1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu kiến thức, thực hành và các yếu tố ảnh hưởng đến làm mẹ an toàn của nam giới có vợ 15 – 49 tuổi tại tỉnh Phú Thọ

89 1,1K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀLàm mẹ an toàn (LMAT) có nghĩa là tất cả phụ nữ đều được nhận sự chǎm sóc cần thiết để được hoàn toàn khỏe mạnh trong suốt thời gian mangthai, sinh đẻ và sau đẻ. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) để đảm bảo an toàn cho mẹ và con trong quá trình mang thai và sinh, người phụ nữ phải được cán bộ y tế có trình độ chuyên môn chăm sóc và theo dõi. Nhưng việc này có được thực hiện hay không, phụ thuộc vào hoàn cảnh chung của địa phương, hoàn cảnh của mỗi cá nhân, thói quen, quan niệm của họ và đặc biệt là do người chồng hoặc gia đình chồng quyết định. Nếu người chồng cho là mang thai sinh nở là chuyện bình thường của phụ nữ, không cần phải đi khám thì chính định kiến giới này sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ và con. Trên Thế giới mỗi năm có khoảng hơn 350.000 ca tử vong mẹ do thai nghén và sinh đẻ, phần lớn trong số này xảy ra ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam 54. Những nghiên cứu về tử vong mẹ tại Việt Nam gần đây cho thấy tử vong mẹ trên toàn quốc cao hơn so với các báo cáo hoặc ước tính chính thức (là 160100 000 tại nghiên cứu điều tra tử vong mẹ của Bộ Y tế năm 2002, so với mức 90100 000 theo công bố của UNICEF và TCYTTG) và 69100.000 trẻ sinh sống. Tại các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, nơi tập trung nhiều người dân tộc thiểu số sinh sống, dân trí thấp, tỷ lệ sinh cao, điều kiện kinh tế xã hội còn khó khăn, tỷ lệ tử vong mẹ và tử vong sơ sinh vẫn duy trì ở mức cao. Ước tính tử lệ tử vong mẹ là 178100 000 ca sinh sống ở các tỉnh Tây Nguyên và miền núi phía Bắc 5, 6, 11, 14.Nguyên nhân tử vong mẹ được xác định là 7580% do các biến chứng và bệnh nhiễm trùng xảy ra trong quá trình mang thai 27. Tuy nhiên, hầu hết các trường hợp tử vong mẹ đều có thể tránh được bằng cách chăm sóc sức khỏe mẹ tốt hơn, đặc biệt trong thời kỳ mang thai, sinh con và sau sinh 20.Theo báo cáo điều tra ban đầu về thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản tại 7 tỉnh do Quỹ Dân số Liên hiệp quốc(UNFPA) tài trợ năm 2005, tại tỉnh Phú Thọ tỷ lệ phụ nữ khám thai đủ 3 lần đạt 91,6%. Tuy nhiên vẫn còn 4,1% phụ nữ sinh con tại nhà và 1,2% phụ nữ sinh con không có cán bộ y tế đỡ mà là chồng và người nhà đỡ 25. Do vậy việc có kiến thức về làm mẹ an toàn cho nam giới có vợ trong độ tuổi sinh đẻ là rất quan trọng.Hiện nay tại Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về kiến thức và thực hành về làm mẹ an toàn của nam giới (chỉ có duy nhất 1 nghiên cứu ở 7 tỉnhdo UNFPA tài trợ năm 2005). Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng chưa phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức và thực hành về làm mẹ an toàn của nam giới.Xuất phát từ những lý do nêu trên chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu của mình là: “Nghiên cứu kiến thức, thực hành và các yếu tố ảnh hưởng đến làm mẹ an toàn của nam giới có vợ 15 – 49 tuổi tại tỉnh Phú Thọ” với các mục tiêu sau:1. Mô tả kiến thức và một số thực hành về làm mẹ an toàn của nam giới có vợ 15 49 tuổi có con nhỏ dưới 2 tuổi tại tỉnh Phú Thọ năm 2010 2011.2. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức và thực hành về làm mẹ an toàn của đối tượng trên.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

# "

NGUYỄN THỊ HƯƠNG

NGHI£N CøU KIÕN THøC, THùC HμNH

Vμ C¸C YÕU Tè ¶NH H¦ëNG §ÕN LμM MÑ AN TOμN CñA NAM GIíI Cã Vî 15-49 TUæI T¹I TØNH PHó THä

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC

HÀ NỘI – 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

# "

NGUYỄN THỊ HƯƠNG

NGHI£N CøU KIÕN THøC, THùC HμNH

Vμ C¸C YÕU Tè ¶NH H¦ëNG §ÕN LμM MÑ AN TOμN CñA NAM GIíI

Cã Vî 15-49 TUæI T¹I TØNH PHó THä

Chuyên ngành: Y tế công cộng

Mã số: 60.72.76

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

1 TS LÊ THIỆN THÁI

2 PGS TS NGÔ VĂN TOÀN

HÀ NỘI - 2011

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin trân trọng bày tỏ lời cảm ơn Ban Giám hiệu Nhà trường, Phòng Đào đạo Sau đại học và các thầy cô giáo trường Đại học Y Hà Nội, các thầy cô giáo Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế Công cộng đã tận tình giảng dạy nâng cao trình độ chuyên môn và tạo điều kiện cho tôi trong suốt 2 năm học tập tại trường

Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS

Lê Thiện Thái, PGS.TS Ngô Văn Toàn - những người Thầy đã tận tình chỉ bảo giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn này

Tôi xin cảm ơn Ban lãnh đạo Sở Y tế Điện Biên, cán bộ văn phòng Sở Y

tế tỉnh Điện Biên - Nơi tôi đang công tác đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban Lãnh đạo Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc, Sở Y tế tỉnh Phú Thọ, Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Phú Thọ, các cán bộ tham gia điều tra, đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu cho luận văn

Tôi xin cảm ơn các bác, các chú, các anh là nam giới tỉnh Phú Thọ - những người đã nhiệt tình trả lời phỏng vấn, cung cấp thông tin giúp tôi hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn sự chia sẻ của những người thân trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiện, động viên, khuyến khích về thời gian, vật chất, tinh thần để tôi hoàn thành luận văn

Hà Nội, ngày tháng năm 2011

Học viên cao học

Nguyễn Thị Hương

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đã thực hiện quá trình làm luận văn một cách khoa học, chính xác, trung thực

Các kết quả trong luận văn là hoàn toàn có thực và chưa được công bố tại công trình nghiên cứu khoa học khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2011

