KẾT QUẢ TÌM HIỂU KIẾN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ BỆNH TAY CHÂN MIỆNG TẠI TỈNH KON TUM NĂM 2012 Bs. Y Dêch Buônyă, Trung tâm TTGDSK tỉnh Kon Tum. Bằng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến hành điều tra phỏng vấn 396 đối tượng tại 36 thôn của 18 xã thuộc 9 huyệnthành phố trên địa bàn tỉnh Kon Tum với mục tiêu tìm hiểu kiến thức của người dân về bệnh tay chân miệng và đánh giá công tác truyền thông phòng chống bệnh tay chân miệng trong năm 2011. Kết quả nghiên cứu cho thấy 84,4% đối tượng được phỏng vấn trả lời đã có nghe nói về bệnh tay chân miệng; 84,8% trả lời bệnh tay chân miệng là nguy hiểm; 68,2% trả lời bệnh tay chân miệng phòng ngừa được; Tuy nhiên có 52,2% đối tượng được phỏng vấn hoàn toàn không biết bệnh tay chân miệng lây qua đường nào; 41,9% đối tượng được phỏng vấn không liệt kê được ít nhất 1 dấu hiệu nào của bệnh tay chân miệng; 36,7% đối tượng được phỏng vấn không liệt kê được ít nhất 1 biện pháp nào về phòng bệnh tay chân miệng… Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề xuất các kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao sự hiểu biết của người dân về phòng chống dịch bệnh nói chung. I. ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh tay chân miệng (TCM) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus gây nên, bệnh thường gặp ở trẻ em (trên 90%). Bệnh có thể bị rải rác hoặc bùng phát thành các vụ dịch nhỏ vào mùa hè ở những nơi đông dân cư, điều kiện vệ sinh kém. Biểu hiện của bệnh là những mụn nước, bọng nước ở tay, chân và miệng. Bệnh có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm não màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong nếu không được phát hiện sớm và xử trí kịp thời. Các trường hợp biến chứng nặng thường do EV71. Bệnh lây chủ yếu theo đường tiêu hoá. Nguồn lây chính từ nước bọt, phỏng nước và phân của trẻ nhiễm bệnh. Năm 2011 là năm tỉnh Kon Tum có số trẻ em mắc bệnh TCM cao nhất, trong đó có 01 trường hợp tử vong. Trước diễn biến phức tạp của tình hình dịch bệnh TCM trong khu vực và địa bàn tỉnh, các cấp ủy, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể đã tập trung vào cuộc, trong đó trách nhiệm hàng đầu vẫn là ngành Y tế và ngành Giáo dục Đào tạo. Đối tượng mắc bệnh TCM chủ yếu là trẻ em dưới 5 tuổi lứa tuổi nhà trẻ, mẫu giáo do đó đối tượng ưu tiên tập trung tuyên truyền trong thời gian qua là các bà mẹ có con dưới 5 tuổi, các cô nuôi dạy trẻ. Sau một thời gian tăng cường công tác truyền thông với sự tham gia của nhiều lực lượng xã hội, tình hình bệnh TCM đã được kiểm soát, khống chế. Tuy nhiên “công tác truyền thông giáo dục sức khỏe còn hạn chế; chuyển biến về nhận thức của người dân về tự chăm sóc sức khỏe còn chậm”, “nhận thức và thực hành chăm sóc sức khỏe của người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế” … (theo kết luận của Thường trực Tỉnh ủy Kon Tum). Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi tiến hành điều traphỏng vấn để khảo sát sự hiểu biết của người dân về bệnh TCM và qua đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức và thực hành của người dân về tự chăm sóc sức khỏe nói chung. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Kết quả tìm hiểu kiến thức của người dân về bệnh tay chân miệng tại tỉnh Kon Tum năm 2012” nhằm các mục tiêu sau: 1. Đánh giá thực trạng hiểu biết của người dân về dịch bệnh TCM trong năm 2011, 2012. 2. Xác định lực lượng tham gia chủ yếu trong công tác tuyên truyền phòng chống bệnh TCM ở cộng đồng trong thời gian qua. 3. Tìm hiểu sự lựa chọn của người dân về cán bộ làm công tác truyền thông, hình thức truyền thông. II. ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP 1. Đối tượng điều tra: Được ưu tiên lựa chọn phụ nữ độ tuổi 1830 và có con ≤ 5 tuổi.
