc đánh giá
GV phải đáp ứng được mục tiêu kép này Chu trình của công tác đánh giátheo kiểu như vậy sẽ là liên tục và công việc của GV trở nên có ý nghĩa hơnkhi mọi người được biết đến công việc của họ, và mỗi GV lại có cơ hội tự
điều chỉnh công việc của mình để ngày càng tiến bộ [4] Đây là triết lý, là khơi nguồn cho việc đánh giá một đối tượng rất đặc biệt là GV ĐH
1.2.10 Nguyên tắc đánh giá giảng viên
1.2.5.1 Đánh giá GV phải tác động vào các khâu, các yếu tố của quá trình quản
lí đội ngũ thông qua các tiêu chuẩn, tiêu chí.
Phát triển đội ngũ GV là một quá trình với nhiều khâu nhiều bước cóquan hệ chặt chẽ với nhau: đào tạo - bồi dưỡng - sử dụng Công tác đánh giá
GV cũng gồm một quy trình có nhiều khâu có quan hệ hữu cơ với công tácquản lí các hoạt động khác trong nhà trường ĐH
Vì vậy, quy trình đánh giá GV phải tác động vào tất cả các khâu củaquá trình quản lí, vào các thành tố của quá trình phát triển đội ngũ GV, vàocác chủ thể tham gia quá trình này
Đồng thời, mỗi tiêu chuẩn chỉ tác động vào một khâu, một mặt hoạtđộng nhất định của GV Do đó, các tiêu chí phải có mối liên hệ chặt chẽ,thống nhất với nhau để tạo tác động tổng hợp, đồng bộ đến quá trình quản lí
GV Các tiêu chuẩn đánh giá phải bao quát toàn bộ hoạt động theo chức tráchcủa GV với tư cách là: trí thức, nhà giáo, nhà khoa học và người công dân.Nguồn thông tin đánh giá phải khái quát được đầy đủ nhiệm vụ cụ thể trong
mô hình hoạt động của GV
Trang 23Muốn lập ra chuẩn đánh giá tốt, trước tiên cần phải biết yếu tố củachuẩn đánh giá Tiếp đến, cần tìm căn cứ lập ra tiêu chuẩn đánh giá Có căn
cứ khoa học mới có thể định ra tiêu chuẩn và các tiêu chí đánh giá khoa học,khách quan và hiệu quả
Hệ thống tiêu chí đánh giá là chỉ tập hợp của nội dung đánh giá cụ thểcủa yêu cầu chuẩn chất lượng và số lượng hoạt động theo chức năng nhiệm vụcủa người GV Nó chủ yếu là căn cứ vào tập hợp nội dung giá trị cần xem xét:mục tiêu, nội dung, phương tiện, phương pháp để đạt được chuẩn đối với hoạtđộng của người GV
Khi thiết kế hệ thống tiêu chí đánh giá GV, không những cần xem xét cácchứng cứ quy định của tiêu chuẩn đánh giá GV, mà còn tuân thủ quy luật nội tạicủa bản thân hệ thống tiêu chí Trong hoạt động thực tiễn đánh giá GV, chúng ta
đã tổng kết hàng loạt nguyên tắc thiết kế hệ thống tiêu chí Những nguyên tắc này
sẽ có tác dụng chỉ đạo trực tiếp đối với việc thiết kế hệ thống tiêu chí đánh giá
1.2.5.2 Đánh giá GV phải góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ
Quy trình đánh giá GV ở ĐH phải góp phần nâng cao chất lượng độingũ; định hướng và làm động lực cho đội ngũ GV tự giác hoàn thiện mìnhtheo chuẩn Hoạt động của GV trong trường ĐH cũng như bất kỳ một côngviệc chuyên môn nào khác, chịu áp lực của hai loại lợi ích: lợi ích cá nhân vàlợi ích của tập thể GV ĐH là những người có trình độ chuyên môn nghiệp vụcao, được xã hội, nhà trường, SV tôn vinh và kính trọng, đồng thời tạo mọiđiều kiện để họ học tập, tu dưỡng và thăng tiến trong sự nghiệp của mình.Mặt khác, xã hội, nhà trường, SV cũng đòi hỏi GV có tinh thần trách nhiệmcao, toàn tâm toàn ý với công việc của họ Chính vì vậy việc đánh giá GVcũng phải nhằm ủng hộ, thúc đẩy cho sự phát triển của cá nhân họ, đồng thờicũng phải giúp cho sự tiến bộ của nhà trường Đánh giá GV phải trở thànhđộng lực thúc đẩy sự tiến bộ và cải cách trong nhà trường khi các thông tinđánh giá được sử dụng để ra các quyết định về nhân sự
Trang 241.2.5.3 Đánh giá GV phải có sự hợp tác của đối tượng đánh giá
Quy trình đánh giá GV phải phát huy vai trò chủ động, tích cực của GV,làm họ tự giác tham gia vào quy trình đánh giá và tự đánh giá Đánh giá tronggiáo dục về cơ bản là một hoạt động mang tính xã hội, có tầm quan trọng hàngđầu đối với vấn đề chất lượng Nhiều nghiên cứu đã thừa nhận rằng việc đánhgiá thường xuyên có tác động tích cực tới việc nâng cao không ngừng chấtlượng của quá trình dạy và học Do chất lượng là trách nhiệm của tất cả mọingười, đặc biệt là những người có liên quan trực tiếp tới hoạt động giảng dạy,
GV trở thành những người đóng vai trò chủ chốt trong việc đánh giá công việccủa chính họ Vấn đề là làm sao cho GV tham gia vào việc đánh giá một cáchhợp lí và có hiệu quả, trong đó họ vừa là người được đánh giá vừa là người hỗtrợ cho việc đánh giá
1.2.5.4 Đánh giá GV phải thiết thực, phù hợp với điều kiện thực tế nhà trường Việt Nam, đồng thời tiếp cận trình độ thế giới
Đánh giá phải đảm bảo công bằng, dân chủ khách quan có tác dụng gópphần hoàn thiện cá nhân GV trong việc đáp ứng đòi hỏi của sự phát triển nhàtrường và xã hội Quy trình đánh giá GV phải thiết thực, phù hợp với điềukiện thực tế của từng trường Để đáp ứng yêu cầu này khi xây dựng quy trìnhcần chỉ ra các việc cần làm, nội dung và cách tiến hành các công việc một cách
cụ thể sao cho CBQL, GV có thể hiểu và thực hiện được Các phương pháp đánhgiá được thiết kế sao cho phù hợp với trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụcủa CBQL, GV, điều kiện về cơ sở vật chất và các nguồn lực khác của nhàtrường Các tiêu chí phải dựa trên cơ sở thực tế: điều kiện, hoàn cảnh công táccủa GV, điều kiện và nhu cầu của từng trường Đánh giá GV phải chú ý đến vấn