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hương

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBYT Cán bộ y tế

CSSKSS Chăm sóc sức khỏe sinh sản

CSTS Chăm sóc trước sinh

Trang 6

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN 12

1.1 KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ LÀM MẸ AN TOÀN 12

1.1.1 Khái niệm về làm mẹ an toàn 12

1.1.2 Kiến thức và thực hành về làm mẹ an toàn của bà mẹ 14

1.1.3 Kiến thức và thực hành của nam giới 21

1.2 VAI TRÒ CỦA NAM GIỚI VỀ LÀM MẸ AN TOÀN 24

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 27

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 27

2.2.2 Mẫu và cỡ mẫu nghiên cứu 27

2.2.3 Kỹ thuật và công cụ thu thập thông tin 28

2.2.4 Biến số và chỉ số nghiên cứu 29

2.2.5 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 32

2.2.6 Xử lý và phân tích số liệu 33

2.2.7 Đạo đức trong nghiên cứu 33

Chương 3: KẾT QUẢ 34

3.1 ĐẶC TRƯNG CÁ NHÂN CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 34

3.2 KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ LÀM MẸ AN TOÀN CỦA NAM GIỚI 35

3.2.1 Kiến thức của nam giới về chăm sóc trước sinh cho người phụ nữ mang thai 35

Trang 7

3.2.2 Kiến thức và thực hành của nam giới về chăm sóc trong sinh cho

phụ nữ 38

3.2.3 Kiến thức của nam giới về chăm sóc sau sinh cho phụ nữ 41

3.2.4 Kiến thức về nạo hút thai của nam giới 43

3.3 MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LÀM MẸ AN TOÀN CỦA NAM GIỚI 45

3.3.1 Một số yếu tố ảnh hưởng đến chăm sóc trước sinh 45

3.3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến chăm sóc trong sinh 51

3.3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến chăm sóc sau sinh 57

Chương 4: BÀN LUẬN 59

4.1 Kiến thức và thực hành về làm mẹ an toàn của nam giới 59

4.1.1 Kiến thức của nam giới về chăm sóc trước sinh 59

4.1.2 Kiến thức và thực hành về chăm sóc trong sinh 63

4.1.3 Kiến thức và thực hành về chăm sóc sau sinh 68

4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức và thực hành đến làm mẹ an toàn của nam giới 71

KẾT LUẬN 73

KIẾN NGHỊ 74 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Một số đặc trưng cá nhân của nam giới có vợ 15-49 tuổi có con

nhỏ < 2 tuổi tại tỉnh Phú Thọ 34 Bảng 3.2 Tỷ lệ nam giới biết được từng dấu hiệu nguy hiểm cho người phụ

nữ mang thai 36 Bảng 3.3 Kiến thức của nam giới về cách xử trí khi phụ nữ mang thai gặp

các dấu hiệu nguy hiểm 37 Bảng 3.4 Kiến thức của nam giới về khám thai cho phụ nữ 37 Bảng 3.5 Kiến thức của nam giới về tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ mang thai 38 Bảng 3.6 Tỷ lệ nam giới biết được từng dấu hiệu nguy hiểm cho người phụ

nữ trong quá trình chuyển dạ 39 Bảng 3.7 Thực hành của người chồng khi phụ nữ sinh nở 40 Bảng 3.8 Tỷ lệ nam giới biết được từng dấu hiệu nguy hiểm cho người phụ

nữ sau sinh 41 Bảng 3.9 Kiến thức của nam giới về cách xử trí khi phụ nữ sau sinh gặp

nguy hiểm 42 Bảng 3.10 Kiến thức của nam giới về cơ sở có thể thực hiện nạo hút thai 43 Bảng 3 11.Tỷ lệ nam giới biết được từng hậu quả của nạo hút thai cho người

phụ nữ 44 Bảng 3.12 Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân của nam giới và kiến

thức về dấu hiệu nguy hiểm 45 Bảng 3.13 Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân và kiến thức về khám

thai của nam giới 47 Bảng 3.14 Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân và kiến thức của nam

giới về tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ mang thai 49 Bảng 3.15 Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân và kiến thức của người

chồng về dấu hiệu nguy hiểm trong sinh 51 Bảng 3.16 Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân của nam giới và thực

hành đưa vợ đi sinh con 53 Bảng 3.17 Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân của nam giớivà thực

hành chuẩn bị giúp vợ sinh con 55 Bảng 3.18 Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân của nam giới và dấu

hiệu nguy hiểm cho người phụ nữ sau sinh 57

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Kiến thức của nam giới về các dấu hiệu nguy hiểm cho người

phụ nữ khi mang thai 35 Biểu đồ 3.2 Kiến thức của nam giới về các dấu hiệu nguy hiểm của người

mẹ trong quá trình chuyển dạ 38 Biểu đồ 3.3 Nam giới đưa vợ đi đẻ 40 Biểu đồ 3.4 Kiến thức của nam giới về những dấu hiệu nguy hiểm cho phụ

nữ sau sinh 41 Biểu đồ 3.5 Kiến thức của nam giới về hậu quả của nạo hút thai 43

`

Trang 10

1ĐẶT VẤN ĐỀ

Làm mẹ an toàn (LMAT) có nghĩa là tất cả phụ nữ đều được nhận sự chǎm sóc cần thiết để được hoàn toàn khỏe mạnh trong suốt thời gian mang thai, sinh đẻ và sau đẻ Theo Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) để đảm bảo

an toàn cho mẹ và con trong quá trình mang thai và sinh, người phụ nữ phải được cán bộ y tế có trình độ chuyên môn chăm sóc và theo dõi Nhưng việc này có được thực hiện hay không, phụ thuộc vào hoàn cảnh chung của địa phương, hoàn cảnh của mỗi cá nhân, thói quen, quan niệm của họ và đặc biệt

là do người chồng hoặc gia đình chồng quyết định Nếu người chồng cho là mang thai sinh nở là chuyện bình thường của phụ nữ, không cần phải đi khám thì chính định kiến giới này sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ và con

Trên Thế giới mỗi năm có khoảng hơn 350.000 ca tử vong mẹ do thai nghén và sinh đẻ, phần lớn trong số này xảy ra ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam [54] Những nghiên cứu về tử vong mẹ tại Việt Nam gần đây cho thấy tử vong mẹ trên toàn quốc cao hơn so với các báo cáo hoặc ước tính chính thức (là 160/100 000 tại nghiên cứu điều tra tử vong mẹ của

Bộ Y tế năm 2002, so với mức 90/100 000 theo công bố của UNICEF và TCYTTG) và 69/100.000 trẻ sinh sống Tại các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, nơi tập trung nhiều người dân tộc thiểu số sinh sống, dân trí thấp, tỷ

lệ sinh cao, điều kiện kinh tế xã hội còn khó khăn, tỷ lệ tử vong mẹ và tử vong sơ sinh vẫn duy trì ở mức cao Ước tính tử lệ tử vong mẹ là 178/100 000

ca sinh sống ở các tỉnh Tây Nguyên và miền núi phía Bắc [5], [6], [11], [14]