Trang 1KẾT QUẢ TÌM HIỂU KIẾN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN
VỀ BỆNH TAY CHÂN MIỆNG TẠI TỈNH KON TUM NĂM 2012
Bs Y Dêch Buôn-yă, Trung tâm TT-GDSK tỉnh Kon Tum
Bằng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến hành điều tra phỏng vấn 396 đối tượng tại 36 thôn của 18 xã thuộc 9 huyện/thành phố trên địa bàn tỉnh Kon Tum với mục tiêu tìm hiểu kiến thức của người dân về bệnh tay chân miệng và đánh giá công tác truyền thông phòng chống bệnh tay chân miệng trong năm 2011.
Kết quả nghiên cứu cho thấy 84,4% đối tượng được phỏng vấn trả lời đã có nghe nói về bệnh tay chân miệng; 84,8% trả lời bệnh tay chân miệng là nguy hiểm; 68,2% trả lời bệnh tay chân miệng phòng ngừa được; Tuy nhiên có 52,2% đối tượng được phỏng vấn hoàn toàn không biết bệnh tay chân miệng lây qua đường nào; 41,9% đối tượng được phỏng vấn không liệt kê được ít nhất 1 dấu hiệu nào của bệnh tay chân miệng; 36,7% đối tượng được phỏng vấn không liệt kê được ít nhất 1 biện pháp nào về phòng bệnh tay chân miệng…
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề xuất các kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao sự hiểu biết của người dân về phòng chống dịch bệnh nói chung
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh tay chân miệng (TCM) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus gây nên, bệnh thường gặp ở trẻ em (trên 90%) Bệnh có thể bị rải rác hoặc bùng phát thành các
vụ dịch nhỏ vào mùa hè ở những nơi đông dân cư, điều kiện vệ sinh kém Biểu hiện của bệnh là những mụn nước, bọng nước ở tay, chân và miệng Bệnh có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm não - màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong nếu không được phát hiện sớm và xử trí kịp thời Các trường hợp biến chứng nặng thường do EV71 Bệnh lây chủ yếu theo đường tiêu hoá Nguồn lây chính từ nước bọt, phỏng nước và phân của trẻ nhiễm bệnh
Trang 2Năm 2011 là năm tỉnh Kon Tum có số trẻ em mắc bệnh TCM cao nhất, trong đó có
01 trường hợp tử vong Trước diễn biến phức tạp của tình hình dịch bệnh TCM trong khu vực và địa bàn tỉnh, các cấp ủy, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể đã tập trung vào cuộc, trong đó trách nhiệm hàng đầu vẫn là ngành Y tế và ngành Giáo dục & Đào tạo Đối tượng mắc bệnh TCM chủ yếu là trẻ em dưới 5 tuổi - lứa tuổi nhà trẻ, mẫu giáo
do đó đối tượng ưu tiên tập trung tuyên truyền trong thời gian qua là các bà mẹ có con dưới 5 tuổi, các cô nuôi dạy trẻ
Sau một thời gian tăng cường công tác truyền thông với sự tham gia của nhiều lực
lượng xã hội, tình hình bệnh TCM đã được kiểm soát, khống chế Tuy nhiên “công tác truyền thông giáo dục sức khỏe còn hạn chế; chuyển biến về nhận thức của người dân
về tự chăm sóc sức khỏe còn chậm”, “nhận thức và thực hành chăm sóc sức khỏe của người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế” … (theo kết luận của
Thường trực Tỉnh ủy Kon Tum)
Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi tiến hành điều tra/phỏng vấn để khảo sát sự hiểu biết của người dân về bệnh TCM và qua đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức và thực hành của người dân về tự chăm sóc sức khỏe nói chung Chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Kết quả tìm hiểu kiến thức của người dân về bệnh tay chân
miệng tại tỉnh Kon Tum năm 2012” nhằm các mục tiêu sau:
1 Đánh giá thực trạng hiểu biết của người dân về dịch bệnh TCM trong năm 2011, 2012.