đề tâm lí, truyền thống dân tộc và đặc thù nghề nghiệp của nhà giáo Tuy nhiên,cùng với hội nhập kinh tế quốc tế, giáo dục ĐH đang tiến hành thực hiện tiếntrình hội nhập với nền giáo dục ĐH tiên tiến, cho nên việc đánh giá GV cũng cầnphải tiếp cận với trình độ quốc tế, để có thể tiếp thu ngay những kinh nghiệmđánh giá từ các nước có nền giáo dục ĐH phát triển
Trang 251.2.5.5 Đánh giá GV cần được thực hiện một cách khách quan
Đánh giá GV phải xuất phát từ tuyên bố sứ mạng của nhà trường, do đó nócần được thực hiện liên tục và thường xuyên thể hiện trong kế hoạch chiếnlược, trong chương trình công tác hàng năm của nhà trường, của khoa Để đánhgiá GV có kết quả tốt nhất khi nó được tiến hành thường xuyên liên tục chứkhông phải là “những hình ảnh rời rạc” Khi xây dựng quy trình đánh giá cần
có sự đồng thuận cao của đội ngũ GV về nội dung, phương pháp, nguồn thôngtin đánh giá và sử dụng nguồn thông tin đánh giá Nguồn thông tin đánh giácần phải đầy đủ, bao hàm được toàn bộ hoạt động của GV, thu thập nguồnthông tin phong phú từ các chủ thể khác nhau và cần sử dụng cả 2 nhómphương pháp đánh giá định tính và định lượng
GV ĐH là người không chỉ có khả năng giúp SV phát hiện và giải quyếtnhững vấn đề chuyên môn sâu của một ngành học mà còn là người gắn bó vớiNCKH; tức là người biết nghiên cứu để có thể hướng dẫn SV tự nghiên cứu.Đánh giá GV trong nhà trường ĐH là việc thu thập, phân tích, giải thích và
sử dụng các thông tin về hoạt động nghề nghiệp của GV Đánh giá GV phải làmột quá trình mang tính hệ thống, đòi hỏi sự tự nguyện và hợp tác của các bên,phù hợp với đặc điểm tâm lí của đội ngũ trí thức Đánh giá GV phải phát huyđược vai trò chủ động, tích cực, tự giác của GV, lôi cuốn họ tham gia công tácđánh giá và tự đánh giá từ đó hình thành động lực trong việc bồi dưỡng nâng caotrình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm
GV là đối tượng cần thường xuyên được đào tạo, bồi dưỡng Chất lượng
và hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng phụ thuộc vào nhiều nhân tố khách quan vàchủ quan Trong đó, sự nỗ lực chủ quan của GV có vai trò quan trọng Quytrình đánh giá GV phải thúc đẩy được sự tự bồi dưỡng của GV, khuyến khích
họ tham gia các hình thức bồi dưỡng do trường tổ chức, tạo môi trường thíchhợp cho việc tự bồi dưỡng của GV
Trang 26Muốn vậy, mục tiêu, nội dung, phương pháp tổ chức đánh giá phải phù hợpvới nhu cầu, nguyện vọng, trình độ hiện có của GV và thực hiện theo quanđiểm đổi mới giáo dục của ngành Bên cạnh đó, cần phải lưu ý rằng khoa học
kỹ thuật luôn phát triển với tốc độ chóng mặt Quá trình đánh giá tác động đếnviệc tự bồi dưỡng thường xuyên của GV, đảm bảo để người thầy có những nềntảng kiến thức để tiếp cận và nắm bắt những tri thức mới, có khả năng địnhhướng cho SV tìm tòi, phát triển Từ đó xây dựng được các chính sách phù hợp
về tuyển dụng, sử dụng, đánh giá, đãi ngộ, khen thưởng đối với GV
Đánh giá GV phải tác động vào các khâu, các yếu tố của quá trình quản lí
GV Phát triển đội ngũ GV là một quá trình với nhiều khâu nhiều bước cóquan hệ chặt chẽ với nhau: đào tạo - bồi dưỡng - sử dụng Công tác đánh giá
GV cũng gồm một quy trình có nhiều khâu có quan hệ hữu cơ với công tácquản lí các hoạt động khác trong nhà trường ĐH
Chính vì vậy, đánh giá GV phải tác động vào tất cả các khâu của quá trìnhquản lí, vào các thành tố của quá trình phát triển đội ngũ GV và các chủ thểtham gia quá trình này Đồng thời, mỗi tiêu chí chỉ tác động vào một khâu, mộtmặt nhất định Do đó, các tiêu chí phải có mối liên hệ chặt chẽ, thống nhất vớicác tiêu chuẩn để tạo tác động tổng hợp, đồng bộ đến quá trình quản lí
1.2.11 Mục đích đánh giá giảng viên
Việc đánh giá GV nhằm ủng hộ, thúc đẩy, tạo năng lực và động cơ cho sựphát triển của cá nhân họ, đồng thời cũng phải giúp cho sự tiến bộ của nhàtrường Một số cá nhân GV đã bắt đầu sử dụng đánh giá như một phương tiện
để học hỏi, để tiến bộ Các phương thức tiến hành đánh giá khuyến khích SVthông báo cho GV những gì họ học được, những khó khăn họ phải trải quatrong suốt quá trình học và điều đó giúp GV liên hệ tốt hơn việc dạy với việchọc Đó chính là những dấu hiệu đáng mừng chứng tỏ rằng các GV đang sửdụng việc đánh giá công việc của họ cho sự tiến bộ của chính bản thân họ.Đánh giá trong giáo dục về cơ bản là một hoạt động mang tính xã hội, cótầm quan trọng hàng đầu đối với vấn đề chất lượng Nhiều nghiên cứu đã thừa
Trang 27nhận rằng việc đánh giá thường xuyên có tác động tích cực tới việc nâng caokhông ngừng chất lượng của quá trình dạy và học Do chất lượng là tráchnhiệm của tất cả mọi người, đặc biệt là những người có liên quan trực tiếp tớihoạt động giảng dạy, GV trở thành những người đóng vai trò chủ chốt trongviệc đánh giá công việc của chính họ Vấn đề là làm sao cho GV tham gia vàoviệc đánh giá một cách hợp lí và có hiệu quả, trong đó họ vừa là người đượcđánh giá vừa là người hỗ trợ cho việc đánh giá.