Nguyên nhân tử vong mẹ được xác định là 75-80% do các biến chứng

và bệnh nhiễm trùng xảy ra trong quá trình mang thai [27] Tuy nhiên, hầu hết các trường hợp tử vong mẹ đều có thể tránh được bằng cách chăm sóc sức khỏe mẹ tốt hơn, đặc biệt trong thời kỳ mang thai, sinh con và sau sinh [20]

Trang 11

Theo báo cáo điều tra ban đầu về thực trạng cung cấp và sử dụng dịch

vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản tại 7 tỉnh do Quỹ Dân số Liên hiệp quốc (UNFPA) tài trợ năm 2005, tại tỉnh Phú Thọ tỷ lệ phụ nữ khám thai đủ 3 lần đạt 91,6% Tuy nhiên vẫn còn 4,1% phụ nữ sinh con tại nhà và 1,2% phụ nữ sinh con không có cán bộ y tế đỡ mà là chồng và người nhà đỡ [25] Do vậy việc có kiến thức về làm mẹ an toàn cho nam giới có vợ trong độ tuổi sinh đẻ

Xuất phát từ những lý do nêu trên chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu

của mình là: “Nghiên cứu kiến thức, thực hành và các yếu tố ảnh hưởng

đến làm mẹ an toàn của nam giới có vợ 15 – 49 tuổi tại tỉnh Phú Thọ” với

các mục tiêu sau:

1 Mô tả kiến thức và một số thực hành về làm mẹ an toàn của nam giới

có vợ 15 - 49 tuổi có con nhỏ dưới 2 tuổi tại tỉnh Phú Thọ năm 2010 - 2011

2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức và thực hành về làm mẹ an toàn của đối tượng trên

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ LÀM MẸ AN TOÀN

1.1.1 Khái niệm về làm mẹ an toàn

1.1.1.1 Chăm sóc trước sinh

Chăm sóc bà mẹ khi có thai còn được gọi là chăm sóc trước sinh Chăm sóc trước sinh là những chăm sóc sản khoa cho người phụ nữ tính từ thời điểm có thai cho đến trước khi đẻ nhằm đảm bảo cho quá trình mang thai được an toàn, sinh con khỏe mạnh [23]

Tư vấn cho phụ nữ có thai

Tư vấn cho phụ nữ có thai là quá trình giao tiếp, trao đổi 2 chiều, giúp

họ xác định được những điều cần thiết về bảo vệ thai nghén, từ đó quyết định những hành động thích hợp nhất có lợi cho sức khỏe mẹ và con, như: Sự cần thiết phải khám thai định kỳ, Dinh dưỡng của thai phụ trong khi có thai, lao động, làm việc khi có thai, vệ sinh thân thể khi có thai… [12]

Khám toàn thân

Khám toàn thân nhằm mục đích phát hiện thai phụ có mắc bệnh gì không, nếu có, mắc bệnh từ bao giờ, diễn biến như thế nào, đã điều trị gì, kết quả điều trị, có ảnh hưởng gì đến sức khỏe, đang dùng thuốc gì Khai thác về tiền sử bệnh tật của thai phụ, tiền sử sản khoa, tiền sử phụ khoa, tiền sử gia đình, … giúp các tuyến quản lý thai tốt hơn [12]

Khám thai

Thai nghén là giai đoạn nhiều nguy cơ tiềm ẩn, có thể dẫn đến những vấn đề sức khoẻ trầm trọng như bệnh tật và tử vong mà bất cứ một phụ nữ nào cũng có thể mắc phải trong thời kỳ mang thai Để hạn chế những vấn đề sức

Trang 13

khỏe đó, khám thai là một biện pháp hết sức quan trọng Ở Việt Nam, theo qui định của Bộ Y tế, trong một kỳ thai nghén người phụ nữ cần được khám thai định kỳ ít nhất 3 lần ở 3 quý của thai kỳ [12], [23]

Tiêm phòng uốn ván

Bệnh uốn ván là một trong năm tai biến sản khoa thường gặp, đây là một bệnh nặng, tỷ lệ tử vong cao cho mẹ và trẻ sơ sinh [12] Để dự phòng tai biến này, khi có thai các thai phụ cần đi khám thai sớm và khám thai định kỳ

đủ 3 lần, qua khám thai cán bộ y tế sẽ giúp thai phụ tiêm phòng uốn ván, đồng

thời kiểm tra xem việc tiêm phòng uốn ván có được thực hiện đầy đủ không

1.1.1.2 Chăm sóc trong sinh [12]

Chuyển dạ là một quá trình quan trọng nhất, dễ xảy ra tai biến nhất cho

cả mẹ và bé vì vậy cần phải chuẩn bị tâm lý tốt cho sản phụ và được người

có chuyên môn giúp đỡ trong quá trình này

âu và giúp họ chuẩn bị trước cho những tình huống có thể xảy ra Thông báo cho sản phụ và gia đình về những tai biến thường gặp khi chuyển dạ

Các nguyên tắc theo dõi khi chuyển dạ thường

Tốt nhất bà mẹ phải được theo dõi chuyển dạ tại cơ sở y tế Người nữ

hộ sinh phải giải thích những lợi ích của việc đẻ tại cơ sở y tế để được chăm sóc chu đáo Trong trường hợp không thể đến được cơ sở y tế, nên mời cán bộ y tế có chuyên môn đỡ đẻ

Trang 14

Phải theo dõi chuyển dạ bằng biểu đồ chuyển dạ một cách toàn diện,

có hệ thống, phải thành thạo các thao tác chuyên môn, phải biết ghi và phân tích biểu đồ chuyển dạ để phát hiện các yếu tố bất thường trong theo dõi chuyển dạ, kịp thời gửi đi bệnh viện tuyến trên để đảm bảo sự an toàn cho cả

mẹ và con

Tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ ngay sau đẻ

Bao gồm một số nội dung sau:

- Tư vấn về con nằm chung với mẹ

- Tư vấn về bú sớm

- Cách cho con bú

- Tư thế bú đúng

1.1.1.3 Chăm sóc sau sinh

Chăm sóc sau sinh là những chăm sóc cho bà mẹ bao gồm chăm sóc giai đoạn sau sinh, kế hoạch hóa gia đình, phòng chống nhiễm trùng, vệ sinh, dinh dưỡng và cho con bú Về mặt lý thuyết, phụ nữ sau sinh cần phải được thăm khám 2 lần: một lần trong tuần đầu và một lần trong vòng 42 ngày sau sinh [12]

