Thị trường sơ cấp hay còn gọi là thị trường phát hành là thị trường trong đó các công cụ tài chính được mua bán lần đầu tiên.. Thị trường thứ cấp là thị trường giao dịch các công cụ tài
Trang 1SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CỦA VIỆT NAM & ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ.
I Tổng quan về thị trường chứng khoán
1 Thị trường tài chính:
Thị trường chứng khoán (TTCK) là một bộ phận quan trọng của thị trường tài chính (TTTC) Như chúng ta đã biết, TTTC là nơi diễn ra sự chuyển vốn từ những người thừa vốn sang những người thiếu vốn Trong nền kinh tế thị trường, sự tồn tại và phát triển của TTTC là tất yếu khách quan
TTTC được phân loại thành các thị trường bộ phận căn cứ theo nhiều tiêu thức khác nhau
Căn cứ theo phương thức huy động vốn: TTTC bao gồm thị trường nợ và thị trường vốn cổ phần Thị trường nợ là thị trường mà hàng hóa được mua bán tại đó là các công cụ nợ Các công cụ này có thời hạn xác định, có thể là ngắc hạn, trung hạn hay dài hạn Thị trường vốn cổ phần là nơi mua bán các cổ phiếu, giấy xác nhận cổ phần đóng góp của cổ đông
Căn cứ vào thời hạn luân chuyển vốn, TTTC đươc chia thành thị trường tiền tệ và thị trường vốn Thị trường tiện tệ là thị trường tài chính trong đó các công cụ ngắn hạn (có kỳ hạn dưới 1 năm) được mua bán Thị trường vốn là thị trường giao dịch, mua bán các công cụ tài chính trung và dài hạn (gồm các công
cụ vay nợ dài hạn và cổ phiếu)
Căn cứ vào tính chất việc phát hành các công cụ tài chính, TTTC được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp Thị trường sơ cấp hay còn gọi là thị trường phát hành là thị trường trong đó các công cụ tài chính được mua bán lần đầu tiên Thị trường thứ cấp là thị trường giao dịch các công cụ tài chính sau khi chúng đã được phát hành trên thị trường sơ cấp Thi trường thứ cấp làm cho các công cụ tài chính có tính lỏng và tính sinh lợi cao hơn và do đó
Trang 2tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hành trên thị trường sơ cấp Vì vậy, có thể nói thị trường thứ cấp là động lực thúc đẩy sự phát triển của thị trường sơ cấp.
2 Thị trường chứng khoán:
Thị trường chứng khoán (TTCK) là hình ảnh đặc trưng của TT vốn, tức là giao dịch tất cả các công cụ ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
Phân loại TTTC theo thời gian lưu chuyển vốn
Đồng thời, TTCK là hạt nhân trung tâm của TTTC, tức là giao dịch cả các công cụ nợ: trái phiếu, tín phiếu và các công cụ sở hữu như cổ phiếu
Phân chia TTTC theo hình thức huy động vốn
Thị trường chứng khoán
CKngắn hạn
CCTC trung,dài hạn
Thị trường chứng khoán
TT trái phiếu
TT
cổ phiếu
Trang 3a, Khái niệm chung và phân loại thị trường chứng khoán:
Hiện nay đang tồn tại nhiều quan điểm về khái niệm chung cho TTCK, trong Giáo trình TTCK đưa ra khái niệm: TTCK là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các loại chứng khoán Bản chất của TTCK là thị trường thể hiện mối quan hệ giữa cung và cầu của vốn đầu tư mà ở đó, giá cả của TTCK chứa đựng thông tin về chi phí vốn hay giá cả của vốn đầu tư TTCK là hình thức phát triển bậc cao của nền sản xuất và lưu thông hàng hóa
Có nhiều tiêu chí khác nhau phân loại TTCK:
Theo loại hàng hoá giao dịch, người ta có thể phân chia TTCK thành thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu và thị trường các công cụ dẫn xuất Trong
đó thị trường trái phiếu là thị trường mà hàng hóa được mua bán tại đó là trái phiếu Thị trường cổ phiếu là nơi giao dịch, mua bán, trao đổi các giấy tờ xác nhận cổ phần đóng góp của cổ đông Thị trường công cụ dẫn xuất là nơi các chứng khoán phát sinh được mua và bán: như hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn…
Theo quá trình luân chuyển vốn TTCK được phân thành thị trường sơ cấp
và thị trường thứ cấp Thị trường sơ cấp là nơi mua bán các chứng khoán lần đầu tiên với giá phát hành Thị trường thứ cấp là nơi trao đổi các chứng khoán nhằm thu lời, giá cả ở thị trường này định giá các công ty
Trang 4Trên thực tế TTCK được tổ chức theo 2 hình thức: thị trường tập trung (sở giao dịch) và thị trường phi tập trung (OTC) Tại Sở giao dịch, người bán và người mua gặp nhau tại một địa điểm nhất định để giao dịch dưới sự quản lí chặt chẽ của Uỷ ban chứng khoán quốc gia Tại thị trường OTC, không có địa điểm chính thức chủ yếu thông qua điện thoại hoặc mạng nhưng khối lượng giao dịch lớn hơn nhiều so với Sở giao dịch.
