1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới năm 2008 đến hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam

55 505 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác động của khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới năm 2008 đến hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam
Tác giả Mai Đức Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế thương mại
Thể loại Chuyên đề
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác động của khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới năm 2008 đến hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới xuất phát từ khủng hoảng thị trường nhà đất của nước Mỹ và đã lan rộng ra toàn thế giới. Sự phát triển mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hóa trong những thập niên qua đã khiến cho tác động của cuộc khủng hoảng lan nhanh ra nhiều nƣớc trên thế giới từ những quốc gia giàu nhất đến những nƣớc kém phát triển.

Trang 1

1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong chuyên đề thực tập là trung thực

và do chính tôi nghiên cứu, sưu tầm và phân tích đánh giá

Tác giả chuyên đề

Mai Đức Nam

Trang 2

2

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG 4

DANH MỤC BIỂU ĐỒ 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 6

LỜI NÓI ĐẦU 7

CHƯƠNG 1: KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ THẾ GIỚI – TÁC ĐỘNG VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU CHỈNH KINH TẾ CỦA MỘT SỐ NƯỚC 10

1.1 KHÁI QUÁT VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ THẾ GIỚI VÀ NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN KHỦNG HOẢNG 10

1.1.1 Khủng hoảng tài chính tiền tệ 10

1.1.2 Nguyên nhân của khủng hoảng tài chính tiền tệ 2008 11

1.1.2.1 Sự suy sụp của thị trường bất động sản 11

1.1.2.2 Cho vay dưới chuẩn - nguyên nhân của sụp đổ thị trường bất động sản và cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ 14

1.1.2.3 Một số nguyên nhân khác 14

1.1.2.4 Sự lầm tưởng sức mạnh của nước Mỹ 16

1.1.3 Diễn biến và đặc điểm của cuộc khủng hoảng 16

1.1.3.1 Diễn biến 16

1.1.3.2 Đặc điểm 22

1.2 KHÁI QUÁT SỰ TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ THẾ GIỚI ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI CỦA CÁC NƯỚC. 22

1.2.1 Tác động đến phát triển kinh tế xã hội trên toàn thế giới, đến Mỹ và một số nước tư bản phát triển Tây Âu 22

1.2.1.1 Tác động đến phát triển kinh tế xã hội trên toàn thế giới 22

1.2.1.2 Tác động đến phát triển kinh tế xã hội Mỹ 25

1.2.1.3 Tác động đến phát triển kinh tế xã hội các nước Tây Âu 26

1.2.2 Tác động đến một số nền kinh tế và các nước châu Á 26

1.2.3 Tác động đến nền kinh tế Việt Nam 26

1.3 BIỆN PHÁP ĐIỀU CHỈNH KINH TẾ CỦA MỘT SỐ NƯỚC 29

1.3.1 Giải pháp chống khủng hoảng của Mỹ và châu Âu 29

1.3.2 Giải pháp chống khủng hoảng của Trung Quốc 31

Trang 3

3

CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ THẾ

GIỚI ĐẾN HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM 34

2.1 TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM 34 2.1.1 Tác động đến kim ngạch, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu và một số mặt hàng chủ lực 34

2.1.1.1 Tác động đến kim ngạch và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu 34

2.1.1.2 Tác động đến một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực 36

2.1.2 Tác động đến cơ cấu thị trường hàng hoá xuất khẩu 38

2.2 TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM 39 2.2.1 Tác động đến kim ngạch và tốc độ tăng trưởng nhập khẩu 39

2.2.2 Tác động đến các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu và các thị trường nhập khẩu của Việt Nam 40

2.3 NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ THÁCH THỨC ĐẶT RA ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU TRONG THỜI GIAN TỚI 42

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 44

3.1 GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 44

3.1.1 Nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm 44

3.1.2 Xây dựng và bảo hộ thương hiệu doanh nghiệp, sản phẩm 46

3.1.3 Thúc đẩy xuất khẩu thông qua việc tăng cường khả năng tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu 46

3.2 KIẾN NGHỊ NHÀ NƯỚC 47

3.2.1 Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu 47

3.2.2 Giải pháp hạn chế nhập siêu 48

3.2.3 Giải pháp phối hợp các chính sách nhằm giải quyết các vấn đề thương mại sau khủng hoảng 50

KẾT LUẬN 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

Trang 5

5

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1 Diễn biến thay đổi giá nhà trong thời kỳ bong bóng

Biểu đồ 4 Chỉ số bình quân công nghiệp Dow-Jones giảm liên tục

từ cuối quý III năm 2007

21

Biểu đồ 5 Giá dầu (USD/thùng) giảm mạnh từ giữa năm 2008 23

Biểu đồ 6 Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam từ quý I/2008 đến quý

Trang 6

WTO Tổ chức Thương mại Thế giới (The World Trade Organization)

EU Liên minh châu Âu (European Union)

IMF Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund)

WB Ngân hàng Thế giới (The World Bank)

FED Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Federal Reserve System)

MBS Trái phiếu bảo lãnh thế chấp (Mortgage Backed Securities)

CDS Hợp đồng bảo lãnh nợ khó đòi (Credit Default Swap)

GDP Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)

FPI Đầu tư gián tiếp nước ngoài (Foreign Portfolio Investment)

Trang 7

7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới xuất phát từ khủng hoảng thị trường nhà đất của nước Mỹ và đã lan rộng ra toàn thế giới Sự phát triển mạnh

mẽ của quá trình toàn cầu hóa trong những thập niên qua đã khiến cho tác động của cuộc khủng hoảng lan nhanh ra nhiều nước trên thế giới từ những quốc gia giàu nhất đến những nước kém phát triển Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ

2008 đã đẩy thế giới bước vào một cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất kể từ những năm 1930 Cuộc khủng hoảng lần này gây thiệt hại cho cả các nước phát triển và đang phát triển Dưới tác động của khủng hoảng tài chính, các hoạt động thương mại, đầu tư, tiêu dùng của mỗi qu ốc gia đều sụt giảm mạnh, thậm chí, nhiều nước đang lâm vào tình trạng phá sản cấp quốc gia

Sức tàn phá của “cơn sóng thần” tài chính đ ến từ Mỹ mạnh đến mức không một quốc gia nào có thể tự mình giải quyết cuộc khủng hoảng, mà đòi hỏi phải có sự chung tay của cộng đồng quốc tế Khủng hoảng tài chính và cách giải quyết hậu quả đang trở thành chương trình nghị sự hàng đầu trên thế giới hiện nay

Trước tình hình trên, các nước và các tổ chức kinh tế quốc tế đã đưa ra các giải pháp, biện pháp cụ thể, các gói cứu trợ tài chính khổng lồ, lên tới hàng nghìn tỉ USD, nhằm chống đỡ khủng hoảng, từng bước khắc phục khó khăn, hạn chế tác động tiêu cực để ổn định kinh tế xã hội

Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới cũng tác động không nhỏ đến nhiều lĩnh vực của nền kinh tế Việt Nam, trong đó hoạt động thương mại quốc tế

là một trong những hoạt động chịu ảnh hưởng nhiều nhất

Ngày nay, kinh tế đối ngoại trong đó có hoạt động thương mại quốc tế có vai trò đặc biệt trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước Việc phát triển kinh tế - xã hội của nước ta phụ thuộc một phần vào việc mở rộng và nâng cao hiệu quả của các hoạt động này

Do đó, việc xác định chính xác, khách quan tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới hiện nay đến hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam; tiếp tục tìm kiếm thời cơ và lợi thế ngay trong cuộc khủng hoảng kinh tế, đề xuất những giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam trong thời gian tới là hết sức cần thiết

Vì vậy, đề tài “Tác động của khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới năm

2008 đến hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam” có ý nghĩa cấp thiết cả

về lý luận và thực tiễn

Trang 8

8

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Cho đến nay, đã có một số công trình, bài báo, bài viết nghiên cứu liên quan đến khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới và tác động của nó đến nền kinh

tế thế giới nói chung và hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam nói riêng

Có thể tìm thấy một số nội dung liên quan đến chủ đề trên ở trong những công trình sau:

- Nguyễn Tấn Dũng: Nỗ lực ngăn chặn suy giảm kinh tế, bảo đảm

an sinh xã hội, Vietnamnet.vn, ngày 2/1/2009

- Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh (2009): Kỷ yếu

hội thảo khoa học của về khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới

- Nhóm chuyên gia của Chương trình Fullbright và Trung tâm Châu

Ácủa Đại học Harvard: Kích cầu ở Việt Nam – Những khuyến nghị

- TS Nguyễn Minh Phong & TS Lê Tự Minh: Một số tác động và bài

học từ khủng hoảng tài chính Mỹ, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 11 năm 2008

- TS Nguyễn Trần Quế: Tác động của kinh tế thế giới tới kinh tế Việt

Nam năm 2008 và triển vọng, Tạp chí “Những vấn đề Kinh tế và chính trị thế

giới số 2 năm 2009”

- Thông tấn xã Việt Nam, Tài liệu tham khảo số 11/2008: Việt Nam và

cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu

- Lê Hoài Thu (Theo Worldbank, 09/12/2008): Khủng hoảng và triển

vọng kinh tế toàn cầu năm 2009

- Viện Kinh tế và Chính tri ̣ Thế giới (2008): Kỷ yếu hội thảo khủng

hoảng tài chính toàn cầu và những tác động

- Nguyễn Kế Tuấn (chủ biên): Kinh tế Việt Nam năm 2008 – Một số vấn

đề về điều hành kinh tế vĩ mô NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, 3/2009

3 Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Mục tiêu

Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới đến hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm phát triển các hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam hiện nay

b Đối tượng nghiên cứu

Khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới năm 2008

c Phạm vi nghiên cứu

Trang 9

9

Đề tài tập trung nghiên cứu tác động của khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới đến hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam

Về thời gian: Khảo sát tác động của khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới

từ khi bắt đầu diễn ra ở Mỹ cho đến nay và đề xuất giải pháp phát triển hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam từ nay đến 2015

4 Phương pháp nghiên cứu

- Sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn

- Sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp, lô gic kết hợp với lịch sử và kế thừa có chọn lọc kết quả của các công trình, các hội thảo khoa học trong nước và thế giới về vấn đề này để nghiên cứuư

5 Kết cấu của chuyên đề

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, chuyên

Trang 10

10

CHƯƠNG 1:

KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ THẾ GIỚI –

TÁC ĐỘNG VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU CHỈNH KINH TẾ

CỦA MỘT SỐ NƯỚC

1.1 KHÁI QUÁT VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ THẾ GIỚI VÀ

NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN KHỦNG HOẢNG

1.1.1 Khủng hoảng tài chính tiền tệ

 Khái niệm về tài chính:

Tài chính được hiểu theo nghĩa rộng là tập hợp các quỹ tiền tệ cùng với

các mối quan hệ giữa chúng Trong nền kinh tế thị trường luôn có sự luân

chuyển các luồng vốn tiền tệ, và trong quá trình đó hình thành các quỹ tiền của

tất cả các chủ thể trong xã hội mà giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ, ảnh

hưởng lẫn nhau tạo nên một hệ thống tài chính

Phạm vi tài chính được chia làm 2 loại:

+ Nếu nằm trong phạm vi quốc gia thì hình thành tài chính quốc gia

+ Nếu nằm trên phạm vi khu vực và toàn cầu thì hình thành hệ thống tài

chính quốc tế

 Khái niệm về tiền tệ:

Tiền bao gồm cả nội tệ và ngoại tệ với 3 chức năng chủ yếu là: Thước đo

giá trị, phương tiện trao đổi và phương tiện cất trữ

Những vật được coi là tiền phải có đầy đủ các chức năng của tiền tệ và

đồng thời phải có tính thanh khoản nhất định

 Khái niệm về khủng hoảng tài chính tiền tệ:

Khủng hoảng tài chính tiền tệ là khái niệm bao trùm được sử dụng chung

cho mọi loại khủng hoảng gắn với mất cân đối về tài chính và thường là gắn với

nghĩa vụ phải thanh toán lớn hơn nhiều phương tiện dùng để thanh toán tại một

thời điểm nào đó

Khủng hoảng tài chính tiền tệ có đặc điểm của khủng hoảng thiếu

 Quan điểm của Việt Nam về khái niệm khủng hoảng tài chính tiền

tệ:

Khủng hoảng tài chính là tình trạng tài chính (quỹ) mất cân đối nghiêm

trọng có thể dẫn đến sụp đổ quỹ Đặc trưng của mỗi quỹ là các dòng tiền vào/ra;

nhận/thanh toán;… hình thành tài sản có và tài sản nợ

Trang 11

11

Khủng hoảng tài chính tiền tệ xảy ra khi có hiện tượng mất cân đối nghiêm trọng giữa tài sản có và nghĩa vụ thanh toán về số lượng, thời hạn, chủng loại tiền

 Quan điểm thế giới về khái niệm khủng hoảng tài chính tiền tệ:

Sundararajan và Balino đưa ra định nghĩa tổng quát về khủng hoảng tài chính tiền tệ:

Một nhóm lớn các tổ chức tài chính có giá trị nguồn vốn vượt quá giá trị thị trường của các tài sản dẫn đến hiện tượng đổ xô đến ngân hàng và sự dịch chuyển cơ cấu đầu tư, sự sụp đổ của một số doanh nghiệp tài chính và cần thiết phải có sự can thiệp của Nhà nước

Khủng hoảng tài chính (ngân hàng) là tình huống trong đó một bộ phận lớn các NH của một quốc gia đột ngột mất khả năng thanh toán cũng như khả năng trả nợ

 Những đặc điểm nổi bật của khủng hoảng tài chính tiền tệ:

Cầu về tiền dự trữ quá lớn khiến cho NH không thể cùng một lúc đáp ứng tất cả mọi người Có hiện tượng khan hiếm tín dụng Giá trị tài sản của ngân hàng giảm mạnh và gây ra hiện tượng mất khả năng trả nợ, một số NH sụp đổ và xuất hiện tình trạng đổ xô đến các NH Từ đó các “bong bóng” giá tài sản nổ tung: sự sụt giá ban đầu trong giá trị các tài sản buộc các NH phải bán tiếp tài sản và làm giá tài sản tiếp tục giảm mạnh hơn nữa Các khoản tín dụng hình thành trong thời điểm bùng nổ được mang ra bán tháo

1.1.2 Nguyên nhân của khủng hoảng tài chính tiền tệ 2008

1.1.2.1 Sự suy sụp của thị trường bất động sản

Đa số người Mỹ vay tiền từ các ngân hàng để mua nhà với thời hạn hợp đồng từ 10 đến 30 năm Nhưng trong 10 năm trở lại đây thị trường nhà đất phát triển mạnh, các ngân hàng và các tổ chức cho vay ào ạt tiếp thị tạo ra những hợp đồng cho vay không đạt tiêu chuẩn và khuyến khích cả những người không đủ khả năng tài chính cũng đi vay tiền để mua nhà Ngoài ra các tổ chức cho vay còn có những hợp đồng bắt đầu với lãi suất rất thấp trong những năm đầu và sau

đó điều chỉnh lại theo lãi suất thị trường nhằm thu hút khách hàng Hậu quả là một số lớn hợp đồng cho vay không đòi được nợ Nguy hại hơn nữa là các tổ chức tài chính phố Wall đã gom góp các hợp đồng cho vay bất động sản này lại làm tài sản bảo đảm để phát hành trái phiếu ra thị trường tài chính quốc tế

Các loại trái phiếu này được mệnh danh là “Mortgage backed securities – MBS”, một sản phẩm tài chính phái sinh được bảo đảm bằng những hợp đồng cho vay bất động sản có thế chấp Các tổ chức giám định hệ số tín nhiệm (Credit

Trang 12

12

rating agencies) đánh giá cao loại sản phẩm phái sinh này Và nó được các ngân

hàng, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư, quỹ hưu trí trên toàn thế giới mua mà không

biết rằng các hợp đồng cho vay bất động sản dùng để bảo đảm là không đủ tiêu

chuẩn

Trong giai đoạn 2006 – 2008, thị trường bất động sản liên tiếp hạ nhiệt,

người đi vay đã không có khả năng trả được nợ lại cũng rất khó bán bất động

sản để trả nợ, và kể cả bán được thì giá trị của bất động sản cũng đã giảm thấp

tới mức không đủ để thanh toán các khoản còn vay nợ

Hậu quả là một số lớn hợp đồng cho vay bất động sản dùng để bảo đảm

cho các trái phiếu MBS là nợ khó đòi Các trái phiếu MBS mất giá trên thị

trường thứ cấp, thậm chí không còn mua bán được trên thị trường, khiến cho các

ngân hàng, các nhà đầu tư nắm giữ những trái phiếu này không những bị lỗ nặng

mà còn mất cả khả năng thanh toán

Biểu đồ 1: Diễn biến thay đổi giá nhà trong thời kỳ bong bóng

thị trường nhà ở

Nguồn: FED (Cục dự trữ Liên bang Mỹ)

Theo ước tính của nhiều chuyên gia, trong 22000 tỷ USD giá trị bất động

sản tại Mỹ thì có tới hơn 12000 tỷ USD là tiền đi vay, trong đó khoảng 4000 tỷ

USD là nợ xấu Các nước khác cũng bắt chước Mỹ và bán ra loại trái phiếu phái

sinh MBS này trong thị trường tài chính của họ

Trang 13

13

Vì vậy trên toàn thế giới tổng số nợ bất động sản khó đòi và tổng số MBS chƣa thể tính hết đƣợc Hệ quả là Bear Stern, Indy Mac, Fannie Mae, Freddie Mac, Lehman Brothers, Meryll Lynch, Washington Mutual, Vachovia, Morgan Stanley, Goldman Sachs v.v (Mỹ), New Century Financial, Northern Rock, HBOS, Bradford & Bringley (Anh quốc), Dexia (Pháp-Bỉ-Luxembourg), Fortis, Hypo (Đức-Bỉ), Glitner (Iceland) cùng hàng loạt ngân hàng cũng nhƣ các tổ chức tín dụng đã đầu tƣ mua loại trái phiếu MBS này hoặc bị lung lay hoặc thậm chí là phá sản

Biểu đồ 2: Tài sản của các ngân hàng trước và sau khi vỡ bong bóng nhà đất

Nguồn: FED (Cục dự trữ Liên bang Mỹ)

Trầm trọng hơn nữa là những “hợp đồng bảo lãnh nợ khó đòi”, tiếng Mỹ gọi là “Credit Default Swap – CDS” Các hợp đồng này do các tổ chức tài chính

và các công ty bảo hiểm quốc tế bán ra, theo đó bên mua CDS đƣợc bên bán bảo đảm sẽ hoàn trả đầy đủ số nợ cho vay nếu bên vay không trả đƣợc nợ Ở Mỹ tổng số CDS ƣớc tính khoảng 35000 tỷ USD, và toàn thế giới khoảng 54600 tỷ USD (theo ƣớc tính của Hiệp hội “International Swap and Derivatives Association”)

Trang 14

và bất động sản tăng giá họ sẽ được hưởng lợi Về phía ngân hàng, tuy hình thức cho vay này rủi ro rất lớn nhưng các ngân hàng vẫn chấp nhận để đổi lại một mức lãi suất rất cao Mặt khác các công ty tài chính cũng thực hiện hình thức cho vay này một cách rộng rãi và chuyển rủi ro qua ngân hàng và nhà đầu tư thông qua một sản phẩm tài chính gọi là “mua lại các khoản nợ hay khoản phải thu”

Các công ty tài chính bán các khoản phải thu cho ngân hàng với một chiết khấu cao Sau đó ngân hàng và các tổ chức tài chính chuyên biệt sẽ chứng khoán hoá các khoản phải thu, nghĩa là phát hành các chứng khoán để vay tiền với lãi suất rất cao Rõ ràng là rủi ro chồng rủi ro, và đương nhiên là các chứng khoán

có mức độ xếp hạng tín nhiệm càng thấp thì tỷ suất sinh lợi càng cao, thậm chí

có chứng khoán không có mức độ xếp hạng tín nhiệm nhưng vẫn được nhà đầu

tư trên toàn thế giới chấp nhận do mức lãi suất cực kỳ hấp dẫn

Một lượng vốn đầu tư khổng lồ trên thế giới đã đổ vào thị trường bất động sản Mỹ và khi thị trường đóng băng vào giữa năm 2007, các vụ đổ vỡ dây chuyền đã xảy ra Các nhà đầu tư bất động sản vay tiền không đủ khả năng trả lãi vay, bất động sản không bán được, chứng khoán phát hành trên các khoản phải thu này sụt giá thê thảm, các ngân hàng không đủ khả năng trả các khoản