1.1.2 Kiến thức và thực hành về làm mẹ an toàn của bà mẹ

1.1.2.1 Chăm sóc trước sinh

- Phát hiện và xử lý các dấu hiệu thai nghén bất thường

Theo báo cáo ban đầu về thực trạng cung cấp dịch vụ và chăm sóc sức khỏe sinh sản tại 7 tỉnh do UNFPA tài trợ năm 2005 cho thấy: Kiến thức của phụ nữ về các dấu hiệu nguy hiểm đối với người phụ nữ mang thai rất hạn chế Có 39,1% số đối tượng không biết bất kỳ dấu hiệu nào trong sáu dấu hiệu nguy hiểm thường gặp cho người phụ nữ khi mang thai Rất ít đối tượng phỏng vấn biết đồng thời 3 dấu hiệu (3,4%) [25]

Trang 15

Báo cáo điều tra cơ bản Chương trình giảm tử vong mẹ và tử vong trẻ

sơ sinh tại 14 tỉnh dự án năm 2009 có dấu hiệu “đau bụng” và “chảy máu” được biết đến nhiều nhất cũng chỉ đạt chưa đến 50%; 31,2% không biết bất kỳ dấu hiệu nguy hiểm nào [11]

Trong một số các nghiên cứu, khoảng 90% phụ nữ biết về tầm quan trọng của thăm khám trước sinh [34], tuy nhiên, hiểu biết về các dấu hiệu nguy hiểm lại rất kém Chỉ khoảng 1/3 số phụ nữ biết ít nhất 3 dấu hiệu này trong khi mang thai [31], [36], [40], [52] Cụ thể như, 1/3 (34,2%) biết về các dấu hiệu của cao huyết áp, 1/3 (34%) có kiến thức về dấu hiệu thiếu máu và khó thở, 1/4 nhắc đến chảy máu âm đạo và hơn một nửa (57,2%) nói đến dấu hiệu không thấy thai máy [31]

- Kiến thức và thực hiện khám thai

Theo báo cáo tổng kết của Vụ Sức khỏe sinh sản năm 2005 có 84,6% thai phụ khám thai từ 3 lần trở lên, trong đó cao nhất là vùng đồng bằng Sông Hồng 97,7%, thấp nhất là vùng Tây Nguyên 64,6% [7]

Một số nghiên cứu trong các năm gần đây cho thấy các bà mẹ đi khám thai từ 3 lần trở lên như sau: Tại Hương Long - Huế 60,6% [17], tại Chí Linh

- Hải Dương 70,2% [22], tại Hà Tây 71,3% [33], tại Tiên Du - Bắc Ninh 81,1% [21], tại Quảng Trị 32,3% [19] và tại Đà Nẵng 93,3% [18]

Báo cáo ban đầu về thực trạng cung cấp dịch vụ và chăm sóc sức khỏe sinh sản tại 7 tỉnh do UNFPA tài trợ năm 2005, khi hỏi về số lần khám thai trong một thai kỳ, 84,4% phụ nữ biết cần phải khám 3 lần trở lên, nhưng còn 6,0% cho rằng không cần phải khám thai [25]

Cũng theo báo cáo ban đầu về thực trạng cung cấp dịch vụ và chăm sóc sức khỏe sinh sản tại 7 tỉnh do UNFPA tài trợ năm 2005, 77,2% phụ nữ được phỏng vấn cho biết rằng bản thân mình đã khám thai từ 3 lần trở lên trong lần

Trang 16

mang thai gần đây nhất, nhưng còn 5,7% số phụ nữ được phỏng vấn đã không

đi khám thai trong lần mang thai vừa qua [25]

Báo cáo điều tra cơ bản tại 14 tỉnh thực hiện Chương trình giảm tử vong mẹ và tử vong trẻ sơ sinh năm 2009 cho thấy, tỷ lệ phụ nữ biết số lần cần khám thai trong kỳ mang thai chênh lệch nhiều giữa các tỉnh Nhóm các tỉnh mà kiến thức của phụ nữ khá tốt là Cao Bằng (95%), Bắc Giang và Lâm Đồng (cùng 92,1%); Các tỉnh mà có phụ nữ có kiến thức yếu là Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai và Gia Lai [11]

Một số nghiên cứu các năm gần đây cho thấy, có khoảng 1/10 đến 1/3

số phụ nữ không đi khám thai khi mang thai [34], [52], [43] Trong số này, số phụ nữ khám thai ít nhất 3 lần thay đổi từ 1/5 cho đến 1/3 phụ thuộc vào nơi ở

và tôn giáo của phụ nữ [34], [36], [43], [52], [53] Tính bình quân, số lần khám thai của một phụ nữ khi mang thai là 2,7 lần ở khu vực miền núi và 3,7 lần ở vùng đồng bằng [38]

Báo cáo của Vụ sức khỏe sinh sản năm 2006, tỷ lệ phụ nữ khám thai ≥

3 lần: 84,3% [3]

- Tiêm phòng uốn ván

Mặc dù trong quy định của Bộ Y tế, tiêm đủ mũi phòng uốn ván là bắt buộc đối với phụ nữ mang thai, nhưng thực tế cho thấy còn có nhiều điều cần phải quan tâm trong vấn đề này Khi hỏi về số mũi vác xin phòng uốn ván trong lần mang thai đầu tiên, 69,9% phụ nữ trả lời đúng là phải tiêm 2 mũi 5,5% nói cần phải tiêm 1 mũi và 24,6% nói phải tiêm 3 mũi trở lên [25]

Báo cáo ban đầu thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ CSSKSS, chỉ 71,8% số phụ nữ phỏng vấn được tiêm phòng đầy đủ trong lần mang thai trước đó; 17,1% số phụ nữ không được tiêm đầy đủ; 7,4% không được tiêm [25] Tỷ lệ phụ nữ tiêm phòng uốn ván đầy đủ trong lần mang thai gần nhất cao nhất ở Phú Thọ (83,7%), thấp nhất ở Hà Giang (60,6%) [25]

Trang 17

Hiểu biết cần phải tiêm đủ 2 mũi vắc xin phòng uốn ván trước sinh cũng dao động trong khoảng 16-98,5%, phụ thuộc vào khu vực và đối tượng nghiên cứu [31], [36], [37], [43], [52] Kiến thức của phụ nữ dân tộc Kinh tốt hơn nhiều so với các phụ nữ dân tộc thiểu số Khoảng 1/2 đến 2/3 thai phụ ở các vùng miền núi và vùng xa không được tiêm bất kỳ mũi vắc xin phòng uốn ván nào [37], [43]