2 Xác định lực lượng tham gia chủ yếu trong công tác tuyên truyền phòng chống bệnh TCM ở cộng đồng trong thời gian qua.
3 Tìm hiểu sự lựa chọn của người dân về cán bộ làm công tác truyền thông, hình thức truyền thông.
II ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP
1 Đối tượng điều tra: Được ưu tiên lựa chọn phụ nữ độ tuổi 18-30 và có con ≤ 5
tuổi
2 Địa điểm điều tra: Tại 36 thôn của 18 xã thuộc 9 huyện/thành phố trên địa bàn
tỉnh Mỗi huyện/thành phố chọn ngẫu nhiên 2 xã (1 xã gần, 1 xã xa trung tâm thành
Trang 3thị), mỗi xã 2 thôn (1 thôn gần, 1 thôn xa trung tâm xã), mỗi thôn từ 10 đến 12 hộ (đảm bảo có tính đại diện, được đánh dấu tên hộ gia đình trên bản đồ trước khi tiến hành đi phỏng vấn).
3 Cỡ mẫu điều tra: Dự kiến ban đầu là 396 đối tượng, tuy nhiên khi sàng lọc loại
bỏ các phiếu không đạt yêu cầu, kết quả chỉ còn 381 phiếu (ứng với 381 đối tượng được phỏng vấn)
4 Công cụ điều tra: Sử dụng Bộ câu hỏi/Phiếu điều tra.
5 Kỹ thuật điều tra: Sau khi xác định địa điểm điều tra, việc điều tra được thực
hiện tuần tự như sau:
- Lập bản đồ dân cư (có sự hỗ trợ của người địa phương - chủ yếu qua nhân viên y tế thôn làng)
- Đánh dấu tên hộ gia đình sẽ phỏng vấn
- Xác định đối tượng sẽ phỏng vấn: Hộ gia đình có con dưới 5 tuổi Phụ nữ độ tuổi 18-50 Phụ nữ độ tuổi 18-30 Phụ nữ độ tuổi 18-30 và có con ≤ 5 tuổi
- Thực hiện phỏng vấn, ghi chép theo Bộ câu hỏi/Phiếu điều tra đã được thiết kế sẵn
6 Thời gian điều tra
- Tháng 8, 9/2012 (kết hợp trong các đợt đi truyền thông, giám sát, chỉ đạo tuyến về công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe của Trung tâm TT-GDSK Kon Tum)
7 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
- Nhập số liệu bằng phần mềm chuyên dụng EpiData 3.1;
- Phân tích số liệu bằng EpiData Analysis V2.2.1.171; Xuất dữ liệu (chọn lọc hoặc toàn phần) từ EpiData 3.1 sang Microsoft Excel khi cần thiết Có sử dụng các tiện ích MacChiSquare, ProbabilityCalc để kiểm định, so sánh khi cần
Trang 4III KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN:
1 Hiểu biết của người dân về bệnh TCM:
Bảng 1: Trình độ học vấn của đối tượng được phỏng vấn
Biết đọc, biết viết 19 5 (3,2-7,7) 7,9
Nhìn chung đối tượng được phỏng vấn từ biết đọc, biết viết trở lên là chủ yếu
Bảng 2: Tình hình tiếp cận với thông tin về dịch bệnh TCM
Nhóm đối tượng
Đã có nghe nói hoặc chưa nghe nói về bệnh
TCM
Phụ nữ có con < 5 T 31 8,1 211 55,4 242 63,5
Tỷ lệ đối tượng được phỏng vấn đã được nghe nói về bệnh TCM chiếm 84,8% Chứng tỏ công tác tuyên truyền phòng chống bệnh TCM đã được triển khai rộng rãi ở cộng đồng dân cư
