DC-ĐKLP dù sao cũng chỉ là phương tiện chẩn đoán và điều trị trong y học dân tộc như các phương tiện khác Thể-Nhĩ-Đầu-Thủ-Túc châm, Chích lễ, Thập chỉ đạo…..v.v.., y lý gồm cơ thể học,
GIAO LƯU
LỜI TRI ÂN
Tôi chân thành cảm ơn:
- Trước hết là thầy Bùi Quốc Châu (người thầy khai tâm cho tôi về y học) đã truyền dạy DC-ĐKLP cho tôi
- Thầy Hình Ích Viễn đã truyền dạy Đông y cho tôi
- BS Võ Khôi Bửu đã giúp tôi rất nhiều về kiến thức tây y
- Các bậc tiền bối trong ngành Đông lẫn Tây y, thông qua sách vở tài liệu giúp tôi tăng trưởng kiến thức y học
- Các bệnh nhân đã giúp tôi có kinh nghiệm lâm sàng
Cuối cùng, các học viên của tôi đã đóng góp quan trọng trong việc xác minh giá trị của các nghiên cứu về trị bệnh trong thực tế, đồng thời đưa ra ý kiến để hoàn thiện các phác đồ điều trị.
Nhờ đó mà tài liệu hoàn thành
VÀI LỜI TÂM SỰ
Tôi đã đến với Diện Chẩn Điều Khiển Liệu Pháp một cách tình cờ và đã gắn bó với nó suốt 16 năm và 1 tháng kể từ 7-7-1986 Dù tôi đến sau một số người và trước một số khác, điều quan trọng nhất là tôi yêu thích Diện Chẩn một cách nồng nàn và bền bỉ.
Liệu pháp này thực sự hiệu quả và tuyệt vời, khiến tôi gần như không sử dụng thuốc trong điều trị cho bệnh nhân Mặc dù trong một số trường hợp bệnh lý nguy hiểm, tôi có thể cho phép bệnh nhân kết hợp với thuốc, nhưng điều này rất hiếm khi xảy ra.
Từ một người không có kiến thức về y học, tôi đã gia nhập môn phái và dần dần hiểu rõ những yếu lý của DC Qua việc nghiên cứu lý thuyết về DC-ĐKLP và y lý Đông Tây, cùng với thực hành, tôi đã phát triển và thành công trong việc điều trị nhiều loại bệnh mà trước đây tưởng chừng khó tiếp cận.
Lần đầu tiên tôi sử dụng DC là để tự chữa bệnh cho mình Sau ba ngày học hỏi và theo dõi thầy Châu chữa bệnh, tôi đã thử áp dụng phương pháp này khi bị nhức đầu sau một buổi đi chơi Thay vì uống thuốc, tôi đã dùng salonpas dán lên một vài huyệt và sau khoảng 30 phút, cơn đau đã giảm hẳn Thành công ban đầu này đã khuyến khích tôi chữa bệnh cho người thân và bạn bè, với hầu hết các trường hợp đều đạt kết quả tốt Tôi từng nghĩ rằng việc chữa bệnh bằng DC rất dễ dàng, đặc biệt khi những bệnh nhân có lịch sử bệnh kéo dài nhiều năm đã khỏi bệnh chỉ sau vài lần điều trị Tuy nhiên, sau này tôi nhận ra rằng mọi chuyện không đơn giản như vậy.
Sau 4 tháng học và thực hành tại nhà, tôi được thầy Châu cho "xuống núi" và bắt đầu làm việc tại Trung Tâm DC Tại đây, tôi gặp nhiều khó khăn khi đối mặt với hàng trăm loại bệnh khác nhau, và mỗi bệnh nhân đều có những đặc điểm riêng biệt Việc áp dụng kinh nghiệm từ bệnh nhân này sang bệnh nhân khác đôi khi mang lại thành công, nhưng cũng không ít lần tôi thất bại mà không rõ nguyên nhân Dù đã có những thành công ấn tượng, nhưng tôi vẫn thường xuyên gặp phải những tình huống khó khăn mà không thể giải thích được.
Thầy Châu chỉ dạy về Diện Chẩn (DC) và tỏ ra không quan tâm đến các môn phái khác, đến mức tôi và một số bạn phải lén học thêm về Châm cứu và Đông y Sau khi hoàn thành khóa học, tôi mới thông báo cho thầy biết Dù học thêm, tôi vẫn thực hành DC, nhưng áp dụng y lý Đông và Tây vào điều trị cho bệnh nhân, không chỉ dựa vào sinh huyệt đồ hình hay đồng ứng Khi phối hợp huyệt Thể châm, tôi vẫn tuân theo nguyên tắc sinh huyệt, vận dụng nguyên lý của Diện Chẩn vào các phương pháp điều trị khác.
Tôi đã tham gia tổ huấn luyện từ năm 1987 và đảm nhận vai trò tổ trưởng Tổ Giáo Vụ Trong quá trình này, tôi soạn giáo trình và tổ chức lớp theo chỉ đạo của thầy Châu Đến năm 1988, tôi nhận thấy cần thiết phải phổ biến kiến thức y lý cho học viên, nhưng không nhận được sự ủng hộ từ thầy Châu Nguyên nhân là do chương trình huấn luyện kéo dài, không đảm bảo việc truyền đạt phương pháp rộng rãi cho mọi người.
Vào năm 1993, sau khi trở về từ Nga, tôi được thầy Châu gợi ý dạy riêng cho những học viên có nhu cầu Tôi bắt đầu chia sẻ kinh nghiệm của mình bằng cách kết hợp y lý Đông Tây y vào Diện Chẩn, chỉ dạy cho những học viên đã hoàn thành lớp cơ bản tại Trung Tâm Chương trình kéo dài hơn ba tháng với khoảng 80 tiết học, chỉ cung cấp những kiến thức cơ bản về Đông Tây y và chuyên sâu về Diện Chẩn Mặc dù chương trình này chưa đủ để chẩn trị mọi bệnh lý, nhưng nó giúp hạn chế sai lầm trong chẩn đoán và điều trị Đến nay, chương trình đã hoạt động gần 10 năm, và dù tôi không dạy nhiều do bận rộn với việc điều trị, nhưng tôi tự hào khi thấy các học viên của mình thành công và tiếp tục theo đuổi nghề Diện Chẩn.
Bài giảng này được biên soạn lại với những kinh nghiệm cá nhân mới nhất, thể hiện tâm huyết của tôi sau hơn 16 năm học và làm Diện Chẩn Dù chưa hoàn toàn hài lòng với chương trình, nhưng do thời gian có hạn và yêu cầu cấp bách, tôi đã tạm thời đúc kết để cung cấp tài liệu hướng dẫn Mong các bạn thông cảm cho những thiếu sót có thể gặp phải.
Tháng 8-2010, nhận lời mời của L.y Đồng Văn Toán, tôi đến Hải Phòng bồi dƣỡng về
CÁCH SỬ DỤNG TÀI LIỆU
Vài điều cần nhớ khi đọc tập sách này:
Tài liệu này chia sẻ kinh nghiệm cá nhân và nên được sử dụng kết hợp với các tài liệu chính thức của Thầy CHÂU, bao gồm DC-ĐKLP, Bài giảng DC-ĐKLP, Tuyển tập Đồ Hình, cùng với hình huyệt chính diện và trắc diện.
Đọc kỹ một lần cho đến hết để biết đại cương tài liệu này trình bày những gì
Các phác đồ điều trị trong tài liệu này mang tính tổng quát và không cần sử dụng tất cả các huyệt trong mỗi phác đồ Hãy dò sinh huyệt theo phác đồ đã nêu và chỉ sử dụng những huyệt có báo bệnh, những huyệt khác không cần thiết Qua đó, bạn sẽ dần quen với cơ chế bệnh lý và khám phá nhiều điều thú vị từ các trường hợp bệnh tương tự nhưng khác nhau Từ những trải nghiệm này, bạn sẽ tự rút ra những bài học quý giá mà không ai có thể truyền dạy, giúp bạn ghi nhớ lâu dài.