Theo báo cáo điều tra cơ bản Chương trình giảm tử vong mẹ và tử vong trẻ sơ sinh, tỷ lệ phụ nữ nuôi con < 1 tuổi đã tiêm phòng đủ mũi chiếm khá cao (85,9%) [11] Báo cáo của Vụ Chăm sóc SKSS năm 2006, tỷ lệ phụ nữ mang thai tiêm phòng uốn ván đủ 2 mũi đạt 88,5% [4]

Một số nghiên cứu trong những năm gần đây tại các địa phương cho thấy phụ nữ mang thai tiêm đủ 2 mũi uốn ván như sau: Tại Hương Long - Huế 83,3% [17], tại Chí Linh - Hải Dương 85,4% [22], tại Tiên Du - Bắc Ninh 90,5% [21], tại Quảng Trị là 54% [19] và Đà Nẵng 75,7% [18]

1.1.2.2 Chăm sóc trong sinh

- Hiểu biết về các dấu hiệu nguy hiểm của người mẹ trong quá trình chuyển dạ

Hiểu biết về các dấu hiệu nguy hiểm của người mẹ trong quá trình chuyển dạ còn kém Có 33,7% phụ nữ không biết bất kỳ dấu hiệu nguy hiểm nào đối với phụ nữ trong khi sinh Một số rất ít kể được đồng thời từ 3 dấu hiệu cho người phụ nữ trong chuyển dạ trở lên (6,3%) [25]

Báo cáo điều tra cơ bản Chương trình giảm tử vong mẹ và tử vong trẻ

sơ sinh thì kiến thức của phụ nữ về các dấu hiệu nguy hiểm khi chuyển dạ còn rất yếu Có 41,9% số phụ nữ được phỏng vấn không kể được bất kỳ một dấu hiệu nguy hiểm nào đối với người phụ nữ khi chuyển dạ Tỷ lệ này ở nhóm mang thai cao hơn nhóm sinh con, Tuy nhiên dấu hiệu được biết đến không nhiều Dấu hiệu được biết đến nhiều nhất là chảy máu nhiều cũng chỉ chiếm 34% [11]

Trang 18

Hiểu biết về các dấu hiệu nguy hiểm cho người phụ nữ khi chuyển dạ rất yếu ở tất cả các tỉnh Nhóm tỉnh mà phụ nữ có hiểu biết tốt hơn về các dấu hiệu nguy hiểm cho người phụ nữ khi chuyển dạ là Cao Bằng, Bắc Giang, Lạng Sơn và Lâm Đồng cũng chỉ đạt dưới 30% (19,2-29 điểm); Còn kém hơn

là ở Đắk Lắk, Gia Lai, Đắk Nông, Thái Nguyên, Bắc Kạn và Điện Biên 9,6 điểm) [1], [11]

(4,4 Nơi sinh và người đỡ đẻ

Tại Việt Nam hiện nay sinh con ở cơ sở y tế đang trở nên là một lựa chọn phổ biến Nghiên cứu thực trạng tình hình dịch vụ làm mẹ an toàn ở Việt Nam tháng 7/2003 cho thấy, tỷ lệ sử dụng dịch vụ y tế cho cuộc đẻ khác nhau ở các tỉnh khác nhau, trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất vẫn là trạm y tế xã

và bệnh viện huyện [13] Báo cáo đánh giá cuối kỳ về thực trạng cung cấp và

sử dụng dịch vụ CSSKSS tại 12 tỉnh tham gia Chương trình Quốc gia 6 Quỹ Dân số Liên Hiệp quốc Việt Nam năm 2005 thì tỷ lệ bà mẹ đẻ tại cơ sở y tế nhà nước là 81,7% (2003) và 88,2% (2005) [24]

Theo cuộc điều tra ban đầu về thực trạng cung cấp dịch vụ và chăm sóc sức khỏe sinh sản tại 7 tỉnh do UNFPA tài trợ năm 2005 thì phần lớn phụ

nữ được phỏng vấn cho biết họ đã đến cơ sở y tế nhà nước để đẻ trong lần sinh con vừa rồi Tuy nhiên vẫn còn một tỷ lệ đáng kể sinh tại nhà (18,9%) [25]

83,5% phụ nữ mang thai đã được nhân viên y tế đỡ khi sinh con; 10,5% phụ nữ đẻ được chồng hay người nhà (không có chuyên môn y tế đỡ) Còn có 0,3% phụ nữ cho biết họ phải tự đỡ khi sinh con [25]

Trong 7 tỉnh, Kon Tum và Hà Giang là hai tỉnh có tỷ lệ đẻ tại nhà cao nhất (64,1% và 46,9%) Ngược lại, ở Tiền Giang lại không có trường hợp nào đẻ tại nhà Các cuộc đẻ không có cán bộ y tế đỡ có tỷ lệ cao nhất ở Kon Tum và Hà Giang (56,5% và 41,9%) và thấp nhất ở Tiền Giang (0,5%) [25] Tại tỉnh Phú Thọ có tỷ lệ đẻ tại nhà (4,1%), người đỡ đẻ không có chuyên môn 1,2%

Trang 19

Báo cáo điều tra cơ bản Chương trình giảm tử vong mẹ và tử vong trẻ

sơ sinh thì khoảng 1/5 số phụ nữ được phỏng vấn cho biết họ đã sinh con tại nhà trong lần sinh gần đây nhất Còn lại hầu hết các sản phụ sinh con tại cơ sở

y tế nhà nước, chiếm tỷ lệ cao là sinh con tại các bệnh viện tỉnh và huyện (60,7%), số sinh tại trạm y tế xã chỉ chiếm 14,5% [11]

Một số nghiên cứu đều thống nhất rằng khoảng 80% phụ nữ Việt Nam sinh tại các cơ sở y tế hay tại nhà với người đỡ được đào tạo [34], [37],[43], [44] Tỷ lệ sinh tại nhà dao động từ khoảng 2% -16,7% ở các khu vực đồng bằng [37], [50], và 50 - 58% tại các khu vực miền sâu, xa và miền núi [34], [39], [43] Ở một số vùng nông thôn, phần lớn các ca đẻ diễn ra ở nhà với sự giúp đỡ của nữ hộ sinh hoặc bà đỡ dân gian [30] Trong các phụ nữ đẻ tại nhà thì 35,4% số người được nhận gói đẻ sạch, song họ chỉ được sử dụng một số dụng cụ trong gói đẻ sạch này [43]

Một nghiên cứu về sinh tại nhà ở tỉnh Ninh Bình chỉ ra tỷ lệ băng huyết

là 3,3%, 30,6% trẻ được cắt rốn với dụng cụ không hợp vệ sinh, và 41,7% trường hợp không đạt tiêu chuẩn vệ sinh khác [37] Các tai biến được báo cáo còn cao hơn nhiều trong số các phụ nữ dân tộc ở các vùng miền núi vì điều kiện thiếu vệ sinh, thiếu người đỡ được đào tạo và các phong tục lạc hậu [35], [37]