Đánh giá GV phải nhằm đến các mục đích sau đây:
1) Động viên GV: bằng cách khen thưởng (có giá trị vật chất và tinh thần) khi
họ có những cố gắng tạo nên năng lực tích cực, động cơ làm việc, đồng thờinhững cố gắng này đáp ứng được mục tiêu của nhà trường, khoa và bộ môn,nhằm phục vụ nhà trường, SV và nhu cầu xã hội
2) Phát triển GV: nghĩa là khai thác tối ưu những khả năng, tiềm năng của GV
bằng cách khuyến khích tạo điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ,NCKH và triển khai ứng dụng, cũng như áp dụng các biện pháp phát triển GVtổng thể phù hợp với nhu cầu và mong muốn của SV, người sử dụng lao động vànhà trường (Xem hình 1.2 mô hình tuần hoàn của việc đánh giá giảng viên)
Hình 1.2: Mô hình tuần hoàn của việc đánh giá giảng viên
Môi trường làm việc
Đánh giá thành tích
Huấn luyện nghiệp vụ sư phạm
Phát triển
kỹ năng
Khen thưởng (vật chất & tinh thần)
5
2 1
Sự thoả mãn của giảng viên6
Vòng tuần hoàn khích lệ Vòng tuần hoàn phát triển
Trang 28Trong công tác đánh giá GV cần áp dụng phương thức lí tưởng phù hợpvới viễn cảnh theo nguyên tắc “mình được quyền đánh giá mọi người và mọingười được quyền đánh giá mình” (được gọi là đánh giá năng lực 360)
Mỗi thành viên (được đánh giá) của nhà trường chỉ có thể biểu lộ đượctinh thần phục vụ của mình khi họ biết được họ phục vụ ai với hiệu quả nhưthế nào Vì thế, chúng ta cần xác định rõ ràng từng thành phần chủ yếu củacác nhóm được hưởng lợi ích và khuyến khích họ tham gia vào công việcđánh giá GV của nhà trường
Đánh giá như một hoạt động “ngồi bên nhau”: hoạt động tương tác, chia
sẻ, tin tưởng lẫn nhau Có những nhận xét đúng về phương thức và hiệu quảcông việc của người kia để tìm ra những mục tiêu chung và con đường để cảhai đạt tới mục tiêu chung đó
1.2.12 Các quan điểm về đánh giá giảng viên
1.2.7.1 Theo quan điểm hành chính
Ở nước ta, đánh giá cán bộ là việc được Đảng và Nhà nước quan tâm đặcbiệt Công tác đánh giá cán bộ trong thời gian qua đã có nhiều tiến bộ quantrọng Đánh giá đã dựa trên tiêu chuẩn cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước mà Nghị quyết Hội nghị lần thứ III Ban chấp hànhtrung ương Đảng (khoá VIII) đã đề ra
GV trong các trường ĐH công lập của nước ta thuộc đối tượng quy địnhtrong Pháp lệnh cán bộ công chức với tên gọi là viên chức trong đơn vị sựnghiệp của Nhà nước Tại Nghị định 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 củaChính phủ có quy định về việc đánh giá viên chức hàng năm Theo đó, mụcđích đánh giá viên chức để làm rõ năng lực, trình độ, kết quả công tác, phẩmchất, đạo đức là căn cứ để bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, đề bạt, đào tạo, bồi dưỡng
và thực hiện chính sách đối với viên chức Khi đánh giá viên chức phải căn cứvào nhiệm vụ được phân công, kết quả hoàn thành nhiệm vụ và phẩm chất đạođức của viên chức Nghị định còn quy định, đánh giá viên chức được tổ chức
Trang 29hàng năm và thực hiện vào cuối năm hoặc cuối kỳ công tác theo các trình tựnhư sau: viên chức tự nhận xét công tác; tập thể nơi viên chức làm việc thamgia góp ý và ghi phiếu phân loại; người đứng đầu đơn vị sử dụng trực tiếp đánhgiá viên chức và tham khảo ý kiến góp ý và phân loại của tập thể để tổng hợp
và xếp loại viên chức; thông báo ý kiến đánh giá đến từng viên chức[5], [2].Thực hiện quy định về việc đánh giá viên chức theo quy định của Nhà nước, ngành GD&ĐT trong đó có các trường ĐH đã tiến hành đánh giá GV hàng năm kết hợp với việc công nhận các danh hiệu thi đua và khen thưởng
Đánh giá các hoạt động giáo dục, hay nói hẹp hơn là đánh giá kết quả củaviệc dạy và học là một vấn đề lớn của các nhà quản lí giáo dục, của tất cả các
GV, của SV, cũng như của toàn xã hội Chức trách, nhiệm vụ cụ thể của GV cáctrường ĐH cũng thay đổi trong tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam Trướcnhững năm 1960 giảng dạy và giáo dục được xem là nhiệm vụ duy nhất của GV,
kể từ những năm 60 NCKH được bổ sung vào chức trách của GV Những nămcuối của thế kỷ 20 và thập kỷ đầu thế kỷ 21 chức trách của GV thường được cáctrường ĐH quy định xung quanh hai nhiệm vụ giảng dạy và NCKH [4]
Ở nước ta, thông thường thì những đánh giá được thực hiện từ trước tới naytrong giáo dục nói chung thường nặng về đánh giá tổng kết (summativeevaluation), tức là chỉ nhằm vào việc đánh giá mang tính “thưởng - phạt”, hay “đỗ