Trang 15

15

mức nào đó, họ sẽ mua và trả lại nơi cho vay cộng thêm một ít phí, còn bao nhiêu tiền chênh lệch họ sẽ hưởng trọn.Thậm chí, họ còn áp dụng cách thức mua bán khống đến hai lần (naked short sale), tức là không vay chứng khoán nữa mà

cứ ra lệnh bán theo kiểu “đánh xuống”, vì lợi dụng khe hở mua bán 3 ngày sau mới giao cổ phiếu

b Thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ

Có tiền, các công ty thoải mái cho người vay bằng tiền của các ngân hàng đầu tư cung cấp thông qua mua lại danh mục cho vay của các công ty này Các ngân hàng này trên cơ sở danh mục cho vay vừa mua lại sẽ phát hành CK để vay tiền Danh mục cho vay được chia ra: ít rủi ro, rủi ro cao, tùy định mức tín nhiệm, nhà đầu tư tha hồ lựa chọn theo sự mạo hiểm của mình Có loại CK không cần định mức tín nhiệm, có thể thu lãi cao nhưng rủi ro cũng lớn

Như vậy, rủi ro trong cho vay đã được chuyển từ bên cho vay là công ty tài chính sang NH đầu tư Nhà đầu tư trên thế giới đã đổ tiền mua CK này, nhờ vậy, đã cung cấp một lượng vốn khổng lồ cho thị trường bất động sản ở Mỹ tăng nóng

Giáo sư kinh tế Joseph Stiglitz, người được giải thưởng kinh tế Nobel kinh tế 2001, kết luận: “Hệ thống tài chính của Mỹ đã không thực hiện được hai trách nhiệm chính của mình đó là quản lý rủi ro và phân chia vốn Cả hệ thống tài chính Mỹ đã không làm những gì mà nó đáng ra phải làm - chẳng hạn như tạo ra các sản phẩm để giúp người Mỹ quản lý được những rủi ro nguy hiểm nghiêm trọng của mình, như là giữ lại được nhà khi mức lãi suất cho vay tăng cao hoặc khi giá nhà rớt giá”

c Khủng khoảng niềm tin

Sự sụp đổ của một loạt các ngân hàng hàng đầu trong lĩnh vực đầu tư của

Mỹ đã làm người dân Mỹ và tiêu dùng ảnh hưởng nghiêm trọng, nhất là khi ở các nước phát triển là một nền kinh tế tiêu dùng

Hệ thống các ngân hàng trong con mắt mọi người trở nên mong manh khi

mà 3 trong 5 ông lớn tại thị trường phố Wall sụp đổ là Merrill Lynch, Lehman Brothers, và Bearstearns

Thị trường tài chính dựa trên nguyên tắc độ tin cậy, và độ tin cậy đó đã bị xói mòn, xuống cấp Sự sụp đổ của Lehman Brothers là biểu tượng đánh dấu mức độ tin cậy đã xuống một mức thấp mới và dư âm của nó sẽ còn tiếp tục Một ngân hàng tồn tại hơn 158 năm đã cùng người Mỹ trải qua rất nhiều khó khăn, trải qua các cuộc suy thoái cùng nước Mỹ lại sụp đổ Quả thật là một cú sốc lớn đối với toàn bộ người dân Mỹ

Trang 16

16

1.1.2.4 Sự lầm tưởng sức mạnh của nước Mỹ

Đã từ lâu từ sau chiến tranh thế giới thứ II người dân Mỹ vẫn nghĩ họ là một quốc gia hùng mạnh Họ vẫn nghĩ mình là nước giàu có hơn bất kỳ quốc gia nào Cùng với những hình thức thanh toán mới, người dân tiêu dùng nhiều hơn trong khi bản thân họ không thể sản xuất đáp ứng được nhu cầu đó Hàng năm người dân Mỹ tiêu thụ một lượng hàng hóa mà họ không có khả năng chi trả khoảng 80 tỷ USD

Người dân Mỹ không có xu thế tiết kiệm trước khi khủng hoảng diễn ra

Ví dụ là ô tô của Nhật (Toyota, Honda…) và châu Âu luôn tốn ít xăng hơn nhiều

so với những chiếc cùng loại rất được người dân Mỹ ưa chuộng của Ford, GM…

1.1.3 Diễn biến và đặc điểm của cuộc khủng hoảng

1.1.3.1 Diễn biến

Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 2008 tại Mỹ thực chất là biểu hiện rõ nét nhất của một quá trình “khủng hoảng” rất lâu trước đó Điểm lại những mốc sự kiện chính trong chuỗi này để thấy khủng hoảng đã diễn ra như thế nào

Năm 2002-2004: Giá cả ở các bang Arizona,California, Florida, Hawaii,

và Nevada tăng trên 25% một năm Sự bùng nổ nhà đất ở Mỹ bắt đầu

Năm 2005: Bong bóng nhà đất ở Mỹ vỡ vào tháng 08/2005 Thị trường

bất động sản tạm gián đoạn trên một vài bang ở Mỹ vào cuối mùa hè năm 2005 khi tỷ lệ lãi suất tăng từ 1% lên đến 5.35% do có nhiều nhà kinh doanh bất động sản đã đánh giá thấp thị trường

Năm 2006: Thị trường bất động sản tiếp tục suy giảm Giá giảm, kinh

doanh bất động sản gặp khó khăn dẫn đến một lượng nhà dư thừa đáng kể Chỉ

số Xây dựng Nhà ở tại Mỹ hồi giữa tháng 8 giảm hơn 40% so với 1 năm trước

đó

Năm 2007: Kinh doanh bất động sản tiếp tục thất bại Số lượng nhà tồn

ước tính cao nhất từ năm 1989 Ngành kinh doanh bất động sản suy giảm với hơn 25 tổ chức cho vay dưới chuẩn tuyên bố phá sản Gần 1,3 triệu bất động sản nhà ở bi tịch thu để thế chấp nợ, tăng 79% từ năm 2006 Theo thống kê của Bộ Thương mại Mỹ cho thấy, theo đà suy giảm kinh tế, năng suất lao động của công nhân Mỹ trong 3 tháng cuối năm 2007 cũng bị giảm đi trông thấy, chỉ tăng với tốc độ 1,9% so với mức tăng kỉ lục 6,3% trong quý 3 năm 2007 Năng suất lao động tăng chậm làm cho chi phí sản xuất gia tăng 2,6% trong quý cuối cùng của năm 2007 Mức độ thuê mướn tư nhân của khu vực kinh tế tư nhân của Mỹ trong 2 năm 2006 và 2007 cũng thấp nhất trong vòng 5 năm Theo kết quả của

Trang 17

17

một cuộc khảo sát công bố ngày 6/3/2007, phần lớn các nhà kinh tế hàng đầu của Mỹ cho rằng nền kinh tế Mỹ đã sẵn sàng rơi vào suy thoái, hoặc sẽ rơi vào suy thoái trong 6 tháng tới Hầu hết các nhà điều hành được hỏi nhận định công

ty của họ không tránh khỏi sự ảnh hưởng của cuộc suy thoái này

Ngày 05/02: Công ty Mortage Lenders Network USA, đứng thứ 15 trong

số các nhà cho vay dưới chuẩn nhiều nhất ở Mỹ, với tổng dư nợ 3,3 tỷ USD thời điểm quý 3 năm 2006, tuyên bố phá sản

