1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy và học môn tiếng anh tại trường cao đẳng kinh tế - kỹ thuật thương mại

118 749 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự hội nhập quốc tế đang là xu thế của thời đại và trong bối cảnh đổi mới, mở cửa hướng ra thế giới, làm bạn với các nước trên thế giới, chúng ta đã nhận thấy những bất cập trong chương trình giảng dạy tiếng Anh trước đòi hỏi của sự phát triển kinh tế và trước nhu cầu mở rộng giao lưu vượt ra khỏi phạm vi quốc gia của đông đảo nhân dân. Để hòa nhập vào sự phát triển chung của xã hội, tìm cho mình một chỗ đứng thực sự trong thế giới đang ngày càng toàn cầu hóa một cách mạnh mẽ, chúng ta không thể không xem xét một cách nghiêm túc thực trạng chương trình dạy ngoại ngữ, cụ thể là chương trình dạy tiếng Anh trong hệ thống giáo dục quốc dân trong những năm qua để đưa ra những phương án khả thi đáp ứng được những yêu cầu của đất nước.Trong xu thế hội nhập quốc tế, tiếng Anh trở thành một phương tiện vô cùng quan trọng mà chúng ta không thể không biết. Nhưng chúng ta đã đáp ứng đòi hỏi đó như thế nào và cách nào khiến tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai đối với sinh viên khi ra trường? Theo dự báo của các nhà phân tích, vào cuối thập kỷ này, 1/3 dân số thế giới sẽ tham gia vào việc học tiếng Anh. Nhu cầu học tiếng Anh mang tính khu vực và toàn cầu này cho thấy nhu cầu giao tiếp bằng tiếng Anh ngày càng tăng đối với việc phát triển kinh tế và xã hội ở tầm cỡ quốc gia cũng như đối với mỗi cá nhân trong xã hội. Muốn nâng cao chất lượng đào tạo cần phải tác động đến các yếu tố của quá trình dạy - học, bên cạnh hai yếu tố mục đích và nội dung, “phương pháp dạy học là một thành tố hết sức quan trọng của quá trình dạy học’’. Qúa trình dạy - học sẽ không thể đạt hiệu quả như mong muốn nếu nội dung và mục đích của nó không gắn kết với PPD-H phù hợp, vì thế quản lý quá trình HĐD-H nhằm nâng cao chất lượng đào tạo là một vấn đề thời sự được nhiều nhà khoa học, nhà QLGD, Đảng và nhà nước quan tâm và là đòi hỏi cấp thiết hiện nay. Trong những năm gần đây, xu thế xã hội phát triển mạnh mẽ về nhiều mặt đã đặt nhiệm vụ của GD nói chung và GDĐH-CĐ nói riêng trước đòi hỏi mới. Đó là, giáo dục phải đào tạo nên nguồn nhân lực có đầy đủ các phẩm chất, năng lực, chủ động, sáng tạo và linh hoạt để có thể thích nghi cao với thị trường lao động trong thời hội nhập, tính cấp bách không chỉ toàn ngành GD& ĐT quan tâm mà còn được thể hiện trong đường lối lãnh đạo công tác GD& ĐT của Đảng và pháp luật của nhà nước. Ví dụ: Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, Luật giáo dục (2005). Tại đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX Đảng ta đã xác định trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 là: “Đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất văn hóa tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa” “phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng trong thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”. Hoàn thành trách nhiệm đó là nhiệm vụ của tất cả các môn học và các hoạt động trong nhà trường nói chung và môn ngoại ngữ nói riêng. Kinh nghiệm của các nước phát triển và các nước trong khu vực châu Á- Thái Bình dương đã chỉ rõ, trong những điều kiện cần thiết để hội nhập và phát triển thì ngoại ngữ là điều kiện tiên quyết, là một công cụ, phương tiện đắc lực và hữu hiệu trong tiến trình hội và phát triển trong thời đại ngày nay. Trong báo cáo của Chính phủ về tình hình giáo dục của nước ta đã nêu một cách khái quát các nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp nhằm phát triển giáo dục đúng cách và mạnh mẽ hơn trong thời gian tới. Đặc biệt là trong tình hình chính phủ Việt Nam đang muốn nâng cao trình độ tiếng Anh của người Việt để đến năm 2020 thì tiếng Anh trở thành một thế mạnh của nước ta, như mục tiêu của đề án được nêu dưới đây: Đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình độ đào tạo, nhằm đến năm 2015 đạt được một bước tiến rõ rệt về trình độ, năng lực sử dụng ngoại ngữ của nguồn nhân lực, nhất là đối với một số lĩnh vực ưu tiên; đến năm 2020 đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng và đại học có đủ năng lực ngoại ngữ sử dụng độc lập, tự tin trong giao tiếp, học tập, làm việc trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hoá; biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trường Cao đẳng Kinh tế- Kỹ thuật Thương mại là một trong những trường hàng đầu của Bộ Thương mại trước đây nay là Bộ Công Thương. Trường đã có 50 năm xây dựng và trưởng thành đã từng đào tạo hàng chục ngàn cán bộ nhân viên cho ngành, lại có kinh nghiệm 12 năm đào tạo cao đẳng, định hướng phát triển lên Đại học sau năm 2010, sứ mạng của trường đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Sứ mạng của Trường Cao đẳng Kinh tế-Kỹ thuật Thương mại không chỉ là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao mà còn nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và tham gia hợp tác quốc tế, nhằm đáp ứng yêu cầu của ngành, của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Với bối cảnh như vậy thì yêu cầu đặt ra cho nhà trường là làm thế nào để nâng cao chất lượng đào tạo tiếng Anh, giúp học sinh- sinh viên có đựoc vốn tiếng Anh tốt để phục vụ cho công việc sau này. Để đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho ngành Công thương, nhà trường phải đổi mới hoàn thiện ở rất nhiều lĩnh vực, một trong lĩnh vực đó là chương trình đào tạo môn tiếng Anh cho các bậc học nhằm nâng cao chất lượng dạy- học tiếng Anh tại trường. Đã có nhiều cuộc hội thảo, nhiều nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục và giảng viên luận bàn về biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy và học môn tiếng Anh. Một số luận văn mà tôi tham khảo đã đề cập đến khía cạnh này như: biện pháp quản lý chương trình đào tạo hệ Cao đẳng tại trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội (Lê Quốc Thành); Biện pháp quản lý chương trình đào tạo ở trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội (Lê thị Phương Thoa)...Cho đến nay, chưa có một luận văn nào nghiên cứu về biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy và học môn tiếng Anh tại trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Thương mại. Là một giảng viên của trường, bản thân tôi thấy hứng thú, quan tâm tới việc quản lý hoạt động dạy- học môn tiếng Anh, đặc biệt là chương trình đào tạo Anh Thương Mại, vì đây là chương hoàn toàn mới. Do đó tôi chọn để tài nghiên cứu: “Biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy và học môn tiếng anh tại trường cao đẳng kinh tế - kỹ thuật thương mại”

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự hội nhập quốc tế đang là xu thế củathời đại và trong bối cảnh đổi mới, mở cửa hướng ra thế giới, làm bạn với cácnước trên thế giới, chúng ta đã nhận thấy những bất cập trong chương trìnhgiảng dạy tiếng Anh trước đòi hỏi của sự phát triển kinh tế và trước nhu cầumở rộng giao lưu vượt ra khỏi phạm vi quốc gia của đông đảo nhân dân Để hòa nhập vào sự phát triển chung của xã hội, tìm cho mình một chỗđứng thực sự trong thế giới đang ngày càng toàn cầu hóa một cách mạnh mẽ,chúng ta không thể không xem xét một cách nghiêm túc thực trạng chươngtrình dạy ngoại ngữ, cụ thể là chương trình dạy tiếng Anh trong hệ thống giáodục quốc dân trong những năm qua để đưa ra những phương án khả thi đápứng được những yêu cầu của đất nước.Trong xu thế hội nhập quốc tế, tiếngAnh trở thành một phương tiện vô cùng quan trọng mà chúng ta không thểkhông biết Nhưng chúng ta đã đáp ứng đòi hỏi đó như thế nào và cách nàokhiến tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai đối với sinh viên khi ra trường?Theo dự báo của các nhà phân tích, vào cuối thập kỷ này, 1/3 dân số thếgiới sẽ tham gia vào việc học tiếng Anh Nhu cầu học tiếng Anh mang tínhkhu vực và toàn cầu này cho thấy nhu cầu giao tiếp bằng tiếng Anh ngày càngtăng đối với việc phát triển kinh tế và xã hội ở tầm cỡ quốc gia cũng như đốivới mỗi cá nhân trong xã hội

Muốn nâng cao chất lượng đào tạo cần phải tác động đến các yếu tố củaquá trình dạy - học, bên cạnh hai yếu tố mục đích và nội dung, “phương phápdạy học là một thành tố hết sức quan trọng của quá trình dạy học’’ Qúa trìnhdạy - học sẽ không thể đạt hiệu quả như mong muốn nếu nội dung và mụcđích của nó không gắn kết với PPD-H phù hợp, vì thế quản lý quá trình HĐD-

H nhằm nâng cao chất lượng đào tạo là một vấn đề thời sự được nhiều nhà

Trang 2

nay Trong những năm gần đây, xu thế xã hội phát triển mạnh mẽ về nhiềumặt đã đặt nhiệm vụ của GD nói chung và GDĐH-CĐ nói riêng trước đòi hỏimới Đó là, giáo dục phải đào tạo nên nguồn nhân lực có đầy đủ các phẩmchất, năng lực, chủ động, sáng tạo và linh hoạt để có thể thích nghi cao với thịtrường lao động trong thời hội nhập, tính cấp bách không chỉ toàn ngànhGD& ĐT quan tâm mà còn được thể hiện trong đường lối lãnh đạo công tácGD& ĐT của Đảng và pháp luật của nhà nước Ví dụ: Chiến lược phát triểngiáo dục 2001-2010, Luật giáo dục (2005).

