1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu tình hình tiêm vắc xin phòng uốn ván ở phụ nữ mang thai phường hương long thành phố huế

54 2,3K 15
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tình hình tiêm vắc xin phòng uốn ván ở phụ nữ mang thai phường Hương Long thành phố Huế
Tác giả Hoàng Bử Cần
Người hướng dẫn PGS.TS Đinh Thanh Huề
Trường học Trường Đại học Y Dược Huế
Chuyên ngành Y học
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀUốn ván ở phụ nữ mang thai và ở trẻ sơ sinh là bệnh rất nguy hiểm, với tỉ lệ tử vong cao. Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), cứ mỗi năm trên Thế giới ước tính có khoảng 500.000 trẻ em tử vong vì uốn ván sơ sinh (UVSS) 12. Trong những năm gần đây, tỷ lệ mắc UVSS giảm một cách đáng kể nhờ có việc tiêm vắc xin phòng uốn ván cho phụ nữ mang thai (PNMT) và phụ nữ tuổi sinh đẻ (PNTSĐ). Năm 2000, cả Thế giới có khoảng 200.000 trẻ em tử vong vì UVSS, tỷ lệ này ở Việt Nam là 70 trẻ 12. WHO đã đúc kết và chính thức nhận định “Uốn ván hầu như không có miễn dịch tự nhiên và nếu hữu hạn có thì củng không đủ lượng kháng thể để phòng bệnh uốn ván” 8,19. Vì thế để tạo được miễn dịch chống lại bệnh uốn ván ở bà mẹ và uốn ván rốn ở trẻ sơ sinh thì không có cách nào khác là phải làm tốt công tác dự phòng, đặc biệt là tiêm vắc xin phòng uốn ván cho PNMT và PNTSĐ 8,14.Chính vì vậy, gần 3 thập kỷ qua, chương trình tiêm chủng mở rộng (TCMR) đã được WHO phát động và triển khai rộng khắp trên toàn thế giới. Năm 1981 nước ta đưa TCMR vào thực hiện, trong đó có tiêm vắc xin phòng uốn ván cho PNMT 4. Từ đó đến nay, tỷ lệ tiêm vắc xin phòng uốn ván cho PNMT không ngừng được tăng lên. Năm 1995 UVSS được loại trừ trên quy mô tỉnh (Tỷ lệ mắo UVSS < 11000 trẻ đẻ sống) và đến năm 2005 cả nước đã loại trừ được UVSS trên quy mô huyện, tỷ lệ tiêm đầy đủ vắc xin phòng uốn ván cho PNMT luôn đạt trên 80%, các hoạt động nhằm bảo vệ thành quả loại trừ UVSS luôn được duy trì 2.Được sự hổ trợ của WHO, chương trình TCMR Quốc gia, năm 1982 Thừa Thiên Huế đưa chương trình TCMR triển khai. Sau gần 20 năm thực hiện, nay đã có 99 Huyện, Thành phố và 150 xã, phường đã triển khai đầy đủ 28. Qua kết quả tổng kết chương trình TCMR của tỉnh năm 2010 cho thấy, tỉ lệ tiêm vắc xin uốn ván cho PNMT đạt 92,8%, luôn đạt chỉ tiêu loại trừ UVSS 13.Tuy UVSS đã được loại trừ hơn 5 năm qua, nhưng chúng ta không chủ quan mà cần chủ động giám sát, đôn đốc và thường xuyên theo dõi tình hình chủng ngừa và sự tiếp cận dịch vụ tiêm vắc xin phòng uốn ván, đặc biệt là ở PNMT, nhằm nâng cao chất lượng của công tác phòng bệnh mà cụ thể là tỉ lệ PNMT được tiêm đầy đủ vắc xin phòng uốn ván đạt yêu cầu và luôn đạt chỉ tiêu loại trừ UVSS, góp phần trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân nói chung và chăm sóc thai sản nói riêng, phù hợp thực tế với chiến lược hoạt động và phát triển của ngành y tế nước ta lấy “ y học dự phòng làm gốc”. Chính vì những lẽ đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu dề tài: “Nghiên cứu tình hình tiêm vắc xin phòng uốn ván ở phụ nữ mang thai phường Hương Long thành phố Huế ”.Với những mục tiêu như sau:1. Xác định tỷ lệ tiêm vắc xin phòng uốn ván ở phụ nữ mang thai phường Hương Long thành phố Huế.2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình hình tiêm vắc xin phòng uốn ván cho phụ nữ mang thai.

Trang 1

TR¦êNG §¹I HäC Y D¦îC

HOÀNG BÁ CẦN

NGHI£N CøU T×NH H×NH TI£M V¾C XIN PHßNG UèN V¸N ë PHô N÷ MANG THAI PH¦êNG H¦¥NG LONG THµNH PHè HUÕ

Trang 2

Lời cảm ơn

Luận văn này được hoàn thành, ngoài sự nổ lực của bản thân, tôi xin bày tổ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban Giám Hiệu, phòng đào tạo Đại học trường Đại học Y Dược Huế, thư viện

trong toàn trường đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Đinh Thanh Huề về sự dạy dỗ và hướng dẫn tận tình của Thầy đối với quá trình học tập và nghiên cứu của tôi

Tôi xin chân thành cảm ơn Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Thừa Thiên Huế, Trung tâm Y tế dự phòng thành phố Huế,

Uỷ ban nhân dân phường Hương Long, trạm Y tế phường Hương Long thành phố Huế và các bà mẹ mang thai, các bà mẹ

có con dưới 1 tuổi đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới những người thân trong gia đình, toàn thể bạn bè đã động viên, giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Huế,ngày 20 tháng 5 năm 2012

Sinh viên

Hoàng Bá Cần

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn đều có thật và chưa từng được ai công bố trong bất

kỳ công trình nghiên cứu nào

Huế,ngày 20 tháng 5 năm 2012

Sinh viên

Hoàng Bá Cần

Trang 4

UBND Uỷ ban nhân dân

UVSS Uốn ván sơ sinh

YTDP Y học dự phòng

WHO World Health Organization

(Tổ chức y tế thế giới)