Ngày 02/04: New Century Financial, nhà cho vay dưới chuẩn lớn nhất của Mỹ, tuyên bố phá sản

Ngày 19/07: Chỉ số Dow Jones đóng cửa với mức 14000 điểm lần đầu tiên trong lịch sử

Tháng 8: Khủng hoảng tín dụng toàn cầu, mà chính xác là chứng khoán dựa trên các khoản nợ thế chấp dưới chuẩn, được phát hiện trong các danh mục vốn đầu tư và quỹ trên khắp thế giới từ BNP Paribas cho đến Ngân hàng Trung Quốc Nhiều nhà cho vay ngừng cho vay tín dụng mua nhà Cục Dự trữ Liên bang đã cho các ngân hàng vay 100 tỷ USD với lãi suất thấp

Ngày 16/08: Tập đoàn tài chính Countrywide, đơn vị cho vay thế chấp lớn nhất nước Mỹ, đã phải tránh phá sản bằng cách vay khẩn cấp 11 tỷ USD từ một nhóm các ngân hàng khác

Ngày 17/08: Cục Dự trữ Liên bang đã phải hạ mức hệ số chiếu khấu 50 điểm cơ bản từ mức 6,25% xuống 5,75%

Ngày 14/09: Ngân hàng Northern Rock (Anh) đã gặp vấn đề nghiêm trọng

về khả năng thanh khoản liên quan đến khủng hoảng cho vay dưới chuẩn

Ngày 15–17/10: Liên minh các ngân hàng Mỹ được hỗ trợ bởi chính phủ thông báo lập một siêu quỹ trị giá 100 tỷ USD để mua lại các chứng khoán được đảm bảo bằng tài sản thế chấp mà giá trị thị trường đã bị sụt giảm do khủng hoảng vay dưới chuẩn Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Ben Bernake và Bộ trưởng Bộ tài chính Mỹ đều đưa ra những cảnh báo về mối nguy hiểm của việc

Năm 2008 với những mốc đáng nhớ sau:

Ngày 16/03: Ngân hàng dự trữ liên bang New York cố cứu Bear Sterns nhưng không nổi Công ty này chấp nhận để JP Morgan Chase mua lại với giá

Trang 18

18

10 USD một cổ phiếu, nghĩa là thấp hơn rất nhiều với giá 130,2 USD một cổ phiếu lúc đắt giá nhất trước khi khủng hoảng nổ ra Việc Ngân hàng dự trữ liên bang New York cứu không nổi Bear Sterns và buộc lòng để công ty này bị bán

đi với giá quá rẻ đã khiến cho sự lo ngại về năng lực can thiệp của Chính phủ cứu viện các tổ chức tài chính gặp khó khăn Sự sụp đổ của Bear Stern đã đẩy cuộc khủng hoảng lên một nấc thang trầm trọng hơn

Ngày 17/07: Các ngân hàng lớn và các tổ chức tài chính trên thế giới đã báo cáo thua lỗ lên đến 435 tỷ USD

Ngày 07/09: Cục dự trữ liên bang dành quyền kiểm soát hai tập đoàn

Fannie Mae và Freddie Mac

Ngày 14/09: Merrill Lynch được bán cho Bank of America với giá 50 tỷ USD

Ngày 15/9: Lehman Brothers tuyên bố phá sản Ngay sau đó, 3 loại chỉ số

ở Mỹ bao gồm chỉ số Dow Jones, NASDAQ và S&P 500 sụt giảm mạnh nhất kể

Mỹ được chính phủ tiếp quản và sau đó được bán lại cho JP Morgan Chase &

Co với giá 1,9 tỷ USD

Ngày 29/09: Quốc hội Mỹ bác bỏ kế hoạch giải cứu thị trường tài chính

Mỹ do Bộ Tài chính Mỹ đề xuất

Ngày 30/09: Ngân hàng khổng lồ Wachovia của Mỹ, đồng thời là ngân hàng cho vay dưới chuẩn lớn nhất Mỹ đồng ý bán lại bộ phận ngân hàng bán lẻ cho đối thủ Citigroup

Ngày 23/11: Trong một động thái chưa từng có, cả 3 cơ quan quản lý tài chính quan trọng nhất của Mỹ đồng thuận đưa ra gói giải pháp trị giá 20 tỷ USD

và bảo lãnh toàn bộ nợ của Citigroup, nhằm kéo tập đoàn có ảnh hưởng toàn cầu này khỏi nguy cơ sụp đổ

Ngày 25/11: FED tuyên bố sẽ mua lại những khoản cầm cố chứng khoán

trị giá khoảng 500 tỷ USD của Fannie Mae, Fredddie Mac và cả Ginnie Mae Thêm vào đó, khoảng 100 tỷ USD đã được bỏ ra để mua lại các khoản nợ của Fannie, Fredddie và Federal Home Loan Banks

Trang 19

19

Khủng hoảng tài chính là mối quan tâm hàng đầu của dân chúng Mỹ và thế giới Trong nền kinh tế toàn cầu hóa hôm nay, khủng hoảng tài chính và sự trì trệ của nền kinh tế Mỹ đã và đang ảnh hưởng đến nhiều nước trên thế giới Vì nền kinh tế Mỹ luôn được coi là đầu tàu của kinh tế thế giới

Rất nhiều quốc gia phụ thuộc vào Mỹ, vì vậy đã có rất nhiều phân tích nguyên nhân và thực trạng cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ và ảnh hưởng của nó đến kinh tế các nước, trong đó có Việt Nam

Biểu đồ 3: Tình hình phá sản 2007-2008 ở Mỹ

Nguồn: RealtyTrac

Mỹ là điểm xuất phát là trung tâm của cuộc khủng hoảng Ngay sau đó nó

nhanh chóng lan ra Châu Âu, Châu Á và toàn thế giới Nếu khủng hoảng ở thập niên 70 của thế kỉ XIX có thể đổ lỗi cho các nguyên nhân như chiến tranh ở Iran, cuộc cách mạng ở một số quốc gia và khủng hoảng chỉ liên quan đến sự suy giảm GDP Còn khủng hoảng lần này là tồi tệ nhất, nó tác động đồng bộ lên nền kinh tế toàn cầu Khủng hoảng lần này là do sự yếu kém, do kinh tế thị trường, các nền kinh tế bị lạm phát quá lớn… Trong đó những nước có nền kinh

tế dựa vào xuất khẩu là bị ảnh hưởng nặng nề nhất

Sự khủng hoảng và suy thoái ở Mỹ mở màn cho hàng loạt khủng hoảng và suy thoái của các nước khác trên thế giới đặc biệt là hệ thống tín dụng và ngân hàng