Tại đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX Đảng ta đã xác định trong chiếnlược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 là: “Đưa đất nước ta ra khỏi tìnhtrạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất văn hóa tinh thần củanhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nướccông nghiệp theo hướng hiện đại hóa” “phát triển giáo dục và đào tạo là mộttrong những động lực quan trọng trong thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản đểphát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”

Hoàn thành trách nhiệm đó là nhiệm vụ của tất cả các môn học và cáchoạt động trong nhà trường nói chung và môn ngoại ngữ nói riêng Kinhnghiệm của các nước phát triển và các nước trong khu vực châu Á- Thái Bìnhdương đã chỉ rõ, trong những điều kiện cần thiết để hội nhập và phát triển thìngoại ngữ là điều kiện tiên quyết, là một công cụ, phương tiện đắc lực và hữuhiệu trong tiến trình hội và phát triển trong thời đại ngày nay

Trong báo cáo của Chính phủ về tình hình giáo dục của nước ta đã nêumột cách khái quát các nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp nhằm phát triển giáodục đúng cách và mạnh mẽ hơn trong thời gian tới Đặc biệt là trong tình hìnhchính phủ Việt Nam đang muốn nâng cao trình độ tiếng Anh của người Việtđể đến năm 2020 thì tiếng Anh trở thành một thế mạnh của nước ta, như mụctiêu của đề án được nêu dưới đây:

Trang 3

Đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dụcquốc dân, triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ mới ở các cấp học,trình độ đào tạo, nhằm đến năm 2015 đạt được một bước tiến rõ rệt về trìnhđộ, năng lực sử dụng ngoại ngữ của nguồn nhân lực, nhất là đối với một sốlĩnh vực ưu tiên; đến năm 2020 đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp trungcấp, cao đẳng và đại học có đủ năng lực ngoại ngữ sử dụng độc lập, tự tintrong giao tiếp, học tập, làm việc trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đavăn hoá; biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam, phục vụsự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Trường Cao đẳng Kinh tế- Kỹ thuật Thương mại là một trong những trườnghàng đầu của Bộ Thương mại trước đây nay là Bộ Công Thương Trường đã có 50năm xây dựng và trưởng thành đã từng đào tạo hàng chục ngàn cán bộ nhân viêncho ngành, lại có kinh nghiệm 12 năm đào tạo cao đẳng, định hướng phát triển lênĐại học sau năm 2010, sứ mạng của trường đào tạo nguồn nhân lực chất lượngcao Sứ mạng của Trường Cao đẳng Kinh tế-Kỹ thuật Thương mại không chỉ làđào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao mà còn nghiên cứu khoa học, chuyển giaocông nghệ và tham gia hợp tác quốc tế, nhằm đáp ứng yêu cầu của ngành, của sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Với bối cảnh như vậy thì yêu cầuđặt ra cho nhà trường là làm thế nào để nâng cao chất lượng đào tạo tiếng Anh,giúp học sinh- sinh viên có đựoc vốn tiếng Anh tốt để phục vụ cho công việc saunày Để đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho ngành Công thương, nhàtrường phải đổi mới hoàn thiện ở rất nhiều lĩnh vực, một trong lĩnh vực đó làchương trình đào tạo môn tiếng Anh cho các bậc học nhằm nâng cao chất lượngdạy- học tiếng Anh tại trường

Đã có nhiều cuộc hội thảo, nhiều nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục vàgiảng viên luận bàn về biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạtđộng dạy và học môn tiếng Anh Một số luận văn mà tôi tham khảo đã đề cập

Trang 4

tại trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội (Lê Quốc Thành); Biện pháp quản lýchương trình đào tạo ở trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội(Lê thị Phương Thoa) Cho đến nay, chưa có một luận văn nào nghiên cứu vềbiện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy và học môn tiếngAnh tại trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Thương mại Là một giảng viêncủa trường, bản thân tôi thấy hứng thú, quan tâm tới việc quản lý hoạt động dạy-học môn tiếng Anh, đặc biệt là chương trình đào tạo Anh Thương Mại, vì đây là

chương hoàn toàn mới Do đó tôi chọn để tài nghiên cứu: “Biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy và học môn tiếng anh tại trường cao đẳng kinh tế - kỹ thuật thương mại”

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Tìm ra những biện pháp quản lý chương trình đào tạo môn tiếng Anhnhằm nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh tại trường Cao đẳng Kinh tế– Kỹ thuật Thương mại

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Nghiên cứu những cơ sở lý luận liên quan đến đề tài

3.2 Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động day- học môn tiếng Anh tại trường Cao đẳng Kinh tế- Kỹ thuật Thương mại.

3.3 Đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động dạy - học môn tiếng Anh nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tiếng Anh tại trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Thương mại

4 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình quản lý dạy học môn tuếng Anh tại trường Cao đẳng Kinh

tế-Kỹ thuật Thuơng mại

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Công tác quản lý hoạt động dạy - học tiếng anh tại trường Cao đẳng kinhtế- Kỹ thuật Thương mại góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tại trường

Trang 5

5 Giả thuyết khoa học

Nếu sử dụng những biện pháp quản lý khoa học đồng bộ chương trìnhđào tạo tại trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Thương Mại thì có thể nângcao hiệu quả của hoạt động day – học tiếng Anh tại trường Cao đẳng Kinh tế– Kỹ thuật Thương mại

6 Giới hạn nghiên cứu

Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu hoạt động day- học Tiếng Anh tại trườngCao đẳng Kinh tế- Kỹ thuật Thương mại và đề ra những biện pháp nhằmnâng cao hiệu quả của công tác này trong giai đoạn hiện nay

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu các chỉ thị, nghị quyết, các văn kiện của Đảng và Nhà nước, ngành giáo dục và đào tạo, tham khảo phân tích các tài liệu khoa học; sách ; báo có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra xã hội học

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý

- Phương pháp chuyên gia

- Phương pháp thống kê toán học

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu thamkhảo và phụ lục, luận văn được cấu trúc thành 3 chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của quản lý hoạt động dạy

và học môn tiếng Anh trong một cơ sở giáo dục

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy và học môn tiếng Anh tại

trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Thương mại

Chương 3: Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt

động dạy và học môn tiếng Anh tại trường Cao đẳng Kinh tế- kỹ thuật

Trang 6

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG

DẠY- HỌC MÔN TIẾNG ANH TRONG MỘT CƠ SỞ GIÁO DỤC

1.1 Quá trình dạy và học

1.1.1 Bản chất quá trình dạy và học

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về dạy và học Với quan niệm thôngthường dạy thế nào thì học thế ấy nên khái niệm dạy sẽ kéo theo khái niệmhọc

Có quan niệm cho rằng dạy học là một nghề trong xã hội hay dạy học làhoạt động của thầy giáo trên lớp Cũng có quan niệm cho rằng có việc họcmới cần đến việc dạy nên nhu cầu và cách học sẽ quyết định quá trình dạy.Các quan niệm này đều nói về vai trò của người giáo viên Các quan niệmnhư thế đều không đầy đủ Khái niệm dạy - học được tâm lý học sư phạm,giáo dục học đề cập đến đến như những khái niệm xuất phát của tâm lý học sưphạm và giáo dục của nhà trường Lịch sử văn hoá phương Đông thường coi

Khổng Tử là học giả đầu tiên của giáo dục Theo Nguyễn Văn Tiến: “Khổng

Tử là người đầu tiên đưa ra phương pháp giáo dục khoa học Cách dạy của ông là gợi mở để người học suy nghĩ, chứ không phải là giảng giải nhiều lời”

Có quan niệm cho rằng học là thu nhận kiến thức của nhân loại và mụcđích của việc học là để “khai trí tiến đức” như cố nhân đã dạy ( Nguyễn Ngọc

Quang- bài Bản chất quá trình dạy học - sách GD học đại học - Hà Nội 2000) Quan niệm học đó sẽ tương ứng với khái niệm “dạy là truyền thụ kiến thức mà nhân loại đã tích luỹ được” Ngoài ra còn rất nhiều các quan niệm khác về quá trình dạy và học Cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang đã viết “học

là quá trình tự giác, tích cực, tự lực, chiếm lĩnh khái niệm khoa học (nội dung học) dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên Trong quan niệm này chúng

ta thấy rõ học mà chỉ ghi chép những gì giáo viên nói thì không phải là học,

Trang 7

học phải tích cực, tự giác, tự lực nếu không thì quá trình học sẽ không có kếtquả Như vậy học là một hoạt động với đối tượng, trong đó học sinh là chủthể, khái niệm khoa học là đối tượng để chiếm lĩnh Theo cố giáo sư NguyễnNgọc Quang khi nói về bản chất của quá trình dạy học ta phải xác định đượcHọc là gì?, Dạy là gì? Và bản chất toàn vẹn của quá trình dạy- học.

1.1.1.1 Học là gì?

1) Học là quá trình hoạt động với đối tượng, trong đó học sinh là chủ

thể, khái niệm khoa học là đối tượng để chiếm lĩnh

Học là quá trình tự giác tích cực tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học, dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên.

2) Chiếm lĩnh khái niệm khoa học là mục đích của học Với ý này học

sinh phải nắm vững nghĩa, đào sâu ý hàm chứa trong khái niệm, nghĩa càng

sâu ý càng phong phú Chiếm lĩnh khái niệm còn có thể hiểu là tái tạo khái niệm cho bản thân, thao tác với nó, sử dụng nó như công cụ phương pháp để

chiếm lĩnh những khái niệm khác hoặc để mở rộng, đào sâu thêm tính khái

niệm đó ở trình độ lý thuyết cao hơn Tư duy khái niệm là trình độ tư duy lý

thuyết – đây chính là một trong những mục đích quan trọng của sự phát triểnnăng lực tri thức cho học sinh thông qua học tập

Chiếm lĩnh khái niệm, biến nó từ kho tàng văn hóa xã hội thành học vấn

riêng của bản thân, học sinh sẽ hình thành cho mình một thái độ mới trong

việc đánh giá các giá trị tinh thần và vật chất của thế giới khách quan, một sảnphẩm đạo đức mới Như vậy quá trình chiếm lĩnh khái niệm mà thành công,

nó sẽ dẫn tới đồng thời ba mục đích bộ phận: Trí dục (nắm vững khái niệm) , phát triển ( tư duy khái niệm) và giáo dục( thái độ đạo đức) Ba mục đích bộ

phận này gắn bó hữu cơ với nhau, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau,

sinh thành ra nhau và tạo ra một hệ toàn vẹn mục đích bộ ba.

Trang 8

“ Khai trí tiến đức” điều mà cổ nhân đã dạy “ Đến một trình độ cao, trithức với tư tưởng, đức dục với trí dục là một Trí dục phải dẫn đến đạo đức,đức dục là kết quả tất yếu của sự hiểu biết” ( Phạm Văn Đồng).

3) Về mặt cấu trúc chức năng, học có hai chức năng thống nhất với nhau: Lĩnh hội( tiếp thu thông tin dạy của thầy) và tự điều khiển quá trình

chiếm lĩnh khái niệm của mình( tự giác tích cực tự lực)

4) Nội dung học là gì?

a Nội dung của học chính là nội dung của khái niệm khoa học Khái

niệm khoa học – đó là kiến thức về những dấu hiệu, thuộc tính, những mốiquan hệ bản chất và chung của đối tượng mà nó phản ánh, nhờ sự khái quáthóa Mỗi khái niệm khoa học đều là một mô hình của hiện thực một khi đãđược thực tiễn kinh nghiệm; nó chính là chân lý khách quan và phản ánh sâusắc hiện thực Môn học thực chất là hệ thống những khái niệm khoa học

b Ở trên, khi nói đến mục đích trí dục của học, ta có đề cập đến kháiniệm “tái tạo lại khái niệm khoa học” Đó là quá trình sử dụng( thao tác)khái niệm đã lĩnh hội để rút ra khái niệm mới, hoặc bằng cả hai cách để

tìm ra chân lý mới Như vậy , chiếm lĩnh nội dung của khái niệm, còn có nghĩa là lĩnh hội cả phương pháp kiến tạo nên khái niệm rồi từ đó mà suy

ra phương pháp nhận thức khoa học nói chung Đây chính là loại kiến thức

có tính chất phương pháp luận, thế giới quan, một thành phần rất quan

trọng của nhân cách Khái niệm khi đã được chiếm lĩnh sẽ tác động như phương pháp nhận thức

c Chiếm lĩnh khái niệm còn có nghĩa là nắm vững lôgích của khái niệmkhoa học phản ánh đối tượng Lôgích của khái niệm chính là quy trình sinh ra,vận động và trưởng thành của đối tượng mà khái niệm phản ánh và con ngườinhận thức được Nó là lịch sử nhận thức của con người về đối tượng Lôgíchcủa khái niệm là quá trình tiến hóa theo quy luật riêng của đối tượng từ đơngiản đến phức tạp và đa dạng mà con người ý thức được

Trang 9

Tóm lại: Nội dung của học là toàn bộ bộ máy khái niệm của môn học,

cấu trúc lôgích của môn học đó, các phương pháp đặc trưng của khoa học đóvà biết ứng dụng những hiểu biết đó vào việc tiếp tục học tập và lao động.5) Phương pháp học là gì?