Một số nghiên cứu ở các nước trên thế giới cho thấy tỷ lệ phụ nữ sinh con ở cơ sở y tế là Nam Phi là 55,9% [42], Ấn Độ là 31% [49] và Zimbabwe

là 50% [41]

1.1.2.3 Chăm sóc sau sinh

- Hiểu biết về những dấu hiệu nguy hiểm cho phụ nữ sau sinh

Theo báo cáo ban đầu về thực trạng cung cấp dịch vụ và chăm sóc sức khỏe sinh sản tại 7 tỉnh do UNFPA tài trợ năm 2005 thì sự hiểu biết của phụ

nữ về các dấu hiệu nguy hiểm cho người phụ nữ sau sinh còn hạn chế 29,7%

Trang 20

số phụ nữ không kể được bất kỳ dấu hiệu nguy hiểm nào đối với người phụ

nữ sau sinh Đa số phụ nữ chỉ kể được 1-2 dấu hiệu [25]

Trung bình mỗi phụ nữ kể được 1,0 dấu hiệu nguy hiểm đối với người phụ nữ sau sinh Tỷ lệ phụ nữ kể được số dấu hiệu nguy hiểm với người phụ

nữ sau sinh cao nhất là ở tỉnh Phú Thọ (1,6 dấu hiệu) và ít nhất là ở tỉnh Hà Giang và Kon Tum (0,5-0,7 dấu hiệu) [25]

Báo cáo điều tra cơ bản Chương trình giảm tử vong mẹ và tử vong trẻ

sơ sinh cho thấy, Khoảng trên 1/3 số phụ nữ không kể được một dấu hiệu nguy hiểm nào đối với người phụ nữ sau sinh (35,8%) Dấu hiệu chảy máu nhiều được nhiều người biết đến nhất cũng chỉ chiếm 50,7%; các dấu hiệu nguy hiểm còn lại chỉ được không quá ¼ số phụ nữ được phỏng vấn kể được [11]

Nghiên cứu về sức khỏe sinh sản tại Việt Nam (2000-2005) thì kiến thức nói chung của phụ nữ về chăm sóc sau sinh là không tốt Khoảng 3/4 phụ

nữ biết về thời điểm chính xác cho bú sữa/cai sữa Nhiều phụ nữ dân tộc thiểu

số (54%) không biết cách sử dụng sữa non cho con bú Trong giai đoạn sau sinh, phụ nữ không biết thời điểm chính xác để có quan hệ tình dục trở lại, chế độ dinh dưỡng cần thiết và các BPTT phù hợp [27]

- Thực hành khám lại sau sinh

Theo báo cáo tổng quan các nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe sinh sản tại Việt Nam giai đoạn 2000-2005 của Quỹ Dân số Liên Hiệp quốc thì tỷ lệ phụ nữ khám lại sau sinh thấp hơn nhiều so với tỷ lệ khám thai, dao động từ 23,8% cho đến 70%, phụ thuộc từng tỉnh Chất lượng của chăm sóc sau sinh cũng không đáp ứng nhu cầu của bà mẹ, chỉ 31,0% được khuyến khích nhận các thăm khám thường xuyên trong vòng 42 ngày sau đẻ [27]

Theo báo cáo tổng kết công tác CSSKSS năm 2005 và phương hướng năm 2006 của Bộ Y tế, tỷ lệ bà mẹ được chăm sóc sau sinh chung cả nước là 86% (2003) và 86,2% (2005) và khu vực Nam Trung bộ là 90% (2003) và 92,6% (2005) [7]

Trang 21

Một số nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ lệ bà mẹ được khám lại sau sinh

ở một số tỉnh như sau: Thừa Thiên Huế là 74,9% [48], Thanh Hóa là 67% [45], Thái Nguyên là 52,9% [46], Đà Nẵng là 71,5% [18] Bình Định là 82%

[20], Vĩnh Long là 88,4% [47]

Theo kết qủa nghiên cứu ở một số nước trên thế giới tỷ lệ bà mẹ được khám lại sau sinh như Palestin là 36,6% [32], Nepal là 34% [33] và

Bangladesh là 28% [29]

1.1.3 Kiến thức và thực hành của nam giới

l.1.3.1 Chăm sóc trước sinh

- Phát hiện và xử lý các dấu hiệu thai nghén bất thường

Theo báo cáo ban đầu về thực trạng cung cấp dịch vụ và chăm sóc sức khỏe sinh sản tại 7 tỉnh do UNFPA tài trợ năm 2005, có 44,7% nam giới được phỏng vấn không biết bất kỳ dấu hiệu nguy hiểm nào Rất ít đối tượng biết đồng thời 3 dấu hiệu Trong sáu dấu hiệu, dấu hiệu được biết đến với tỷ lệ cao nhất là đau bụng (29,7%) tiếp đến là chảy máu ở cửa mình (25,5%) Dấu hiệu

mà nam giới ít biết nhất là co giật (9,4%) [25]

Số trung bình dấu hiệu nguy hiểm liên quan tới thai nghén được nam giới biết đến là 1,1 Cao nhất ở Phú Thọ (2,4 dấu hiệu), tiếp đó đến Ninh Thuận (1,2 dấu hiệu) Tỉnh có số trung bình dấu hiệu nguy hiểm thấp nhất là Tiền Giang (0,6 dấu hiệu), Hà Giang (0,5 dấu hiệu) [25]

Khi hỏi về cách xử trí khi gặp các dấu hiệu nguy hiểm cho thai nghén, phần lớn nam giới đều nói rằng nếu gặp các dấu hiệu nguy hiểm họ sẽ tới cơ

sở y tế nhà nước (97,9%) Một số cho biết họ sẽ mời thầy thuốc đến nhà hoặc chữa trị tại phòng khám tư nhân Chỉ một số rất ít chọn giải pháp để tự khỏi, đến thầy lang (0,1%) và không có ai chọn giải pháp cúng [25]

Trang 22

- Kiến thức và thực hiện khám thai

Báo cáo ban đầu về thực trạng cung cấp dịch vụ và chăm sóc sức khỏe sinh sản tại 7 tỉnh do UNFPA tài trợ năm 2005 cho thấy, 80,6% nam giới biết cần phải khám thai 3 lần trở lên, nhưng còn 0,6% nam giới cho rằng không cần phải khám thai [25]

Về thực hành khám thai: Có 76% nam giới nói rằng vợ đã đi khám thai

3 lần trở lên trong lần mang thai vừa rồi, nhưng còn 2,3% nam giới cho biết

vợ không đi khám thai lần nào trong lần mang thai vừa qua [25]