 Hệ thống ngân hàng

Trang 20

20

Nhiều tổ chức tài chính của các nước phát triển, nhất là các nước ở Châu

Âu, cũng tham dự vào thị trường tín dụng nhà ở thứ cấp ở Mỹ, chính vì vậy bong bóng nhà ở ở Mỹ bị vỡ cũng làm các tổ chức tài chính này gặp nguy hiểm tương tự như các tổ chức tài chính ở Mỹ Những nước Châu Âu bị rối loạn tài chính nặng nhất là Anh, Iceland, Ireland, Bỉ và Tây Ban Nha

Anh

9/2007: Nothern Rock bị tình trạng đột biến rút tiền gửi và hậu quả là phải chịu quốc hữu hóa Đột biến rút tiền gửi còn làm căng thẳng các ngân hàng khác của nước này

2008: Đến lượt Brandford & Bingley plc phải chịu chia nhỏ thành 2 công

ty riêng biệt Các ngân hàng khác phải chịu đổi chủ sỡ hữu bao gồm Catholic Building Society phải chịu sự giám sát đặc biệt của Chính phủ

Iceland

Khủng hoảng ngân hàng trên diện rộng Ngay quí I năm 2008, GDP của Iceland giảm 1,5% (mức giảm lớn nhất kể từ năm 1983); Glitnir, Straumur Investerment Bank và nhiều ngân hàng khác bị quốc hữu hóa

2008: Xếp hạng tín dụng của ngân hàng Ireland bị giảm, khiến cho giá cổ phiếu của ngân hàng này sụt ghê gớm, giá cổ phiếu tại thời điểm đầu tháng 3/2008 giảm tới 99% so với giá đỉnh cao năm 2007 Đầu năm 2009 Anglo Irish Bank bị quốc hữu hóa Allies Irish Bank cũng phải chịu tình trạng cổ phiếu mất giá ghê gớm và phải chấp nhận cải cách để nhận được khoản vay tái cơ cấu của chính phủ

Trang 21

21

 Thị trường chứng khoán

Biểu đồ 4: Chỉ số bình quân công nghiệp Dow-Jones giảm liên tục

từ cuối quý III năm 2007

Nguồn: world-crisis.net

9/3/2009: Chỉ số bình quân công nghiệp Dow Jones lúc đóng cửa là 6.547,05 thấp nhất kể từ tháng 4 năm 1997 Chỉ trong 6 tuần lễ chỉ số này đã sụt tới 20%

Các thị trường chứng khoán lớn của thế giới ở New York, London, Paris, Frankfurt, Tokyo đều có thời điểm sụt giá lớn lịch sử

Ở châu Âu, chỉ số FTSE 100 từ mức 4789,79 xuống còn 4699,82

Chỉ số DAX hôm 2/3/2009 chỉ còn 3666,4099 điểm so với 8067,3198 hôm 27/12/2007

Chỉ số CAC 40 hôm 2/3/2009 cũng xuống mức thấp kỷ lục 2534,45 điểm

Nhật Bản có một hệ thống tài chính tương đối vững vàng đã trải qua một

thời kỳ tái cơ cấu sau khủng hoảng 1996 - 1997 Tuy nhiên, tác động tiêu cực từ khủng hoảng tài chính Mỹ vẫn khiến cho thị trường chứng khoán của nước này rối loạn Chỉ số giá cổ phiếu bình quân Nikkei đã xuống mức thấp lịch sử vào các ngày 8 và 10/10/2008

Trang 22

22

1.1.3.2 Đặc điểm

Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới năm 2008 mang 4 đặc điểm

cơ bản sau đây:

Thứ nhất, cùng với tiến trình gia tăng mạnh mẽ của toàn cầu hoá và hội

nhập quốc tế và theo đó, là sự lệ thuộc lẫn nhau ngày càng sâu sắc giữa các nền kinh tế, tác động của cuộc khủng hoảng đã mang đặc tính phổ biến, lây lan rộng khắp và không loại trừ bất kỳ quốc gia nào

Thứ hai, tốc độ tăng trưởng của các quốc gia trung tâm âm và thấp kéo

dài, trong khi các quốc gia ngoại vi, nhất là ở các nền kinh tế đang phát triển - nơi có độ mở thị trường cao, lệ thuộc mạnh vào xuất khẩu và FDI, đã trở thành những nước bị tác động nặng nề và sâu sắc hơn

Thứ ba, ở cuộc khủng hoảng lần này, bên cạnh sự diễn ra đồng thời của

khủng hoảng chu kỳ, khủng hoảng cơ cấu và khủng hoảng thể chế, còn là sự bùng nổ đồng thời và nghiêm trọng của các cuộc khủng hoảng về năng lượng, nguyên liệu, lương thực và môi trường Nói cách khác, cuộc khủng hoảng đã không dừng lại ở các khía cạnh kinh tế mà đã và đang lan rộng ra ở các khía cạnh về xã hội và môi trường - 3 trụ cột của mục tiêu phát triển bền vững mà cả thế giới sẽ phải đối mặt trong những năm đầu của thế kỷ XXI

Thứ tư, về mặt lý thuyết, trong và sau cuộc khủng hoảng lần này, người ta

bắt đầu bàn nhiều đến sự trở lại của Keynes, vì sự bất lực của chủ nghĩa tân tự

do, mà về thực chất, là đi tìm cơ sở lý luận cho việc giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường trong bối cảnh mới Nói cách khác, cuộc khủng hoảng này là dấu mốc của cuộc khủng hoảng về lý thuyết điều tiết kinh tế

1.2 KHÁI QUÁT SỰ TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ THẾ GIỚI ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI CỦA CÁC NƯỚC

1.2.1 Tác động đến phát triển kinh tế xã hội trên toàn thế giới, đến Mỹ và một số nước tư bản phát triển Tây Âu

1.2.1.1 Tác động đến phát triển kinh tế xã hội trên toàn thế giới

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã để lại nhiều điều nan giải và những hệ quả sâu xa đối với nền kinh tế thế giới

Trang 23

23

Biểu đồ 5: Giá dầu (USD/thùng) giảm mạnh từ giữa năm 2008

Mỹ là thị trường nhập khẩu quan trọng của nhiều nước, do đó khi kinh tế

Mỹ suy thoái, xuất khẩu của nhiều nước bị thiệt hại, nhất là những nước theo hướng xuất khẩu ở Đông Á Một số nền kinh tế như Nhật Bản, Đài Loan, Singapore và Hồng Kông rơi vào suy thoái Các nền kinh tế khác đều tăng trưởng chậm lại

Châu Âu vốn có quan hệ kinh tế mật thiết với Mỹ nên chịu tác động nghiêm trọng cả về tài chính lẫn kinh tế Nhiều tổ chức tài chính ở đây bị phá sản đến mức trở thành khủng hoảng tài chính ở một số nước như Iceland hay Nga Các nền kinh tế lớn nhất khu vực là Đức và Italia rơi vào suy thoái, và Anh, Pháp, Tây Ban Nha cùng đều giảm tăng trưởng Khu vực đồng tiền chung châu Âu chính thức rơi vào cuộc suy thoái kinh tế đầu tiên kể từ ngày thành lập