Đó là phương pháp lĩnh hội kiến thức có sẵn của nhân loại, nhưng là mớiđối với bản thân học sinh Đó là chiếm lĩnh khái niệm, đó là giành lấy kháiniệm mới Học có nghĩa là nhận thức

Khi nhận thức một đối tượng, trước hết học sinh phải xem xét nó như

một hệ toàn vẹn, phát hiện ra cấu trúc chức năng của nó, đó là giai đoạn mô tả đối tượng Tiếp đó phải giải thích tại sao lại như thế; trong giai đoạn giải

thích, học sinh phải huy động những hiểu biết lý thuyết( khái niệm, định luật,học thuyết ) Cuối cùng khi đã nắm vững cơ chế vận hành của đối tượng, học

sinh bước sang giai đoạn vận dụng- cải tiến đối tượng Đó là quy luật của

nhận t ức khoa học, mà cũng là phương pháp nhận thức khoa học

Vậy, phương pháp học là phương pháp nhận thức, phương pháp chiếmlĩnh khái niệm khoa học phản ánh đối tượng của nhận thức, biến các hiểu biết

của nhân loại thành học vấn của bản thân Đó là phương pháp mô tả, giải thích và vận dụng khái niệm khoa học

6) Học tốt là sự thống nhất của cả mục đích, nội dung lẫn phương phápcủa học Đó là sự điều khiển tối ưu quá trình chiếm lĩnh khoa học trên cơ sởcủa sự bị điều khiển

Trang 10

- Dạy học có hai chức năng thường xuyên tương tác với nhau, thâm nhậpvào nhau, sinh thành ra nhau(để tiện ta gọi là “chức năng kép”), đó là truyềnđạt thông tin dạy học và điều khiển hoạt động học.

1.1.1.3 Bản chất toàn vẹn của quá trình dạy học

1) Nói quá trình dạy học là một hệ thống toàn vẹn như thế có nghĩa làcác thành tố của nó luôn tương tác với nhau theo một quy luật riêng, thâmnhập vào nhau, qui định lẫn nhau để tạo nên sự thống nhất biện chứng:

a) Giữa dạy với học

b) Giữa truyền đạt với điều khiển trong dạy

c) Giữa lĩnh hội với tự điều khiển trong học

Khái niệm khoa học là điểm xuất phát của dạy, lại là điểm kết thúc của học 2) Quá trình dạy học là hoạt động cộng đồng hợp tác giữa chủ thể: thầy-cá thể trò,trò – trò trong nhóm, thầy- nhóm trò v.v

3) Sự tương tác theo kiểu cộng đồng- hợp tác giữa dạy và học là yếu tốduy trì và phát triển sự thống nhất toàn vẹn của quá trình dạy học, nghĩa làcủa chất lượng dạy học Dạy tốt , học tốt chính là đảm bảo được ba phép biệnchứng(ba sự thống nhất) nói trên trong hoạt động cộng tác Đó là sự thốngnhất của điều khiển, bị điều khiển và tự điều khiển, có bảo đảm liên hệ nghịchthường xuyên bền vững

Tóm lại: Để có được một quá trình dạy học tối ưu phải xuất phát từ

lôgích của khái niệm khoa học và lôgích lĩnh hội của học sinh, thiết kế côngnghệ dạy học hợp lý, tổ chức tối ưu hoạt động dạy học cộng tác, bảo đảm liênhệ nghịch, để cuối cùng làm cho học sinh tự giác tích cực chiếm lĩnh đượckhái niệm khoa học, phát triển năng lực hình thành thái độ Về thực chất quátrình dạy học là bồi dưỡng cho người học một trình độ học vấn nhất định làmcho họ trở thành những người lao động, người công dân có kiến thức, có kỹnăng hoạt động nghề nghiệp, hoạt động thực tiễn sáng tạo Quá trình dạy họclà một hoạt động phức tạp, chịu sự tác động qua lại của nhiều nhân tố cấu

Trang 11

trúc, tạo thành một hệ thống: mục đích, nhiệm vụ dạy học, nội dung dạy học,phương pháp, phương tiện dạy học, hình thức dạy học, hoạt động của ngườidạy và người học Mỗi nhân tố có vị trí xác định, có chức năng riêng, vậnđộng theo quy luật riêng nhưng chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tácđộng qua lại trong môi trường chính trị - xã hội, môi trường khoa học - kỹthuật của thời đại.

Trong các nhân tố cấu trúc của quá trình dạy học, hoạt động phối hợpchặt chẽ giữa hai chủ thể - người dạy và người học được coi là nhân tố trungtâm, quyết định chất lượng và hiệu quả đào tạo

1.1.1.4 Người dạy

Giảng viên với vai trò là chủ thể của hoạt động giảng dạy, là người được

đào tạo cơ bản về nghiệp vụ sư phạm, người nắm vững kiến thức khoa họcchuyên ngành, phát huy phẩm chất và năng lực sư phạm để tổ chức thànhcông hoạt động của mình Chất lượng đào tạo của nhà trường phụ thuộc phầnlớn vào trình độ năng lực, phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp của mỗi giảngviên Bởi lẽ, giảng viên giữ vai trò chủ đạo trong toàn bộ quá trình dạy học, làchủ thể tác động vào mọi nhân tố của quá trình dạy học, chi phối các nhân tố,nhằm phát huy sức mạnh của các nhân tố khác Giảng viên chính là người xâydựng và thực thi mục đích, kế hoạch dạy học; tổ chức cho người học thựchiện hoạt động học tập dưới mọi hình thức, trong thời gian và không giankhác nhau; hướng dẫn thực hành, giải quyết những vấn đề thực tiễn, hìnhthành các kỹ năng nghiệp vụ cơ bản, cần thiết Các công trình nghiên cứu đãchỉ ra rằng: Cho dù mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, phương tiện dạy học,các điều kiện có tốt đến mấy nhưng người dạy yếu kém về chuyên môn, suythoái về nhân cách thì chất lượng đào tạo không thể nâng lên được, không đápứng được nhu cầu, nguyện vọng của người học Ngược lại, nếu đội ngũ giảngviên có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp tốt, có trình độ chuyên môn cao thì

Trang 12

khắc phục khó khăn, sáng tạo vươn lên để đạt được những hiệu quả cao nhấttrong sự nghiệp của mình Mặt khác, cũng cần phải hiểu vai trò chủ thể củagiảng viên không phải là truyền đạt cho học viên bao nhiêu kiến thức, mà làngười tổ chức, hướng dẫn, điều khiển hoạt động của người học làm cho việchọc tập trở thành một hoạt động có ý thức, hướng tới trang bị cho học viênkhả năng tự thu thập kiến thức, tự tìm kiếm phương pháp giải quyết vấn đềmột cách sáng tạo

1.1.1.5 Người học

Học viên với vai trò là người học, người tiếp nhận thông tin từ phía

người dạy, quyết định chất lượng của hoạt động đào tạo Thật vậy, mục đích

của hoạt động đào tạo trong nhà trường nói chung là nhằm biến những kiếnthức chung của xã hội, của nhân loại thành nhận thức, hiểu biết, trí tuệ củangười học, hình thành thái độ tích cực, kỹ năng thực hành, tạo ra sự phát triểntrí tuệ, nhân cách toàn diện cho họ

Mục đích của hoạt động đào tạo chỉ có thể đạt được khi mà bản thânngười học là chủ thể tham gia tích cực vào quá trình dạy học, tích cực suynghĩ, tích cực lắng nghe, sàng lọc kiến thức, mong muốn tiếp nhận kiến thức

từ bài giảng của thầy Người học khi đã xác định được mục đích học tập, cần

phải có động cơ, thái độ học tập tích cực, chủ động, xây dựng được kế hoạchhọc tập phù hợp, có nhu cầu, hứng thú học mới đem lại hiệu quả đích thực.Thực tế đã chứng minh rằng: Nếu người học không có nhu cầu học tập, khôngcó động cơ học tập trong sáng, không cố gắng vươn lên, không tập trung suynghĩ, không chú ý lắng nghe thì cho dù thầy giỏi, uyên thâm về kiến thức,chuyên môn nghiệp vụ thì dạy học khó đạt được kết quả tốt và như vậy chẳngkhác gì “ nước đổ lá khoai” hay “ chữ thầy lại trả thầy” Việc học tập do chínhngười học thực hiện một cách có ý thức, chủ động mới là con đường để mỗingười tự làm giàu kiến thức, tự biến đổi bản thân, tạo cơ hội để trở thànhngười lao động tự chủ, sáng tạo

Trang 13

Tóm lại: Để đạt được hiệu quả của hoạt động giáo dục - đào tạo, cần có

sự phối hợp hài hòa, tích cực giữa chủ thể của hoạt động dạy và chủ thể củahoạt động học, giữa giảng viên và học viên Trong đó, hoạt động dạy điềukhiển hoạt động học, hoạt động học tuân thủ hoạt động dạy Hoạt động dạy vàhoạt động học luôn được thực hiện đồng thời với cùng một nội dung, hướngtới cùng một mục đích Việc dạy tốt sẽ tạo điều kiện cho học tốt, việc học tốtđòi hỏi phải dạy tốt Nếu hai hoạt động này tách rời, chỉ có hoạt động củangười dạy hoặc chỉ có hoạt động của người học sẽ không tồn tại quá trình dạyhọc, và tất nhiên sẽ không còn ý nghĩa gì khi bàn đến chất lượng đào tạo Sựtác động qua lại giữa người dạy và người học, giữa giảng viên và học viên làmối quan hệ biện chứng, ràng buộc lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau, cùng hướngtới mục đích chung - vì người học, hoàn thiện nhân cách, phát triển trí tuệ chongười học Sự tác động qua lại này quy định sự tồn tại của qua trình dạy học,quy định sự tồn tại của các nhân tố khác: mục đích dạy học, nội dung dạy học,phương pháp dạy học, phương tiện dạy học…Sự tác động thống nhất biệnchứng giữa hoạt động dạy và hoạt động học tạo nên sự phát triển khôngngừng của quá trình dạy học

Như vậy, có thể khẳng định mối quan hệ phối hợp tích cực giữa ngườidạy và người học là nhân tố vô cùng quan trọng, quyết định chất đào tạo trongnhà trường

1.2 Chất lượng của dạy và học

Chất lượng dạy và học là mối quan tâm hàng đầu của nền giáo dục trênthế giới, hầu hết các nước đều ra sức tìm mọi biện pháp để nâng cao chấtlượng dạy và học Với mong muốn là làm sao để người dạy truyền đạt đượckến thức một cách dễ dàng, người học nắm bắt và vận dụng được kiến thứcđó trong thời gian ngắn nhất vào thực tế sản xuất, nghiên cứu một cách cóhiệu quả, và do vậy càng lúc càng đặt ra những yêu cầu gay gắt trong việc

Trang 14

khách quan, công bằng, là động lực thúc đẩy để người học thấy đó là độnglực, mục tiêu phấn đấu Chất lượng dạy và học phải nằm trong một tiến trìnhlàm biến đổi người học trong đó việc học của sinh viên phải được quan tâmsâu sát và trợ giúp từ các khâu giảng dạy, đánh giá cũng như tất cả những yếutố khác trong trường (cơ sở vật chất, môi truờng, tác phong làm việc đối vớisinh viên, …) Việc giảng dạy phải làm sao thật sự kích thích khả năng hamhiểu biết, tìm tòi sáng tạo để làm thỏa mãn bản thân sinh viên về những điềuchưa biết Cách đánh giá không phải để kết thúc môn học hay chỉ để quyếtđịnh sinh viên đậu rớt một môn học mà nên là một kênh nhận xét để sinh viênhiểu năng lực và kiến thức của mình ở môn đó đã đạt đến mức nào, có nêntiếp tục các khóa học có liên quan không hay nên học lại và nếu học lại thìcần bổ sung nhưng khoảng trống tri thức nào Tương tự các yếu tố khác trongtrường tạo tiền đề để việc học tập của sinh viên được diễn ra thuận lợi và đạthiệu quả cao nhất.