- trượt” nhằm xác nhận kết quả theo một thang điểm để xếp hạng hay tuyển chọn.Trong suốt lịch sử phát triển của giáo dục Việt Nam trong đó có giáo dục
ĐH, chuyên nghiệp và dạy nghề, người thầy giáo luôn được xem là “kỹ sưtâm hồn”, có vai trò quyết định trong việc nâng cao không ngừng chất lượngcủa GD&ĐT Việc đánh giá hoạt động của người GV được tiến hành trongsuốt giai đoạn lịch sử đó cũng đã góp phần đào tạo một đội ngũ đông đảo cácgiáo sư, tiến sĩ, các nhà khoa học giáo dục tài năng đang âm thầm làm côngviệc trồng người với mục tiêu cung cấp nguồn nhân lực cho cuộc đấu tranhgiành độc lập dân tộc và sự nghiệp CNH, HĐH đất nước ngày nay
Trang 30Trong giáo dục Việt Nam nói chung và giáo dục ĐH nói riêng, hoạt độngcủa GV trong nhà trường cũng thường được đánh giá thể hiện qua các đợt sơ kếthọc kỳ, tổng kết năm học và để đánh dấu những mốc đó các nhà quản lí dùngcác danh hiệu như “Lao động tiên tiến” “Chiến sĩ thi đua các cấp”, “GV giỏi”v.v với các tiêu chí định tính hoặc định lượng tuỳ theo mỗi giai đoạn Tuynhiên các kiểu đánh giá này cũng chỉ mang tính “tổng kết” và đôi khi cũng để lạinhững dấu ấn tiêu cực như sự không hài lòng về tính khách quan của sự đánhgiá, sự thờ ơ với các danh hiệu thi đua khen thưởng v.v Một thực trạng thườngthấy là các nhà quản lí giáo dục trong đó có giáo dục ĐH, và kể cả các GV mặc
dù hiểu rõ tầm quan trọng của công tác đánh giá, nhưng thường không coi trọngđầu tư đúng mức cho công tác này Những chỉ tiêu thi đua, tiêu chí bình xét cácdanh hiệu, chỉ tiêu cho mỗi danh hiệu thường mang tính chủ quan, thiếu độ tincậy khoa học nên hạn chế nhiều tới hiệu quả của việc đánh giá
Hiện nay, việc đánh giá GV ở các trường ĐH chưa xây dựng được bộtiêu chí và quy trình đánh giá một cách khoa học, nên việc đánh giá chưa baohàm được đầy đủ các nhiệm vụ của người GV hoặc là có đánh giá các nhiệm
vụ trên nhưng không đầy đủ và mang tính khoa học Ví dụ có những trườngtrong việc đánh giá phân loại bình xét thi đua đã dựa vào các yếu tố: giảngdạy, có NCKH, có tham gia các hoạt động đoàn thể và có ý kiến nhất trí củatập thể là có thể được công nhận là “Chiến sĩ thi đua” hay “GV giỏi” Còn yếu
tố nội dung, kỹ năng giảng dạy, khả năng cập nhật kiến thức như thế nào, SVtiếp thu kiến thức đến đâu, kiểm tra đánh giá như thế nào và chất lượngNCKH đến đâu thì còn chưa được định lượng và đánh giá một cách đầy đủ,khoa học đối với từng loại GV Đặc biệt, là việc chưa thu thập và xử lí thôngtin về người GV thông qua SV một cách chính thống, vì không ai có thểchứng kiến toàn bộ quá trình giảng dạy của người thầy đầy đủ như SV Kếtquả việc đánh giá chỉ mang hình thức, chưa thuyết phục và chưa động viênđược các nhân tố tích cực đóng góp xây dựng nhà trường
Trang 31Tổng kết quá trình đánh giá cán bộ thời gian qua cho thấy, việc đánh giácán bộ còn chung chung, mang tính hình thức, thiếu tính thực tế Mặc dù Nhànước và các trường ĐH đã có quy định, quy chế về đánh giá cán bộ (ví dụ nhưphiếu đánh giá công chức, đánh giá GV, ) nhưng đến nay quá trình thực hiệnvẫn diễn ra chậm chạp và hình thức Phải chăng các quy định đó thiếu tính thực
tế hay chúng ta chưa nhận thức đúng, đủ và xác định được tầm quan trọng củađánh giá trong quản lí cán bộ Phải chăng, do ảnh hưởng của nền văn hoáphương Đông nên cán bộ còn e ngại, dè dặt và cả nể khi thực hiện đánh giá?.Tuy nhiên, trong các trường ĐH của Việt Nam một số cơ sở, thậm chímột số cá nhân GV đã bắt đầu sử dụng đánh giá như một phương tiện để họchỏi, để tiến bộ Các phương thức tiến hành đánh giá khuyến khích SV thôngbáo cho GV những gì họ học được, những khó khăn họ phải trải qua trongsuốt quá trình học, và điều đó giúp GV liên hệ tốt hơn việc dạy với việc học
Đó chính là những dấu hiệu đáng mừng chứng tỏ rằng các GV đang sử dụngviệc đánh giá công việc của họ cho sự tiến bộ của chính bản thân họ
Hoạt động của GV trong trường ĐH cũng như bất kỳ một công việcchuyên môn nào khác, chịu áp lực của hai loại lợi ích: lợi ích cá nhân và lợiích của tập thể GV ĐH là những người có trình độ chuyên môn nghiệp vụcao, được xã hội, nhà trường, SV tôn vinh và kính trọng, đồng thời tạo mọiđiều kiện để họ học tập, tu dưỡng và thăng tiến trong sự nghiệp của mình.Mặt khác, xã hội, nhà trường, SV cũng đòi hỏi GV có tinh thần trách nhiệmcao, toàn tâm toàn ý với công việc của họ Chính vì vậy việc đánh giá GVcũng phải nhằm ủng hộ, thúc đẩy cho sự phát triển của cá nhân họ, đồng thờicũng phải giúp cho sự tiến bộ của nhà trường