Bảng 3: Hiểu biết về sự nguy hiểm của bệnh TCM
Các nhóm đối tượng Có Bệnh TCM có nguy hiểm / không nguy hiểm % Không % Total %
PN có con < 5 tuổi 210 55,1 32 8,4 242 63,5 Đối tượng khác 113 29,7 26 6,8 139 36,5
Trang 5Các nhóm đối tượng Bệnh TCM có nguy hiểm / không nguy hiểm
Có nghe nói về bệnh TCM 314 82,4 9 2,4 323 84,8 Chưa nghe nói về bệnh TCM 9 2,4 49 12,9 58 15,2
Tỷ lệ đối tượng được phỏng vấn trả lời bệnh TCM nguy hiểm chiếm 84,8% Nhóm phụ nữ có con dưới 5 tuổi nhận định bệnh TCM nguy hiểm 55,1% cao hơn nhóm đối tượng khác (29,7%) Tuy nhiên sự khác biệt này chỉ theo quan sát ngẫu nhiên, không có
ý nghĩa thống kê (chi-square = 2,056 < 3,841)
Nhóm đã được nghe tuyền truyền về bệnh TCM, tỷ lệ trả lời bệnh TCM nguy hiểm chiếm 82,4%
Bảng 4: Hiểu biết về khả năng phòng ngừa bệnh TCM
Các nhóm đối
tượng
Bệnh TCM phòng ngừa được / không phòng ngừa
được / không biết
Phòng
Không
PN có con < 5 tuổi 168 44,1 13 3,4 61 16,0 242 63,5
Đối tượng khác 92 24,1 6 1,6 41 10,8 139 36,5
Có nghe nói về B
Chưa nghe nói về
Tỷ lệ đối tượng được phỏng vấn trả lời bệnh TCM phòng ngừa được là 68,2% Có 26,8% đối tượng được phỏng vấn trả lời “không biết”
Bảng 5 Hiểu biết về đường lây của bệnh TCM
Đường lây
Nhóm đối tượng Phụ nữ có con < 5 T /
nhóm khác
Total %
Có nghe / chưa nghe nói về bệnh TCM PNCC
< 5T %
Nhóm
Đường Y 68 17,8 27 7,1 95 24,9 94 24,7 1 0,3
Trang 6tiêu hóa 1
Total 242 63,5 139 36,5 381 323 84,
8 58 15,2 Tiếp xúc
trực tiếp
3 41
10,
N 210 55,1 128 33,6 338 88,7 28
2 74,0 56 14,7 Total 242 63,5 139 36,5 381 323 84,
8 58 15,2
Đường hô
hấp
9 48 12,6 1 0,3
N 203 53,3 129 33,9 332 87,
1 275 72,2 57 15,0
Total 242 63,5 139 36,5 381 323 84,
8 58 15,2
Không
biết
Y 109 28,6 90 23,6 199 52,
2 156
40,
χ2 = 13,743; p = 0,0002 χ2 = 13,16 ; p = 0,0003 Total 242 63,5 139 36,5 381 323 84,
8 58 15,2 Không trả
lời
Y 17 4,5 4 1,0 21 5,5 10 2,6 11 2,9
N 225 59,1 135 35,4 360 94,
5 313 82,2 47 12,3
5 139
36,
Bảng 5 cho thấy 52,2% đối tượng được phỏng vấn không biết đường lây của bệnh TCM; 28,6% nhóm phụ nữ có con dưới 5 tuổi không biết đường lây của bệnh TCM; 40,9% số người đã được tuyên truyền về bệnh TCM nhưng không biết đường lây của bệnh TCM
Tỷ lệ không biết đường lây bệnh TCM của nhóm phụ nữ có con < 5 tuổi (28,6%) cao hơn so với nhóm còn lại (23,6%) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (χ2 = 13,743 > 3,841) Điều này cũng bình thường, bởi đối tượng đích của truyền thông phòng chống dịch bệnh TCM vừa qua chính là phụ nữ có con < 5 tuổi