Tỷ lệ khám thai đầy đủ giữa các tỉnh chênh lệch khá lớn: Tỉnh có tỷ lệ cao nhất là Tiền Giang 96,1%, tiếp đó đến Bến Tre 89,9%, Phú Thọ 89% Các tỉnh có tỷ lệ thấp là Hà Giang (57,6%), Kon Tum (34,9%) [25]

- Tiêm phòng uốn ván

Báo cáo ban đầu về thực trạng cung cấp dịch vụ và chăm sóc sức khỏe sinh sản tại 7 tỉnh do UNFPA tài trợ năm 2005 cho thấy, 61% nam giới trả lời đúng là cần phải tiêm 2 mũi uốn ván 14,5% nói là phải tiêm 1 mũi và 24,5% nói cần tiêm 3 mũi [25]

Về thực hành tiêm phòng uốn ván: 50,9% nam giới có vợ tiêm đủ 2 mũi uốn ván trong lần mang thai trước đó; 14,4% tiêm thiếu và 3,3% nam giới có vợ không tiêm mũi nào trong lần mang thai vừa qua

Tỷ lệ vợ nam giới được phỏng vấn tiêm phòng uốn ván đầy đủ trong lần mang thai gần nhất cao nhất ở Phú Thọ (66,5%) sau đó đến Bến Tre (63,3%), Ninh Thuận (55,1%) Thấp nhất là 2 tỉnh Tiền Giang (36,7%) và Kon Tum (30,1%) [25]

1.1.3.2 Chăm sóc trong sinh

- Hiểu biết về các dấu hiệu nguy hiểm của người mẹ trong quá trình chuyển dạ

Trang 23

Hiểu biết của nam giới về các dấu hiệu nguy hiểm cho người phụ nữ trong quá trình chuyển dạ còn kém 44,3% nam giới không biết bất kỳ dấu hiệu nguy hiểm nào đối với người phụ nữ khi sinh Một số ít kể được 3 dấu hiệu trở lên (3,4%) Dấu hiệu được nhiều nam giới biết đến là đau bụng dữ dội (34%) Dấu hiệu nguy hiểm ít được nhắc đến là vỡ ối trước khi đẻ (8%)

và co giật (9,8%) [25]

Số trung bình các dấu hiệu nguy hiểm trong quá trình chuyển dạ được nam giới biết đến là 0,9 dấu hiệu, trong đó số cao nhất thuộc về tỉnh Phú Thọ (2, 0 dấu hiệu) và thấp nhất ở Hà Giang (0,4 dấu hiệu)

- Nơi sinh và người đỡ đẻ

Theo báo cáo ban đầu về thực trạng cung cấp dịch vụ và chăm sóc sức khỏe sinh sản tại 7 tỉnh do UNFPA tài trợ năm 2005 cho thấy, 77,8% nam giới được phỏng vấn cho biết vợ họ đã đến cơ sở y tế nhà nước để đẻ trong lần sinh con vừa rồi Tuy nhiên, vẫn còn một tỷ lệ đáng kể sinh tại nhà (19,8%) [25]

Phần lớn nam giới được phỏng vấn cho biết vợ họ đã được nhân viên y

tế đỡ trong lần sinh con vừa rồi Còn một tỷ lệ không nhỏ phụ nữ đẻ được chồng hay người nhà đỡ (không có chuyên môn y tế); 0,3% nam giới được phỏng vấn cho biết vợ họ tự đỡ trong lần sinh con vừa rồi

Kết quả điều tra của UNFPA năm 2005 cho thấy: Kon Tum và Hà Giang là 2 tỉnh có tỷ lệ đẻ ở nhà cao nhất (64,1% và 46,9%) Ngược lại Tiền Giang lại không có trường hợp nào đẻ ở nhà Các cuộc đẻ không có cán bộ y

tế đỡ cao nhất ở Kon Tum (41,9%) và Hà Giang (56,5%) Tại Phú Thọ tỷ lệ

đẻ tại nhà 4,1% [25]

- Vai trò của gia đình khi phụ nữ sinh nở

Báo cáo ban đầu về thực trạng cung cấp dịch vụ và chăm sóc sức khỏe sinh sản tại 7 tỉnh do UNFPA tài trợ năm 2005 cho thấy, nhiều người khác

Trang 24

nhau hỗ trợ cho phụ nữ khi sinh con Tuy nhiên, người chồng là người giúp

đỡ nhiều nhất 74,4% nam giới được phỏng vấn nói rằng họ là người đưa vợ

đi đẻ trong lần sinh con vừa rồi và 80% nam giới cho biết họ là người giúp đỡ

vợ chuẩn bị cho việc sinh đẻ trong lần sinh con vừa rồi [25]

1.1.3.3 Chăm sóc sau sinh

- Hiểu biết về những dấu hiệu nguy hiểm cho phụ nữ sau sinh

Hiểu biết về những dấu hiệu nguy hiểm cho phụ nữ sau sinh của nam giới còn hạn chế 47% nam giới không kể được bất kỳ dấu hiệu nguy hiểm nào đối với phụ nữ sau sinh Đa số nam giới kể được 1-2 dấu hiệu Dấu hiệu được nhiều nam giới biết đến là chảy máu kéo dài và tăng lên (36,1%), sau đó đến dấu hiệu đau bụng kéo dài và tăng lên (24,7%), còn lại là các dấu hiệu đạt không quá 17% Thấp nhất là dấu hiệu ra dịch âm đạo có mùi hôi (6,7%) [25]

Trung bình mỗi nam giới kể được 1,0 dấu hiệu nguy hiểm đối với người phụ nữ sau sinh Tỷ lệ nam giới kể được số dấu hiệu nguy hiểm đối với người phụ nữ sau sinh cao nhất ở Phú Thọ (2,2 dấu hiệu), sau đó đến Bến Tre

và Ninh Thuận (0,9 dấu hiệu), ít nhất là 2 tỉnh Hà Giang và Tiền Giang 0,5 dấu hiệu) [25]

(0,4 Kiến thức về xử trí khi người phụ nữ sau sinh gặp nguy hiểm

Kết quả điều tra của UNFPA năm 2005 cho thấy số nam giới biết được các dấu hiệu nguy hiểm đối với phụ nữ sau sinh, hầu hết đều đưa ra cách xử trí là đến CSYT nhà nước (96%) và mời CBYT đến nhà (10,2%) Các phương

án khác đưa ra với tỷ lệ thấp như: đến thầy lang (0,1%), Cúng (0,2%) và không ai chọn phương án để tự khỏi [25]