Chủ thể đầu tư là những người có tiền, là các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp đầu tư mua bán chứng khoán với mục đích kiếm lời
Các tổ chức có liên quan bao gồm tổ chức giám sát- quản lí, tổ chức lưu
kí CK, hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán, các công ty đánh giá độ tín nhiệm
c Vai trò của TTCK:
* Vai trò tích cực:
TTCK, với việc tạo ra các công cụ có tính thanh khoản cao, có thể tích tụ, tập trung và phân phối vốn, chuyển thời hạn của vốn phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế
TTCK góp phần thực hiện tái phân phối công bằng hơn, thông qua việc buộc các tập đoàn gia đình trị phát hành chứng khoán ra công chúng, giải tỏa sự tập trung quyền lực kinh tế của các tập đoàn song vẫn tập trung vốn cho phát triển kinh tế Việc tăng cường tầng lớp trung lưu trong xã hội, tăng cường sự giám sát của xã hội đối với quá trình phân phối đã giúp nhiều nước tiến xa hơn
Trang 5tới một xã hội công bằng và dân chủ Việc giải tỏa tập trung quyền lực kinh tế cũng tạo điều kiện cạnh tranh cong bằng hơn, qua đó tạo hiệu quả và tăng trưởng kinh tế.
TTCK tạo điều kiện cho việc tách biệt giưẫ sở hữu và quản lưyư doanh nghiệp Khi quy mô của doanh nghiệp tăng lên, môi trường kinh doạnh trở nên phức tạp hơn, nhu cầu về quản lưí chuyên trách cũng tăng theo TTCK tạo điều kiện cho việc tiết kiệm vốn và chất xám, tạo điều kiện thúc đẩy quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Cơ chế thông tin haòn hảo khả năng giám chặt chẽ của thị trường chứng khoán đã làm giảm tác động của các tiêu cực trong quản lí, tạo điều kiện kết hợp hài hòa giữa lợi ích của chủ sở hữu, nhà quản lí và những người làm công
Hiệu quả của quốc tế hóa TTCK Việc mở ra của TTCK làm tăng tính lỏng và cạnh tranh trên thị trường quốc tế Điều này cho phép các công ty có thể huy động nguồn vốn rẻ hơn tăng cường đầu tư từ nguồn tiết kiệm bên ngoài, đồng thời tăng cường khả năng cạnh tranh quốc tế và mở rộng các cơ hội kinh doanh của các công ty trong nước
TTCK tạo cơ hội cho Chính phủ huy động các nguồn tài chính mà không tạo áp lực về lạm phát, đòng thời tạo các công cụ cho việc thực hiện chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ
TTCK cung cấp một dự báo tuyệt vời về các chu kỳ kinh doanh trong tương lai Việc thay đổi giá chứng khoán có xu hướng đi trước chu kỳ kinh doanh cho phép Chính phủ cũng như các công ty đánh giá kế hoạch đầu tư cũng như việc phân bổ các nguồn lực của họ TTCK cũng tạo điều kiện tái cấu trúc nền kinh tế