Trang 7Tỷ lệ không biết đường lây bệnh TCM của nhóm đã được nghe về bệnh TCM (40,9%) cao hơn rất nhiều so với nhóm chưa được nghe về bệnh TCM (11,3%) Đây là một điều rất đáng bàn, vì đúng ra đối tượng đã được nghe về bệnh TCM sẽ được biết về đường lây của bệnh TCM Điều này có liên quan đến chất lượng thông tin - truyền thông, liên quan đến lực lượng làm công tác truyền thông
Nếu thống kê theo từng cá thể trên tổng số mẫu thì có 123 người (32,28%) trả lời đúng đường lây (tức trả lời lây qua đường tiêu hóa, qua tiếp xúc trực tiếp với nước bọt, phỏng nước, phân của trẻ nhiễm bệnh) Còn lại 258 người (67,72%) hoặc trả lời sai, hoặc không biết, hoặc không trả lời (xem Biểu đồ 1)
Đối với những người làm công tác truyền thông thì đây là một kết quả hoàn toàn không như mong muốn Nguyên nhân của kết quả trên cơ bản phụ thuộc hai phía: Một
là từ phía đối tượng được truyền thông, hai là từ phía cán bộ làm công tác truyền thông Trình độ dân trí quá thấp hoặc chủ đề truyền thông chưa được người dân quan tâm thì hiệu quả truyền thông sẽ không cao là điều khó tránh khỏi Theo Bảng 1, trình độ học vấn của người được phỏng vấn từ bậc Tiểu học trở lên chiếm 77,9% Vậy thì vấn đề cần xem xét: Đó là chất lượng của thông tin - truyền thông, điều này có liên quan trực tiếp đến chất lượng cán bộ làm công tác truyền thông trực tiếp tại cộng đồng
Bảng 6: Hiểu biết về dấu hiệu của bệnh TCM
Trang 8Dấu hiệu
Nhóm đối tượng Phụ nữ có con < 5 T /
Có nghe / chưa nghe nói về bệnh TCM PNCC
< 5T %
Nhóm
Sốt
Y 49 12,9 24 6,3 73 19,2 72 18,9 1 0,3
N 193 50,7 115 30,2 308 80,
8 251 65,9 57 15,0 Total 242 63,5 139 36,5 381 323 84,
8 58 15,2 Sốt +
phỏng
nước
Y 33 8,7 34 8,9 67 17,6 66 17,3 1 0,3
N 209 54,9 105 27,6 314 82,4 257 67,5 57 15,0
Total 242 63,5 139 36,5 381 323 84,
8 58 15,2 Sốt +
phỏng
nước ở
miệng
Y 115 30,2 44 11,5 159 41,
7 158 41,5 1 0,3
N 127 33,3 95 24,9 222 58,3 165 43,3 57 15,0
Total 242 63,5 139 36,5 381 323 84,
8 58 15,2 Sốt +
phỏng
nước ở
lòng bàn
tay
Y 113 29,7 38 10,
0 151 39,6 150 39,4 1 0,3
N 129 33,9 101 26,5 230 60,4 173 45,4 57 15,0
Total 242 63,5 139 36,5 381 323 84,
8 58 15,2 Sốt +
phỏng
nước ở
lòng bàn
chân
Y 101 26,5 33 8,7 134 35,
2 133 34,9 1 0,3
N 141 37,0 106 27,8 247 64,8 190 49,9 57 15,0
Total 242 63,5 139 36,5 381 323 84,
8 58 15,2
Trang 9Dấu hiệu
Nhóm đối tượng Phụ nữ có con < 5 T /
Có nghe / chưa nghe nói về bệnh TCM PNCC
< 5T %
Nhóm
Sốt +
phỏng
nước ở
gối, mông
N 233 61,2 138 36,2 371 97,4 313 82,2 58 15,2
Total 242 63,5 139 36,5 381 323 84,
8 58 15,2
Không
biết
Y 93 24,4 67 17,6 160 41,9 104 27,3 56 14,7
N 149 39,1 72 18,9 221 58,1 219 57,5 2 0,5 Total 242 63,5 139 36,5 381