Các bộ huyệt không chỉ áp dụng trên mặt mà còn có thể được sử dụng ở các khu vực phản chiếu khác như bàn tay, bàn chân, lưng và bụng Điều quan trọng là biết cách xác định vị trí của các huyệt ở những nơi này.
Hy vọng rằng những bài viết này sẽ giúp các bạn có niềm đam mê sâu sắc hơn với môn DC-ĐKLP, mặc dù tôi chưa giải thích lý pháp phương huyệt Việc lý giải sẽ được thực hiện trong một dịp khác.
Điều quan trọng nhất trong chẩn đoán là phải tìm cho ra bệnh thuộc âm-dương, khí huyết, hàn-nhiệt, hư thực, … trong Bát Cương
Tôi không mong muốn biến các bạn thành những thầy thuốc xuất sắc, nhưng hy vọng rằng cuốn sách nhỏ này sẽ giúp các bạn tự tin hơn và giảm thiểu những sai lầm trong quá trình điều trị cho bản thân và gia đình.
Mobile: 091.8388.718 E-mail: taminhdc@yahoo.com, minhta2002@hotmail.com
Blog: vn.360plus.yahoo.com/taminhdc
DIỆN CHẨN - ĐIỀU KHIỂN LIỆU PHÁP YẾU QUYẾT
Muốn giỏi Diện chẩn – Điều khiển Liệu pháp các bạn cần thực hiện các điều sau đây:
1) Thuộc làu tất cả đồ hình căn bản, các hệ thống phản chiếu phụ (là các đồ hình chƣa đƣợc vẽ ra)
2) Thuộc và hiểu các thuyết DC và thuyết ĐKLP một cách tường tận chứ không chỉ hiểu nghĩa của câu văn Điều này cần thực hành nhiều thì mới thấm sâu đƣợc
3) Nắm vững tác dụng và kỹ thuật sử dụng, thao tác nhuần nhuyễn tất cả các dụng cụ chữa bệnh
4) Biết những điểm đại cương cơ bản về giải phẫu cơ thể, sinh lý và bệnh lý nội khoa tây y
5) Nắm vững lý thuyết cơ bản (như Âm Dương, ngũ hành, tạng tượng, bát cương, bát pháp…), bệnh lý nội khoa đông y
6) Học thêm các phương pháp châm cứu, bấm huyệt khác – nếu giỏi càng tốt Tìm cho ra sự giống nhau và sự khác nhau giữa chúng với nhau cũng nhƣ giữa chúng với DC
7) Bạn cần nhớ “LINH ĐỘNG” không có nghĩa là bừa bãi, vì vậy cần tôn trọng các nguyên tắc chẩn đoán, điều trị để không gây phản ứng xấu cho bịnh nhân
DC-ĐKLP chỉ là một trong những công cụ chẩn đoán và điều trị trong y học dân tộc, bên cạnh các phương pháp khác như Thể-Nhĩ-Đầu-Thủ-Túc châm, Chích lễ và Thập chỉ đạo Để đạt hiệu quả cao, cần có nền tảng vững chắc về y lý, bao gồm cơ thể học, sinh lý học và bệnh lý học Nếu không nắm vững y lý và nguyên tắc chẩn đoán, việc chữa bệnh có thể gặp nhiều rắc rối Điều này không chỉ đúng với DC-ĐKLP mà còn áp dụng cho tất cả các phương pháp y học khác.
Tính phổ biến của DC-ĐKLP là điều không thể phủ nhận, nhưng kiến thức y lý cơ bản vẫn cần phải được nắm vững Nếu không học hỏi, chúng ta có thể vô tình gây hại cho bệnh nhân mà không hay biết, và đó chính là một lỗi lầm nghiêm trọng.
MỘT SỐ KHÁI NIỆM THƯỜNG GẶP
Trong Đông y, có nhiều cặp khái niệm như chính khí - tà khí, chủ khí - khách khí, thường gây khó khăn cho những người mới tìm hiểu Bài viết này sẽ trình bày những hiểu biết cá nhân của tôi bằng ngôn ngữ hiện đại và bổ sung những nhận thức từ lâm sàng, nhằm giúp bạn đọc dễ dàng tiếp cận và hiểu rõ hơn về những khái niệm này Hy vọng rằng khi đọc sách Đông y, các bạn sẽ cảm thấy dễ hiểu hơn.
Chủ – Khách : chủ là cơ thể, khách là yếu tố bên ngoài tác động đến cơ thể Thời tiết và
Thực phẩm là khách thường gặp của cơ thể, chỉ trở thành chủ khi được tiêu hóa, hấp thu và biến thành dưỡng chất dự trữ Khi đã là chủ, chúng không gây bệnh, trong khi chỉ những khách không hòa hợp với cơ thể mới có thể gây ra bệnh Những khách này, thường được gọi là Tà Khách, là những thực phẩm mà cơ thể không thể biến đổi thành dưỡng chất do quá mức hoặc không phù hợp, dẫn đến tình trạng bệnh tật.
Chính khí, hay còn gọi là nguyên khí, là khí căn bản của cơ thể, trong khi tà khí là khí của khách không hòa hợp với Chính khí Theo nguyên tắc, tà khí chỉ xâm nhập và gây bệnh khi Chính khí suy yếu Tuy nhiên, trong thực tế, nếu tà khí quá mạnh, cơ thể vẫn có thể bị nhiễm bệnh dù Chính khí không suy giảm Ví dụ, một người khỏe mạnh nếu đột ngột chuyển từ vùng nhiệt đới sang địa cực mà không có trang phục chống lạnh sẽ dễ bị cảm lạnh.
Biểu và Lý là hai khái niệm quan trọng trong y học cổ truyền, với Biểu đại diện cho bên ngoài và Lý cho bên trong Mối quan hệ giữa chúng không chỉ giới hạn ở tạng và phủ mà còn mở rộng ra nhiều khía cạnh khác, như da (Biểu) và cơ (Lý), tạng (Lý) và phủ (Biểu), hay kinh (Biểu) và phủ tạng (Lý) Trong phương pháp điều trị Đông y, Biểu và Lý có thể coi như một thể thống nhất, ví dụ như trong trường hợp bệnh nhân bị đau dạ dày (Lý) hay đau theo kinh Vỵ (Biểu), đều cần huyệt 39 để chẩn đoán và điều trị Các huyệt khác trong phác đồ điều trị chỉ được sử dụng theo cơ chế cụ thể.
Tiêu và Bản là hai khái niệm quan trọng trong y học cổ truyền, với Tiêu đại diện cho ngọn bệnh và Bản là gốc bệnh Sự phân biệt này thường khá phức tạp và tương đối, đặc biệt khi xét đến các bệnh lý đơn giản mới mắc, nơi gốc và ngọn thường trùng khớp Ví dụ, trong trường hợp cảm cúm, cả gốc và ngọn đều liên quan đến Phế Tuy nhiên, đối với những bệnh đã tồn tại lâu, gốc và ngọn có thể cách xa nhau, thậm chí trong một số tình huống, bệnh mới phát cũng có thể thể hiện sự tách biệt giữa gốc và ngọn Hơn nữa, một gốc bệnh có thể trở thành ngọn bệnh của một gốc bệnh khác, cho thấy sự phức tạp và tính tương đối trong việc chẩn đoán và điều trị.
Bệnh Thần kinh tọa thể hiện qua triệu chứng đau chân, nhưng nguyên nhân thực sự nằm ở thương tổn vùng thắt lưng – cùng Các bệnh lý tại khu vực này có thể do viêm khớp, vôi hóa, loãng xương, chấn thương, hoặc các yếu tố khác Tương tự, nhức đầu có thể xuất phát từ huyết áp cao hay kinh mạch bế tắc, trong đó huyết áp cao lại chỉ là biểu hiện của các vấn đề như hẹp mạch máu thận hay rối loạn lipid máu Kinh mạch bế tắc có thể do nhiều nguyên nhân như Dương hư, Âm hư, hay tổn thương từ chấn thương thể chất hoặc tinh thần.