*Vai trò tiêu cực:
Ngoài những tác động tích cực trên đây, TTCK cũng có những tác động tiêu cực nhất định TTCK hoạt động trên cơ sở thông tin hoàn hảo Song ở các thị trường mới nổi, thông tin được chuyển tải tới các nhà đầu tư không đầy đủ
và không giống nhau Việc quyết định giá cả, mua bán chứng khoán của các nhà
Trang 6đầu tư không dựa trên cơ sở thông tin và sử lí thông tin Như vậy, giá cả chứng khoán không phản ánh giá trị kinh tế cơ bản của công ty và không trở thàng cơ
sở để phân phối một cách có hiệu quả nguồn lực
Một số tiêu cực khác của TTCK như hiện tượng đầu cơ, hiện tượng xung đột quyền lực làm thiệt hại cho quyền lợi của các cổ đông thiểu số, việc mua bán nội gián, thao túng thị trường làm nản lòng các nhà đầu tư và như vậy, sẽ tác động tiêu cực tới tiết kiệm và đầu tư Nhiệm vụ của các nhà quản lí thị trường nhằm bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư và đảm bảo cho tính hiệu quả của thị trường
Như vậy, vai trò của TTCK được thể hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau Song vai trò tích cực hay tiêu cực của TTCK có thực sự được phát huy hay hạn chế phụ thuộc đáng kể vào chủ thể tham gia thị trường và quản lí của Nhà nước
II Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán
1 Lịch sử hình thành và phát triển thị trường chứng khoán trên thế giới.
Vào khoảng giữa thế kỷ thứ 15 ở tại thành phố trung tâm buôn bán của Phương Tây, các thương gia thướng tụ tập ở một số khu như quán cà phê để trao đổi mua bán các loại hàng hóa như nông sản, khoáng sản, tiền tệ và các chứng
từ có giá Điểm đặc biệt ở đây là các thương gia chỉ giao dịch với nhau bằng lời nói, không có hàng hóa thật Những cuộc thương lượng này nhằm thống nhất với nhau các hợp đồng trao đổi, mua bán ngay hoặc cho tương lai
Những cuộc trao đổi này ban đầu chỉ là một nhóm người và sau đó đông dần cho đến khi nó thực sự trở thành một khu chợ riêng Thời gian họp chợ lúc đầu là hàng tháng, sau đó hàng tuần rồi rút ngắn còn hàng ngày Trong các phiên họp chợ tại đây các thương gia thống nhất với nhau các quy ước cho việc thương lượng và sau này trở thành những quy tắc có giá trị bắt buộc đối với những ai muốn tham gia thị trường và thị trường chứng khoán hình thành từ đó Như vậy, thị trường chứng khoán xuất hiện từ thế kỷ 15 Sự hình thành thị
Trang 7trường chứng khoán cũng đồng thời với thị trường hối đoái và một số thị trường khác.