Việc đánh giá GV có tầm quan trọng đặc biệt với nền giáo dục nước nhàtrong giai đoạn hiện nay, do vậy trong việc đổi mới giáo dục ĐH hiện nay nóvẫn là vấn đề cần được đổi mới để có thể góp phần vào việc nâng cao chấtlượng của đội ngũ GV và thông qua đó nâng cao chất lượng của GD&ĐT
Trang 32Do vậy, việc đánh giá GV hiện nay cần phải tuân thủ một số nguyên tắclà: góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ, là định hướng và làm động lực chođội ngũ GV tự giác hoàn thiện mình theo chuẩn; phát huy vai trò chủ động, tíchcực của GV để họ tự giác tham gia vào quy trình đánh giá và tự đánh giá đồngthời việc đánh giá phải thiết thực, phù hợp với điều kiện thực tế, các yếu tố vănhoá xã hội của nhà trường Việt Nam và từng bước tiếp cận với trình độ quốc tế.
Ở nước ta, đánh giá cán bộ là việc được Đảng và Nhà nước quantâm đặc biệt Công tác đánh giá cán bộ trong thời gian qua đã có nhiều tiến bộquan trọng Đánh giá đã dựa trên tiêu chuẩn cán bộ trong thời kỳ CNH, HĐH đấtnước mà Nghị quyết Hội nghị lần thứ III Ban chấp hành trung ương Đảng (khoáVIII) Tuy nhiên, việc đánh giá cán bộ của chúng ta hiện nay còn nhiều bất cập.Một trong những khuyết điểm của công tác cán bộ được Đảng ta nhận định là:
“Việc đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ nhiều khi còn chủ quan, chưa thật công tâm, chưa hợp lí, thiếu dân chủ và dân chủ hình thức.”[12,tr.26] Do đó cần rút
ra một trong những bài học kinh nghiệm là: “Có quan điểm và phương pháp đánh giá, sử dụng cán bộ một cách khách quan, khoa học, công tâm” [12, tr.28].
Với những khuyết điểm và bài học nêu trên, Đảng ta đã ban hành Quy chế đánhgiá cán bộ, đây là cơ sở cho việc đánh giá cho toàn thể đội ngũ cán bộ, côngchức nói chung trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận, Đoàn thể chính trị
xã hội; đơn vị sự nghiệp; doanh nghiệp Nhà nước
Việc đánh giá viên chức hàng năm được Nhà nước quy định tại Nghịđịnh 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ Theo đó, mục đích đánhgiá viên chức để làm rõ năng lực, trình độ, kết quả công tác, phẩm chất, đạo đức
là căn cứ để bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, đề bạt, đào tạo, bồi dưỡng và thực hiệnchính sách đối với viên chức Khi đánh giá viên chức phải căn cứ vào nhiệm vụđược phân công, kết quả hoàn thành nhiệm vụ và phẩm chất đạo đức của viênchức Nghị định còn quy định, đánh giá viên chức được tổ chức hàng năm vàthực hiện vào cuối năm hoặc cuối kỳ công tác theo các trình tự như sau: viên
Trang 33chức tự nhận xét công tác; tập thể nơi viên chức làm việc tham gia góp ý và ghiphiếu phân loại; người đứng đầu đơn vị sử dụng trực tiếp đánh giá viên chức vàtham khảo ý kiến góp ý và phân loại của tập thể để tổng hợp và xếp loại viênchức; thông báo ý kiến đánh giá đến từng viên chức
Quy chế đánh giá công chức hàng năm ban hành theo QĐ số:11/1998/TCCP-CCVC ngày 05/12/1998 của Bộ Trưởng - Trưởng ban Tổchức-Cán bộ Chính phủ [5] cũng đã quy định rõ đối tượng, nội dung, quytrình đánh giá, tổ chức thực hiện và kèm theo là những biểu mẫu đánh giá.Tuy nhiên, đây là quy trình đánh giá chung cho tất cả các đối tượng thuộcphạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh cán bộ, công chức, nếu đưa vào đánh giáđội ngũ viên chức là GV thì có nhiều bất cập
Thực hiện quy định về việc đánh giá viên chức theo quy định của Nhànước, ngành GD&ĐT trong đó có các trường ĐH đã tiến hành đánh giá GVhàng năm kết hợp với việc công nhận các danh hiệu thi đua và khen thưởng.Đánh giá thi đua, khen thưởng hàng năm chủ yếu được các trường thực hiệntheo trình tự các bước sau:
- Mỗi cá nhân viết Bản tổng kết công tác trong năm học
- Đơn vị (Khoa, Phòng, Tổ trực thuộc Trường, Ban, Văn phòng, Trung tâm)
tổ chức góp ý kiến cho Bản tổng kết công tác năm học của từng cá nhân Bìnhxét đề nghị công nhận danh hiệu "Lao động tiên tiến" Tự đánh giá và đề nghịdanh hiệu thi đua, và hình thức khen thưởng
- Bình bầu cá nhân xuất sắc của đơn vị, xét đề nghị tặng danh hiệu CSTĐ cấp