Đông y và Tây y có những quan điểm khác biệt về nguyên nhân và biểu hiện của bệnh, vì vậy cần thận trọng để tránh những hiểu lầm không cần thiết.
Theo ý kiến riêng, có hai gốc chính ảnh hưởng đến sức khỏe con người: TIẾN THIÊN BẤT TệC và HẬU THIÊN BẤT CHÍNH TIẾN THIÊN BẤT TệC là di truyền bẩm sinh mà mỗi người nhận từ cha mẹ, trong khi HẬU THIÊN BẤT CHÍNH liên quan đến những hoạt động sai lầm về thể xác và tinh thần Các hoạt động thể chất như lao động, vui chơi, và ăn uống không đúng cách có thể gây hại cho cơ thể, dẫn đến bệnh tật Bên cạnh đó, nếu không kiểm soát tốt tinh thần, những cảm xúc tiêu cực như nóng giận, hận thù, và lo lắng có thể ảnh hưởng xấu đến sức khỏe tinh thần và thể chất.
Gốc rễ của bệnh tật thường nằm ở những khiếm khuyết về gene, và chỉ có thể được chữa trị hiệu quả thông qua liệu pháp gene trong tương lai Ví dụ, một cầu thủ không thể hồi phục chấn thương gối khi vẫn tiếp tục thi đấu, hay bệnh nhân rối loạn tiêu hóa không thể khỏi bệnh nếu vẫn duy trì thói quen ăn uống không lành mạnh Tương tự, bệnh nhân dị ứng không thể khỏi nếu tiếp xúc liên tục với kháng nguyên Do đó, việc điều trị bệnh cần tập trung vào cơ thể bệnh nhân (gene) và khắc phục nguyên nhân do tà khí gây ra Nguyên tắc phân định giữa hư và thực cho thấy rằng bệnh đã lâu mà không được chữa trị có thể trở nên phức tạp hơn và làm suy yếu cơ thể, trong khi bệnh mới phát sinh thường do tà khí mạnh xâm nhập Tuy nhiên, quan niệm này chỉ nên được xem là kinh nghiệm tham khảo, vì trên thực tế lâm sàng có nhiều trường hợp không hoàn toàn đúng.
Hoãn và Cấp trong y học phân chia bệnh thành hai loại: bệnh mãn tính (hoãn) và bệnh cấp tính (cấp) Bệnh hoãn thường không nguy hiểm, trong khi bệnh cấp bách có thể gây nguy hiểm tức thời Để điều trị hiệu quả, cần phân biệt rõ giữa bệnh gốc và bệnh ngọn, theo nguyên tắc "hoãn trị bản, cấp trị tiêu" Điều này giúp xác định phương pháp điều trị phù hợp, đặc biệt cho những bệnh cần can thiệp khẩn cấp.
NGUYÊN TẮC CHẨN ĐOÁN
NGUYÊN TẮC CHẨN ĐOÁN
Tận dụng mọi phương pháp chẩn đoán hiện nay của y học
Sinh lý học Tây y, cùng với Bát-cương và Tạng-tượng trong Đông y, đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu bệnh lý Chúng là những tiêu chí thiết yếu để chẩn đoán và theo dõi quá trình điều trị.
Các phương pháp chẩn đoán:
I/- TÂY Y Đo huyết áp, sờ, nắn, nghe, hỏi về bệnh, xem các kết quả cận lâm sàng
1) Vọng : dùng mắt để quan sát các biểu hiện sinh lý bệnh lý của bệnh nhân
Động tác: chính xác, dứt khoát, lanh lẹ là bình thường Quá mức là Dương chứng, yếu kém là Âm chứng
Ánh mắt: linh hoạt, có thần là bình thường Long lanh phát ra ánh lạ là dương, lờ đờ vô định là âm
Da dẻ: tươi nhuận, đều màu, màu sắc hợp lý là bình thường Màu sắc quá bóng là dương Xỉn màu là âm (dù vàng hay đỏ)
Niêm mạc: hồng đều (nên xem niêm mạc của trẻ khỏe mạnh từ 7 đến 15 tuổi để biết tiêu chuẩn) Xem thêm bài “Chẩn đoán về Huyết – Khí”
2) Văn : dùng tai nghe để khảo sát:
Diễn tả ý tưởng một cách rõ ràng và mạch lạc là điều bình thường, tùy thuộc vào trình độ của mỗi người Việc diễn tả nhanh và nhảy đoạn được xem là tích cực, trong khi diễn tả chậm và có sự trùng lặp ý tưởng lại được coi là tiêu cực.
Âm lượng giao tiếp nên phù hợp với bối cảnh xung quanh; nói lớn và nhanh thường mang tính tích cực, trong khi nói nhỏ và bỏ lửng câu có thể được xem là tiêu cực Tuy nhiên, cách thể hiện này cũng phụ thuộc vào nề nếp và thói quen riêng của từng người.
Da thịt cơ gân săn chắc phù hợp với thể trạng là bình thường Co cứng là thực, lỏng nhão là hƣ
Nhiệt độ cơ thể bình thường thường đồng đều, và sự chênh lệch bất thường có thể chỉ ra bệnh tật Những khu vực có rối loạn nhiệt độ thường là nơi quan trọng nhất để chẩn đoán Nhiệt độ nóng biểu thị sự tích tụ khí và huyết, trong khi nhiệt độ lạnh có thể do thiếu khí và huyết kém Việc đánh giá nhiệt độ không chỉ giúp chẩn đoán tổng quát mà còn cung cấp thông tin quan trọng về tình trạng đau tại các khu vực cụ thể.
Mạch: xem thêm về sách mạch lý Cần lưu ý nguyên lý về mạch cũng thường nhắc nhở:
"Mạch chỉ là một yếu tố tham khảo trong chẩn đoán, không phải là yếu tố quyết định Những người có kinh nghiệm trong việc bắt mạch thường ít mắc sai lầm, nhưng nếu không kết hợp với các phương pháp Vọng, Văn, Vấn thì nguy cơ sai sót sẽ rất cao và có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng."
4) Vấn : theo tôi, đây là khâu quan trọng nhất và cần linh động khéo léo vận dụng kiến thức tổng quát (ngoài kiến thức y học) và suy luận trên thực tế
Cần quan tâm đến các tình hình sau:
Nghề nghiệp: nghề nghiệp rất ảnh hưởng đến sức khỏe Nhất là tư thế làm việc và tinh thần khi làm việc
Nơi cư trú thường xuyên lâu dài (môi trường sống)
Thói quen sinh hoạt: cường độ làm việc – nghỉ ngơi, những thú vui chơi, thói quen tắm rửa
Khi đánh giá tình hình ăn uống, cần cảnh giác với câu trả lời "ăn uống bình thường" Hãy hỏi cụ thể về số lần ăn trong ngày, lượng thức ăn mỗi bữa, cảm giác ngon miệng và nhận biết cơn đói Ngoài ra, cần hỏi về tần suất và lượng nước uống hàng ngày, bao gồm cả thức ăn lỏng như canh hay hủ tiếu Mỗi người trung bình cần từ 1,5 đến 2 lít nước mỗi ngày, nhưng cũng cần lưu ý đến thời tiết, mức độ ra mồ hôi và tần suất tiểu tiện.
Khi hỏi về tiểu tiện, cần lưu ý số lần đi tiểu trong ngày và đêm cũng như lượng nước tiểu khoảng 1,5 lít trong 24 giờ Nước tiểu bình thường có màu hơi vàng, trong trẻo và mùi khai nhẹ Nếu nước tiểu trắng, có thể là dấu hiệu của hàn, trong khi nước tiểu đục có thể cho thấy có thấp Các triệu chứng như đau xót, dễ hay khó tiểu là dấu hiệu chung của nhiều bệnh liên quan đến hệ tiết niệu.