Các nền kinh tế Mỹ La tinh cũng có quan hệ mật thiết với kinh tế Mỹ, nên cũng bị ảnh hưởng tiêu cực khi các dòng vốn ngắn hạn rút khỏi khu vực và khi giá dầu giảm mạnh Ecuador tiến đến bờ vực của một cuộc khủng hoảng nợ

Kinh tế các khu vực trên thế giới tăng chậm lại khiến lượng cầu về dầu

mỏ cho sản xuất và tiêu dùng giảm cũng như giá dầu mỏ giảm Điều này lại làm cho các nước xuất khẩu dầu mỏ bị thiệt hại Đồng thời, do lo ngại về bất ổn định xảy ra đã làm cho nạn đầu cơ lương thực nổ ra, góp phần dẫn tới giá lương thực tăng cao trong thời gian cuối năm 2007 đầu năm 2008, tạo thành một cuộc khủng hoảng giá lương thực toàn cầu Nhiều thị trường chứng khoán trên thế giới gặp phải đợt mất giá chứng khoán nghiêm trọng Các nhà đầu tư chuyển danh mục đầu tư của mình sang các đơn vị tiền tệ mạnh như đô la Mỹ, yên Nhật,

Trang 24

24

franc Thụy Sĩ đã khiến cho các đồng tiền này lên giá so với nhiều đơn vị tiền tệ khác, gây khó khăn cho xuất khẩu của Mỹ, Nhật Bản, Thụy Sĩ và gây rối loạn tiền tệ ở một số nước, điều này làm cho họ buộc phải xin trợ giúp của Quỹ Tiền

tệ Quốc tế (IMF) Hàn Quốc rơi vào khủng hoảng tiền tệ khi đồng Won liên tục mất giá từ đầu năm 2008

Trong điều kiện hiện nay, tất cả các quốc gia đều đã hội nhập nên mọi thay đổi của một nền kinh tế nào đó cũng có ảnh hưởng nhất định đối với thế giới, chưa nói tới một nền kinh tế lớn như Mỹ

Trên khắp thế giới sản xuất đình trệ, hàng triệu người lao động bị đẩy ra đường, các đoàn tàu chở hàng triệu lao động nhập cư làm việc tại các thành phố trở lại quê hương bản quán Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) ước tính thiệt hại của cuộc khủng hoảng này lên đến 1000 tỷ USD

Khủng hoảng kinh tế như sao chổi va quệt dữ dội vào khối kinh tế Bắc

Mỹ NAFTA - khoảng 250 công ty Canada đã bị loại khỏi các cuộc đấu thầu xây dựng hạ tầng ở Mỹ bởi điều khoản “người Mỹ dùng hàng Mỹ” mà các dân biểu

Mỹ gài vào gói cứu trợ kinh tế trị giá 787 tỷ USD của chính quyền Obama

Từ đống đổ vỡ ngổn ngang của nền kinh tế, tài chính toàn cầu, các nhà chính trị, các nhà kinh tế, các nhà quản lý tài chính đang tiếp tục mổ xẻ nguồn cơn con bệnh, tìm cách xây dựng lại tòa nhà kinh tế tài chính quốc gia và quốc

Có thể nói chưa bao giờ các nước trên thế giới lại vay nợ nhiều như bây giờ kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II năm 1945 Việc vay nợ nhiều đã trở thành một vấn đề cực kỳ nhức nhối

Trang 25

25

Nếu như sau chiến tranh thế giới thứ II với kế hoạch Mashall của mình thì Mỹ là chủ nở của các nước châu Âu thì hiện tại tất cả đều là những người đang phải chịu nợ

Thứ nhất, ở các nước phát triển đứng trước tình thế là đảm bảo an sinh xã

hội Khi mà ở các nước này tình hình dân số già và việc phải trả một khoản tiền lớn cho lương hưu hay trợ cấp sẽ khiến tình hình nợ công trở nên khó khăn hơn Đơn cử Nhật Bản với tuổi thọ bình quân khoảng 86 tuổi thì việc đáp ứng nhu cầu của người dân sẽ là một thách thức lớn Cộng thêm khoản trợ cấp thất nghiệp khi mà tình hình thất nghiệp ngày càng cao

Thứ hai, với các gói kích cầu của từng quốc gia, với những số tiền lớn

như vậy cũng tạo nên khoản thâm hụt ngân sách lớn không kém dẫn tới nguy cơ

vỡ nợ ở các quốc gia yếu Và điều đó đã được minh chứng tai Ireland và Rumani, hay một số quốc gia như Hy Lạp, Italia, Tây Ban Nha

1.2.1.2 Tác động đến phát triển kinh tế xã hội Mỹ

14/9/2008 đáng được ghi vào lịch sử của chủ nghĩa tư bản hiện đại: Ngân hàng Lehman Brothers, “cây đại thụ” 158 năm tuổi cuả Mỹ, bị xóa khỏi bản đồ tài chính ngân hàng thế giới - vụ phá sản lớn nhất lịch sử nước Mỹ, châm ngòi cho sự bùng nổ cuộc khủng hoảng tài chính, mở màn cho cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu Nó dồn các thị trường tài chính chao đảo một năm trước đó do khủng hoảng tín dụng thứ cấp, sau đó là rơi vào hoảng loạn thực sự, khiến dòng chảy tài chính đóng băng hoàn toàn và đẩy hệ thống ngân hàng vào tình trạng

nguy hiểm

- Từ cuối quý 3 năm 2007, chỉ số bình quân công nghiệp Dow-Jones giảm liên tục Hàng loạt tổ chức tài chính trong đó có những tổ chức tài chính khổng lồ và lâu đời bị phá sản đã đẩy kinh tế Hoa Kỳ vào tình trạng đói tín dụng

và ảnh hưởng đến khu vực sản xuất, dẫn đến việc doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, sa thải lao động, cắt giảm các hợp đồng nhập đầu vào

- Thất nghiệp gia tăng ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập và qua đó tới tiêu dùng của các hộ gia đình lại làm cho các doanh nghiệp khó bán được hàng hóa

- Tạm thời đóng cửa 20 nhà máy ở khu vực Bắc Mỹ Tiêu dùng giảm, hàng hóa ế thừa đã dẫn tới mức giá chung của nền kinh tế giảm liên tục, đẩy kinh tế Mỹ tới nguy cơ có thể bị giảm phát

- Cuộc khủng hoảng còn làm cho đồng đô la Mỹ lên giá Do đô la Mỹ là phương tiện thanh toán phổ biến nhất thế giới hiện nay nên các nhà đầu tư toàn cầu đã mua đô la để nâng cao khả năng thanh khoản của mình, đẩy đô la Mỹ lên

giá Điều này làm cho xuất khẩu của Mỹ bị thiệt hại không nhỏ

Trang 26

26

1.2.1.3 Tác động đến phát triển kinh tế xã hội các nước Tây Âu

Với tính liên thông cao của hệ thống ngân hàng, tài chính, cuộc khủng tài chính toàn cầu ngay lập tức ảnh hưởng nặng nề tới các nền kinh tế hùng mạnh của châu Âu như: Đức, Pháp, Anh, Italia… Toàn bộ kinh tế khu vực đồng tiền chung châu Âu bị đẩy vào tình trạng suy thoái nghiêm trọng, hầu hết các nước đều có mức tăng trưởng âm