Ở đây chúng tôi xin đề cập đến hai quan niệm chính về về chất lượng dạy và học Mặc dù khó có thể đưa ra được một định nghĩa về chất lượng dạy

và học vì chất lượng là một khái niệm mang tính tương đối, động, đa chiều vàvới những người ở các cương vị khác nhau có thể có những ưu tiên khác nhaukhi xem xét nó Ví dụ, đối với cán bộ giảng dạy và sinh viên thì ưu tiên củakhái niệm chất lượng phải là ở quá trình đào tạo, là cơ sở vật chất kỹ thuậtphục vụ cho quá trình giảng dạy và học tập Còn đối với những người sử dụnglao động, ưu tiên về chất lượng của họ lại ở đầu ra, tức là ở trình độ, năng lựcvà kiến thức của sinh viên khi ra trường v.v Khi nói về chất lượng dạy – học

ta phải nói đến ba yếu tố sau:

I P O

( Input) (Process) (Output)

Trong đó: Input là đầu vào của người học Process lả quá trình dạy học.Đó là những nhiệm vụ của quá trình dạy và học, đó là hệ thống các nguyên

Trang 15

tắc dạy học, kế hoạch dạy học, chương trình môn học, sách giáo khoa, hệthống các phương pháp dạy học và các hình thức dạy học

Có hai quan điểm về chất lượng của dạy và học

Theo quan niệm hẹp: Chất lượng dạy- học = Chất lượng của người học Theo quan niệm rộng hơn: Chất lượng dạy - học = Chất lượng các thành

tố tạo nên quá trình dạy học và chất lượng của người được đào tạo Các thànhtố của chất lượng dạy và học bao gồm:

- Chương trình giáo dục

- Chất lượng của người dạy: Đó là kiến thức, PPDH của người dạy

- Chất lượng của người học: Đó là kiến thức, kỹ năng và thái độ họctập của người học

- Chất lượng của các điều kiện đảm bảo cho chất lượng dạy- học: Đólà CSVC, là chính sách đối với giáo viên khiến họ yên tâm công tác

1.3 Đặc điểm của dạy học tiếng Anh

Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, nắm vững một ngoạingữ, đặc biệt là tiếng Anh có thể coi như có trong tay chìa khóa để mở ra cánhcửa của tri thức Với nguồn tài liệu phong phú và đặc biệt là sự phổ cập củamạng internet, người học ngoại ngữ và người dạy ngoại ngữ đều đã ở những

vị thế khác khác so với trước đây Tuy nhiên một điều đáng lo ngại rằng rấtnhiều giáo viên không chỉ giáo viên ngoại ngữ cho rằng “Học sinh nào chẳngnhư học sinh nào” Và cũng có không ít người cho rằng việc giảng dạy ngoạingữ cũng không quá phức tạp Vì vậy việc nhìn nhận lại vai trò của người họcvà người dạy trong một lớp học ngoại ngữ là cần thiết để đáp ứng mục tiêunâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ thời kỳ hội nhập

Về phía người học.

Những đặc điểm dưới đây là đặc trưng tiêu biểu mà một người học ngoạingữ cần Mặc dù không ai có tất cả những đặc tính đó

Trang 16

- Có thái độ tích cực đối với ngôn ngữ mà họ đang muốn học, và với cảngười nói ngôn ngữ đó.

- Có động cơ cá nhân mạnh mẽ để học ngôn ngữ đó

- Tự tin rằng họ sẽ thành công trong việc nắm bắt ngôn ngữ

- Luôn chuẩn bị tinh thần sẵn sàng với việc có thể mắc lỗi và rút kinhnghiệm từ những lỗi mắc phải

- Học tất cả những gì liên quan đến ngôn ngữ

- Sắp xếp thời gian thích hợp cho việc thực hành ngôn ngữ

- Chủ động tìm mọi cách để được thực hành nói về những thứ mà họkhông biết phải diễn đạt như thế nào cho chính xác bằng thứ ngôn ngữ mà họđang học

- Nhập vai trong các tình huống để thực hành ngôn ngữ và chủ động sửdụng ngôn ngữ đó càng nhiều nhất có thể

- Tư duy trực tiếp từ ngôn ngữ đang học hơn là chuyển dịch từ ngôn ngữmẹ đẻ sang

- Có những kế hoạch cụ thể cho việc học và ghi nhớ những điều cần nhớ

về ngôn ngữ và có quyết tâm để thực hiện những kế hoạch đó

Những đặc trưng trên của một người học tiếng Anh giúp ích cho giáoviên rất nhiều trong quá trình tiếp cận người học

Về phía giáo viên.

Trước hết, giáo viên không nên coi việc học một ngôn ngữ giống nhưmột quá trình tri thức quá cao siêu Tất cả các khía cạnh của con người như đãkể trên đều được thể hiện qua ngôn ngữ và tất cả những điều đó đều đóng vaitrò nhất định trong việc tích lũy kiến thức ngôn ngữ Khi người học tìm cáchtiếp thu một ngôn ngữ chính là họ đang học cách thể hiện chính bản thânmình

Thứ hai, giáo viên phải học cách để chia sẻ Nếu giáo viên biết cách chia

sẻ nền văn hóa và ngôn ngữ với người học thì đó là một lợi thế Tất cả các

Trang 17

giáo viên cần phải nhạy cảm với sự khác biệt xã hội và nên cố gắng tìm hiểunhu cầu mục đích và đặc tính của từng người học.

Thứ ba, giáo viên phải biết cách biến lớp học thành một nơi mà ở đónhững đặc tính tốt của mỗi người học đều được khuyến khích để thể hiện,giáo viên sẽ giúp các cá nhân tìm và phát hiện ra những ưu điểm của họ Vídụ, một số sinh viên có thể học tốt hơn qua những minh họa thực tế, số kháclại thiên về tự nghiên cứu số khác lại tiếp thu ngôn ngữ tốt hơn qua thực hành.Nhiệm vụ của một giáo viên là phải hiểu rõ những điểm mạnh và điểmchưa mạnh của người học và điều quan trọng hơn nữa là chỉ cho họ biết đâu làsở trường của mình Dạy học Ngoại ngữ là thu hút học viên với các đề tài hấpdẫn sắp xếp theo chủ đề, phát triển các kỹ năng giao tiếp hàng ngày, phát triểntoàn diện bốn kỹ năng chính (nghe, nói, đọc, viết)

Đặc điểm của việc dạy học Tiếng Anh được các giáo viên thể hiện nhưsau:

-Tổ chức: Người học phải cảm thấy rằng mọi hoạt động của họ tại lớphọc là có chủ đích và là một giáo viên bạn cần phải tổ chức các hoạt động trênlớp sao cho những hoạt động đó đem lại cảm giác đáng tin cậy đối với ngườihọc Làm thế nào để tạo được sự tin cậy nơi người học? Người học cầnnhững chỉ dẫn vừa đủ để họ biết hướng hành động, đồng thời họ cũng cần cókhoảng tự do nhất định để có chỗ cho tính sáng tạo của họ phát triển

- Tạo sư an toàn Nếu người học cảm thấy an toàn họ có thể yên tâmtham gia vào các hoạt động của lớp học Nếu giáo viên đem lại cho họ cảmgiác rằng mọi người trong lớp bao gồm cả giáo viên đang đứng về cùng mộtphe với họ thì nỗi sợ hãi khi mắc lỗi sẽ không còn và những điều học được từnhững lần mắc lỗi đó sẽ khó quên

- Tạo động cơ: Một vài người học có những động cơ bên ngoài Điều đócó thể là một hỗ trợ lớn cho việc học nhưng tất cả thành viên trong lớp đều

Trang 18

viên sẽ nhìn thấy ngay kết quả khi người học được kích thích hoạt động bằngcác bài tập thú vị, khi họ hoàn thành tốt các bài tập đó và đặc biệt là khi họthấy mối liên hệ của các hoạt động ở lớp học với cuộc sống ngoài đời thực.

- Chỉ dẫn Sinh viên đến lớp để được học những điều mới và được hướngdẫn cách để làm sao tiếp nhận được các điềumới mẻ đó

- Làm mẫu Người học cần được chỉ cho thấy những điều mới và giáoviên là người làm mẫu cho họ thấy những điều đó được thực hiện như thếnào

- Trợ giúp: Người học cần sự giúp đỡ từ phía giáo viên để khám phánhững điều mới và cũng để thực hành những kỹ năng mới

- Cung cấp thông tin: Người học cần thêm những thông tin hỗ trợ chovấn đề đang nghiên cứu, giáo viên sẽ là người đem lại những thông tin sátthực nhất với vấn đề mà người học đang quan tâm

- Phản hồi: Người học cần biết họ đã và đang tiến gần đến mục tiêu tớimức nào Liệu câu họ nói đã rõ nghĩa chưa? Động từ mà họ sử dụng đã chínhxác chưa? Câu văn mà họ viết đã giống với chuẩn mực của người bản ngữchưa? Tất cả những điều đó cần nhận được sự phản hồi từ chính giáo viêntrong mỗi buổi học

- Khuyến khích: Giáo viên phải nhận thức rõ ràng rằng mỗi lời động viênkhuyến khích của mình có thể là một động lực kích thích người học tiếp tụckhám phá, tiếp tục chinh phục những mục tiêu học tập phía trước Người họccần phải được cảm thấy rằng ngôn ngữ đang phát triển bên trong họ, thậm chíđôi khi ngôn ngữ họ đang sử dụng chưa thật sự gần với tiếng Anh chuẩn lắm

- Đánh giá: Người học cần phải có những chuẩn cần đạt tới, việc đỗ haytrượt một kỳ thi là rất quan trọng Họ cần phải biết kết quả công việc mìnhđang làm Giáo viên chính là người đo lường chính xác nhất kết quả công việccủa từng người học Quan trọng hơn giáo viên phải công khai việc đánh giáđó để người học tự điều chỉnh việc học của mình

Trang 19

Vậy có thể cho rằng giảng viên phải là người tổ chức, tạo sự yên tâm,khơi dậy động lực, chỉ dẫn, làm mẫu, hướng dẫn, cung cấp thông tin, cungcấp thông tin phản hồi về quá trình học, khuyến khích và đánh giá kết quả củangười học? Tất cả những điều đó đều đúng Nhưng một giáo viên giỏi cònphải là người biết hướng người học tham gia một cách có trách nhiệm vào cáchoạt đông trên Nhiệm vụ của chúng ta là giúp người học dần tự lập thoát lykhỏi giáo viên và có thể vận dụng những điều đã học để tiếp tục nâng caokiến thức.