Trang 5

Trang

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Lịch sử bệnh uốn ván 3

1.2 Mục tiêu của chương trình tiêm vắc xin phòng uốn ván cho phụ nữ mang thai 4

1.3 Đối tượng tiêm chủng 4

1.4 Chiến lược của chương trình tiêm vắc xin phòng uốn ván cho phụ nữ mang thai 5

1.5 Tình hình mắc bệnh uốn ván sơ sinh trên thế giới 5

1.6 Tình hình tiêm vắc xin phòng uốn ván cho phụ nữ mang thai tại Việt Nam 5

1.7 Dịch tể học và lâm sàng bệnh uốn ván 6

1.8 Dự phòng bệnh uốn ván 7

1.9 Vắc xin phòng uốn ván 8

1.10 Quản ly dây chuyền lạnh và vắc xin 10

1.11 Một số nét về địa điểm nghiên cứu 12

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13

2.1 Đối tượng nghiên cứu 13

2.2 Phương pháp nghiên cứu 13

2.3 Các chỉ số và biến số nghiên cứu 14

2.4 Thu thập số liệu 16

2.5 Phương pháp xử ly số liệu 18

2.6 Thời gian nghiên cứu 18

2.7 Đạo đức nghiên cứu 18

Trang 6

3.2 Tỷ lệ tiêm vắc xin phòng uốn ván của đối tượng nghiên cứu 21

3.3 Các yếu tố liên quan đến tiêm vắc xin phòng uốn ván 24

Chương 4: BÀN LUẬN 28

4.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 28

4.2 Tỷ lệ tiêm vắc xin phòng uốn ván khi mang thai 30

4.3 Các yếu tố liên quan đến thực trạng bà mẹ tiêm vắc xin phòng uốn ván khi mang thai 32

KẾT LUẬN 38

KIẾN NGHỊ 40 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ

Uốn ván ở phụ nữ mang thai và ở trẻ sơ sinh là bệnh rất nguy hiểm, với

tỉ lệ tử vong cao Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), cứ mỗi năm trên Thế giới ước tính có khoảng 500.000 trẻ em tử vong vì uốn ván sơ sinh (UVSS) [12] Trong những năm gần đây, tỷ lệ mắc UVSS giảm một cách đáng kể nhờ có việc tiêm vắc xin phòng uốn ván cho phụ nữ mang thai (PNMT) và phụ nữ tuổi sinh đẻ (PNTSĐ) Năm 2000, cả Thế giới có khoảng 200.000 trẻ em tử vong vì UVSS, tỷ lệ này ở Việt Nam là 70 trẻ [12] WHO

đã đúc kết và chính thức nhận định “Uốn ván hầu như không có miễn dịch tự nhiên và nếu hữu hạn có thì củng không đủ lượng kháng thể để phòng bệnh uốn ván” [8],[19] Vì thế để tạo được miễn dịch chống lại bệnh uốn ván ở bà

mẹ và uốn ván rốn ở trẻ sơ sinh thì không có cách nào khác là phải làm tốt công tác dự phòng, đặc biệt là tiêm vắc xin phòng uốn ván cho PNMT và PNTSĐ [8],[14]

Chính vì vậy, gần 3 thập kỷ qua, chương trình tiêm chủng mở rộng (TCMR) đã được WHO phát động và triển khai rộng khắp trên toàn thế giới Năm 1981 nước ta đưa TCMR vào thực hiện, trong đó có tiêm vắc xin phòng uốn ván cho PNMT [4] Từ đó đến nay, tỷ lệ tiêm vắc xin phòng uốn ván cho PNMT không ngừng được tăng lên Năm 1995 UVSS được loại trừ trên quy

mô tỉnh (Tỷ lệ mắo UVSS < 1/1000 trẻ đẻ sống) và đến năm 2005 cả nước đã loại trừ được UVSS trên quy mô huyện, tỷ lệ tiêm đầy đủ vắc xin phòng uốn ván cho PNMT luôn đạt trên 80%, các hoạt động nhằm bảo vệ thành quả loại trừ UVSS luôn được duy trì [2]

Được sự hổ trợ của WHO, chương trình TCMR Quốc gia, năm 1982 Thừa Thiên Huế đưa chương trình TCMR triển khai Sau gần 20 năm thực

Trang 8

hiện, nay đã có 9/9 Huyện, Thành phố và 150 xã, phường đã triển khai đầy đủ [28] Qua kết quả tổng kết chương trình TCMR của tỉnh năm 2010 cho thấy, tỉ

lệ tiêm vắc xin uốn ván cho PNMT đạt 92,8%, luôn đạt chỉ tiêu loại trừ UVSS [13]

Tuy UVSS đã được loại trừ hơn 5 năm qua, nhưng chúng ta không chủ quan mà cần chủ động giám sát, đôn đốc và thường xuyên theo dõi tình hình chủng ngừa và sự tiếp cận dịch vụ tiêm vắc xin phòng uốn ván, đặc biệt là ở PNMT, nhằm nâng cao chất lượng của công tác phòng bệnh mà cụ thể là tỉ lệ PNMT được tiêm đầy đủ vắc xin phòng uốn ván đạt yêu cầu và luôn đạt chỉ tiêu loại trừ UVSS, góp phần trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân nói chung và chăm sóc thai sản nói riêng, phù hợp thực tế với chiến lược hoạt động và phát triển của ngành y tế nước ta lấy “ y học dự phòng làm gốc” Chính vì những lẽ đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu dề tài:

“Nghiên cứu tình hình tiêm vắc xin phòng uốn ván ở phụ nữ mang thai phường Hương Long thành phố Huế ”

Với những mục tiêu như sau:

1 Xác định tỷ lệ tiêm vắc xin phòng uốn ván ở phụ nữ mang thai phường

Hương Long thành phố Huế

2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình hình tiêm vắc xin phòng uốn ván

cho phụ nữ mang thai

Trang 9

Năm 1884 SIMSPSON khám phá rằng: “Triệu chứng bệnh uốn ván rất giống với những trường hợp ngộ độc Strysthnine” [33]

Năm 1885 NICOLAIER thấy rằng, khi ủ đất cát bẩn cho chuột nhắt và các súc vật khác ở, thì chúng thường mắc bệnh có triệu chứng giống như uốn ván ở người Ông đã tìm thấy một loại trực khuẩn dài ở tại vết thương tấy mủ, nơi mà trước đây đã ủ đất cát bẩn nhưng lại không nuôi cấy được chủng thuần khiết Ông cho rằng, chủng sinh bệnh học của bệnh uốn ván là do một chất độc giống như Strysthnine của trực khuẩn này tiết ra [6],[33]

Năm 1889 KITASATO đã phân lập được trực khuẩn uốn ván tại một vết thương tấy mủ, ông đã thuần khiết được trực khuẩn uốn ván trong môi trường nuôi cấy và nhận thấy canh khuẩn thuần khiết này chứa một loại độc

tố hòa tan, độc tố này gây nên triệu chứng bệnh uốn ván [6],[10],[33]