cơ sở, CSTĐ cấp Bộ cho cá nhân Đề nghị tặng Giấy khen, Bằng khen, Huânchương cho cá nhân
- Những cá nhân được đề nghị tặng danh hiệu CSTĐ cấp cơ sở làm Bản khaithành tích cá nhân
- Cá nhân được đề nghị công nhận danh hiệu CSTĐ cấp Bộ, làm Bản khaithành tích
Trang 34- Những cá nhân được đề nghị tặng Bằng khen của Bộ, của Thành phố, làmBản khai thành tích
- Hội đồng TĐ-KT cấp Trường và tương đương căn cứ vào Danh sách đề nghị
và Bản khai thành tích của các đơn vị, cá nhân, đối chiếu thành tích (cần kiểmtra các minh chứng) của cá nhân, tập thể đã đạt được với tiêu chuẩn các danhhiệu thi đua, tiêu chuẩn khen các cấp, để công nhận hoặc đề nghị lên Hộiđồng TĐ-KT cấp ĐHĐN xét công nhận danh hiệu thi đua, khen thưởng hoặc
đề nghị xét khen thưởng cấp cao Danh sách đề nghị
- Hội đồng TĐ-KT ĐHĐN căn cứ vào chỉ tiêu phân bổ số lượng Bằng khen của
Bộ và của UBND Thành phố để xét chọn đề nghị khen cho các tập thể, cá nhân
- Căn cứ vào hồ sơ của các tập thể và cá nhân được đề nghị khen cao, Hội đồngTĐ-KT ĐHĐN lựa chọn tối đa 14 tập thể và cá nhân có thành tích cao hơn(nhưng phải đủ tiêu chuẩn) để đề nghị Chúnh phủ và Nhà nước khen thưởng.Những cá nhân và tập thể được đề nghị khen cao làm hồ sơ khen thưởng [8]Các trường ĐH ngoài công lập đã tiến hành đánh giá GV theo kiểu giámsát của cán bộ đào tạo hoặc thanh tra về thời gian lên lớp, tiến độ thực hiệnchương trình Đồng thời sau mỗi môn học SV nhận được phiếu hỏi về việcgiảng dạy của SV (nhận xét của SV đối với GV) Kết quả sẽ được xử lí nhưsau: nếu GV mắc phải một số lỗi nhẹ thì tiếp tục được mời giảng dạy ở cáckhoá tiếp theo, còn nếu bị đa số SV phản đối thì GV sẽ không được tiếp tụcmời hoặc ký hợp đồng tiếp tục
Tóm lược chung về thực trạng đánh giá GV hiện nay là: đa số ngườiđược tham gia phỏng vấn đều cho biết rằng đã không có một công tác đánhgiá giảng dạy nào Một số ít đề cập đến việc đánh giá công tác giảng dạy qua
ba hình thức:
a Tự đánh giá
Một số GV vào cuối khoá học, dựa trên các kết quả đạt được đối chiếu vớimục đích đã đề ra của môn học và thực hiện những điều chỉnh cần thiết để cải tiến(như tìm trên Internet một vài bài tập mẫu tốt và đưa ra những thay đổi phù hợp)
Trang 35b Đánh giá của đồng nghiệp
Tại một số trường ĐH, việc đánh giá của đồng nghiệp được thực hiện bởimột hội đồng các GV có kinh nghiệm Các thành viên của hội đồng này dự giờcác lớp học do những GV trẻ đảm nhiệm Dựa trên các quan sát, hội đồng đưa ranhững khuyến nghị cho các GV trẻ nhăm giúp họ nâng cao chất lượng giảng dạy.Hội đồng này thiên về tư vấn hơn là để đánh giá Một số trường ĐH có các thanhtra chuyên kiểm tra thực trạng học tập và giảng dạy như giờ giấc, sĩ số Mộtphương thức đánh giá chủ yếu được sử dụng tại nhiều trường là tự đánh giá dựatrên các nhận xét cuả đồng nghiệp Quá trình này bao gồm các bước: đầu tiên, tất
cả các GV điền vào một mẫu tự đánh giá và sau đó gửi lên khoa; tiếp theo, GVđọc bản tự đánh giá trong cuộc họp và những người tham dự sẽ đóng góp ý kiến
về bản tự đánh giá đó; và cuối cùng, sẽ tiến hành bỏ phiếu cho các cá nhân được
đề cử cho các danh hiệu thi đua như: Lao động tiên tiến, Chiến sĩ thi đua cấp Bộhay cấp trường và khen thưởng giấy khen, bằng khen các cấp với tỷ lệ 25%
1.2.7.2.Đánh giá GV theo quan điểm chuẩn hóa
Theo định nghĩa trong từ điển Bách khoa thư giáo dục quốc tế, chuẩn (Standard) là mức độ ưu việt cần phải có để đạt được những mục đích đặc biệt; là cái để đo xem điều gì là phù hợp; là trình độ thực hiện mong muốn trên thực tế hoặc mang tính xã hội [9]
- Theo Từ điển tiếng Việt, chuẩn được hiểu theo 3 ý sau:
+ Là cái được chọn làm mốc để rọi vào, để đối chiếu mà làm cho đúng; + Là vật chọn làm mẫu đơn vị đo lường;
+ Là cái được xem là đúng với qui định, với thói quen xã hội
- Theo Oxford American Dictionary, Standard có nghĩa là chuẩn, tiêuchuẩn dùng để đo, trắc nghiệm đồ vật, xác định chất lượng cộng việc, xác địnhchuẩn ngôn ngữ (nghe, nói, đọc, viết), mức độ thành thạo trong chuyên môn Theo phân tích nêu trên, có thể nói rằng, chuẩn trong giáo dục là các tiêuchuẩn chất lượng trong hoạt động giáo dục được con người xây dựng và được