Chất lượng đào tạo phụ thuộc nhiều yếu tố, tuy nhiên yếu tố con người luônđóng vai trò quan trọng không thể phủ nhận được Để nâng cao chất lượng đàotạo cả thầy và trò cùng phải nhận thức rõ vai trò của mình trong lớp học

1.4 Quản lý dạy – học nhằm nâng cao chất lượng dạy- học

Nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường và nâng cao chất lượng dạy và họcTiếng Anh trên toàn quốc đòi hỏi chúng ta phải có bỉện pháp quản lý hiệu quảđể nâng cao chất lượng dạy và học môn tiếng Anh

1.4.1 Những vấn đề chung về quản lý

1.4.1.1 Quản lý

Quản lý là một hoạt động bắt buộc sự phân công, hợp tác lao động.Chính sự phân công hợp tác lao động nhằm đạt đến hiệu quả nhiều hơn, năngsuất cao hơn trong công việc, đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều tra,kiểm tra….và phải có người đứng đầu

Với nhiều cách tiếp cận khác nhau, các nhà lý luận đưa ra nhiều kháiniệm về quản lý

- F.W Taylor (1856-1915) người được coi là “cha đẻ của thuyết quản lýkhoa học” đã nêu lên tư tưởng cốt lõi trong quản lý là: “Mỗi loại công việc dùnhỏ nhất đều phải chuyên môn hoá và phải quản lý chặt chẽ” Theo ông:

“Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế

Trang 20

- Henry Fayon (1841-1925) cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đếnmục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kếhoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” Ông khẳng định: “Khicon người lao động hiệp tác thì điều tối quan trọng là họ cần phải xác định rõcông việc mà họ phải hoàn thành, và những nhiệm vụ của mỗi cá nhân phải làmắt lưới dệt nên mục tiêu của tổ chức”.

Ở nước ta cũng có nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu kháiniệm quản lý

- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là sự tác động có mụcđích, có kế hoạch của chủ thể những người quản lý đến tập thể những ngườilao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”

- Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt độngquản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (ngườiquản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằmlàm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”[7, tr.9]

Tuy cách diễn đạt khác nhau nhưng các tác giả đều thống nhất quanđiểm: Quản lý là một quá trình tác động có ý thức của chủ thể quản lý đếnkhách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra với hiệu quả cao nhất Quản lý luôn tồn tại vói tư cách là một hệ thống gồm các yếu tố: Chủ thểquản lý( người quản lý, người tổ chức quản lý); đối tượng quản lý( khách thểquản lý) – con người, trang thiết bị kỹ thuật, nguồn tài chính, ; mục đích haymục tiêu chung của công tác quản lý do chủ thể quản lý áp đặt hay do yêu cầukhách quan của xã hội hoặc do sự cam kết , thỏa thuận giữa chủ thể quản lý vàkhách thể quản lý, từ đó nảy sinh các mối quan hệ tương tác với nhau giữa chủthể quản lý và khách thể quản lý

Trong hoạt động quản lý có hai hệ thống khăng khít với nhau, đó là chủthể quản lý và khách thể quản lý Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân haymột nhóm người có chức năng quản lý hay điều khiển tổ chức làm cho tổ

Trang 21

chức vận hành và đạt được mục tiêu Khách thể quản lý bao gồm nhữngngười thừa hành nhiệm vụ trong tổ chức, chịu sự tác động, chỉ đạo của chủthể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung

- Các chức năng cơ bản của quản lý:

 Lập kế hoạch

 Tổ chức

 Chỉ đạo, lãnh đạo, điều khiển

 Kiểm tra

- Các phương pháp quản lý:

 Các phương pháp hành chính - tổ chức

 Các phương pháp giáo dục

 Các phương pháp tâm lý - xã hội

 Các phương pháp kinh tế

- Vai trò của quản lý: Vai trò của quản lý giáo dục được thể hiện thôngqua các chức năng cơ bản của quản lý, Cụ thể được thể hiện thông qua quátrình từ việc thiết kế, lập kế hoạch, triển khai và đánh giá chương trình đàotạo[9]

1.4.1.2 Quản lý giáo dục

Giáo dục là một hiện tượng xã hội, một chức năng của xã hội loàingười được thực hiện một cách tự giác Cũng giống như mọi hoạt động kháccủa xã hội loài người, giáo dục cần được quản lý Quản lý giáo dục là loạihình của quản lý xã hội Tương tự như khái niệm quản lý, quản lý giáo dụccũng có nhiều định nghĩa khác nhau:

Trong cuốn“ Những khái niệm về quản lý giáo dục” của Nguyễn NgọcQuang “ Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích ,có kếhoạch phù hợp với những quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệthống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng , thực hiện

Trang 22

hội tụ là quá trình dạy học Giáo dục thế hệ trẻ đưa giáo dục đến mục tiêu dựkiến, tiến lên trạng thái mới về chất [15, tr.12].

Theo Đặng Quốc Bảo “ Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hànhđộng điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đàotạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội” [3,tr.31]

Nói chung, quản lý giáo dục (QLGD) được hiểu là sự tác động của chủthể quản lý đến các khách thể quản lý trong lĩnh vực hoạt động/công tác giáodục Nói một cách đầy đủ hơn, QLGD là hệ thống những tác động có mụcđích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục,là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ sở giáo dục nhằm thựchiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Quản lýgiáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩymạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển xã hội

Tóm lại: Chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản: Quản lý giáo dục là

quá trình vận dụng những nguyên lý,phương pháp, khái niệm của khoa họcquản lý vào một lĩnh vực hoạt động cụ thể, một ngành chuyên biệt- ngànhgiáo dục Hệ thống quản lý giáo dục bao gồm các thành tố:

- Chủ thế quản lý giáo dục: Là hệ thống quản lý giáo dục các cấp từtrung ương đến địa phương

- Đối tượng quản lý giáo dục/ Khách thể quản lý giáo dục:

+ Điều kiện cơ sở vật chất, nguồn lực cho giáo dục

+ Quá trình giáo dục

+ Con người tham gia vào hoạt động giáo dục

- Cơ chế không chính thức là những quy định không thành văn bảnnhưng được sử dụng nhằm duy trì quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quản lýđược mọi thành viên trong hệ thống quản lý thừa nhận và tôn trọng

- Mục tiêu của quản lý giáo dục: “ Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ nhân lực có trí thức và có tay nghề,

Trang 23

có năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội” Mục tiêu của quản lý giáo

dục chính là trạng thái mong muốn trong tương lai đối với hệ thống giáo dục,đối với trường học, hoặc đối với những thông số chủ yếu của hệ thống giáodục trong mỗi nhà trường Những thông số này được xác định trên cơ sở đápứng những mục tiêu tổng thể của sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giađoạn phát triển kinh tế của đất nước

- Đối tượng của quản lý giáo dục : Là hoạt động của cán bộ, giáo viên,học sinh, sinh viên và tổ chức sư phạm của nhà trường trong việc thực hiện kếhoạch và chương trình GD-ĐT nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đã quy địnhvới chất lượng cao

Quản lý nói chung và quản lý giáo dục nói riêng có vai trò đặc biệt quantrọng đối với sự phát triển xã hội và phát triển nghành giáo dục Trong bàiphát biểu tại buối khai mạc hội thảo về quản lý giáo dục tại trường Quản lýCán bộ giáo dục Trung ương I ngày 26/3/1996, Bộ trưởng Bộ Giáo dục- Đào

tạo Nguyễn Minh Hiển đã khẳng định: “ Quản lý giáo dục là yếu tố quan trọng để tạo ra nội lực cho nghành trong điều kiện đất nước còn nghèo”.

[1,tr.13]

1.4.1.3 Các chức năng quản lý

Khi bàn về hoạt động quản lý và người quản lý, chúng ta cần tìm hiểungười quản lý phải làm những gì, hay nói cách khác là tìm hiểu các chức năngquản lý Để đạt được mục tiêu của tổ chức, người quản lý phải biết cách vậndụng các chức năng quản lý

Có nhiều quan điểm khác nhau về việc phân chia các chức năng quản lýTác giả Hà Sĩ Hồ đề xuất các chức năng quản lý sau: Soạn thảo và raquyết định, tổ chức thực hiện quyết định, kiểm tra việc thực hiện quyết địnhvà tổng kết.[11,tr.14]

Trang 24

Viện sĩ V.G Afanaxiep, nhà quản lý xã hội lỗi lạc của Liên Xô cũ đãnêu lên 5 chức năng cơ bản là: Sử lý và thông qua quyết định, tổ chức, điềuchỉnh, sửa chữa, kiểm kê và kiểm tra.[11.tr 14]

Henry Fayol(1841-1925), xuất phát từ các loại hình “ hoạt động quảnlý” là người đầu tiên phân biệt chúng thành 5 chức năng cơ bản: Kế hoạchhóa, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra

Như vậy các quan điểm có thể không giống nhau về mặt ngôn từ, songhoạt động quản lý có 4 chức năng cơ bản sau:

- Kế hoạch hóa

- Tổ chức

- Chỉ đạo

- Kiểm tra

Kế hoạch hóa: Đây là khâu đầu tiên của chu trình quản lý Nó giúp chủ

thể tiếp cận mục tiêu một cách hợp lý và khoa học Kế hoạch là văn bản trongđó xác định mục tiêu, mục đích đối với các thành tựu trong tương lai của tổchức và các con đường, các biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mụcđích đó

Chức năng kế hoạch hóa có 3 nội dung cơ bản sau:

- Xác định, hình thành mục tiêu( phương hướng) đối với tổ chức

- Xác định và đảm bảo(có tính chắc chắn, có tính cam kết) về cácnguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu này

- Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêuđó

Tổ chức: Sự chuyển hóa những ý tưởng trong kế họach thành hiện thực.

Tổ chức là quá trình hình thành cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữacác bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công kếhoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Nhờ việc tổ chức có hiệuquả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và

Trang 25

nhân lực Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực củangười quản lý trong việc sử dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu quả vàkết quả.

Theo Ernest Dale chức năng tổ chức là một quá trình gồm 5 bước:

- Lập danh sách các công việc cần phải hoàn thành để đạt được mục tiêucủa tổ chức

-Phân chia toàn bộ công việc thành những nhiệm vụ để các thành viênhay các bộ phận trong tổ chức thực hiện một cách thuận lợi và hợp lôgíc Đâyđược gọi là bước phân công lao động

-Kết hợp các nhiệm vụ một cách lôgíc và hiệu quả Đây là bước phânchia bộ phận

-Thiết lập một cơ chế điều phối Sự liên kết hoạt động của cá nhân, cácnhóm, các bộ phận một cách hợp lý sẽ tạo điều kiện giúp đạt được các mụctiêu của tổ chức một cách dễ dàng và hiệu quả hơn

- Theo dõi đánh giá tính hiệu nghiệm của cấu trúc tổ chức và tiến hànhnhững điều chỉnh cần thiết

Chỉ đạo: Điều khiển hệ thống là cốt lõi của chức năng Chỉ đạo còn có

tên gọi khác là quá trình chỉ đạo hay tác động Dù dưới tên gọi nào thì chỉ đạobao gồm việc liên kết liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thànhnhững nhiệm vụ nhất định để đạt được những mục tiêu của tổ chức, hay nóicách khác, chỉ đạo là khả năng gây ảnh hưởng, động viên và chỉ dẫn ngườikhác nhằm đạt đến mục tiêu mong muốn Việc chỉ đạo không chỉ bắt đầu khiviệc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã hoàn tất, mà nó thấm sâu, ảnh hưởngquyết định tới hai chức năng kia

Chỉ đạo tập trung vào các ưu tiên sau:

- Nhận thức, lĩnh hội quan điểm, xây dựng tầm nhìn, lý tưởng, sứ mệnhcủa hệ thống

Trang 26

- Làm sáng tỏ được thực trạng vận động của hệ thống( gồm phân tíchcác mâu thuẫn quá trình phát triển), phát hiện ra nhân tố mới.