Trực khuẩn uốn ván thuộc họ Bacillaceae, giống Clostridium, tên khoa học của trực khuẩn uốn ván là Clostridium Tetani Đây là loại trực khuẩn kỵ khí bắt buộc, hình thái trực khuẩn uốn ván mảnh, hơi cong, khi mới nuôi cấy trên môi trường đặc thì sinh ra những hình thể dài như sợi chỉ, bắt màu Gram dương [5],[33]

Trang 10

Trực khuẩn uốn ván có lông, di động mạnh trong môi trường kỵ khí (Có chủng không có lông),

gặp điều kiện thuận lợi, vi

khuẩn sinh nha bào, nha bào

to hơn thân và nằm về một

đầu vi khuẩn nên vi khuẩn có

hình dạng giống như đinh

Ghim Sự hình thành nha bào

nhanh hay chậm phụ thuộc

vào điều kiện nhiệt độ, tăng

lên trong điều kiện canh

thang có huyết thanh và

1.3 ĐỐI TƢỢNG TIÊM CHỦNG:

Chương trình này phục vụ cho đối tượng PNMT và PNTSĐ (Lứa tuổi trong độ tuổi sinh đẻ có thể chưa có thai lần nào thì được tiêm 5 mũi vắc xin phòng uốn ván hoặc có thai lần đầu tiên thì được tiêm 2 mũi vắc xin phòng uốn ván, lần mang thai kế tiếp thì được tiêm thêm 1 mũi nữa nếu chưa quá 5 năm tính từ lần đẻ trước, nếu đã quá 5 năm thì phải tiêm lại 2 mũi vắc xin phòng uốn ván như lần mang thai đầu tiên) [3],[7],[9]

Trực khuẩn uốn ván

Trang 11

1.4 CHIẾN LƯỢC CỦA CHƯƠNG TRÌNH TIÊM VÁC XIN PHÒNG UỐN VÁN CHO PHỤ NỮ MANG THAI:

Chương trình TCMR được áp dụng rộng rãi trên khắp toàn quốc với 2 chiến lược:

- Tiêm chủng định kỳ: Đây là hình thức tổ chức thường xuyên hàng tháng

vào các ngày cố định, từ ngày 25 – 30 tùy vào điều kiện của từng địa phương Hình thức này được tổ chức ở nơi có điều kiện thuận lợi như: thành phố, đồng bằng, khu vực đông dân cư [7]

- Tiêm chủng chiến dịch: Đây là hình thức tổ chức tập trung vào những ngày

tiêm chủng nhất định của từng quý hoặc theo mùa Đông - Xuân, có sự huy động lớn về nhân lực trong thời điểm cố định Hình thức này thường được thực hiện ở khu vực dân cư thưa thớt, điều kiện đi lại khó khăn [7]

Hiện nay Thừa Thiên Huế đang áp dụng hình thức tiêm chủng định kỳ vào ngày 25 hàng tháng [21]

1.5 TÌNH HÌNH MẮC BỆNH UỐN VÁN SƠ SINH TRÊN THẾ GIỚI:

Trên thế giới, mỗi năm ước tính có khoảng 500.000 trẻ chết vì UVSS, gặp ở nông thôn nhiều hơn thành thị và những nước đang phát triển [18],[23],[27] Ở Braxin, năm 1990 có 5.900 ca UVSS đến năm 1997 còn 80

ca Ở Phillippin, năm 1990 có 4.700 ca UVSS đến năm 1997 còn 1.900 ca [18]

1.6 TÌNH HÌNH TIÊM VẮC XIN PHÒNG UỐN VÁN CHO PHỤ NỮ MANG THAI TẠI VIỆT NAM:

Việt Nam đạt tỉ lệ tiêm vắc xin phòng uốn ván cho PNMT > 80% trên quy mô toàn quốc và > 85% PNTSĐ tại các huyện có nguy cơ UVSS cao trong nhiều năm [13] Cùng với việc tăng cường đẻ sạch, năm 2005 Việt Nam

đã đạt mục tiêu loại trừ UVSS [16].[17]

Trang 12

Việc bảo vệ thành quả này đòi hỏi sự nổ lực bền bỉ thực hiện các hoạt động: duy trì tiêm chủng vắc xin phòng uốn ván cho PNMT > 80%, tăng cường công tác đẻ sạch, đẻ tại cơ sở Y tế và đảm bảo tính thường xuyên của công tác giám sát chết sơ sinh và nghi ngờ UVSS Theo số liệu của dự án TCQG giai đoạn 1991–2009, tỉ lệ tiêm vắc xin phòng uốn ván cho PNMT từ 4% năm 1991 lên 94% năm 2009 [17]

1.8 DỊCH TỂ HỌC VÀ LÂM SÀNG BỆNH UỐN VÁN:

1.8.1 Dịch tể học bệnh uốn ván:

Hơn một thế kỷ qua, kể từ ngày tìm ra trực khuẩn uốn ván, nhưng bệnh uốn ván vẫn là vấn đề cần được quan tâm vì tỉ lệ tử vong cao khi đã mắc bệnh, nhất là trẻ sơ sinh Theo thông báo dịch quý II năm 1993, trẻ sơ sinh bị bệnh uốn ván là 36,4%, lứa tuổi khác là 15,1% [11],[15]

Mọi người đều có thể mắc bệnh uốn ván Ở các nước phát triển bệnh uốn ván tương đối ít gặp và có tính chất tản phát, tỉ lệ chết/mắc theo tuổi từ 27% ở những người từ 40 – 49 tuổi, cho tới 80% ở những người trên 80 tuổi [2],[8]

Qua số liệu năm 1993 và 2001 của hệ thống giám sát báo cáo UVSS/chết tại 11 tỉnh khu vực miền Trung Vệt Nam cho thấy: Năm 1993 có tới 235/317 tỉ lệ chết/mắc [11], năm 2001 có 70/93 tỷ lệ chết/ mắc [12] Tỉ lệ chết do UVSS chiếm 40% tổng số chết sơ sinh[9],[12]

1.8.2 Khả năng lây bệnh và lâm sàng bệnh uốn ván:

Uốn ván là bệnh nhiểm độc thần kinh Trung ương bởi độc tố của trực khuẩn uốn ván, trực khuẩn này tồn tại trong môi trường bẩn, phân gia súc, gia cầm và ngay cả trong ruột già của người[2],[30] Chúng tồn tại trong thiên nhiên rất lâu dưới dạng nha bào và xâm nhập vào cơ thể qua vết thương bẩn,