Tần suất đại tiện có thể khác nhau ở mỗi người; một số người đi đại tiện mỗi hai ngày là điều bình thường, đặc biệt nếu họ có đại tràng dài Tình trạng của phân, bao gồm độ cứng, độ ẩm, kích thước và màu sắc, cũng rất quan trọng và sẽ được đề cập trong các vấn đề liên quan đến hệ tiêu hóa.
Ngủ là một phần quan trọng trong cuộc sống, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của chúng ta Dễ hay khó vào giấc, thẳng giấc hay bị trở giấc, và cảm giác tỉnh táo hay lờ đờ khi thức dậy đều phản ánh tình trạng sức khỏe Nếu nằm đâu ngủ đó và khó thức dậy, đó có thể là dấu hiệu của khí suy Ngược lại, ít ngủ nhưng dễ thức lại cho thấy khí thịnh Tình trạng khó ngủ, dễ thức hoặc khó ngủ lại có thể liên quan đến âm-huyết suy Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, bạn có thể tham khảo bài viết “Mất ngủ”.
Khi tư vấn cho phụ nữ, cần hỏi thêm về chu kỳ kinh nguyệt của họ, bao gồm độ đều đặn của chu kỳ, thời gian chu kỳ (có thể kéo dài 34 ngày hoặc ngắn từ 23 đến 25 ngày), số ngày hành kinh và đặc điểm màu sắc của kinh nguyệt.
Bệnh có thể tăng giảm theo thời gian và thời tiết, với sự gia tăng trong mùa nóng hoặc vào buổi trưa thường liên quan đến chứng dương (nhiệt chứng, táo chứng) Ngược lại, nếu bệnh tăng trong mùa lạnh hoặc vào buổi chiều tối, điều này thường phản ánh chứng âm (hàn chứng, thấp chứng) Tóm lại, các yếu tố dương (nhiệt, táo) hoặc âm (hàn, thấp) sẽ làm tăng thêm mức độ bệnh tương ứng.
Nhiệt: đau, ngứa, mỏi, nóng
Hàn biểu hiện qua các triệu chứng như nhức, tê, nặng nề và lạnh Tuy nhiên, trong bệnh thoái hóa khớp tay chân, đĩa đệm cột sống và các đốt sống, những triệu chứng này không hoàn toàn mang ý nghĩa hàn – âm Để xác định có hàn hay không, cần xem xét sự xuất hiện của các yếu tố âm – hàn Các bệnh lý này thường khiến bệnh nhân trải qua những cảm giác khó chịu như đã nêu.
Tính chu kỳ khí lực (xem bài chu kỳ khí lực và chu kỳ 6 thiên khí) nếu bệnh có quy luật về thời gian
Về Vấn chẩn sẽ đƣợc đề cập chi tiết hơn trong mô tả triệu chứng các bệnh
Phương pháp chẩn đoán bằng cách ấn huyệt để xác định nguyên nhân bệnh được gọi là Thiết chẩn Trên lâm sàng, phương pháp này có thể hoạt động độc lập nếu người thực hiện nắm vững nguyên tắc và kỹ thuật Ngoài việc áp dụng DC-ĐKLP, nên kết hợp kiến thức từ các phương pháp khác như Thể châm, Nhĩ châm, và Thủ – Túc châm để đạt hiệu quả chẩn đoán tốt hơn.
Khi sử dụng que dò để xác định huyệt, cần chú ý đến các đặc điểm sau: nếu vùng huyệt cứng và nổi lên, đó là dấu hiệu thực; ngược lại, nếu vùng huyệt mềm và lõm xuống, thì đó là dấu hiệu hư Ngoài ra, huyệt có cảm giác đau bình thường cũng là một biểu hiện quan trọng cần ghi nhận.
CHẨN ĐOÁN ÂM – DƯƠNG, HÀN – NHIỆT VÀ HƯ - THỰC
Triệu chứng của hàn nhiệt rất đa dạng và khác nhau tùy theo từng bệnh Tuy nhiên, điểm chung là sự ưa hoặc sợ nóng và lạnh, cũng như sự thay đổi tình trạng bệnh khi tiếp xúc với các yếu tố hàn nhiệt Do đó, chúng ta cần chú ý đến những hiện tượng chính liên quan đến hàn nhiệt.
1) Những hiện tƣợng bệnh chứng thuộc hàn: với toàn thân ta có sợ lạnh, thích ấm, bệnh tăng lên khi gặp yếu tố lạnh Đối với cục bộ ta sờ vào vùng có bệnh thấy lạnh hơn các nơi khác
2) Những hiện tƣợng thuộc bệnh nhiệt: với toàn thân ta có sợ nóng, ƣa mát, bệnh tăng lên khi gặp yếu tố nóng Với cục bộ ta sờ vào vùng có bệnh thấy nóng hơn các nơi khác
3) Nói cách khác ta có một bệnh nhân có thể tổng trạng hàn hoặc nhiệt và mắc bệnh chứng hàn hay nhiệt Tổng trạng và bệnh không bắt buộc phải cùng thể loại
Khi giao tiếp với bệnh nhân, tránh đặt câu hỏi áp chế như “Hễ trời nóng thì bệnh nặng hơn phải không?”, vì điều này có thể khiến bệnh nhân lo lắng và dễ trả lời theo chiều hướng tiêu cực Thay vào đó, nên hỏi “Bệnh tăng khi trời nóng hay trời lạnh?” để khuyến khích bệnh nhân suy nghĩ và đưa ra câu trả lời khách quan hơn Nếu bệnh nhân còn phân vân, hãy khuyến khích họ xem xét lại và trả lời sau, không nên hối thúc để tránh gây rối trí và dẫn đến câu trả lời không chính xác.
Trong bệnh Dương hư, bệnh nhân thường cảm thấy sợ lạnh và có da lạnh, trong khi bệnh nhân Âm hư lại sợ nóng và có da nóng Khi cả Âm và Dương đều hư, bệnh nhân sẽ không chịu được cả hai trạng thái nóng và lạnh, với biên độ chịu đựng rất hẹp Ngay khi cảm nhận được sự thay đổi nhiệt độ, họ đã nhanh chóng kêu ca về cảm giác nóng hoặc lạnh.
Trong lâm sàng, hội chứng toàn thân và triệu chứng cục bộ có thể thống nhất hoặc không thống nhất với nhau Do đó, việc chẩn đoán cần được thực hiện hai lần: một lần cho toàn thân và một lần cho triệu chứng cục bộ.
1) Khi toàn thân và cục bộ thống nhất thì toàn thân sợ cái gì thì cục bộ tăng triệu chứng theo loại bệnh chứng thường gặp nhất nên được nêu làm ví dụ điển hình, các bệnh khác cũng suy luận tương tự
Khi cơ thể ấm nhưng khớp lại lạnh, nguyên nhân có thể là do khớp bị nhiễm lạnh hoặc cơ thể thiếu máu Tình trạng khớp lạnh có thể do khớp thiếu máu, và thường các nguyên nhân này xảy ra đồng thời Thực tế cho thấy, khi thời tiết lạnh, cơn đau khớp sẽ tăng lên, trong khi khi trời nóng, cơn đau sẽ giảm.
Khi toàn thân cảm thấy mát hoặc lạnh nhưng khớp lại nóng, có thể khớp đang bị nhiễm trùng nhẹ hoặc nhiễm nóng Trong trường hợp nhiễm trùng nặng, cơ thể thường có dấu hiệu sốt Nếu khớp bị nhiễm nóng, cơn đau sẽ giảm khi tiếp xúc với yếu tố lạnh Ngược lại, nếu là nhiễm trùng, cơn đau khớp có thể tăng lên khi gặp lạnh.