- Tổng kết được quy luật, tính quy luật xu thế phát triển của hệ thống

Kiểm tra: Là chức năng cơ bản và quan trọng của quản lý Nó là chức

năng cuối cùng trong 4 chức năng Kiểm tra đề cập đến các phương pháp và

cơ chế được sử dụng để đảm bảo rằng các hành vi/ hoạt động và thành tựuphải tuân thủ phù hợp với mục tiêu, kế hoạch và chuẩn mực của tổ chức CốThủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “ Quản lý mà không kiểm tra thì coi nhưkhông quản lý” [12, tr.16]

Kiểm tra trong hoạt động quản lý là một nỗ lực có hệ thống nhằm xácđịnh những chuẩn mực thành tựu khi đối chiếu với các mục tiêu đã được kếhoạch hóa; thiết kế một hệ thống thông tin phản hồi; so sánh thành tựu thựchiện với các chuẩn mực đã định; xác định những lệch lạc và có đo lường mứcđộ của chúng; tiến hành những hành động cần thiết để đảm bảo rằng nhữngnguồn lực của tổ chức được sử dụng một cách hiệu quả để đạt được mục tiêucủa tổ chức

Robert J Mockler chia kiểm tra thành 4 bước:

- Xác định tiêu chuẩn và phương pháp đo lường thành tựu: Các tiêuchuẩn thành tựu phải đủ tường minh để các thành viên liên quan lĩnh hội đượcmột cách dễ dàng, thống nhất Phương pháp đo lường chuẩn mực phải đảmbảo so sánh chính xác và công bằng giữa thành tựu với chuẩn mực đặt ra

- Đo lường thành tựu là một quá trình lặp đi lặp lại và diễn ra liên tụcvới tần suất thực hiện phụ thuộc vào các dạng hoạt động và cấp độ quản lýkhác nhau

- Xác định mức độ phù hợp của thành tựu so với chuẩn mực

- Tiến hành những hoạt động uốn nắn, sửa chữa Khi phát hiện ranhững sai lệch của thành tựu so với chuẩn mực đề ra, các nhà quản lý có thểđiều chỉnh các sai lệch bằng cách thay đổi các hoạt động của cá nhân thành

Trang 27

viên hay các nhiệm vụ hoạt động của một bộ phận trong tổ chức, hoặc là sửađổi các chuẩn mực thành tựu nếu thấy chúng không thể thực hiện được

Tóm lại: Trong một chu trình quản lý cả bốn chức năng trên phải được

thực hiện liên tiếp và đan xen vào nhau; phối hợp bổ sung cho nhau tạo sự kếtnối giữa chu trình này sang chu trình khác theo hướng phát triển trong đóthông tin luôn là yếu tố xuyên suốt không thể thiếu trong việc thực hiện cácchức năng quản lý và là cơ sở cho việc ra quyết định quản lý Bốn chức năngquản lý trên có quan hệ biện chứng với nhau, đều được triển khai khi tiếnhành hoạt động quản lý Bất cứ người quản lý nào cũng phải làm công việclập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra Điều này được thể hiện ở sơ đồ 1.1

Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa thông tin và các chức năng trong quản lý

1.4.2 Nội dung quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh nhằm nâng cao chất lượng dạy và học

1.4.2.1 Quản lý xây dựng và triển khai chương trình giáo dục

Chương trình dạy học là văn bản pháp lý do Bộ GD& ĐT ban hành trongđó đã quy định một cách cụ thể: Vị trí, mục đích môn học phạm vi và hệthống nội dung môn học, số tiết dành cho môn học nói chung cũng như từng

Kế hoạch

Kiểm tra đánh giá Thông tin Tổ chức

Chỉ đạo

Trang 28

Chương trình dạy học là công cụ chủ yếu để Bộ GD &ĐT chỉ đạo vàgiám sát công tác dạy học của nhà trường thông qua các cơ quan quản lý giáodục các cấp Đồng thời nó cũng là căn cứ để giáo viên dựa vào đó để lập kếhoạch dạy học, tiến hành tổ chức công tác giảng dạy của mình.

Kế hoạch dạy học là văn bản pháp lý của Bộ GD&ĐT ban hành trong đóquy định các môn học, trình tự dạy các môn học qua từng năm học, số tiết chotừng môn từng khối lớp cho mỗi học kỳ, mỗi năm học,từng tuần học

Quản lý việc thực hiện chương trình kế hoạch dạy học của giáo viên làquản lý việc thực hiện phân phối chương trình kế hoạch dạy học của giáo viênđã được duyệt

1.4.2.2 Quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên tiếng Anh

Quản lý hoạt động giảng dạy thực chất là quản lý việc thực hiện nhiệmvụ của giảng viên Giảng viên truyền đạt kiến thức, kỹ năng và những giá trị

về tư tưởng, phẩm chất cần được trang bị cho sinh viên Quản lý hoạt độnggiảng dạy bao gồm một số nội dung cơ bản:

- Chỉ đạo công tác lập kế hoạch giảng dạy

- Giám sát việc thực hiện chương trình giảng dạy(nội dung giảng dạy vàtiến trình giảng dạy) Công việc này đòi hỏi giảng viên dạy đúng, dạy đủ bài,đúng tiến độ quy định trong đề cương học phần và thời khóa biểu

- Giám sát việc đổi mới phương pháp dạy học và sử dụng phương tiệndạy học hiện đại

- Quản lý việc thực hiện quy chế kiểm tra đánh giá Kiểm tra đánh giákết quả học tập của sinh viên là quá trình thu thập và sử lý thông tin về trìnhđộ và khả năng của người học, trên cơ sở đó để ra những biện pháp phù hợpgiúp sinh viên học tập tiến bộ Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinhviên phải được thực hiện đúng quy định

- Quản lý hồ sơ chuyên môn của giảng viên: Đây là nội dung rất quantrọng vì nó là phương tiện giúp người quản lý nắm được tình hình thực hiện

Trang 29

nhiệm vụ chuyên môn của giảng viên Những hồ sơ cơ bản của mỗi giảngviên gồm:

+ Chương trình những học phần được phân công giảng dạy;

+ Kế hoạch năm học;

+ Kế hoạch giảng dạy học phần;

+ Giáo án, bài giảng;

+Sổ lên lớp;

+ Sổ dự giờ

+ Hồ sơ nghiên cứu khoa học;

+ Hồ sơ tự học, tự bồi dưỡng;

1.4.2.3 Quản lý hoạt động học của sinh viên

- Quản lý hoạt động học của sinh viên là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụhọc tập, rèn luyện và nghiên cứu nghề nghiệp của sinh viên trong suốt quá trìnhhọc tập

- Quản lý phương pháp học tập của sinh viên: thông qua các giờ lên lớp,giảng viên hướng dẫn sinh viên phương pháp học tập phù hợp;

- Xây dựng nội quy, quy định về học tập, đặc biệt là hoạt động tự học, tựnghiên cứu của sinh viên; Có quy định cụ thể về thực hiện nề nếp học tập củasinh viên Trong việc giảng dạy tiếng Anh, giảng viên giữ vai trò quan trọngtrong việc hướng dẫn, cung cấp nguồn tài liệu cho sinh viên tự học, tự nghiêncứu và giúp họ có niềm say mê trong việc học Ngoại ngữ

- Quản lý việc đánh giá, phân tích kết quả học tập của sinh viên Đây làkênh thông tin quan trọng giúp sinh viên xác định được năng lực học tập củamình, từ đó có những điều chỉnh nhất định nhằm tìm ra những phương pháphọc tập hiệu quả hơn nhằm đạt kết quả ngày càng cao hơn

1.4.2.4 Quản lý các điều kiện phục vụ hoạt động dạy- học

* Cơ sở vật chất phục vụ hoạt động dạy và học:

Trang 30

Cơ sở vật chất phục vụ hoạt động dạy và học phải đáp ứng được nhucầu của hoạt động dạy- học như:

- Hệ thống giảng đường phải đa dạng phong phú về kích cỡ: Có sứcchứa lớn, trung bình và nhỏ để tổ chức các lớp lý thuyết, thảo luận và thựchành

- Các giảng đường đều phải trang bị hệ thống thiết bị hỗ trợ giảng dạy cốđịnh với chất lượng tốt

- Thư viện phải đạt chuẩn, bổ sung các loại sách tham khảo Nâng caokhả năng hoạt động của thư viện để thu hút và tạo điều kiện cho học sinhtham gia đọc sách, tích lũy kiến thức từ thư viện

Như vậy, phải quản lý các điều kiện đảm bảo cho hoạt động dạy- họctiếng Anh, thông qua việc xây dựng kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết

bị, phương tiện kỹ thuật hiện đại

* Điều chỉnh việc ban hành các chính sách cho giáo viên

Chính sách đãi ngộ giáo viên là nội dung khá quan trọng trong hoạt độngquản lý giáo viên Bởi vì mục tiêu của nhà quản lý là hình thành một mộitrường mà con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian vàtiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất Với tư cách thực hành thì quản lý làmột nghệ thuật còn với kiến thức thì quản lý là một khoa học Vì vậy để quản

lý tốt và có hiệu quả trong sử dụng đội ngũ giáo viên, các nhà quản lý giáodục phải tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển có hiệu quả đó

Trong một trường học, Hiệu trưởng là người tạo môi trường và độnglực để giáo viên phát huy năng lực nghề nghiệp của bản thân bằng các quyếtđịnh về mặt tổ chức như: Đề bạt, thăng chức, bố trí giáo viên có kết quả đánhgiá cao vào các vị trí then chốt trong nhà trường

Đãi ngộ liên quan đến quyết định về lương, phúc lợi và thưởng Trongbối cảnh hiện nay thách thức lớn nhất trong lĩnh vực này là làm sao để cải

Trang 31

thiện chế độ tiền lương, tạo ra các điều kiện sống và làm việc trong một môitrường tốt cho giáo viên.