ở trẻ sơ sinh qua vết cắt rốn do dụng cụ cắt rốn mang nha bào uốn ván không được tiệt trùng kỉ [5],[8]

Trang 13

Khi xâm nhập vào cơ thể chúng sinh ra ngoại độc tố, độc tố này vào máu, tác động vào các bản vận động thần kinh – cơ, làm co cơ rồi dần dần bệnh nhân co giật, hôn mê và tử vong Tuy nhiên khi ta ăn phải nha bào uốn ván thì trực khuẩn uốn ván sẻ bị phá hủy bởi acid ở dạ dày, do vậy chúng không lây bệnh qua đường tiêu hóa [2],[6],[15]

1.9 DỰ PHÒNG BỆNH UỐN VÁN:

1.9.1 Biện pháp tổng quát:

- Tiệt trùng các vật dụng tiêm chích, châm cứu…

- Xử lý phân, rác và môi trường sạch sẻ

1.9.2.2 Miễn dịch chủ động nhân tạo

Đưa vắc xin phòng uốn ván vào cơ thể để gây miễn dịch, tạo kháng thể chống lại bệnh uốn ván là biện pháp gây miễn dịch có hiệu quả nhất để phòng bệnh uốn ván

Năm 1974 WHO đưa ra chương trình TCMR, trong đó có tiêm vắc xin phòng uốn ván Từ năm 1987 chương trình TCMR toàn cầu khuyến cáo dùng vắc xin TT tiêm cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ để tiến tới lọai trừ UVSS[4].[14]

Trang 14

1.10 VẮC XIN PHÒNG UỐN VÁN:

1.10.1.Vắc xin uốn ván:

Vắc xin là các chế phẩm được sản xuất từ các vi sinh vật gây bệnh hoặc

từ các độc tố của chúng, các thành phần này được biến đổi để trở nên vô hại cho cơ thể, nhưng chúng vẫn đóng vai trò là kháng nguyên, nghĩa là chúng kích thích cơ thể tạo ra kháng thể[1]

Từ khi bệnh đậu mùa có thể phòng được bằng chủng đậu Bò đã bất hoạt do EDWART JENNER phát hiện ra, đã có nhiều loại vắc xin được sản xuất thử nghiệm thành công [22], một trong số đó là vắc xin phòng uốn ván

Tại Việt Nam, từ năm 1986 trở về trước, áp dụng sản xuất vắc xin phòng uốn ván theo phương pháp nuôi cấy cổ điển Từ 1986 lại nay, nước ta

đã sản xuất vắc xin này theo phương pháp nuôi cấy trên nồi lên men, chủng sản xuất có nguồn gốc từ Harward (Mỹ) mang số hiệu 40205, môi trường nuôi cấy lấy độc tố là FMM(Fisek-Mueller-Miller), thành phần chính của môi trường nuôi cấy là các acid amin từ nguồn N2-CaseTT (thủy phân Cazein), dung dịch đường Glucose, muối NatriClorua, các Vitamin và một số chất khoáng vi lượng Nuôi cấy vi khuẩn trên nồi lên men 100 lít thu nhận độc tố, tiến hành giải độc, tinh chế và cuối cùng hỗn hợp thành vắc xin DPT và vắc xin TT[26],[33]

Công hiệu vắc xin DPT 120UI/ml và công hiệu vắc xin TT là 80UI/ml [33]

Khi cơ thể đã được dùng giải độc tố uốn ván sẽ tạo được miễn dịch chủ động và tình trạng miễn dịch được tồn tại ít nhất 10 năm sau khi tiêm chủng đầy đủ, nếu được tiêm nhắc lại sau tiêm chủng đầy đủ sẻ tạo được miễn dịch cao hơn, bằng cách cứ 01 năm tiêm nhắc lại 01 lần

Tiêm vắc xin phòng uốn ván cho tất cả PNMT và PNTSĐ ở những vùng có nguy cơ mắc UVSS là biện pháp quan trọng để phòng UVSS Nếu

Trang 15

mẹ trẻ được phòng uốn ván đầy đủ thì trẻ đó cũng có miễn dịch uốn ván kéo dài đến 1 tháng sau sinh [26] Đây là miễn dịch thụ động được truyền qua nhau thai với điều kiện bà mẹ đã được tiêm vắc xin phòng uốn ván ít nhất 2 liều trong khi mang thai lần đầu hoặc 1 mũi trong lần có thai tiếp đúng lịch [29] Như vậy tiêm chủng cho PNMT nhằm ngăn ngừa UVSS, đồng thời bảo

vệ bà mẹ không bị đe dọa bởi những nguy cơ do bệnh uốn ván khi sinh đẻ trong điều kiện kém vệ sinh [31]

1.10.2 Các chế phẩm của vắc xin uốn ván:

Vắc xin uốn ván bảo vệ cơ thể chống lại bệnh uốn ván, có dạng dung dịch đóng trong lọ thủy tinh, ngoài ra còn được đóng sẵn trong bơn kim tiêm

tự khóa

- Vắc xin uốn ván có tác dụng phòng bệnh uốn ván và bệnh uốn ván sơ sinh

- Vắc xin DPT (Bạch cầu-Ho gà-Uốn ván) phòng các bệnh Bạch hầu, Ho gà,

Uốn ván

- Vắc xin DT ( Bach cầu, Uốn ván) phòng các bệnh Bạch hầu, Uốn ván do

loại vắc xin này có chứa giải độc tố Bạch hầu ở mức cao nên nó không được tiêm cho trẻ trên 6 tuổi và người lớn

- Vắc xin Td ( Uốn ván, Bạch hầu cho người lớn) củng giống như vắc xin DT

nhưng thành phần Bạch hầu thấp hơn Loại vắc xin này dùng cho cả trẻ trên 6 tuổi và người lớn, kể cả phụ nữ đang mang thai

- Vắc xin uốn ván hấp phụ (TT), phòng duy nhất bệnh uốn ván Vắc xin này

dung cho PNMT và PNTSĐ

1.10.2 Chỉ định và hiệu quả vắc xin uốn ván:

Tất cả mọi người đều có thể phòng ngừa được bệnh uốn ván bằng cách tiêm vắc xin phòng uốn ván, trong đó có vắc xin phòng uốn ván cho PNMT (TT) Đây là phương pháp phòng bệnh hiệu quả và rẻ tiền nhất

Trang 16

- Phụ nữ tuổi sinh đẻ (15-49 tuổi): Sau 5 mũi tiêm sẻ có kháng thể phòng bệnh uốn ván trong suốt thời kỳ sinh đẻ, hiệu lực bảo vệ đạt từ 98-100% [4].[25],[33], cụ thể ở bảng sau:

Liều Thời gian tiêm Thời gian bảo vệ Hiệu lực bảo vệ

UV1 Càng sớm càng tốt Không có tác dụng

UV2 Ít nhất 4 tuần sau UV1 3 năm 80 – 90% UV3 Ít nhất 6 tuần sau UV2 5 năm 95 – 98% UV4 Ít nhất 1 năm sau UV3 10 năm

UV5 Ít nhất 1 năm sau UV4 Suốt thời kỳ sinh đẻ 98 – 100%

- Phụ nữ mang thai: Nếu có thai lần đầu, chỉ cần tiêm 2 mũi vắc xin phòng uốn ván (Mũi thứ nhất tiêm càng sớm càng tốt khi có thai, mũi thứ 2 tiêm sau mũi thứ nhất ít nhất 4 tuần và trước ngày sinh ít nhất 2 tuần) Nếu lần có thai tiếp theo cách lần trước dưới 5 năm (với điều kiện lần mang thai trước đã được tiêm vắc xin phòng uốn ván đầy đủ) thì chỉ cần tiêm 1 mũi vắc xin nhắc lại là đủ, nếu đã quá lần mang thai trước 5 năm thì cần tiêm đủ 2 mũi vắc xin phòng uốn ván như lần mang thai đầu tiên [4]

1.10.3 Kỷ thuật tiêm chủng:

Tiêm chủng được SALK định nghĩa như sau: “Tiêm chủng là nghiên cứu và ứng dụng miễn dịch học vào công tác phòng chống các bệnh truyền

nhiểm bằng vắc xin” [20]

Đối với vắc xin TT: Tiêm bắp sâu [8]

1.11 QUẢN LÝ DÂY CHUYỀN LẠNH VÀ VẮC XIN:

Tất cả các loại vắc xin phải được bảo quản trong suốt thời gian từ nơi sản xuất đến khi tiêm và uống

Trang 17

Trang thiết bị và nhân lực bảo quản vắc xin gọi là dây chuyền lạnh (DCL) Hệ thống DCL quan trọng và rất cần thiết vì vắc xin rất nhạy cảm với nhiệt độ DCL gồm 3 yếu tố: Trang thiết bị, con người và các thao tác khi sử dụng

So với các loại vắc xin, thì vắc xin uốn ván ít nhạy cảm với nhiệt độ nhất, trong lúc đó vắc xin bại liệt lại nhạy cảm nhất, nếu vắc xin được bảo quản ở nhiệt độ quy định (2-80C) thì sẻ giữ được chất lượng trong thời gian dài Vắc xin uốn ván không được để đóng băng, nếu bị đóng băng thì phải hủy bỏ

1.11.1 Hệ thống dây chuyền lạnh:

Dây chuyền lạnh gồm hàng loạt các khâu vận chuyển nối tiếp nhau kèm theo cách làm lạnh thích hợp nhằm bảo quản, duy trì chất lượng vắc xin Nguy cơ DCL mất tác dụng sẻ tăng lên vì vắc xin phải vận chuyển theo DCL

từ nơi sản xuất đến tận nơi các bà mẹ và trẻ em được tiêm và uống

Dù có tổ chức tiêm chủng ở địa điểm nào đi chăng nữa thì cán bộ Y tế vẫn là người trực tiếp tiêm phòng Do vậy, ý thức và trách nhiệm đối với việc bảo vệ chất lượng vắc xin là rất cần thiết

1.11.2 Nhận vắc xin:

Hiện nay trên khắp cả nước, hệ thống YHDP tổ chức tiêm chủng đều phải lấy vắc xin từ trung tâm bảo quản vắc xin Huyện, Thành phố hoặc có thể nhận từ kho vắc xin của tỉnh nếu tổ chức tiêm chủng theo chiến dịch, Dù nhận bằng hình thức nào thì củng phải trang bị đầy đủ phương tiện máy móc để đảm bảo DCL

Vắc xin TT cùng dung môi phải được bảo quản ở ngăn mát của tủ lạnh(2 – 80C), không bỏ ở ngăn cánh tủ

Trang 18

1.12 VÀI NÉT VỀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Phường Hương Long Thành phố Huế, nằm cách Trung tâm Thành phố Huế 6 km về phía Tây, với tổng diện tích 720ha Phường gồm 1850 hộ gia đình, với 9850 nhân khẩu Tổng số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15 – 49 tuổi)

là 2655 người, trong đó số phụ nữ đã có chồng là 1586 người[33]

- Phía Tây giáp với xã Hương Hồ, Hương An huyện Hương Trà, tỉnh Thừa

Thiên Huế

- Phía Bắc giáp với phường Hương Sơ – Thành phố Huế

- Phía Đông giáp với phường Kim Long – Thành phố Huế

- Phía Nam giáp với sông Hương và phường Thủy Biều – Thành phố Huế

Năm 1995, cán bộ và nhân dân phường Hương Long được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”

Trạm y tế phường Hương Long nằm trên địa bàn Tổ 14, Khu vực 2 phường Hương Long Thành phố Huế, với diện tích 500m2

Năm 2008, Trạm được công nhận là trạm Y tế chuẩn quốc gia, theo quyết định số 962/QĐ-UBND ký ngày 21 tháng 4 năm 2008 Là đơn vị chịu trách nhiệm về công tác tiêm chủng trên địa bàn phường, trong đó có tiêm vắc xin phòng uốn ván cho phụ nữ mang thai

Trang 19

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, chúng tôi tìm hiểu tình trạng tiêm vắc xin phòng uốn ván khi mang thai trên hai đối tượng:

- Bà mẹ đang mang thai

- Bà mẹ đã sinh con (con dưới 1 tuổi) Số bà mẹ này được đánh giá tình trạng

tiêm vắc xin phòng uốn ván thông qua việc tiêm vắc xin phòng uốn ván trong lần mang thai đứa con này

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:

Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp điều tra mô tả cắt ngang,

có phân tích, tiến hành vào tháng 12 năm 2011

- Thu thập thông tin dựa vào:

+ Biểu mẫu thu thập số liệu sẵn có tại tram Y Tế phường

+ Biểu mẫu thiết kế sẵn để phỏng vấn các bà mẹ

- Thông tin được thu thập qua:

+ Phương pháp trực tiếp: Phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ bằng bộ câu hỏi thiết

kế sẵn, với nội dung câu hỏi sát, rõ ràng và cụ thể, có thái độ tôn trọng, thân thiện và chú ý lắng nghe ý kiến của người dân