Khi gặp triệu chứng hàn và nhiệt cùng xuất hiện, chúng ta thường lúng túng trong việc phân định bệnh Để giải quyết vấn đề này, cần bình tĩnh xem xét thể trạng bệnh nhân, vì chính khí vững mạnh sẽ giúp ngăn ngừa bệnh tật Việc xác định vị trí lạnh hay nóng nhất trong cơ thể là rất quan trọng, vì đó là nơi ngoại tà xâm nhập gây bế tắc Khi điều chỉnh lại khu vực này và cân bằng tổng trạng, các triệu chứng sẽ trở nên rõ ràng hơn Thực tế lâm sàng cho thấy, chỉ cần điều chỉnh tổng trạng, bệnh chứng có thể tự biến mất.
Hƣ là trạng thái trống rỗng, suy yếu và thiếu thốn, thường liên quan đến các bệnh lý như suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh, can dương hư và thận âm hư Khi đề cập đến bệnh thuộc hƣ, chúng ta đang nói đến tình trạng tổng quát của bệnh nhân hoặc sự suy yếu của một tạng phủ nào đó Nguyên nhân gây ra tình trạng hƣ có thể do bản chất tự hư hoặc do các yếu tố bên ngoài tác động.
Thực là trạng thái đầy đủ hoặc thừa thãi, dẫn đến bệnh tật do sự dư thừa gây ra Ví dụ, cảm lạnh xảy ra khi cơ thể hấp thụ quá nhiều khí lạnh, trong khi cảm nóng là kết quả của việc hấp thụ quá nhiều hơi nóng Bệnh thuộc thực thường do tác động bên ngoài khiến cơ thể không thể chịu đựng nổi Việc chẩn đoán chính xác giữa Hư và Thực là thách thức lớn, vì triệu chứng dương có thể do dương vượng hoặc âm hư, trong khi triệu chứng âm có thể xuất phát từ âm vượng hoặc dương hư Cần phân biệt rõ ràng giữa triệu chứng toàn thân và triệu chứng riêng của căn bệnh.
Kinh nghiệm cho thấy bệnh thuộc thực thường có triệu chứng mạnh mẽ, rõ ràng, trong khi bệnh thuộc hư lại biểu hiện nhẹ nhàng, kín đáo, thậm chí có thể không được bệnh nhân nhận ra Mặc dù chẩn mạch có thể cung cấp thông tin tương đối rõ về bệnh hư thực, việc học chẩn mạch đòi hỏi sự truyền thụ trực tiếp giữa thầy và trò cùng với kinh nghiệm thực tiễn Để xác định rõ triệu chứng thực hay hư, cần đặt câu hỏi phù hợp và kết hợp với khả năng suy luận, phán đoán và kỹ thuật khám bệnh đã học Việc này sẽ giúp cho quá trình chẩn đoán trở nên dễ dàng hơn.
“Chẩn đoán hàn nhiệt bằng huyệt DC” và “Làm sao để đạt tứ đắc” của tôi
Trong Đông y, Âm Dương là nền tảng của sáu cương lĩnh (hàn, nhiệt, hư, thực, biểu, lý), trong đó ba cương thuộc Dương bao gồm nhiệt (nóng), thực (dư thừa) và biểu (bên ngoài), còn ba cương thuộc Âm là hàn (lạnh), hư (suy yếu) và lý (bên trong) Khi bệnh nhân có đủ triệu chứng của ba cương thuộc Âm hoặc Dương, có thể xác định bệnh thuộc Âm hay Dương Thuật ngữ “Dương chứng” chỉ triệu chứng thuộc Dương (nhiệt, thực, biểu), tương tự cho “Âm chứng” Tuy nhiên, trong thực tế, triệu chứng thường pha trộn giữa Âm và Dương, đặc biệt trong những trường hợp bệnh phức tạp, người ta thường sử dụng các cụm từ như hư nhiệt, hư hàn, biểu nhiệt lý hàn, biểu hàn lý nhiệt, và biểu hư lý thực để mô tả chính xác hơn tình trạng bệnh Việc liệt kê đầy đủ các triệu chứng thuộc Âm cũng rất quan trọng trong việc chẩn đoán và điều trị.
CHẨN ĐOÁN NHANH HÀN – NHIỆT
Chẩn đoán bệnh thuộc hàn hay nhiệt là bước quan trọng trước khi điều trị để tránh sai lầm Quá trình này có thể dễ dàng với bệnh mới phát hoặc đơn giản, nhưng trở nên phức tạp với bệnh lâu năm hoặc phức tạp Để giải quyết vấn đề, cần tách biệt hai phần: tổng thể và cục bộ Đối với tổng thể, cơ thể sẽ phản ứng với yếu tố nóng hay lạnh tùy thuộc vào tình trạng bệnh Nếu cơ thể đang bị nhiệt, sẽ sợ các yếu tố nóng, và ngược lại, nếu bị hàn, sẽ sợ các yếu tố lạnh Những yếu tố này bao gồm thời tiết, môi trường sống, và chế độ ăn uống Đối với cục bộ, tình trạng bệnh cụ thể cũng tương tự, nhưng cần lưu ý đến các trường hợp ngoại lệ Để hiểu rõ hơn, xin tham khảo bài viết “Chẩn đoán theo Bát Cương” và “Chẩn đoán hàn nhiệt bằng huyệt DC”.
Trong bài viết này, tôi xin giới thiệu một phương pháp chẩn đoán hàn nhiệt theo DC-ĐKLP mà tôi đã phát triển sau nhiều năm kinh nghiệm thực hành Phương pháp này cho phép chẩn đoán chính xác cục bộ các vùng bệnh, đồng thời dễ thực hiện và mang lại kết quả nhanh chóng.
Sử dụng cây lăn đinh để lăn trên mặt, tập trung vào các vùng phản chiếu có bệnh Nếu cảm thấy đau như kim châm, bệnh thuộc nhiệt và cần dùng cây lăn đinh để điều trị Ngược lại, nếu không đau, bệnh thuộc hàn và có thể sử dụng ngải cứu để trị liệu Trong trường hợp lăn không đau nhưng chỉ đau nhẹ khi dùng que dò, bệnh có thể là hàn nhẹ; chỉ cần day hoặc cào với dầu mà không cần hơ ngải, vì hơ ngải có thể gây ra phản ứng phụ không mong muốn nếu dùng quá liều.
Khi bệnh nhân cảm thấy đau ở mông trái, ta có thể sử dụng lăn đinh lăn trên cánh mũi trái để phản chiếu tình trạng đau Nếu cánh mũi trái xuất hiện cảm giác đau khi lăn, điều đó cho thấy mông trái của bệnh nhân bị đau do nhiệt Ngược lại, nếu cánh mũi trái không đau, ta sẽ áp dụng kỹ thuật dò vùng cánh mũi trái bằng ngải cứu, giúp hút nhiệt từ khu vực này.
CHẨN ĐOÁN VỀ HUYẾT VÀ KHÍ
Theo quan điểm cá nhân của tôi, huyết không chỉ đơn thuần là máu hay các thành phần như hồng cầu và tiểu cầu màu đỏ, mà còn bao gồm bạch cầu, huyết tương và các vi chất cần thiết cho một cơ thể khỏe mạnh.