Tiểu kết chương 1

Nội dung chương 1 đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận làm cơ sở lýluận cho đề tài Trong chương này chúng tôi đã nêu ra một số vấn đề lý luậnvà khái niệm về: Quá trình dạy học, chất lượng của dạy và học, đặc điểm củahoạt động dạy học tiếng Anh, quản lý, quản lý giáo dục, quản lý hoạt độngdạy- học Tất cả những vấn đề lý luận đó sẽ là cơ sở phân tích thực trạng và

đề ra các biện pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy và họctiếng Anh tại trường Cao đẳng Kinh tế- Kỹ thuật Thương mại

Trang 32

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY-HỌC TIẾNG ANH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ -KỸ THUẬT THUƠNG MẠI

2.1 Vài nét giới thiệu về trường

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại được nâng cấp từTrường Trung học Thương mại Trung ương I theo Quyết định số97/1998/QĐ-TTg ngày 22/5/1998 của Thủ tướng Chính phủ tiền thân củaTrường Trung học Thương mại Trung ương I là Trường Cán bộ vật tư vàTrường Trung học Thương nghiệp Sơn Tây, được thành lập từ năm 1961 vàđược hợp nhất năm 1990 theo quyết định của Bộ Thương mại (nay là BộCông Thương)

Trải qua 50 năm xây dựng và phát triển, đến nay Trường đã đào tạo chonghành và xã hội hơn 62000 cán bộ, nhân viên, trong đó khoảng 200 lưu họcsinh các nước bạn Lào, Campuchia, 400 sĩ quan và chiến sĩ của Bộ Quốcphòng, đã liên kết đào tạo liên thông và tại chức với các trường trong và ngoàinước gần 4000 kỹ sư và cử nhân

Hiện nay trường đóng trên địa bàn phường Phú Lãm – Quận Hà Thành phố Hà Nội, với đội ngũ gần 300 giảng viên, trong đó số giảng viên cótrình độ Thạc sỹ và Tiến sĩ chiếm hơn 50% Từ một nghành có 3 chuyênngành đào tạo với vài trăm sinh viên một năm, đến nay trường đã có 9 ngànhvới 20 chuyên ngành, 8000 sinh viên học sinh đang theo học Nhà trường đãvà đang liên kết đào tạo với nhiều trường đại học trong và ngoài nước nhưĐại học Bách Khoa, Đại học Kinh Tế Quốc Dân, Đại học Thương Mại, Đạihọc Kỹ Thuật Công Nghiệp( Đại Học Thái Nguyên), Đại học Long Hoa,Wenzao(Đài Loan) đào tạo hoàn chỉnh, liên thông cấp đại học chính quy chohàng nghìn sinh viên

Trang 33

Đông-Trên con đường xây dựng và phát triển trường Cao Đẳng Kinh tế – KỹThuật Thương Mại đã tạo dựng nên nhiều truyền thống quý báu Đó chính làtruyền thống lao động quên mình, cần cù sáng tạo trong giảng dạy và nghiêncứư khoa học, công tác và học tập, truyền thống đoàn kết tương thân tương áivượt lên mọi khó khăn để không ngừng tồn tại và phát triển.

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của trường Cao Đẳng Kinh Tế- Kỹ Thuật Thương Mại

Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại thực hiện chức năngđào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo các chuyên ngành kinh tế, kỹ thuật, thươngmại ở các bậc: Cao đẳng, Trung học và Dạy nghề; Tổ chức nghiên cứu vàthực nghiệm khoa học công nghệ, phục vụ công tác giáo dục - đào tạo, sảnxuất kinh doanh và dịch vụ của ngành Công Thương

Quán triệt và thực hiện quan điểm đổi mới công tác giáo dục - đào tạocủa Đảng, Nhà trường đã bám sát mục tiêu giáo dục - đào tạo của Đảng vàNhà nước là: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, hìnhthành đội ngũ lao động có tri thức, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động -sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước

Nhà trường đã phấn đấu đào tạo thế hệ trẻ theo hướng toàn diện, có nănglực chuyên môn sâu, có ý thức và khả năng tự tạo việc làm trong nền kinh tếthị trường theo định hướng XHCN

Đồng thời Nhà trường còn tích cực thực hiện công tác nghiên cứu khoahọc Đã có 7 đề tài khoa học cấp Bộ, nhiều đề tại khoa học cấp trường đượchoàn thành trong những năm qua, góp phần tích cực vào việc nâng cao trình độđội ngũ cán bộ - giảng viên, nâng cao chất lượng đào tạo và một số lĩnh vực hoạtđộng thực tiễn của ngành

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trường Cao đẳng Kinh Tế- Kỹ Thuật Thương mại

Trang 34

Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý trường Cao đẳng Kinh Tế – Kỹ ThuậtThương Mại được xây dựng theo mô hình trường đa hệ nhằm đáp ứng nhucầu giáo dục, cung cấp nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH hướng tới mộtxã hội học tập Trường Cao đẳng Kinh tế- Kỹ Thuật Thương Mại trực thuộcbộ Công thương và chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo vềgiáo dục- đào tạo, được hưởng các chính sách, chế độ của Nhà nước áp dụngcho hệ thống các trường đại học và cao đẳng

Bộ máy tổ chức của nhà trường gồm: Ban giám hiệu, 09 phòng chứcnăng và trung tâm và 09 khoa

Hội đồng Khoa học và Đào tạo, các hội đồng tư vấn khác giúp Hiệu trưởngchỉ đạo các mặt công tác Bên cạnh đó nhà trường còn có các tổ chức đoàn thểquần chúng như: Công đoàn, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh,Hội Sinh viên

Tổng số cán bộ giảng viên, công nhân viên tính đến tháng 11/2011 là

295 người, trong đó có 190 giảng viên Về trình độ, hiện có 4 Tiến sĩ, 80 Thạc

sĩ, 10 người đang nghiên cứu sinh và 60 người đang học Cao học

Tóm lại: Cơ cấu tổ chức tương đối phù hợp với thực trạng quy mô phát

triển của trường Mỗi đơn vị đảm nhiệm một nhiệm vụ rõ ràng Đội ngũ quản

lý cơ bản đủ về số lượng và đa số cán bộ quản lý có tinh thần trách nhiệm cao,nhiệt tình trong công tác Đội ngũ giảng viên đang trẻ hóa nhanh, có phẩmchất đạo đức nhà giáo tốt, năng động sáng tạo, ham học hỏi có thể đáp ứngvới yêu cầu phát triển của nhà trường

2.1.4 Quy mô đào tạo

Mục tiêu đào tạo của trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Thương mại

là đa ngành, đa cấp, nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ và dịch vụ

tư vấn có uy tín trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại; sau năm 2014 trởthành trường Đại học, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượngcao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế Công

Trang 35

tác tuyển sinh của nhà trường có nhiều chuyển biến rõ rệt, đầu vào tuyển sinhđã đảm bảo chất lượng, quy mô đào tạo cũng như chất lượng đã được cải tiến.Những năm gần đây đầu vào tuyển sinh của các chuyên ngành có khả quanhơn nhưng do nhu cầu của xã hội cũng như hội nhập thì cũng có rất nhiều cơsở đào tạo khác nhau nên việc tuyển những học sinh trung học phổ thông cókiến thức vững là khan hiếm vì thế việc mở rộng quy mô đào tạo, đảm bảochất lượng đào tạo là việc quan trọng và bắt buộc phải làm đối với trường Caođẳng Kinh tế – Kỹ thuật Thương Mại Dưới đây là các ngành nghề và bậcđào tạo của trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thương mại

BẬC CAO ĐẲNG

Các ngành đào tạo:

- Ngành Quản trị kinh doanh:

+ Kinh doanh thương mại

+ Kinh doanh xăng dầu

+ Kinh doanh xuất nhập khẩu

+ Kinh doanh khách sạn du lịch

+ Marketing thương mại

+ Thương mại điện tử

- Ngành Kế toán:

+ Kế toán doanh nghiệp

+ Kiểm toán

- Ngành Tài chính - Ngân hàng

+ Tài chính doanh nghiệp

+ Ngân hàng thương mại

- Ngành Hệ thống thông tin quản lý:

+ Tin học doanh nghiệp

+ Tin học kế toán

Trang 36

+ Tiếng Anh thương mại

- Ngành Công nghệ hóa học:

+ Kỹ thuật xăng dầu

+ Hoá phân tích

+ Công nghệ hoá hữu cơ

BẬC CAO ĐẲNG NGHỀ (Cấp bằng CAO ĐẲNG NGHỀ)

Các nghề đào tạo:

Các ngành đào tạo:

- Ngành Kế toán (chuyên ngành Kế toán doanh nghiệp)

- Ngành Quản trị kinh doanh (Chuyên ngành Kinh doanh thương mại)

- Ngành Công nghệ hóa học (chuyên ngành Kỹ thuật xăng dầu

BẬC TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP: (Cấp bằng chính quy)

Các ngành đào tạo:

- Ngành Nghiệp vụ kinh doanh thương mại và dịch vụ, gồm:

+ Nghiệp vụ kinh doanh thương mại

+ Nghiệp vụ lễ tân

+ Xuất nhập khẩu

+ Kế toán doanh nghiệp thương mại

- Ngành Quản lý chất lượng hàng hóa, gồm:

+ Kỹ thuật xăng dầu, gas

+ Quản lý kỹ thuật thiết bị, phụ tùng

+ Quản lý kỹ thuật kim khí

+ Quản lý kỹ thuật hóa chất - Vật liệu điện

Trang 37

BẬC TRUNG CẤP NGHỀ: (Cấp bằng TRUNG CẤP NGHỀ)

Các nghề đào tạo:

- Nghiệp vụ kinh doanh thương mại

- Bán hàng xăng dầu, gas

- Hóa nghiệm xăng dầu

- Kế toán doanh nghiệp

- Nghiệp vụ lễ tân

- Điện xí nghiệp, Điện dân dụng

BỒI DƯỠNG NGẮN HẠN: (Cấp chứng chỉ)

- Nghiệp vụ kinh doanh thương mại

- Cửa hàng trưởng

- Nâng bậc nghề công nhân bán hàng, thủ kho

- Hóa nghiệm

- Bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học

- Kế toán trưởng

- Kiểm toán

- Kế toán hành chính sự nghiệp

HỆ HOÀN CHỈNH KIẾN THỨC ĐẠI HỌC

2.1.5 Tình hình cơ sở vật chất

Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Thương mại hiện có 47 phòng họcvới tổng diện tích 8.315m2 Quy mô mỗi phòng học cho từ 50 đến 150 HSSV

Tỷ số bình quân diện tích phòng học trên học sinh, sinh viên là 2,8 m2/HSSVĐể đáp ứng yêu cầu giảng dạy và học tập đa ngành kinh tế và kỹ thuậtviệc xây dựng hệ thống phòng thí nghiệm, thực hành là hết sức cần thiết Nhàtrường đã xây dựng được 15 phòng thí nghiệm và thực hành đáp ứng nhu cầuthực hành, thí nghiệm của các ngành học Trong đó có 5 phòng thực hành tinhọc; 1 phòng máy tính nối mạng Internet; 1 phòng thực hành chứng khoán ảo; 1

Trang 38

phòng thực hành ngữ âm; 7 phòng thực hành, thí nghiệm xăng dầu, hóa chất,điện; 1 phòng thực hành du lịch.