Trang 36dùng làm công cụ để thực hiện quá trình quản lý giáo dục theo định hướngquản lý chất lượng thay vì chế độ quản lý hành chính chỉ huy Các chuẩnđược biểu hiện bằng các tiêu chí và chỉ số đo Chuẩn trong giáo dục bao gồmcác loại hình:
- Phân theo lĩnh vực quản lý:
+ Chuẩn nhân lực giáo dục: GV, CBQL
+ Chuẩn các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục: Cơ sở vật chấttrường học, mạng lưới thông tin giáo dục, đầu tư tài chính cho giáo dục, nộidung chương trình và sách cho giáo dục, chuẩn dùng đánh giá và kiểm địnhchất lượng giáo dục
- Phân theo lĩnh vực cấp bậc học: Chuẩn cho giáo dục mầm non; chuẩncho giáo dục tiểu học; chuẩn cho giáo dục phổ thông, chuẩn cho giáo dục đạihọc, chuẩn cho giáo dục chuyên nghiệp
- Chuẩn cho người học: Đó là kết quả cần đạt được của người học trongcác môn học, chương trình học, khoá học
Giáo dục là lĩnh vực có liên quan nhiều đến tư duy con người, vấn đềchuẩn trong giáo dục hiện nay vẫn chủ yếu mang yếu tố số lượng kiến thức vàdựa vào các kỳ thi để xác định Về mặt cá nhân, nếu thời gian học nhiều hơn,qua nhiều cấp học hơn với nhiều môn học và vượt qua nhiều kỳ thi hơn thì cóbằng cấp cao hơn, đồng nghĩa với chất lượng giáo dục cao hơn Tuy nhiên,điều này chỉ có ý nghĩa trong hệ thống giáo dục khép kín Trong quá trình hộinhập, nếu mở rộng sự so sánh với các hệ thống giáo dục khác thì vấn đề đượcđặt ra hoàn toàn khác: người học học được kiến thức lý thuyết và kỹ năngthực hành gì trong thời gian đó, làm được gì sau khi tốt nghiệp? Khi đó, vấn
đề so sánh các chuẩn chất lượng giữa các hệ thống giáo dục, giá trị của họcvấn được đặt ra một cách khách quan và nghiêm túc
Chuẩn đánh giá là mắt xích quan trọng trong công tác đánh giá GV Từ quátrình thông thường của đánh giá GV có thể thấy tiêu chuẩn đánh giá đặt ra khoa
Trang 37học, khách quan và tin cậy, thì kết quả đánh giá sẽ có độ tin cậy và mang lại hiệuquả cao, ngược lại thì không có tác dụng Cơ sở sâu sắc nhất quyết định tiêuchuẩn đánh giá là nhu cầu và lợi ích của chủ thể với tính quy luật và tính hiệnthực của khách thể làm căn cứ, tiếp đến cần xem xét đến nhu cầu của chủ thể.Nhưng mọi tiêu chuẩn đánh giá cuối cùng đều kinh qua sự kiểm nghiệm củathực tiễn chủ thể và phát triển khách quan
Muốn lập ra chuẩn đánh giá tốt, trước tiên cần phải biết yếu tố của chuẩnđánh giá Tiếp đến, cần tìm chuẩn căn cứ lập ra tiêu chuẩn đánh giá Có căn cứkhoa học mới có thể định ra tiêu chuẩn đánh giá khoa học, khách quan và hiệuquả Tiêu chuẩn đánh giá là quy định đối ứng với đối tượng đánh giá Cụm từtiêu chuẩn được giải thích là: “Điều kiện được quy định là mẫu mực để đánh giá
và phân loại” [10, tr.721]“Điều quy định làm căn cứ để đánh giá” [13, tr.956],
“chuẩn mực nguyên tắc đánh giá sự vật” [3, (1)tr.103]
Chúng ta đã biết hàm nghĩa của “đánh giá” là phán đoán độ cao thấp củagiá trị sự vật Như vậy giải thích trực giác “chuẩn đánh giá” chính là quy tắcchuẩn mực đánh giá giá trị cao thấp của sự vật” gồm 2 nội dung thước đo từnhững phương diện nào để đánh giá giá trị sự vật Hàm nghĩa của “đánh giá” làkinh qua bình phán hoặc xem xét để quyết định Căn cứ vào thước đo đánh giátiến hành phán đoán đối với sự vật Như vậy, giải thích trực giác của “chuẩnđánh giá” là “thước đo cụ thể tiến hành phán đoán đối với sự vật”
Ở các quốc gia phát triển, nhiều lĩnh vực sản xuất dịch vụ của nền kinh tếhoạt động vận hành nghiêm ngặt thống nhất trên toàn lãnh thổ theo những hệthống tiêu chuẩn quản lí chất lượng do pháp luật quy định Thay vì tuân thủ theonhững hệ thống tiêu chuẩn quốc gia cứng nhắc như các lĩnh vực khác, các nộidung chương trình giáo dục phổ thông được xác định theo hệ thống khung pháp
lí mở: sách giáo khoa thường xuyên được chỉnh lí (theo định kỳ 3-5 năm) nhằmđảm bảo tính kinh điển vừa bổ sung tính cập nhật, sách giáo khoa được biênsoạn theo theo các tiêu chí khác nhau (thống nhất toàn quốc, thống nhất toàn
Trang 38vùng, lãnh thổ, địa phương [7] Các nội dung (kiến thức) chương trình sáchgiáo khoa phổ thông trong hệ thống sách giáo khoa được biên soạn theo khungpháp lí mở (theo nguyên tắc, tiêu chí cơ động) như trên gọi là chuẩn hoá giáodục Cũng như trong các lĩnh vực khác, trong nền giáo dục của bất kỳ quốc gianào trên thế giới đều có quá trình chuẩn hoá: Xây dựng tiêu chuẩn cho một sốlĩnh vực hẹp, với hiệu lực pháp lí hạn chế - không bắt buộc trong toàn lãnh thổ.