Chẩn đoán về huyết cần tổng hợp các khía cạnh sau:
1) Màu sắc của niêm mạc mắt và lƣỡi (chất lƣỡi): hồng đều là tốt Niêm mạc mắt và môi quan trọng hơn vì có khi chất lƣỡi biểu hiện bệnh lý của tim Cần xem xét niêm mạc của trẻ khoảng từ 5 – 17 tuổi khỏe mạnh mà ta biết để lấy chuẩn Về môi thì xem phía trong môi nơi tiếp xúc với răng lợi (nướu) Về mắt thì chia làm hai phần trong và ngoài của mặt trong mí mắt Màu hồng phải trải đều Nếu có ẩn màu vàng là có thấp, ẩn màu nâu là thiếu oxy, có tia máu là có huyết ứ Nhạt hay trắng là huyết suy Trong nhạt ngoài hồng là chỉ thiếu máu Trong nhạt ngoài đỏ là thiếu máu có hƣ nhiệt Đỏ toàn bộ thì hoặc thực nhiệt (bàn chân ấm) hoặc thƣợng nhiệt hạ hàn (bàn chân lạnh) Với trường hợp này sau khi giải quyết hiện trạng bệnh xong (do thực nhiệt hoặc do thƣợng nhiệt hạ hàn) ta cần xét lại mí mắt để biết tình trạng thật của huyết
2) Màu sắc của da, độ tươi nhuận của da, màu sắc các móng tay chân Màu sắc các nơi này cần hồng nhuận tươi bóng và thuần màu
3) Đo huyết áp xem trị số và quan sát khoảng lui kim, tốc độ lui kim: thiếu máu khi huyết áp tâm thu từ 100 trở xuống kèm theo hiện tƣợng độ lui kim ít hơn 2 mmHg (1 nấc trên mặt đồng hồ) nhưng cũng có khi kèm thêm khí kém (chức năng kém) hay dương kém (sợ lạnh, thiếu sức bền) Có phối hợp với các yếu tố kể trên Cần xem thêm bài “Cách đo huyết áp” trong “Các bệnh thường gặp”
4) Xem mạch: thuộc kiểu mạch tiểu (nhỏ), mạch vô lực
5) Xem xét về hiện trạng Thể dịch Việc này cần tham khảo các xét nghiệm Cận lâm sàng
Sau khi tổng hợp và phân tích các yếu tố liên quan, cần quyết định về tình trạng huyết bằng cách xem xét tổng lượng máu, thành phần máu, sự hiện diện của tạp chất, và các nội tiết tố (cần thực hiện xét nghiệm).
Khí trong Đông y là một khái niệm phức tạp, bao gồm khí trời, khí thực phẩm và khí trong cơ thể, thường gây khó hiểu cho người mới học Trong cơ thể, Khí đại diện cho chức năng hoạt động của các cơ quan; ví dụ, phế khí suy thể hiện chức năng hô hấp kém, trong khi nguyên khí suy cho thấy hoạt động thần kinh toàn thân yếu, dẫn đến cảm giác uể oải Chẩn đoán khí có thể thực hiện qua việc xem mạch hoặc qua quan sát và đặt câu hỏi khéo léo về các hiện tượng khác thường Điểm khác biệt giữa Dương suy và Khí suy là Dương hư thường đi kèm với cảm giác lạnh và thiếu sức bền, trong khi Khí suy không sợ lạnh nhưng lại lười biếng Để phân biệt giữa Dương và Khí, cần đặt câu hỏi phù hợp nhằm xác định tình trạng sức khỏe chính xác.
Tóm lại, để dễ hiểu theo ngôn ngữ hiện đại, theo tôi thì khí là thần kinh, huyết là thể dịch của cơ thể
Bài viết này là kinh nghiệm thực tế và không theo hẳn Đông y mà có đối chiếu với Tây y
Do đó sẽ hơi khác với các tài liệu Đông y đã có
CHẨN ĐOÁN ĐÀM THẤP THỦY
Thấp là độ ẩm của vật chất, trong y học được chia thành hai loại: ngoại thấp, xâm nhập từ môi trường bên ngoài, và nội thấp, do cơ thể tự sinh ra Nước, một thành phần thiết yếu cho cơ thể, cần được cân bằng; thiếu hoặc thừa nước đều có thể gây bệnh Khi nước thừa bị thân nhiệt làm nóng, nó sẽ cô đặc thành thấp và, nếu kéo dài, sẽ chuyển thành đàm Do đó, thủy và thấp dễ loại bỏ hơn đàm Ngoại thấp và thủy có thể gây bệnh ngay lập tức, trong khi nội thấp và đàm do cơ thể sản sinh thường không gây bệnh ngay, nhưng có thể gây trở ngại sinh lý nếu tồn tại lâu Khi bệnh xuất hiện, lượng thấp và đàm gia tăng, làm suy giảm chức năng sinh lý của cơ thể.
Một căn nhà cần thông thoáng và bố trí hợp lý để việc di chuyển dễ dàng, tương tự như cơ thể con người cũng cần sự thông suốt trong hoạt động sinh lý Khi có quá nhiều vật dụng cũ kỹ và bố trí bừa bãi, việc đi lại sẽ trở nên khó khăn, giống như sự tồn tại của Nội-Thấp và Đàm trong cơ thể, không phải là độc tố ngoại lai nhưng gây cản trở cho sự linh hoạt Sự không thông suốt này, nếu kéo dài, sẽ dẫn đến bế tắc và sinh bệnh Đông y nhấn mạnh rằng "khí hành thì thấp tan, khí suy sinh thấp trệ", cho thấy cả mạch Hoạt và mạch Hoãn đều có thể biểu hiện sự hiện diện của thấp đàm.
Triệu chứng của bệnh do đàm thấp thủy rất đa dạng và phức tạp, khiến nhiều tác giả Đông y coi đây là “quái bệnh” Bệnh nhân thường cảm thấy khó chịu, không thoải mái và có cảm giác mình mắc bệnh, nhưng bác sĩ lại không thể chẩn đoán rõ ràng, đặc biệt khi sử dụng phương pháp Tây y.
Thấp và đàm không mang tính hàn hay nhiệt, nhưng chúng có thể dễ dàng kết hợp với các yếu tố hàn và nhiệt, tạo ra các tình trạng như thấp-hàn, thấp-nhiệt, đàm-hàn và đàm-nhiệt Vì vậy, việc kết hợp với triệu chứng của hàn và nhiệt là cần thiết để chẩn đoán và điều trị chính xác.
Một số triệu chứng thường gặp do thủy, thấp, đàm gây ra:
Người luôn uể oải mỏi mệt không có lý do
Giấc ngủ mê mệt mà không khỏe khi thức giấc
Ngủ dễ hay khó thì cũng thức giấc khó khăn Không tỉnh táo ngay khi thức giấc dù ngủ không thiếu
Tứ chi cảm thấy nặng nề hoặc mỏi vô cớ, nhất là lưng và chi dưới
Luôn cảm thấy lười biếng
Đầu óc không minh mẫn mặc dù không thiếu ngủ hay quá tải trí óc, và tình trạng này trước đây chưa từng xảy ra Không có dấu hiệu của stress hay vấn đề về tinh thần, cũng như không gặp phải thiểu năng tuần hoàn não.
Thay đổi màu sắc ở da, niêm mạc Hoặc da mất độ tươi nhuận - theo lứa tuổi
Phù thũng (ấn vào vùng nhiều thịt ở cổ chân bàn chân bị lõm xuống mà khi thả ra không lồi lên ngay)
Béo phì vô cớ, ăn ít ăn thiếu chất mà vẫn mập Tuy nhiên với triệu chứng này cần xem xét thêm để loại trừ bệnh ở tuyến Yên
Những bệnh thuộc loại xơ hóa, sừng hóa đều thuộc dạng đàm
CHU KỲ 12 KINH KHÍ
Cơ thể con người có 12 tạng phủ, mỗi tạng liên lạc với bên ngoài qua 12 kinh mạch, mỗi kinh có giờ chủ đạo riêng Vào giờ chủ, kinh khí sẽ vượng nhất, và người xưa đã sử dụng hiện tượng này để tả hoặc bổ cho các tạng Hiện nay, tôi áp dụng phương pháp này để chẩn đoán và xác định bệnh gốc thuộc kinh khí nào, từ đó điều chỉnh kinh khí đó để điều trị Biện pháp này chỉ có hiệu quả khi bệnh thuộc về khí của kinh, vì đôi khi bệnh chỉ do kinh khí gây ra, hoặc có thể do cả tạng và kinh khí Nhờ đó, hiệu quả điều trị sẽ cho thấy bệnh thuộc khía cạnh nào.