Trường đã có 100% số lớp học được sử dụng máy chiếu và máy vi tính.Các phòng học đều trang bị hệ thống âm thanh Các Khoa, Bộ môn đượctrang bị máy vi tính, máy in lase

Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại đã dành chọn 2 tầng củatòa nhà 5 tầng cho Trung tâm thư viện Diện tích mặt bằng của Phòng đọc: 231m2 Trung tâm được bố trí hợp lý tại tầng 2 và tầng 3 của tòa nhà bao gồm 02phòng đọc:

Nhà trường luôn quan tâm áp dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy,học tập và quản lý Đến này, toàn trường có 437 máy vi tính, trong đó số máytính dùng cho giảng dạy và học tập là 369 máy, số máy phục vụ quản lý, điềuhành là 68 máy Tỷ số học sinh, sinh viên trên máy tính sử dụng cho giảngdạy là 8 HSSV/1 máy Hệ thống máy tính ở các Phòng chức năng, Khoa, Bộmôn đều được nối mạng nội bộ và kết nối với internet Đặc biệt, nhằm giúphọc sinh, sinh viên tiếp cận với công nghệ thông tin, tìm kiếm tài liệu học tập,Nhà trường đã đầu tư trang bị 5 phòng máy tính và một phòng máy tính kếtnối với internet tốc độ cao

Ký túc xá học sinh- sinh viên nằm trên khuôn viên rộng 10.800m2, gồm

10 dãy nhà từ nhà B1 đến nhà B10, trong đó ba dãy nhà cấp 4, bảy dãy nhàcấp 3 (từ 2 đến 3 tầng) Với tổng diện tích phòng ở là 2467 m2, hàng nămNhà trường đã đảm bảo chỗ ở cho 800 HSSV, chiếm gần 50% nhu cầu vềphòng ở của HSSV Tỷ số diện tích bình quân trên học sinh, sinh viên ở trong

ký túc xá là 3,3 m2

Trường có một sân bãi rộng 3000m2, 02 sân bóng chuyền diện tích500m2/1sân, 04 sân cầu lông diện tích 200m2/1sân dùng làm nơi học giáo dụcthể chất và giáo dục quốc phòng Đồng thời, sân này còn dùng để tổ chức cáchoạt động văn thể như bóng đá, bóng chuyền cầu lông, hội diễn văn nghệ, tổ

Trang 39

chức hội trại cho học sinh-sinh viên Từ lâu, nhà trường đã có Hội trường lớnvới 500 chỗ, có ghế ngồi, tiện nghi ánh sáng đầy đủ Hội trường đã được sửdụng với công suất tối đa phục vụ cho các lớp học đông người, các buổi hộidiễn văn nghệ, các hội nghị, các buổi giao lưu, các cuộc thi và hoạt độngngoại khóakhác.

2.1.6 Vài nét về khoa Ngoại ngữ

Mặc dù mới được thành lập từ tháng 5 năm 1998 song sự trưởng thànhvà thành quả 50 năm của trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ Thuật Thương mại đãcó sự đóng góp không nhỏ của Khoa Ngoại ngữ Hiện nay Khoa Ngoại ngữcó 23 giảng viên cơ hữu, 6 giảng viên thỉnh giảng, gồm 2 bộ môn trực thuộclà Bộ môn Tiếng Anh cơ bản và Bộ môn Tiếng Anh chuyên nghành Trong số

29 giảng viên có 6 giảng viên là Đảng viên Đảng cộng sản Việt nam, 2 giảngviên đang là đối tượng Đảng, 9 giảng viên là thạc sỹ và 10 đồng chí đang họcCao học và 1 đồng chí được cử đi đào tạo Thạc sỹ ở Đài Loan

Như vậy đội ngũ GV tiếng Anh có đủ trình độ chuyên môn để đảm bảoyêu cầu về kiến thức cũng như nghiệp vụ sư phạm để giảng dạy cho một sốlượng lớn SV của nhà trường trong các chương trình chính quy, liên thông, vàliên kết

Kể từ khi thành lập đến nay, với bao thách thức khó khăn vất vả, songtoàn bộ giáo viên trong khoa đã đoàn kết một lòng kề vai sát cánh để khắcphục mọi trở ngại luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ của nhà trường giaocho và đã đạt được nhiều thành tích xuất sắc như:

-Tập thể lao động xuất sắc 3 năm liên tục 2008, 2009, 2010

- Bằng khen của Bộ Công Thương năm học 2007- 2008, 2009- 2010;-Bằng khen của Bộ Công Thương điển hình tiên tiến 5 năm 2005- 2009

- Bằng khen của Công đoàn Công Thương Việt Nam năm 2010

Từ năm 2008 Khoa Ngoại Ngữ đã thành lập chuyên nghành Tiếng Anh

Trang 40

xuyên, để phục vụ tốt cho công tác dạy - học, hoạt động này được toàn thểgiáo viên và sinh viên trong khoa hưởng ứng nhiệt tình và đạt được kết quảtốt như cuộc thi tiếng Anh Let’s English, Halloween

- Khoa Ngoại ngữ được giao nhiệm vụ giảng dạy các học phần tiếng Anhcho tất cả các lớp học sinh- sinh viên trong Trường từ Trung cấp nghề, Trungcấp, Liên thông và Cao đẳng Khối lượng giảng dạy của Khoa đạt trung bìnhhàng năm là 130% so với tiêu chuẩn

Trong công tác giảng dạy các giảng viên khoa Ngoại ngữ đều cố gắngvươn lên để tạo điều kiện nâng cao chất lượng giảng dạy, thể hiện trong việcsoạn giảng, nề nếp ra vào lớp, thực hiện quy chế chuyên môn, qua các đợt kiểmtra của trường khoa được đánh giá rất tốt Toàn bộ giảng viên khoa Ngoại ngữtham gia vào việc làm giáo án, bài giảng điện tử và luôn áp dụng phương phápdạy học hiện đại vào bài giảng của mình Nhìn chung giáo viên chấp hành tốtmọi nội quy, quy chế chuyên môn có ý thức trách nhiệm cao trong công tácgiảng dạy, có tâm huyết với nghề và hết lòng vì sự nghiệp giáo dục

Có thể nói khoa mới được thành lập nhưng những gì đạt được là nhờ sựnỗ lực của cả tập thể, luôn đoàn kết nhất trí cao để thúc đẩy mọi hoạt độngphong trào của khoa ngày càng phát triển

2.2 Thực trạng hoạt động dạy- học tiếng Anh tại trường Cao đẳng Kinh Tế – Kỹ thuật Thương mại

Để xác định thực trạng hoạt động dạy- học môn tiếng Anh ở trường caođẳng Kinh tế – Kỹ thuật Thương mại chúng tôi đã lấy ý kiến đánh giá của 35cán bộ quản lý (trong đó 3 đồng chí trong BGH, 9 trưởng khoa và bộ môn, 2đồng chí Phòng đào tạo) và 100 SV với mục đích đánh giá các vấn đề cụ thểnhư sau:

2.2.1 Quản lý chương trình dạy học môn tiếng Anh

2.2.1.1 Mục tiêu giảng dạy

Ngày đăng: 20/07/2014, 17:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tài liệu bổ sung về tình hình giáo dục. Hà Nội, 10/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bổ sung về tình hình giáo dục
3. Đặng Quốc Bảo. Một số khái niệm về quản lý giáo dục. Trường cán bộ quản lý giáo dục, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khái niệm về quản lý giáo dục
4. Đặng Quốc Bảo. Giáo dục trong nhà trường người thầy: một góc nhìn, Bài giảng cao học QLGD Trường Đại học Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục trong nhà trường người thầy: một góc nhìn
5. Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Thj Mỹ Lộc. Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường. Tài liệu giảng dạy cao học. Trường Đại học Giáo dục, ĐHQG HàNội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý giáo dục, quản lý nhà "trường
7. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thj Mỹ Lộc. Bài giảng Cơ sở khoa học quản lý, Tài liệu giảng dạy cao học.Trường Đại học Giáo dục, ĐHQG Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Cơ sở khoa học quản lý
8. Nguyễn Quốc Chí , Nguyễn Thj Mỹ Lộc. Lý luận quản lý nhà trường., Tài liệu giảng dạy cao học.Trường Đại học Giáo dục, ĐHQG Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận quản lý nhà trường
9. Nguyễn Quốc Chí. Những cơ sở lý luận quản lý giáo dục. Tài liệu giảng dạy cao học.Trường Đại học Giáo dục, ĐHQG Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở lý luận quản lý giáo dục
11.Vũ Cao Đàm Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học kỹ thuật,2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật
12.Nguyễn Thi Phương Hoa. Lý luận dạy học hiện đại.Tài liệu giảng dạy cao học.Trường Đại học Giáo dục, ĐHQG Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học hiện đại
13.Lê Ngọc Hùng. Xã hội học Giáo dục. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học Giáo dục
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
14.Nunan, D. Language Teaching Methodology, Prentice Hall International (UK) Ltd, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Language Teaching Methodology
15.Nguyễn Ngọc Quang. Bản chất của quá trình dạy học. Giáo dục học Đại học, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản chất của quá trình dạy học
17.Nguyễn Cảnh Toàn. Luận bàn về kinh nghiệm tự học. NXB Giáo dục Hà Nội,1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận bàn về kinh nghiệm tự học
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
18. Viện Chiến lược và Chương trình Giáo dục- Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đề án giảng dạy, học tập Ngọa ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam giai đoạn 2004- 2015(Dự thảo9/2004). Quyển 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án giảng dạy, học tập Ngọa ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam giai đoạn 2004- 2015(Dự thảo9/2004)
19.Viện Chiến lược và Chương trình Giáo dục- Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đề án giảng dạy, học tập Ngọa ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam giai đoạn 2004- 2015(Dự thảo9/2004). Quyển 2: Tài liệu phụ lục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề "án giảng dạy, học tập Ngọa ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam giai đoạn 2004- 2015(Dự thảo9/2004)
20. Trần Đức Vượng. Đề xuất các chỉ số đánh giá hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học. Tạp chí Giáo dục số 123. Hà Nội, 10/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề xuất các chỉ số đánh giá hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học
2. Bộ GD&ĐT. Luật Giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam(Sửa đổi), Hà Nội, 2005 Khác
10.Nguyễn Đức Chính. Đổi mới đánh giá kết quả học tập của sinh viên như một giải pháp đào tạo giáo viên chất lượng cao tại khoa Sư phạm ĐHQG Hà nội Khác
16.Vũ văn Tảo. Vài nét về xu thế đổi mới phương pháp dạy – học Đại học trên thế giới và hướng vận dụng vào nước ta Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1:  Kết quả khảo sát thực trạng các hoạt động giảng dạy của GV - biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy và học môn tiếng anh tại trường cao đẳng kinh tế - kỹ thuật thương mại
Bảng 2.1 Kết quả khảo sát thực trạng các hoạt động giảng dạy của GV (Trang 47)
Bảng 2.2: Thực trạng sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy -  học để dạy các kỹ năng nói, nghe, đọc, viết và hình thành năng lực giao tiếp - biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy và học môn tiếng anh tại trường cao đẳng kinh tế - kỹ thuật thương mại
Bảng 2.2 Thực trạng sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy - học để dạy các kỹ năng nói, nghe, đọc, viết và hình thành năng lực giao tiếp (Trang 50)
Bảng 2.3: Thực trạng về mức độ thực hiện các hoạt động học của sinh viên - biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy và học môn tiếng anh tại trường cao đẳng kinh tế - kỹ thuật thương mại
Bảng 2.3 Thực trạng về mức độ thực hiện các hoạt động học của sinh viên (Trang 52)
Bảng 2.6 :  Thực  trạng quản lý nhiệm vụ soạn bài và chuẩn bị lên lớp - biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy và học môn tiếng anh tại trường cao đẳng kinh tế - kỹ thuật thương mại
Bảng 2.6 Thực trạng quản lý nhiệm vụ soạn bài và chuẩn bị lên lớp (Trang 66)
Bảng 2.10: Thực trạng quản lý các điều kiện phục vụ hoạt động dạy - học tiếng Anh - biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy và học môn tiếng anh tại trường cao đẳng kinh tế - kỹ thuật thương mại
Bảng 2.10 Thực trạng quản lý các điều kiện phục vụ hoạt động dạy - học tiếng Anh (Trang 76)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w