Sự hình thành thị trường chứng khoán đầu tiên tại Vương quốc Bỉ Năm
1453, tại một lữ quán của gia đình Vanber tại thành phố Bruges có một bảng hiệu vè 3 túi da và chữ Bourse tượng trưng cho 3 nội dung của thị trường: Thị trường hàng hóa, thị trường ngoại tệ và thị trường chứng khoán động sản; chữ Bourse có nghĩa là “mậu dịch thị trường” Đến năm 1547, thị trường ở đậy bị sụp đổ do cửa biển Evin – nơi dẫn các tàu thuyền vào buôn bán tại thành phố bị cát biển lấp mất Tuy nhiên, vào năm 1531, thị trường này đã được dời tới thành phố cảng Anvers (Bỉ), từ đó, thị trường này phát triển nhanh chóng Một thị trường như vậy cũng được thành lập ở London vào thế kỷ 18 và sau đó là một loạt thị trường tại Pháp, Đức, Y và một số nước Bắc Âu và Mỹ
Quá trình hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán thế giới đã trải qua những giai đoạn thăng trầm Thời kỳ huy hoàng nhất là vào những năm
1875 đến 1913, thị trường chứng khoán trong thời kỳ này phát triển mạnh cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế Nhưng đến “ngày thứ năm đen tối”, 29-10-
1929 là ngày mở đầu cuộc khủng hoảng của thị trường chứng khoán New York,
từ đó cuộc khủng hoảng kéo sang các thị trường chứng khoán Tây Âu, Bắc Âu
và Nhật Bản Sau thế chiến thứ hai, thị trường chứng khoán phục hồi và phát triển mạnh Nhưng rồi cuộc khủng hoảng tài chính 19-10-1987, “ngày thứ hai đen tối”, một lần nữa đã làm cho thị trường chứng khoán thế giới suy sụp nặng
nề Cuộc khủng hoảng này để lại hậu quả nghiêm trọng hơn cuộc khủng hoảng năm 1929 Nhưng chỉ sau 2 năm, thị trường chứng khoán thế giới tiếp tục đi vào hoạt động ổn định, phát triển và trở thành một định chế không thể thiếu trong đời sống kinh tế của những quốc gia có nền kinh tế phát triển theo định hướng thị trường
Hiện nay ở các quốc gia trên thế giới, thị trường chứng khoán được hình thành theo 2 cách: TTCK được hình thành một cách tự phát phù hợp với kinh tế thị trường; TTCK được hình thành với sự hỗ trợ của Nhà nước Đối với các
Trang 8quốc gia thuộc khu vực Châu á, TTCK được hình thành một cách có y thức với
sự hỗ thợ ngay từ ban đầu của Nhà nước Để TTCK được xây dựng ổn định và tăng trưởng nhanh, Chính phủ của mỗi nước đã có những chủ trương, chính sách cụ thể và bước đi phù hợp để hình thành các điều kiện về kinh tế, pháp lí,
kỹ thuật, nhân lực một cách đầy đủ và đồng bộ
Kinh nghiệm của nhiều nước Châu Á cho thấy, việc tạo môi trường pháp
lí đầy đủ và phù hợp là yếu tố rất quan trọng làm cho TTCK có thể duy trì và phát triển Nói chung, luật pháp ở các nước này được ban hành từng bước phù hợp với giai đoạn phát triển của TTCK Với quan điểm điều hành TTCK rất linh hoạt, nhà nước Hàn Quốc đã có những thay đổi phù hợp với thực tế để điều chỉnh trong khuôn khổ pháp lí, nhằm giải quyết được yêu cầu của TTCK, đồng thời tránh được xu hướng cứng nhắc, bị động… ở Trung quốc, từ năm 1990 chính phủ đã soạn thảo luật và thành lập cơ quan Nhà nước về quản lí TTCK Ngoài ra còn đề ra nhiều chính sách khác nhau, tác động trực tiếp đến TTCK như chính sách tín dụng ưu đãi, tư nhân hóa doanh nghiệp, khuyến khích đầu tư nước ngoài…