Ví dụ: Các trường ĐH xây dựng cho mình chuẩn đánh giá GV căn cứ vào nhữngquy định chung của Nhà nước, thực tiễn nhà trường và mục tiêu mà nhà trườngđang hướng tới
Chuẩn hoá là những quá trình làm cho các sự vật, đối tượng thuộc phạm trùnhất định (kinh doanh, dịch vụ, sản xuất, giáo dục, y tế, thể thao ) đáp ứng đượccác chuẩn đã ban hành trong phạm vi áp dụng và hiệu lực của các chuẩn đó.Chuẩn hoá có chức năng cơ bản là định hướng hoạt động quản lí và việc thựchiện các chức năng nhiệm vụ, các biện pháp quản lí khác nhau trên nhữngnguyên tắc nhất quán; quy cách hoá các sản phẩm, quá trình thực hiện tạo ra sảnphẩm (nguồn lực, công nghệ, phương tiện ), làm cho chúng có tính chuẩn mựcthống nhất, tức là đưa những sự vật này vào trật tự nhất định; chuẩn hoá còn cóchức năng khuyến khích phát triển, tạo môi trường chính thức ngày càng thíchhợp hơn cho phát triển, đồng thời ngày càng hạn chế những nhân tố tự phát, phichính thức trong phát triển hoặc những nhân tố gây cản trở cho sự phát triển Chuẩn hoá trong giáo dục là những quá trinh cần thiết làm cho sự vật,đối tượng trong lĩnh vực giáo dục đáp ứng được các chuẩn đã ban hành và ápdụng chính thức cho giáo dục để tạo thuận lợi hơn cho tiến bộ và phát triểngiáo dục Chuẩn hoá trong giáo dục cũng có những chức năng cơ bản là địnhhướng quản lí giáo dục, quy cách hóa các sản phẩm, nguồn lực, phương tiện,hoạt động giáo dục, tạo môi trường chính thức cho sự phát triển giáo dục
Trang 39Hình 1.3: Quy trình xây dựng chuẩn hoá nhiệm vụ giảng viên
Quá trình của mỗi chu kỳ chuẩn hoá trong giáo dục bao gồm: 1/ Pháttriển chuẩn (xây dựng + điều chỉnh chuẩn); 2/ Áp dụng chuẩn ( ban hành +thực hiện chuẩn trong thực tế); 3/ Quản lí chuẩn hoá ( giám sát, đánh giá việc
áp dụng chuẩn + đánh giá hiệu lực của chuẩn để phát triển chuẩn cho chu kỳchuẩn hoá tiếp theo) Các bước của chu kỳ chuẩn hoá nhiệm vụ GV được thểhiện ở hình 1.3 [9]
Quy trình chung của việc phát triển chuẩn hoá nhiệm vụ GV cần phải qua 7bước Điều kiện bắt đầu làm chuẩn là phải có sự nhất trí của đội ngũ GV Trongquá trình xây dựng chuẩn GV không có sự bất đồng ý kiến có tính đối kháng và
Phân tích dữ liệu khoa học (lí luận + thực tiễn)
Nh ng nguyên t c đ nh h ững nguyên tắc định hướng ắc định hướng ịnh hướng ướng ng
- Lựa chọn ưu tiên
- Xây dựng và thiết kế các chuẩn
- Thử, thí điểm và điều chỉnh chuẩn
Văn bản chuẩn GV (dự thảo)
Quản lí chuẩn hoá
- Thực hiện chuẩn (các hướng dẫn)
Trang 40công việc phải được xem xét kỹ lưỡng, có ý kiến góp ý, bình luận đầy đủ từ phía
GV nhất là GV có chuyên môn cao
Bước 1- Chỉ ra nhu cầu bức thiết phải xây dựng chuẩn
Xuất phát từ yêu cầu, đòi hỏi của sự phát triển giáo dục ĐH trong giai đoạnmới, đáp ứng yêu cầu xây dựng uy tín, thương hiệu của ĐH, các trường ĐH cầnphải xây dựng chuẩn mới cho mình Bước này bao gồm những nghiên cứu dựavào dữ liệu khoa học để xác định liệu chuẩn đề nghị có tạo điều kiện thuận lợicho việc nâng cao chất lượng giảng dạy và NCKH để đáp ứng nhu cầu của kinh
tế - xã hội hay không, căn cứ khoa học và nguồn lực cần thiết để tạo ra và ápdụng chuẩn này hay không
Bước 2- Lập kế hoạch tập thể xây dựng chuẩn
Bước này bao gồm công việc rà soát, kiểm tra cụ thể những cơ sở của nhucầu có liên quan và những ưu tiên khác nhau của những người tham gia và sau
đó là nghị quyết để ghi vào chương trình làm việc
Bước 3- Xây dựng văn bản chuẩn dự thảo
Hội đồng chuẩn hoá GV được thành lập gồm những thành phần có liênquan gồm các nhà khoa học, các nhà quản lí, những người tác nghiệp (chuyênviên) Hội đồng này có trách nhiệm dự thảo văn bản chuẩn
Bước 4- Lấy ý kiến nội bộ những thành phần tham gia
Tất cả các thành phần tham gia phải đồng ý với dự thảo, dưới những hìnhthức bảo đảm tính khoa học, hợp pháp và công khai
Bước 5- Xác định giá trị của dự thảo chuẩn
Trước khi được phê duyệt, chuẩn cần được được điều tra khảo sát ở đội ngũ
GV, để đảm bảo chắc chắn có sự tư vấn rộng rãi ở mức độ thích hợp đại diệncho các đối tượng
Bước 6- Phê chuẩn văn bản
Văn bản của chuẩn hoá chức năng nhiệm vụ của GV sau khi đã hoàn thiệnđược lãnh đạo của trường ĐH phê chuẩn và được công bố rộng rãi