Khi kinh khí gặp bệnh, triệu chứng thường tăng lên vào giờ chủ đạo của nó, có hai trường hợp là thực và hư Trường hợp thực là khi kinh khí quá mạnh, làm giảm khí lực của nó, trong khi trường hợp hư là khi kinh khí suy yếu, làm tăng khí lực Để điều trị, nếu không hiệu quả, ta có thể giảm khí lực của kinh khí đối lập, tính theo giờ đối lập.
Khi một bệnh nhân thường xuyên thức dậy vào khoảng 2 giờ sáng và chỉ ngủ lại sau 3 giờ, đây là dấu hiệu liên quan đến giờ Sữu, tức là giờ của Can khí Đối với chứng thực, ta có thể áp dụng phương pháp day hoặc áp lạnh với tỷ lệ 50-70, trong khi đối với chứng hư, nên sử dụng phương pháp hơ nhẹ, dán cao hoặc xức dầu với cùng tỷ lệ Các phương pháp này có tác dụng bổ sung hoặc tả khí Nếu không đạt hiệu quả, có thể chuyển sang kinh khí đối lập là giờ Mùi, tương ứng với giờ của Tiểu trường, và áp dụng tương tự cho các loại bệnh chứng khác.
Bài thơ vắn tắt diễn tả giờ chủ đạo của 12 kinh khí:
Phế Dần, Đại Mão, Vị Thìn cung,
Tỳ Tị, Tâm Ngọ, Tiểu Mùi trung
Bàng Thân, Thận Dậu, Tâm bào Tuất,
Hợi Tiêu, Tí Đởm, Sửu Can thông
CHU KỲ LỤC KHÍ
Trong cơ thể con người có 6 loại khí, tương ứng với 12 kinh khí, phản ánh 6 khí tự nhiên: Thái Dương, Thiếu Dương, Dương Minh, Thái Âm, Thiếu Âm, và Quyết Âm Các loại khí này luân chuyển trong 24 giờ, mỗi loại khí chiếm ưu thế trong khoảng thời gian 4 tiếng Khi ở giờ của một loại khí, khí đó đạt đỉnh, trong khi đó sẽ suy giảm vào giờ đối của nó (ví dụ: 9 giờ đối với 21 giờ) Việc áp dụng quy luật này trong chẩn đoán có thể giúp xác định tình trạng bệnh lý tăng hay giảm dựa trên sự vượng hay suy của thiên khí.
Nếu thiên khí vượng mà bệnh tăng, có thể là do kinh khí hay tạng phủ tương ứng bị thực, hoặc kinh khí tạng phủ đối xứng bị suy Ví dụ, nếu bệnh tăng từ 9 giờ đến 13 giờ và sau đó giảm nhẹ, đây là thời gian thuộc thiên khí Thái dương, cho thấy kinh khí Thái dương thực hay kinh khí Thái âm suy Cần xác định Thủ hay Túc kinh bị bệnh để xử lý thích hợp.
Nếu giờ thiên khí vượng mà bệnh giảm, điều này cho thấy kinh khí hay tạng phủ tương ứng đang bị suy yếu, và chúng ta cần bổ chính lại Để hiểu rõ bài này cũng như bài trước, bạn cần nắm vững kiến thức về kinh mạch trong châm cứu Bài viết này chỉ cung cấp cái nhìn tổng quát, không cần đi sâu như một lương y châm cứu, mà chỉ cần khái lược như đã nêu.
Thiên khí (khí của trời đất) có 6 khí như nêu trên, cơ thể cũng có 6 khí tương ưng với 6 khí của trời đất
Sáu khí ở cơ thể được phân bố cho 12 kinh chạy trong người Mười hai kinh lại chia làm
2 phần tay (Thủ) và chân (Túc) Nhƣ vậy một khí chia làm 2, một theo tay một theo chân giúp các kinh vận hành Ta có:
Túc Thái Dương Bàng Quang đồng khí với Thủ Thái Dương Tiểu trường
Túc Thiếu Dương Đởm đồng khí với Thủ Thiếu Dương Tam Tiêu
Túc Dương Minh Vị đồng khí với Thủ Dương Minh Đại tràng
Túc Thái Âm Tỳ đồng khí với Thủ Thái Âm Phế
Túc Thiếu Âm Thận đồng khí với Thủ Thiếu Âm Tâm
Túc Quyết Âm Can đồng khí với Thủ Quyết Âm Tâm Bào
Mặc dù các kinh có đồng khí nhưng giờ chủ đạo của mỗi kinh lại khác nhau, do đó không thể nhầm lẫn Khi một loại khí trong cơ thể gặp vấn đề, nó có thể gây trở ngại trực tiếp cho hai kinh hoặc tạng phủ có đồng khí hoặc khí đối nhau.
Khi một cơn gió lạnh (tà khí) ập đến, cơ thể có thể phản ứng bằng cách gây ra đau bụng tiêu chảy hoặc viêm hô hấp Khí Thái Dương trong kinh Bàng Quang có nhiệm vụ bảo vệ cơ thể, nhưng khi không đủ sức chống lại tà khí, nó có thể dẫn đến đau bụng qua Thái Dương Tiểu Trường hoặc ho qua Thái Âm Phế Ngoài ra, việc tiêu thụ thực phẩm lạnh có thể gây ra cảm giác ớn lạnh và ho, bên cạnh triệu chứng đau bụng Đây là những hiện tượng bệnh lý phổ biến trong cuộc sống hàng ngày.
Nhiều người thắc mắc tại sao có trường hợp trúng gió mà dẫn đến tử vong Nguyên nhân chính là do người bệnh đã có sẵn vấn đề về tim mạch Cơn gió không phải là nguyên nhân trực tiếp, mà chính là tình trạng sức khỏe của người bệnh đã không được phòng ngừa hoặc điều trị kịp thời Đây là điểm giao thoa giữa Đông và Tây y trong việc hiểu về sức khỏe con người.
TP Hồ Chí Minh, 1993 Lương y Tạ Minh.
CHẨN ĐOÁN HÀN NHIỆT BẰNG HUYỆT DIỆN CHẨN
Bệnh lý có thể thuộc hàn, nhiệt hoặc hàn nhiệt lẫn lộn, và Trung y đã phát triển phương pháp chẩn đoán cho các tình trạng này Tuy nhiên, trong lĩnh vực DC, tôi đã áp dụng những kiến thức từ Trung y và phát triển kỹ thuật chẩn đoán riêng Ban đầu, tôi dựa vào tứ chẩn của Trung y, nhưng qua thời gian và thực hành lâm sàng, tôi đã tìm ra cách sử dụng huyệt tính và sinh huyệt để xây dựng phương pháp chẩn đoán hiệu quả Mặc dù chưa hoàn thiện, nhưng kỹ thuật này đã hỗ trợ nhiều học viên chưa quen với Trung y, giúp họ hiểu rõ hơn về Đông y và nâng cao khả năng định bệnh trong lâm sàng Hãy thử nghiệm và khám phá những phát hiện thú vị này!
Khi chẩn đoán chứng hàn nhiệt, cần lưu ý rằng có sự tương quan không quy luật giữa tình trạng toàn thân và cục bộ Cụ thể, có thể xảy ra tình trạng toàn thân hàn nhưng cục bộ lại nhiệt, hoặc ngược lại Đồng thời, cả hai có thể đều hàn hoặc đều nhiệt Do đó, việc xem xét cả hai khía cạnh toàn thân và cục bộ là rất quan trọng để hạn chế sai sót trong chẩn đoán.