Về mô hình một số nước châu Á cũng đã thành công trong việc xây dựng
mô hình cho TTCK như Hàn Quốc từ năm 1998 có khoảng 95% khối lượng giao dịch và thực hiện lệnh ở Sở Giao dịch chứng khoán, đã được tự động hóa
Sở GDCK Trung quốc cũng được tự động hóa khâu giao dịch và thanh toán ở các nước này, xu hướng thống nhất các Sở Giao dịch chứng khoán với nhau để hình thành một thị trường chứng khoán thống nhất đã trở nên rõ ràng Cách làm này vừa thực hiện được năng lực sẵn có, vừa đáp ứng được nhu cầu hiện đại hóa
và tích kiệm chi phí
Quá trình mở cửa TTCK được áp dụng ở các nước châu Á cũng là kinh nghiệm tốt, mang lại hai lợi ích : Sở giao dịch chứng khoán thu được nhiều phí giao dịch hơn, nhờ tăng hoạt động giao dịch của các đối tác nước ngoài; Việc lưu thông nguồn vốn giữa trong nước và quốc tế, có tác dụng tốt trong việc tận
Trang 9dụng tiềm năng vốn trong nước và quốc tế TTCK của các nước đang phát triển
đã thực hiện việc mở cửa để thu hút vốn nước ngoài
Các nước phát triển TTCK thành công như Hàn quốc, Thái lan, Trung quốc đều áp dụng chính sách khuyến khích các công ty niêm yết ở sở GDCK
Ví dụ như Hàn quốc đã phát triển thị trường vốn, trong đó thực thi một loạt các biện pháp khuyến khích các công ty ra công khai ở TTCK như cho phép sử dụng chứng khoán của công ty niêm yết là phương tiện đặt cọc hay bảo lãnh thanh toán với doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước; có chế độ ưu đãi cho công
ty niêm yết trên TTCK, tiếp cận dễ dàng với ngân hàng… đồng thời, để tăng nguồn cung cấp hàng hóa cho TTCK, nhà nước các nước này đã đẩy mạnh cổ phần hóa và khuyến khích các công ty đăng kí giao dịch chứng khoán trên thị trường chứng khoán; giảm thuế cho các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa; giảm các loại thuế hành chính liên quan đến việc phát hành và mua bán chứng khoán cho các công ty có chứng khoán đăng kí trên thị trường Trong những năm qua, TTCK Trung quốc đã tạo nguồn hàng hóa phong phú với các cổ phiếu B,H,N cho người nước ngoài và có cơ chế tự điều hành, do Nhà nước quản lí Kinh nghiệm của Singgapo và Indonêxia như thành lập TTCK không chính thức
để khuyến khích việc phát triển cổ phiếu ra công chúng để nâng cao năng lực của trung tâm giao dịch chứng khoán và công ty chứng khoán, chính phủ các nước này đã áp dụng phổ biến công nghệ thông tin và tổ chức quản lí TTCK
2.Lịch sử phát triển và hình thành TTCK ở Việt Nam.
2.1 Các điều kiện khách quan và chủ quan hình thành thị trường chứng khoán Việt Nam
Thị trường chứng khoán có thể ra đời và hoạt động bình thường khi các hội tụ
đủ các điều kiện tất yếu về kinh tế, chính trị, xã hội Các yếu tố đó ở Việt Nam được thể hiện như sau:
Về mặt kinh tế: Thứ nhất, Quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam vừa tạo điều kiện vừa đặt ra yêu cầu phải xây dựng thị trường chứng