+ Phương pháp gián tiếp: Thông qua sổ sách thống kê báo cáo của trạm Y Tế phường Hương Long thành phố Huế

Trang 20

Lập khung mẫu: Là bản danh sách gồm 256 bà mẹ mang thai và bà mẹ

có con dưới 1 tuổi của phường Hương Long thành phố Huế

Trong khung mẫu có một số đối tượng vắng mặt khi chúng tôi điều tra,

do vậy nghiên cứu điều tra được 240 bà mẹ, trong đó có 107 bà mẹ mang thai

và 133 bà mẹ có con dưới 1 tuổi

2.3.CÁC CHỈ SỐ VÀ BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU:

2.3.1 Đặc điểm dân số học của các bà mẹ:

- Tuổi của các bà mẹ được chia thành các nhóm:

+ Trên THPT (Trung cấp, Cao đảng, Đại học)

- Mức thu nhập bình quân/người/tháng, sau đó được phân theo:

+ Từ 1000.000vnđ/người/tháng trở lên

+ Dưới 1000.000vnđ/người/tháng

Trang 21

2.3.2 Đặc điểm về sức khoẻ sinh sản:

- Số con hiện có của các bà mẹ

+ ≤ 2 con

+ > 2 con

- Số lần mang thai của các bà mẹ

+ Mang thai lần đầu

+ Mang thai lần hai

+ Đã sinh con (Con dưới 1 tuổi)

2.3.3 Kiến thức của bà mẹ về tiêm vắc xin phòng uốn ván:

- Hiểu biết về sự cần thiết và vai trò của tiêm vắc xin phòng uốn ván

- Nguồn thông tin có được về tiêm vắc xin phòng uốn ván

2.3.4 Thực trạng các bà mẹ tiêm vắc xin phòng uốn ván khi mang thai:

- Tỷ lệ bà mẹ được tiêm vắc xin phòng uốn ván (Theo mũi tiêm) tại trạm Y

Tế phường và cơ sở Y Tế khác khi mang thai

- Thời điểm tiêm vắc xin phòng uốn ván khi mang thai

- Tỷ lệ các bà mẹ được tiêm đủ, tiêm thiếu, không tiêm vắc xin phòng uốn ván

khi mang thai

2.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình tiêm vắc xin phòng uốn ván khi mang thai:

Nghiên cứu mong muốn tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến tình hình tiêm vắc xin phòng uốn ván cho PNMT, gồm có các yếu tố:

Trang 22

- Mối liên quan giữa tiêm vắc xin phòng uốn ván và đặc điểm dân số học của

các bà mẹ được điều tra

- Mối liên quan giữa tiêm vắc xin phòng uốn ván và sự hiểu biết về tiêm vắc

xin phòng uốn ván của các bà mẹ được điều t ra

2.4 THU THẬP SỐ LIỆU:

Những đơn vị, cá nhân cần phải phối hợp để tiến hành lập kế hoạch và

điều tra:

+ Phòng Đào tạo Đại học - Trường ĐHYD Huế

+ Giáo viên hướng dẫn làm luận văn

+ Trung tâm YTDP tỉnh Thừa Thiên Huế

+ Trung tâm YTDP thành phố Huế

+ UBND phường Hương Long thành phố Huế

+ Trạm Y Tế phường Hương Long thành phố Huế

2.4.1 Công tác chuẩn bị:

- Phương pháp chọn hộ điều tra: Điều tra tất cả các hộ gia đình có bà mẹ

mang thai và bà mẹ có con dưới 1 tuổi

- Hướng dẫn mẫu điều tra cho bà mẹ mang thai và bà mẹ có con < 1 tuổi

- Đối tượng được điều tra: Tất cả các bà mẹ mang thai và bà mẹ có con dưới 1

tuổi (tháng 12 năm 2011)

- Sắp xếp, bố trí thời gian tiến hành điều tra (Theo lịch nhà trường )

2.4.2 Tiến hành điều tra:

Điều tra 240 bà mẹ mang thai và bà mẹ có con dưới 1 tuổi tại phường Hương Long thành phố Huế vào tháng 12 năm 2011

Trang 23

2.4.3 Đánh giá kết quả:

2.4.3.1.Đánh giá bà mẹ có đƣợc tiêm vắc xin phòng uốn ván đầy đủ khi mang thai không:

- Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đã được tiêm đầy đủ 5 mũi vắc xin phòng uốn

ván đúng lịch thì đánh giá đã tiêm đầy đủ

- Nếu bà mẹ mang thai lần đầu được tiêm đủ 2 mũi vắc xin phòng uốn ván,

(Mũi 1 tiêm càng sớm càng tốt khi mang thai, mũi 2 tiêm cách mũi 1 ít nhất 4 tuần và trước khi sinh ít nhất 2 tuần) được đánh giá tiêm đầy đủ

- Nếu bà mẹ mang thai lần sau mà lần mang thai này cách lần mang thai trước

dưới 5 năm và lần mang thai trước đã được tiêm đầy đủ vắc xin phòng uốn ván Lần mang thai này đã được tiêm thêm 1 mũi vắc xin phòng uốn ván được đánh giá tiêm đầy đủ

- Nếu bà mẹ mang thai lần sau mà lần mang thai này cách lần mang thai trước

trên 5 năm thì lần mang thai này phải được tiêm 2 mũi vắc xin phòng uốn ván giống như với lần mang thai đầu tiên, được đánh giá tiêm đầy đủ

- Nếu bà mẹ mang thai không tuân thủ lịch tiêm vắc xin phòng uốn ván như

trên thì xem như chưa được tiêm vắc xin phòng uốn ván đầy đủ (tiêm thiếu)

và tiêm không đúng lịch

2.4.3.2 Tiêu chuẩn đánh giá mức hiểu biết và xác định tỷ lệ tiêm vắc xin phòng uốn ván không đầy đủ của nghiên cứu:

- Mức hiểu biết: Để đánh giá sự hiểu biết của bà mẹ về tiêm vắc xin phòng

uốn ván, nghiên cứu thống nhất, bà mẹ có hiểu biết tốt về vấn đề này chiếm từ 70% trở lên (≥ 3 câu trả lời đúng) thì được đánh giá có hiểu biết tốt, số còn lại

là hiểu biết không tốt

- Tỷ lệ tiêm vắc xin phòng uốn ván không đầy đủ: Tại thời điểm điều tra có

thể có một số bà mẹ chỉ mới tiêm được 1 mũi hoặc chưa được tiêm mũi nào (do tuổi thai còn nhỏ), nên chúng tôi quy ước như sau:

Trang 24

+ Với bà mẹ mang thai lần đầu, nếu trong 3 tháng cuối của thai kỳ mà chưa tiêm đủ 2 mũi vắc xin phòng uốn ván

+ Với bà mẹ đã có ≥ 1 con (Con nhỏ nhất dưới 5 tuổi) mà trước đó đã tiêm vắc xin phòng uốn ván đầy đủ, nếu trong lần mang thai này chưa được tiêm thêm mũi nào vắc xin phòng uốn ván

+ Với bà mẹ có con < 1 tuổi, nếu khi mang thai đứa con này không được tiêm vắc xin phòng uốn ván đầy đủ

2.5 XỬ LÝ SỐ LIỆU:

Sử dụng phần mềm Excel, test 2 hiệu chỉnh của Yale và ngưỡng p = 0,05

2.6 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU:

Nghiên cứu được tiến hành trong một đợt, tháng 12 năm 2011

2.7 ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU:

Điều tra, phỏng vấn không gây tổn hại đến sức khỏe cho các bà mẹ , các bà mẹ có quyền đồng ý tham gia nghiên cứu hoặc không đồng ý mà không cần phải giải thích

Mọi thông tin cá nhân đều được giử bí mật

Trang 25

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Học vấn

Tiểu học THCS THPT

Nghề nghiệp

CBVC Buôn bán Làm ruộng

43

87

110

17,9 36,3 45,8 Mức thu nhập

Nhận xét: Từ bảng 3.1 thấy

- Độ tuổi dưới 30 chiếm phần lớn (57,5%)

- Đa số các bà mẹ có trình độ học vấn là THPT chiếm 69,2%

- Nghề nghiệp là CBVC chiếm tỷ lệ 17,9%, buôn bán chiếm 36,3% và

làm ruộng chiếm tỷ lệ nhiều nhất (45,8%)

- Số bà mẹ sống trong hộ gia đình có mức thu nhập bình quân

≥1.000.000vnđ /người/tháng chiếm tỷ lệ 45,8%

Trang 26

3.2 Đặc điểm về sức khoẻ sinh sản

Nhận xét: Từ bảng 3.2 thấy

- Số bà mẹ đã sinh con (con dưới 1 tuổi) chiếm nhiều nhất (54,4%)

- Số bà mẹ mang thai trong trong các thời kỳ không cách biệt là mấy, trong đó

tỷ lệ bà mẹ mang thai 3 tháng cuối chiếm 19,2% nhiều hơn số bà mẹ mang thai 3 tháng đầu (14,2%) và 3 tháng giữa (11,2%)

Bảng 3.3 Đặc điểm số lần mang thai

Nhận xét: Từ bảng 3.3 thấy

- Số bà mẹ mang thai lần đầu chiếm tỷ lệ nhiều nhất (50,5%)

- Số bà mẹ mang thai lần thứ hai chiếm 41,1%

- Số bà mẹ mang thai lần 3 trở lên chiếm ít nhất ( 8,4%)

Trang 27

3.3 TỶ LỆ TIÊM CHỦNG VẮC XIN PHÒNG UỐN VÁN CỦA ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU TRONG LẦN MANG THAI NÀY.

3.3.1 Tỷ lệ tiêm chủng các mũi vắc xin phòng uốn ván

Bảng 3.4 Số mũi vắc xin đã tiêm

Chưa tiêm Tiêm 1 mũi

Biểu đồ 3.1 Số mũi vắc xin thực tế đã tiêm

Nhận xét: Từ bảng 3.4 và biểu đồ 3.1 thấy

Các bà mẹ tiêm 2 mũi vắc xin phòng uốn ván chiếm tỷ lệ cao nhất (78,8%), tiêm 1 mũi chiếm 18,3% và số bà mẹ không tiêm mũi nào chiếm tỷ