Điển hình là khủng hoảng nợ công xảy ra ở Hy Lạp, nó đã làm rung chuyển hệ thống tài chính châu Âu và toàn cầu Thị trường chứng khoán thế giới

đã có những phiên giao dịch diễn ra trong tâm lý hoang mang thực sự của các nhà đầu tư và sự phục hồi kinh tế thế giới bị đe dọa nghiêm trọng

Nguyên nhân của khủng hoảng nợ công tai Hy Lạp có thể được tóm tắt như sau: Hy Lạp là một trong những mắt xích tương đối yếu của khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu Hiện tại, nợ công quá cao và sự yếu kém của nền kinh tế do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tiền tệ khiến Hy Lạp đang đối mặt với rủi ro lớn mà khó có thể giải quyết trong ngắn hạn Rủi ro này xuất phát từ nợ công quá cao làm thâm hụt ngân sách lớn, kéo dài cộng thêm vào đó

là tỷ lệ lớn các khoản nợ nước ngoài Hy Lạp vốn là nước có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất châu Âu, nhưng tỷ lệ tiết kiệm trong nước thấp, lại vay nợ cho chi tiêu công Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, vấn đề chi tiêu kích thích kinh tế lại trầm trọng thêm Tính đến tháng 01/2010, Hy Lạp có nợ công trên 216 tỷ EUR và mức lũy kế vượt 120% GDP Bên cạnh đó, trong thời gian dài Hy Lạp

đã phải ngụy tạo các báo cáo về tình hình kinh tế nhằm che dấu mức vay thực tế

để phù hợp với các quy định gia nhập, giám sát của EU và có thể chi tiêu cao hơn Rủi ro lớn nhất của Hy Lạp là tỷ lệ nợ nước ngoài cao đến 80% lượng trái phiếu Chính phủ phát hành, chủ nợ phần lớn lại là các ngân hàng châu Âu Mặc

dù Hy Lạp là một nền kinh tế nhỏ, hàng năm chỉ đóng góp 2% vào GDP của khu vực đồng tiền chung châu Âu, nhưng nếu Hy Lạp mất khả năng thanh toán thì hậu quả sẽ lan ra cả châu Âu và các châu lục khác Trong đó các nước châu Âu như Đức, Anh và Pháp bị ảnh hưởng nặng nề vì bản thân các nước này cũng đang trong giai đoạn phục hồi khiêm tốn sau khủng hoảng

1.2.2 Tác động đến một số nền kinh tế và các nước châu Á

1.2.3 Tác động đến nền kinh tế Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia nghèo và đông dân đang dần bình phục và phát triển sau sự tàn phá của chiến tranh, sự mất mát viện trợ tài chính từ khối các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, và sự yếu kém của nền kinh tế tập trung

Chính sách Đổi Mới năm 1986 thiết lập nền "kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa" Các thành phần kinh tế được mở rộng nhưng các

Trang 27

27

ngành kinh tế then chốt vẫn dưới sự điều hành của Nhà nước Sau năm 1986, kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển to lớn và đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình khoảng 9% hàng năm từ 1993 đến 1997

Tăng trưởng GDP 8,5% vào năm 1997 đã giảm xuống 4% vào năm 1998

do ảnh hưởng của sự kiện khủng hoảng kinh tế Á châu năm 1997, và tăng lên đến 4,8% năm 1999

Tăng trưởng GDP tăng lên từ 6% đến 7% giữa những năm 2000-2002 trong khi tình hình kinh tế thế giới đang trì trệ và vẫn duy trì ở mức trung bình xấp xỉ 6% cho đến tận năm 2011 Hiện nay, Việt Nam tiếp tục các nỗ lực tự do hóa nền kinh tế và thi hành các chính sách cải cách, xây dựng cơ sở hạ tầng cần thiết để đổi mới kinh tế và tạo ra các ngành công nghiệp xuất khẩu có tính cạnh tranh hơn

Tác động trực tiếp đối với nền kinh tế Việt Nam thì không lớn, tuy nhiên tác động gián tiếp lại khá mạnh Khủng hoảng kinh tế thế giới khiến tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chậm lại, tăng trưởng GDP đang ở mức trên 8% năm, năm 2008 đạt 6,28% và đến năm 2009 chỉ đạt 5,32%, thấp nhất trong vòng

10 năm

Giá trị tăng thêm của nhiều ngành thấp hơn nhiều so với những năm trước, xuất khẩu và du lịch giảm mạnh Nhiều cân đối vĩ mô của nền kinh tế chưa thực sự vững chắc Bội chi NSNN ở mức cao nhất trong hàng chục năm qua (6,9%/GDP) và chính sách tiền tệ nới lỏng khiến lạm phát tăng cao

Các cân đối thanh toán, cân đối ngoại thương, cân đối cung cầu vẫn chứa đựng những yếu tố rủi ro cao, đặc biệt khi Việt Nam hội nhập sâu và rộng vào kinh tế thế giới Giá cả vẫn biến động phức tạp, chỉ số giá tiêu dùng tăng xấp xỉ 7% Nợ chính phủ và nợ quốc gia vẫn trong mức an toàn, nhưng ngày càng tăng, gần đến ngưỡng cho phép tối đa và nhiều khoản nợ sắp đến hạn phải thanh toán lãi hoặc cả gốc lẫn lãi

Để đối phó với tác động bất lợi của khủng hoảng kinh tế, từ cuối năm

2008, Chính phủ đã đặt mục tiêu chống suy giảm, ổn định vĩ mô nền kinh tế và ban hành nhiều giải pháp, nhiều chính sách cấp bách nhằm ngăn chặn đà suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội

Khủng hoảng ở Mỹ làm cho người dân dự đoán USD sẽ xuống giá và do

đó rút USD khỏi ngân hàng, hoặc bán USD mua VND gửi vào, làm cấu trúc tài sản của các ngân hàng rơi vào thế bất lợi

Trong lĩnh vực thương mại, một khi mà người tiêu dùng Mỹ thắt chặt hầu bao thì nhiều nền kinh tế dựa chủ yếu vào nguồn lợi từ xuất khẩu chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó khăn Với Việt Nam, hiện nay 60% GDP của chúng ta là để phục vụ cho xuất khẩu, mà Mỹ là thị trường nhập khẩu quan trọng các mặt hàng

Ngày đăng: 20/07/2014, 07:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1  Tỷ trọng thị trường Mỹ trong tổng kim ngạch                                     XK của Việt Nam - Tác động của khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới năm 2008 đến hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam
Bảng 1 Tỷ trọng thị trường Mỹ trong tổng kim ngạch XK của Việt Nam (Trang 4)
Bảng 1: Tỷ trọng thị trường Mỹ trong tổng kim ngạch                                     XK của Việt Nam - Tác động của khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới năm 2008 đến hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam
Bảng 1 Tỷ trọng thị trường Mỹ trong tổng kim ngạch XK của Việt Nam (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w