Trang 10khoán Một loạt các cải cách quan trọng được tiến hành đã từng bước tạo điều kiện làm xuất hiện thị trường vốn nói chung và TTCK nói riêng như: Việc cổ phần hoá và chuyển các DNNN sang chế độ hạch toán kinh doanh làm xuất hiện các yếu tố đầu tiên của TTCK như cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu ; Quốc hội đã thông qua nhiều bộ luật như Hiến pháp 1992, Luật Đất Đai, Luật Đầu tư nước ngoài,Luật thuế, Luật Doanh nghiệp từng bước pháp lý hoá các quyền về tài sản tạo điều kiện phát triển đồng bộ các thị trường trong đó có TTCK; quá trình
mở cửa nền kinh tế và thu hút vốn đầu tư nước ngoài đã đòi hỏi phải hoàn thiện thị trường vốn, đặc biệt là xây dựng TTCK để đáp ứng yêu cầu lưu động vốn trong và ngoài nước Tuy nhiên yếu tố quan trọng nhất tạo điều kiện thúc đẩy sự
ra đời của TTCK VN là nhờ vào tốc độ tăng trưởng kinh tế 10 năm của thập niên 1990 luôn ở mức cao, lạm phát được kiềm chế, đó chính là điều kiện tiên quyết để TTCK vận hành và phát triển tốt Thứ hai, Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoáđẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế với nhu cầu vốn khổng lồ của
nó là động lực thúc đẩy TTCK phát triển Các kênh huy động vốn truyền thống như Ngân hàng và các tổ chức tín dụng tỏ ra không bao quát hết các yêu cầu về vốn Do đó, yêu cầu thúc bách đặt ra là phải có hình thức huy động hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước- đó chính là TTCK Thứ ba, quá trình hình thành và phát triển công ty cổ phần với tư cách là chủ thể phát hành chứng khoán ở VN- đây là yếu tố căn bản đề duy trì và phát triển TTCK Với số lượng các công ty cổ phần không nhỏ (tính đến thời điểm 31/2/2001, có 1457 công ty
cổ phần) TTCK VN có thể nói đã có cơ sở ban đầu cung cấp hàng hoá cho thị trường giao dịch thứ cấp Tuy nhiên hệ thống công ty cổ phần vẫn chưa sẵn sàng hoà nhập với TTCK Thứ tư, lượng tiền tiết kiệm của dân cư Việt Nam có
xu hướng tăng dần với đà tăng trưởng và mở cửa của nền kinh tế cộng với lượng ngoại tệ không nhỏ từ Việt kiều và những người làm ăn ở nước ngoài chuyển về đã tạo ra tiềm năng đầu tư vào Chứng khoán
Về mặt xã hội: Một là,ở thập niên 90 Việt Nam đã cơ bản tạo được một môi trường chính trị xã hội ổn định, đây cũng là một điều kiện để thị TTCK ra đời
Trang 11và hoạt động bình thường Sự cam kết của Đảng và Nhà nước trong việc thực thi nhất quán chính sách kinh tế đa thành phần cộng với hiệu lực quản lý của nhà nước đã tạo niềm tin cho các nhà đầu tư vào một TTCK ổn định, trung thực Hai là,mặc dù còn nhiều ngỡ ngàng nhưng dân cư Việt Nam về cơ bản ủng hộ
và đã tham gia TTCK tuy nhiên số lượng các nhà đầu tư có tri thức và kĩ năng
về chứng khoán chưa nhiều Ba là, trong khoảng thời gian từ năm 1998 đến năm
2000, Nhà nước ta đã chú trọng công tác đào tạo đội ngũ cán bộ ngành chứng khoán chuẩn bị sẵn sàng cho sự ra đời của TTCK ở Việt Nam
Tuy các tiền đề cho sự ra đời và phát triển TTCK mới chỉ nhen nhóm mà chưa được tạo lập một cách đầy đủ và đồng bộ nhưng chúng ta lại có lợi thế là một nước đi sau có thể rút ra từ những nước đi trước những bài học thành công và thất bại, vận dụng vào nước mình một cách phù hợp TTCK Việt Nam được xây dựng và vận hành chính là kết quả của tư duy đó, phản ánh quyết tâm “thoát khỏi tụt hậu” của Việt Nam so với khu vực và thế giới