lệ 2,9%

Ngày đăng: 20/07/2014, 05:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
18. Đỗ Quan Hà, Nguyễn Anh Dũng (2006), Thực trạng tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ mang thai vùng nông thôn tỉnh Bắc Giang và một số yếu tố liên quan, Tạp chí Y học thực hành số 6/2006, tr 56-58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ mang thai vùng nông thôn tỉnh Bắc Giang và một số yếu tố liên quan
Tác giả: Đỗ Quan Hà, Nguyễn Anh Dũng
Năm: 2006
19. Đinh Sỹ Hiền (1999), “Cơ sở miễn dịch học của tiêm chủng”, Tạp chí y tế dự phòng số 1, tr 59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở miễn dịch học của tiêm chủng
Tác giả: Đinh Sỹ Hiền
Năm: 1999
20. Lê Văn Hiệp (1995), “Công nghệ vắc xin thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX”, Tạp chí vệ sinh phòng dịch, tập V (Số 3), tr 73-74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ vắc xin thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX
Tác giả: Lê Văn Hiệp
Năm: 1995
21. Nguyễn Thái Hoà, Trần Quang Hợp, Nguyễn Đình Sơn, Trần Thị Quỳnh Như (1996), “Điều tra thực địa về tỷ lệ tiêm chủng cho trẻ em và tiêm phòng uốn ván sơ sinh tại Thừa Thiên Huế 1995”, Tạp chí vẹ sinh phòng dịch tập VI(số 1), tr 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra thực địa về tỷ lệ tiêm chủng cho trẻ em và tiêm phòng uốn ván sơ sinh tại Thừa Thiên Huế 1995
Tác giả: Nguyễn Thái Hoà, Trần Quang Hợp, Nguyễn Đình Sơn, Trần Thị Quỳnh Như
Năm: 1996
23. Đỗ Mạnh Hùng(2004), Kiến thức, thực hành phòng bệnh uốn ván sơ sinh và môt số yếu tố liên quan,2004, Tạp chí Y học dự phòng số 2/2006 tập XVI, tr 57-61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thực hành phòng bệnh uốn ván sơ sinh và môt số yếu tố liên quan,2004
Tác giả: Đỗ Mạnh Hùng
Năm: 2004
25. Đinh Thanh Huề, Dương Thu Hương (2004), “Tìm hiểu sự hiểu biết về chăm sóc trước sinh của phụ nữ mang thai xã Hương Long, thành phố Huế năm 2002”, Y học thực hành, (1), tr 29-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu sự hiểu biết về chăm sóc trước sinh của phụ nữ mang thai xã Hương Long, thành phố Huế năm 2002
Tác giả: Đinh Thanh Huề, Dương Thu Hương
Nhà XB: Y học thực hành
Năm: 2004
26. Lê Thị Ly và cộng sự (2002), Tìm hiểu đáp ứng miễn dịch ở thai phụ và trẻ sơ sinh đối với vắc xin uốn ván tại hai địa bàn có nguy cơ cao về bệnh uốn ván sơ sinh tại khu vực miền Trung, Tạp chí Y học thực hành số 7/2002, tr 65-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu đáp ứng miễn dịch ở thai phụ và trẻ sơ sinh đối với vắc xin uốn ván tại hai địa bàn có nguy cơ cao về bệnh uốn ván sơ sinh tại khu vực miền Trung
Tác giả: Lê Thị Ly và cộng sự
Năm: 2002
29. Trường Đại học y dược Huế (2009), Nhi khoa,”Nhiểm trùng sơ sinh”, Nhà xuất bản đại học Huế, tr 72-73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhi khoa,"”Nhiểm trùng sơ sinh
Tác giả: Trường Đại học y dược Huế
Nhà XB: Nhà xuất bản đại học Huế
Năm: 2009
30. Trường Đại học y dược Huế (2002), giáo trình truyền nhiểm , “bệnh uốn ván”, tr 160-165 Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình truyền nhiểm , "“bệnh uốn ván
Tác giả: Trường Đại học y dược Huế
Năm: 2002
31. Nguyễn Thu Yến (2001), Bệnh uốn ván sơ sinh năm 2001, khu vực miền Bắc, Tạp chí Y học thực hành số 3/2003, tr 7-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh uốn ván sơ sinh năm 2001, khu vực miền Bắc
Tác giả: Nguyễn Thu Yến
Năm: 2001
32. Nguyễn Thu Yến, Lê Văn Hồng, Nguyễn Minh Hồng (2002), “Kết quả 10 năm thực hiện chương trình loại trừ uốn ván sơ sinh, khu vực miền Bắc”, Tạp chí Y học dự phòng,(3), tr 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả 10 năm thực hiện chương trình loại trừ uốn ván sơ sinh, khu vực miền Bắc
Tác giả: Nguyễn Thu Yến, Lê Văn Hồng, Nguyễn Minh Hồng
Năm: 2002
14. Chương trình TCMR (1998), Phòng bệnh uốn ván sơ sinh.NXBYH Hà nội,tr 6-7-8 Khác
15. Nguyễn Tiến Dũng, Phạm Anh Thi (2003), Một số đặc điểm dịch tể, lâm sang và các yếu tố nguy cơ mắc bệnh và tử vong trong uốn ván sơ sinh Khác
16. Dự án tiêm chủng mở rộng quốc gia (2000), Tỉ lệ tiêm chủng cho trẻ em trong chương trình TCMR (1985-2009) Khác
17. Dự án TCMR Quốc gia(2000), Tỉ lệ tiêm vắc xin uốn ván cho phụ nữ có thai và tỉ lệ mắc uốn ván sơ sinh ở Việt nam, giai đoạn 1991-2009 Khác
22. Trịnh Quân Huấn (2001) Sổ tay hướng dẫn sử dụng vắc xin.NXB Y học, tr7 Khác
27. Ngô Thị Tú Thủy, Đỗ Văn Dũng (2004), Kiến thức-thái độ-thực hành tiêm vắc xin uốn ván phòng bệnh uốn ván sơ sinh của người dân huyện Cưjut tỉnh Đăknông,tr 122-126 Khác
28. Trung tâm Y tế dự phòng Thừa Thiên Huế, báo cáo tổng kết hoạt động các chương trình y tế dự phòng năm 2000 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  dạng  giống  như  đinh - Nghiên cứu tình hình tiêm vắc xin phòng uốn ván ở phụ nữ mang thai phường hương long thành phố huế
nh dạng giống như đinh (Trang 10)
Bảng 3.1.  Đặc điểm dân số học - Nghiên cứu tình hình tiêm vắc xin phòng uốn ván ở phụ nữ mang thai phường hương long thành phố huế
Bảng 3.1. Đặc điểm dân số học (Trang 25)
Bảng 3.2.  Đặc điểm thai kỳ. - Nghiên cứu tình hình tiêm vắc xin phòng uốn ván ở phụ nữ mang thai phường hương long thành phố huế
Bảng 3.2. Đặc điểm thai kỳ (Trang 26)
Bảng 3.5. Số mũi tiêm theo số lần mang thai. - Nghiên cứu tình hình tiêm vắc xin phòng uốn ván ở phụ nữ mang thai phường hương long thành phố huế
Bảng 3.5. Số mũi tiêm theo số lần mang thai (Trang 28)
Bảng 3.6. Số mũi tiêm vắc xin phòng uốn ván theo tuổi thai - Nghiên cứu tình hình tiêm vắc xin phòng uốn ván ở phụ nữ mang thai phường hương long thành phố huế
Bảng 3.6. Số mũi tiêm vắc xin phòng uốn ván theo tuổi thai (Trang 29)
Bảng 3.7. Tỷ lệ tiêm đủ, tiêm chưa đủ vắc xin phòng uốn ván - Nghiên cứu tình hình tiêm vắc xin phòng uốn ván ở phụ nữ mang thai phường hương long thành phố huế
Bảng 3.7. Tỷ lệ tiêm đủ, tiêm chưa đủ vắc xin phòng uốn ván (Trang 30)
Bảng 3.8. Tỷ lệ  tiêm vắc xin phòng uốn ván theo độ tuổi. - Nghiên cứu tình hình tiêm vắc xin phòng uốn ván ở phụ nữ mang thai phường hương long thành phố huế
Bảng 3.8. Tỷ lệ tiêm vắc xin phòng uốn ván theo độ tuổi (Trang 30)
Bảng 3.12. Kiến thức vắc xin phòng uốn ván. - Nghiên cứu tình hình tiêm vắc xin phòng uốn ván ở phụ nữ mang thai phường hương long thành phố huế
Bảng 3.12. Kiến thức vắc xin phòng uốn ván (Trang 32)
Bảng 3.14. Tỷ lệ tiêm vắc xin phòng uốn ván theo mức hiểu biết vắc xin phòng  uốn ván của các bà mẹ - Nghiên cứu tình hình tiêm vắc xin phòng uốn ván ở phụ nữ mang thai phường hương long thành phố huế
Bảng 3.14. Tỷ lệ tiêm vắc xin phòng uốn ván theo mức hiểu biết vắc xin phòng uốn ván của các bà mẹ (Trang 33)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w