323
84,
8 58 15,2 χ2 = 3.461; p = 0,0628 p = 0,0000
Không trả
lời
N 232 60,9 133 34,9 365 95,8 316 82,9 49 12,9
36,
Kết quả tại Bảng 6 cho thấy có 41,9% đối tượng được phỏng vấn không biết dấu hiệu của bệnh TCM; 24,4% nhóm phụ nữ có con dưới 5 tuổi không biết dấu hiệu của bệnh TCM; 27,3% nhóm người đã được nghe về bệnh TCM nhưng không biết dấu hiệu của bệnh TCM
Tỷ lệ không liệt kê được dấu hiệu bệnh TCM của nhóm phụ nữ có con < 5 tuổi (24,4%) cao hơn so với nhóm còn lại (17,6%) Tuy nhiên sự khác biệt này chỉ theo quan sát ngẫu nhiên, không có ý nghĩa thống kê (chi-square = 3,461 < 3,841) Điều này cho phép suy luận hai nhóm này hiểu biết về dấu hiệu bệnh gần như nhau, có thể đây là kết quả của việc truyền thông lẫn nhau trong cộng đồng
Tỷ lệ không liệt kê được dấu hiệu bệnh TCM của nhóm đã được nghe về bệnh TCM (27,3%) cao hơn nhiều so với nhóm chưa được nghe về bệnh TCM (14,7%) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với khoảng tin cậy rất cao, p ≈ 0 Điều này cũng cần phải
Trang 10xem xét từ nhiều góc độ khác nhau vì đúng ra, những người đã được nghe phải biết nhiều hơn so với những người chưa được nghe
Nếu thống kê theo từng cá thể trên tổng số mẫu điều tra thì có 55 người (14,44%) kể được 1 dấu hiệu của bệnh TCM; 34 người (8,92%) kể được 2 dấu hiệu của bệnh TCM;
76 người (19,95%) kể được 3 dấu hiệu phổ biến của bệnh TCM; 38 người (9,97%) kể được 4 dấu hiệu của bệnh TCM…(xem Biểu đồ 2)
Như vậy, hiểu biết của người dân về các dấu hiệu của bệnh TCM còn rất hạn chế Tuy nhiên, nếu thống kê theo các biến số ở Bảng 6, thì các câu trả lời sốt kèm theo xuất hiện các phỏng nước ở miệng, ở lòng bàn tay, ở lòng bàn chân lần lượt là 41,7%; 39,6%; 35,2% Tỷ lệ này mặc dù còn thấp nhưng vẫn có ý nghĩa nhất định đối với cộng đồng
Bảng 7: Hiểu biết về các biện pháp phòng bệnh TCM
Trang 11Biện pháp
Nhóm đối tượng Phụ nữ có con < 5 T /
Có nghe / chưa nghe nói về bệnh TCM
PNCC
< 5T %
Nhóm
Th-xuyên rửa
tay với xà
phòng
N 112 29,4 79 20,7 191 50,
1 141 37,0 50 13,1
8 58 15,2 Th-xuyên
tắm rửa, thay
quần áo
N 145 38,1 104 27,3 249 65,
4 201 52,8 48 12,6
8 58 15,2
Đi cầu vào
nhà tiêu
N 235 61,7 135 35,4 370 97,
1 312 81,9 58 15,2
8 58 15,2 Không khạc
nhổ bừa
bãi…
N 242 63,5 138 36,2 380 99,7 322 84,5 58 15,2
8 58 15,2 Th-xuyên lau
chùi sàn nhà
2 57 15,0 1 0,3
N 199 52,2 124 32,5 323 84,8 266 69,8 57 15,0
8 58 15,2 Th-xuyên rửa
sạch đồ chơi
của trẻ
3 42 11,0 1 0,3
N 205 53,8 133 34,9 338 88,7 281 73,8 57 15,0
8 58 15,2 Cách ly trẻ bị Y 12 3,1 6 1,6 18 4,7 18 4,7 0 0,0
Trang 12Biện pháp