2.2 Cơ sở thành lập và những vấn đề sự kiện nổi bật qua 5 năm hoạt động thị trường chứng khoán Việt Nam.
Với chủ trương phát triển kinh tế thị trường , hình thành đồng bộ các loại thị trường theo định hướng XHCN, ngay từ những năm đầu của thập kỷ 1990, Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ ngành như Bộ Tài chính, Ngân hàng nhà nước nghiên cứu và xây dựng đề án phát triển TTCK ở Việt Nam Ngày 28/11/1996, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 75/NĐ-CP về việc thành lập Uỷ ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) để chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc ra đời TTCK UBCKNN tập trung xây dựng khuôn khổ pháp lý, hệ thống giao dịch ban đầu cho Trung tâm giao dịch Chứng khoán Tp Hồ Chí Minh (TTGDCK Tp.HCM), Đề án thành lập CtyCK, hướng dẫn các doanh nghiệp lập hồ sơ niêm yết, tổ chức đào tạo cán bộ Ngày 16/2/2000, Chính phủ ban hành Quyết định
số 140/CP-KTTH cho phép UBCKNN triển khai hệ thống giao dịch ban đầu, đây được coi là cơ sở pháp lý đầu tiên cho việc khởi động thị trường Đến ngày
Trang 1220/7/2000, TTGDCK Tp.HCM khai trương, đánh dấu sự ra đời của TTCK Việt Nam, bước đầu đi vào hoạt động chỉ với 4 CtyCK thành viên và 2 công ty niêm yết (CtyNY) với giá trị cổ phiếu niêm yết là 270 tỷ đồng (tính theo mệnh giá) Cho đến nay, TTCK Việt Nam đã trải qua 5 năm hoạt động và phát triển Theo UBCKNN, số CtyNY hiện nay là 29, tổng giá trị chứng khoán niêm yết trên thị trường đã đạt gần 31 nghìn tỷ đồng trong đó tổng giá trị cổ phiếu của 29 CtyNY đạt 1700 tỷ đồng ( chiếm trên 6%), còn lại là trái phiếu chính phủ, trái phiếu địa phương và trái phiếu ngân hàng Ngoài ra sự xuất hiện của chứng chỉ quĩ đầu tư với giá trị 300 tỷ đồng đã làm phong phú thêm hàng hoá trên TTCK Đáng nói là các CtyNY đã quen dần với cơ chế công bố thông tin và bước đầu thực hiện nguyên tắc quản trị công ty theo thông lệ tốt nhất.
UBCKNN đã cấp giấy phép hoạt động cho 13 CtyCK, 4 công ty quản lý quỹ (trong đó có 1 CTyQLQ liên doanh và 2 CtyQLQ thuộc các công ty bảo hiểm nhân thọ nước ngoài) Các CtyCK đã có mặt tại 4 tỉnh thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phòng, Tp.HCM, Bình Dương và có đại diện nhận lệnh tại nhiều tỉnh, thành phố khác Trong thời gian đầu, các CtyCK chủ yếu làm nghiệp vụ môi giới thì đến nay đã triển khai thêm nghiệp vụ tự doanh, bảo lãnh phát hành, quản lý danh mục đầu tư và tư vấn tài chính với nguồn vốn điều lệ lên tới trên 660 tỷ đồng
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam được chỉ định làm Ngân hàng Thanh toán, đảm bảo hệ thống thanh toán thống nhất Bên cạnh đó có 2 ngân hàng trong nước và 3 ngân hàng nước ngoài được tham gia hoạt động của TTCK với tư cách là ngân hàng lưu ký với cơ chế lưu ký chứng khoán tập trung tại TTGDCK thông qua hệ thống 2 cấp: TTGDCK- thành viên lưu ký Hiện nay
đã có 8 tổ chức kiểm toán độc lập với chức năng kiểm toán các báo cáo tài chính của tổ chức phát hành/niêm yết và CtyCk
Qua 5 năm hoạt động, TTCKVN đã có hơn 24000 tài khoản chứng khoán tăng 8 lần so với năm đầu mở cửa thị trường với 246 nhà đầu tư có tổ chức và
250 nhà đầu tư nước ngoài Với công nghệ tin học chưa hiện đại, kinh nghiệm
Trang 13quản lý hệ thống giao dịch còn hạn chế song đến ngày 30/6/2005, TTGDCK TpHCM đã tổ chức giao dịch 1071 phiên liên tục, giá trị chứng khoán giao dịch đạt 33679 tỷ đồng TTGDCK đã cải tiến quy trình thanh toán từ 4 xuống còn 3 ngày, tăng phiên giao dịch lên 5ngày/tuần, giảm lô giao dịch từ 100 xuống còn