I/- CHẨN ĐOÁN HÀN NHIỆT TOÀN THÂN
Dụng cụ chính trong quá trình chẩn đoán bao gồm que dò và ngải cứu Việc thuần thục kỹ thuật sử dụng các dụng cụ này là rất quan trọng, vì nếu không, kết quả chẩn đoán có thể bị sai lệch do tín hiệu báo hiệu không chính xác.
đau ở 1 hoặc 43 là hàn nhẹ ở lý
đau ở 19 là hàn nhẹ ở biểu
2) Dùng ngải cứu: ngải cứu đƣợc dùng khi khám bằng que dò không có sinh huyệt:
nóng ở 1 hoặc 43 là hàn nặng ở lý Khi 43 nóng là mất khả năng tàng trữ Dương khí Khi
1 nóng là mất khả năng khai phát Dương khí
nóng ở 19 là hàn nặng ở biểu
nóng ở 143 là tinh huyết suy, mất khả năng tàng trữ Âm huyết Khó trị hơn các trường hợp khác
nóng ở 26 là mất khả năng hấp thu dương khí
LƯU Ý : phải dò cả 4 huyệt xong rồi mới kết luận sau khi đã tổng hợp – xem ở phần “Kinh nghiệm lâm sàng”
Nếu không phát hiện sinh huyệt qua cả hai phương tiện, có thể kết luận rằng toàn thân bệnh nhân ở trạng thái bình hòa, không có hàn hay nhiệt Lúc này, chỉ cần tiến hành khám hàn nhiệt ở các khu vực cục bộ.
II/- CHẨN ĐOÁN HÀN NHIỆT CỤC BỘ
Khi một bộ phận cơ thể gặp vấn đề, việc khám toàn thân là cần thiết để xác định mối liên hệ giữa toàn thân và bộ phận đó Nếu không phát hiện vấn đề gì ở toàn thân, chỉ cần tập trung khám bộ phận để phân loại bệnh thuộc hàn hay nhiệt.
1) Dùng que dò: tìm sinh huyệt dựa theo đồ hình phản chiếu nơi bị bịnh - chủ yếu ở trên mặt Nếu báo đau là bịnh nhiệt Nếu là vùng phản chiếu nhƣ cả cánh tay, hay phóng chiếu xoang, ta dùng lăn đinh nhỏ lăn vào nơi này, nếu đau là bệnh nhiệt
2) Dùng ngải cứu: khi bịnh chứng rõ ràng mà khám bằng que dò không thấy có huyệt đau là bịnh hàn Dùng ngải cứu dò sẽ thấy nóng
3) Khi huyệt không báo đau mà cũng không báo nóng là tìm chƣa đúng, thay đổi hệ thống phản chiếu
4) Khi huyệt báo nóng lẫn báo đau là hàn nhiệt lẫn lộn, hoặc hàn nhẹ Cần bình tĩnh xem xét kỹ
Dò bệnh hàn nhiệt cục bộ qua huyệt là một quá trình phức tạp do huyệt chịu ảnh hưởng bởi nhiều quy luật như đối xứng, giao thoa và phản hiện Để giảm thiểu sai sót, cần có kinh nghiệm hỗ trợ và nên kết hợp với việc sờ tại chỗ để đánh giá tình trạng hàn nhiệt Ngoài ra, việc hỏi về triệu chứng tăng cường theo mùa và thời gian trong ngày cũng rất quan trọng để hiểu rõ quy luật và đưa ra kết luận chính xác.
NGUYÊN TẮC CHUNG CHẨN TRỊ CHỨNG ĐAU NHỨC
Đau nhức là triệu chứng phổ biến và phức tạp, đến nỗi y học hiện đại đã phải thành lập chuyên khoa riêng để nghiên cứu Có nhiều nguyên nhân gây ra đau, bao gồm nhiễm lạnh dẫn đến co cơ hoặc co mạch, khối u chèn ép, cục máu đông, xơ vữa động mạch, thiếu máu cục bộ tại cơ và chấn thương Tất cả những yếu tố này đều có thể gây ra cảm giác đau.
DC-ĐKLP giúp giải quyết hiệu quả các chứng đau nhức bằng cách xác định nguyên nhân do hàn hay nhiệt, cũng như phân loại bệnh theo cơ năng hoặc biến đổi thực thể Việc phản chiếu và đồng ứng tại khu vực đau là rất quan trọng, và đôi khi cần áp dụng hệ kinh mạch của Thể châm để đạt được hiệu quả điều trị tốt nhất.
Đau do hàn hay nhiệt thường xuất hiện đột ngột và thất thường, với cường độ đau tăng lên khi gặp yếu tố thuận và giảm khi gặp yếu tố nghịch Hiệu quả điều trị rất cao và triệt để, tuy nhiên trong một số trường hợp nặng, cần chuyển sang sử dụng thuốc tây mạnh, chích thẳng vào vùng đau để đạt hiệu quả Gần đây, cây Hoàn ngọc (cây con khỉ) đã cho thấy khả năng giảm đau mạnh mẽ, với liều lượng 5 – 7 lá tươi có thể mang lại hiệu quả Để điều trị, cần chú ý rằng hàn thì làm ấm, còn nhiệt thì làm cho mát.
Do viêm nhiễm: đau cố định, kèm sốt Đau tăng dần theo thời gian Bộ Tiêu viêm làm chủ lực
Tắc mạch là tình trạng xảy ra đột ngột với triệu chứng hàn nhiệt không rõ ràng Người bệnh có thể cảm thấy đau tại điểm trên cùng và đau dọc theo đường dưới hoặc ngoài khu vực này, đôi khi kèm theo cảm giác tê dại và yếu sức Việc điều trị chủ yếu tập trung vào tiêu viêm và khử ứ.
Khối u thường có biểu hiện khởi đầu mơ hồ như cảm giác ê ẩm và đau tăng dần theo thời gian, không kèm theo sốt, nhưng có thể đột ngột xuất hiện khi gặp u ác tính Việc điều trị các khối u mềm thường mang lại hiệu quả tốt hơn so với các khối u xơ cứng, do đó cần tiến hành cận lâm sàng để xác định chính xác loại u Trong trường hợp u xơ, phẫu thuật nên được ưu tiên nếu không có yếu tố đặc biệt nào Mặc dù không phải là không thể điều trị, kết quả điều trị có thể không ổn định và việc chẩn đoán lâm sàng gặp nhiều khó khăn Do đó, hướng dẫn bệnh nhân theo Tây y để có chẩn đoán chính xác là rất quan trọng, vì chỉ có các biện pháp cận lâm sàng mới xác định được khối u là lành tính hay ung thư.
Thiếu máu cục bộ có triệu chứng tương tự như cảm lạnh nhưng nhẹ hơn, thường xuất hiện vào buổi sáng khi vừa thức dậy và giảm dần trong ngày Người bệnh thường cảm thấy mệt mỏi do thiếu máu Để điều trị, có thể sử dụng bộ Bổ Âm huyết và phản chiếu Cần lưu ý rằng tình trạng này có thể do nghẽn mạch nhẹ tại vị trí đau.
Do chấn thương: điều trị: Bộ Tiêu viêm khử ứ, Tiêu viêm, phản chiếu, lọc thấp
Trong việc xác định vị trí bệnh, hệ phản chiếu trên mặt thường được sử dụng đầu tiên Nếu không tìm thấy sinh huyệt hiệu quả trên mặt, chúng ta có thể kiểm tra các khu vực khác như bàn tay, bàn chân, lưng và bụng Nếu vẫn không có kết quả, có thể áp dụng các lý thuyết như Đồng Ứng, Lân cận và Đối xứng để tìm kiếm sinh huyệt Để tiết kiệm thời gian, bạn có thể tham khảo các bài viết của tôi về “Làm sao để đạt tứ đắc” và “Chẩn đoán hàn nhiệt bằng huyệt DC” để cải thiện hiệu quả trong việc tìm kiếm và tác động lên sinh huyệt.