Nhóm đối tượng Phụ nữ có con < 5 T /
Có nghe / chưa nghe nói về bệnh TCM
PNCC
< 5T %
Nhóm
bệnh, đến cơ
sở y tế… N 230 60,4 133 34,9 363
95,
3 305
80,
1 58 15,2
8 58 15,2
Không biết YN 16280 21,042,5 6079 15,720,7 140241 36,763,3 227 59,696 25,2 4414 11,53,7
χ2 = 3,881 > 3,841, p =
36,
Kết quả Bảng 7 có 36,7% đối tượng được phỏng vấn không liệt kê được các biện pháp phòng bệnh TCM; 21% nhóm phụ nữ có con dưới 5 tuổi không biết biện pháp phòng bệnh TCM; 25,2% số người đã được nghe về bệnh TCM nhưng không biết biện pháp phòng bệnh TCM Đặc biệt, việc quản lý xử lý tốt chất thải từ con người (phân, đờm) để phòng ngừa dịch bệnh chưa được các đối tượng phỏng vấn quan tâm để ý (số người có nói đến đi cầu vào nhà tiêu, không khạc nhổ bừa bãi rất thấp)
Tỷ lệ không liệt kê được biện pháp phòng bệnh TCM của nhóm phụ nữ có con < 5 tuổi (21%) cao hơn so với nhóm còn lại (15,7%) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (với chi-square = 3,881 > 3,841) Điều này cho phép suy luận hai nhóm này hiểu biết về biện pháp phòng bệnh TCM gần như nhau Tương tự như kết quả Bảng 6, có thể đây là kết quả của truyền thông lẫn nhau trong cộng đồng
Tỷ lệ không liệt kê được biện pháp phòng bệnh TCM của nhóm đã được nghe về bệnh TCM (25,2%) cao hơn nhiều so với nhóm chưa được nghe về bệnh TCM (11,5%) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với khoảng tin cậy rất cao, p ≈ 0 Điều này chứng
tỏ hiệu quả của công tác truyền thông còn thấp
Trang 13Theo Biểu đồ 3, số người kể được từ 1 đến 6 biện pháp phòng bệnh TCM giảm dần: 28,61% kể được 1 biện pháp; 19,42% kể được 2 biện pháp; 10,76% kể được 3 biện pháp; 3,41% kể được 4 biện pháp; 0,70% kể được 5 biện pháp…
Để phòng bệnh TCM đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ các biện pháp dự phòng Càng biết nhiều, thực hiện nhiều biện pháp thì hiệu quả phòng bệnh càng cao Với kết quả tại biểu đồ trên, rõ ràng hiệu quả phòng bệnh ở cộng đồng chưa thể cao như mong muốn được
2 Tình hình tham gia tuyên truyền phòng chống dịch bệnh TCM tại cộng đồng:
Bảng 8: Các nhóm lực lượng tham gia tuyên truyền phòng chống bệnh TCM
Trả lời của đối
tượng được phỏng
vấn
Chính quyền
(UBND xã)
Nhà trường Trạm Y tế Nhân viên y
tế thôn/làng
… có tham gia 217 57 153 40,2 296 77,7 315 82,7
… không th/gia 164 43 228 59,8 85 22,3 66 17,3
Theo kết quả Bảng 8, lực lượng tham gia tuyên truyền phòng chống dịch bệnh TCM trong năm 2011 như sau: 82,7% là lực lượng nhân viên y tế thôn/làng; 77,7% là cán bộ trạm y tế xã; 57% là cán bộ từ UBND xã; 40,2% là giáo viên của các trường cấp I, II trên địa bàn