10 cổ phiếu và cung cấp thông tin thị trường theo phương thức trực tuyến qua các CtyCK tới các nhà đầu tư Chỉ số chứng khoán VN-Index đã có những diễn biến phức tạp theo chu kỳ thăng trầm của TTCK, có lúc đạt 571.04 điểm (ngày 25/6/2001) song có lúc chỉ còn 130.91 điểm (ngày 24/10/2003),trong hơn một năm qua chỉ số chứng khoán dao động quanh con số 250 điểm
Ngày 8/3/2005, TTGDCK Hà Nội chính thức khai trương, mang một ý nghĩa quan trọng trong việc mở rộng quy mô của TTCK và đưa giao dịch cổ phiếu của doanh nghiệp vừa và nhỏ vào hoạt động có tổ chức, xoá bỏ cơ chế cổ phần hoá khép kín trong các doanh nghiệp Hệ thống giao dịch thứ cấp của TTGDCK đã đi vào hoạt động từ tháng 7/2005 dành cho các doanh nghiệp chưa niêm yết theo cơ chế giao dịch thoả thuận có 5 công ty đăng ký giao dịch với giá trị trên 1280 tỷ đồng
Ngoài ra chúng ta có thể điểm thêm một vài mốc son đáng chú ý khác trong chặng đường 5 năm hoạt động của TTCK Việt Nam:
- Ngày 26/6/2001, UBCKNN trở thành thành viên chính thức của Tổ chức quốc tế các UBCK (IOSCO) đánh dấu bước tiến trong quá trình hội nhập của Việt Nam vào kinh tế khu vực và thế giới
- Ngày 11/6/2003, Hiệp hội các tổ chức kinh doanh chứng khoán VN chính thức thành lập theo Quyết định số 29/2003/QĐ-BNV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, góp phần định hướng thị trường hỗ trợ quản lý vận hành các định chế trung gian trên TTCK
- Ngày 17/7/2003, Quyết định 146/2003/QĐ_TTg của Thủ tướng Chính phủ được ban hành, nâng tỷ lệ nắm giữ tối đa tổng số cổ phiếu niêm yết của tổ chức phát hành của nhà đầu tư nước ngoài từ 20% lên 30%
Trang 14- Ngày 5/8/2003 Thủ tướng Chính phủ ký phê duyệt theo Quyết định số 163/2003/QĐ-TTg “Chiến lược phát triển TTCK VN đến năm 2010”.
- Ngày 28/11/2003, Ban hành Nghị định số 144/2003/NĐ-CP thay thế Nghị định số 48/1998/NĐ-CP về Chứng khoán và TTCK
- Ngày 19/2/2004, UBCKNN chuyển vào Bộ Tài chính theo Nghị định 66/2004/NĐ-CP của Chính phủ, giúp việc hoạnh định và ban hành các chính sách quản lý nhà nước về TTCK sẽ nhanh và hiệu quả hơn
- Ngày 17/6/2004, Bộ tài chính ra Thông báo số 136/TB-BTC về mô hình tổ chức và xây dựng TTCKVN, định hướng đến năm 2010, TTGDCK TpHCM sẽ phát triển thành sở giao dịch chứng khoán còn TTGDCK Hà Nội sẽ thành thị trường phi tập trung phù hợp với qui mô phát triển của TTCK VN
- Ngày 7/9/2004, Ban hành Nghị định số 161/2004/NĐ-CP của Chính phủ
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK
- Ngày 14/6/2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 528/QĐ-TTg
về việc phê duyệt danh sách các công ty CPH thực hiện bán đấu giá cổ phần, niêm yết, đăng ký giao dịch tại các TTGDCKVN Đây được coi là cơ sở pháp lý vững chắc giúp các nhà quản lý thị trường trong công tác tạo hàng cho TTCK VN
- Thông tin mới nhất là ngày 29/9/2005 vừa qua Thủ tướng Chính phủ đã kí Quyết định số 283/2005/QĐ-TTg về việc nới rộng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp niêm yết từ 30% lên 49% với hy vọng TTCK sẽ đón nhận thêm sức cầu mới từ nhà ĐTNN
Với tình hình bối cảnh còn nhiều khó khăn thì những kết quả nói trên về hoạt dộng của TTCKVN là đáng khích lệ, góp phần hoàn chỉnh thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, trong đó thị trường vốn, TTCK là định chế bậc cao của kinh tế thị trường.Tuy nhiên không thể nói Việt Nam đã có một TTCK hoàn chỉnh Chúng ta còn nhiều tồn tại và phải làm nhiều hơn nữa mới có được một TTCK theo đúng chức năng của nó – là kênh huy động vốn dài hạn quan trọng cho nền kinh tế