1.2 VAI TRÒ CỦA NAM GIỚI VỀ LÀM MẸ AN TOÀN

Thông điệp của ngày Dân số thế giới 11-7 hàng năm có chủ đề “Nam giới - Bạn đồng hành trong chăm sóc sức khoẻ bà mẹ” Trong thông điệp Quĩ dân số Liên hiệp quốc phát đi đã nhấn mạnh tới nam giới và vai trò của nam

Trang 25

giới là một phần giải pháp để tăng cường bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ Sức khỏe sinh sản bắt đầu với việc bình đẳng giới Nam giới đóng vai trò chủ đạo trong sức khỏe sinh sản như là người khách hàng, bạn tình và là nhân tố then chốt cho sự thay đổi Nam giới tham gia và các nỗ lực chăm sóc sức khỏe sinh sản như người vận động cho các dịch vụ cần thiết, như người ủng hộ cho các nhu cầu của vợ, bạn tình và như người tiếp nhận các dịch vụ

về sức khỏe và phúc lợi cho bản thân

Việc mang thai và sinh đẻ là do người phụ nữ đảm nhiệm, nhưng việc quyết định có mang thai hay không, khi nào thì nên có thai, khi nào không, khi nào thì sinh con, sinh bao nhiêu, tuy nó là quyền sinh sản của phụ nữ, nhưng trong thực tế nhiều nơi quyền này lại do người chồng quyết định

Bất bình đẳng giới trong làm mẹ an toàn đã làm cản trở sự tiếp cận của phụ nữ với các dịch vụ y tế để đảm bảo cho việc mang thai và sinh nở an toàn Làm mẹ an toàn là đảm bảo sức khỏe tốt cho phụ nữ và thai nhi, trong quá trình mang thai, sinh đẻ và giai đoạn hậu sản Như vậy, làm mẹ an toàn là các biện pháp được áp dụng để đảm bảo sự an toàn cho cả mẹ và thai nhi cũng như trẻ sơ sinh Mục đích là giảm tỷ lệ tử vong, và bệnh tật ngay khi người phụ nữ mang thai, trong khi sinh và suốt thời kỳ hậu sản (42 ngày sau chấm dứt thai nghén) [55]

Để đảm bảo an toàn cho mẹ và con trong quá trình mang thai và sinh, người phụ nữ phải được cán bộ y tế có trình độ chuyên môn chăm sóc và theo dõi Nhưng việc này có được thực hiện hay không, phụ thuộc vào hoàn cảnh chung của địa phương và hoàn cảnh của mỗi cá nhân, đặc biệt là thói quen và quan niệm của họ Phụ nữ phải khám thai ít nhất 3 lần trong một thai kỳ, nhưng chị em lại không đi khám, không phải là họ không muốn đi mà việc quyết định có đi khám hay không còn do người chồng hoặc gia đình chồng quyết định Nếu trong gia đình chồng cho là mang thai sinh nở là chuyện bình

Trang 26

thường của phụ nữ, không cần phải đi khám thì chính định kiến giới này sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ và con Phụ nữ không được tiếp cận với các dịch vụ y tế để đảm bảo cho việc mang thai và sinh nở an toàn Bất bình đẳng giới còn thể hiện trong việc chăm sóc phụ nữ khi có thai, như thói quen sinh hoạt ăn uống của gia đình, người vợ thường phải ăn sau chồng, bố mẹ chồng

và con trai Các định kiến về giới có rất nhiều trong cuộc sống, đặc biệt là những vùng kinh tế – xã hội còn kém phát triển [55]

Tại tỉnh Phú Thọ, vai trò của Nam giới trong KHHGĐ thể hiện ở nhiều mặt, trong đó bao gồm cả quyết định sinh sản và thực hiện các biện pháp tránh thai Tuy nhiên trong lĩnh vực này nam giới chưa thực sự chia sẻ trách nhiệm một cách đầy đủ với phụ nữ Cụ thể là tỷ lệ sử dụng các biện pháp tranh thai chủ yếu vẫn là phụ nữ: Hiện nay toàn tỉnh có 200 ngàn cặp vợ chồng áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại, trong số đó 81% người trực tiếp sử dụng là phụ nữ, như vậy cứ 8,1 phụ nữ thực hiện BPTT thì chỉ có 1,9 nam giới áp dụng các biện pháp này [25]

Trong các lĩnh vực khác của chăm sóc SKSS như làm mẹ an toàn và chăm sóc trẻ sơ sinh nhận thức của nam giới đã có sự thay đổi đáng kể nhưng còn một bộ phận nam giới vẫn thể hiện được đầy đủ vai trò của họ trong chăm sóc SKSS Trên thực tế tư tưởng trọng nam khinh nữ và sự phân biệt đối xử với phụ nữ vẫn tồn tại

Hiện tại ở nước ta chưa có nghiên cứu nào phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức và thực hành về làm mẹ an toàn của nam giới Vì vậy việc nghiên cứu và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức và thực hành về làm mẹ an toàn của nam giới là cần thiết và được thực hiện trong nghiên cứu này

Trang 27

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Các nam giới được lựa chọn theo tiêu chuẩn sau:

+ Nam giới có vợ 15-49 tuổi có con dưới 2 tuổi

+ Sống tại Phú Thọ năm 2010-2011

+ Có khả năng trả lời các câu hỏi

+ Tự nguyện tham gia vào nghiên cứu

- Các nam giới sau đây bị loại trừ

+ Nam giới có vợ 15-49 tuổi không có con dưới 2 tuổi

+ Mắc các biểu hiện tâm thần

+ Không tự nguyện tham gia nghiên cứu

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.2.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

- Cỡ mẫu:

Công thức tính cỡ mẫu: n=Z2(1-α/2){p(1-p)/d2}DE

Trong đó: n: Cỡ mẫu tối thiểu cần nghiên cứu

Z21-α/2: Hệ số tin cậy, với độ tin cậy 95% Z=1,96 p: Tỷ lệ nam giới biết về dấu hiệu chảy máu sau sinh, p=50%

q=1-p: Tỷ lệ nam giới không biết về dấu hiệu chảy máu sau sinh (=50%)

d: Độ chính xác mong muốn nghiên cứu: (=10%) DE: Hệ số chọn mẫu (=2)

Trang 28

Cỡ mẫu nghiên cứu là 210 nam giới có vợ tuổi 15-49

- Cách chọn mẫu : Mẫu được chọn theo phương pháp chọn mẫu 30

chùm ngẫu nhiên theo 2 bước:

Bước 1: Chọn ngẫu nhiên 30 xã trong số tất cả các xã của tỉnh Các đối tượng phỏng vấn được lựa chọn trong bước 2

Bước 2: Chọn 7 đối tượng từ mỗi xã dựa theo danh sách nam giới có vợ tuổi 15-49 và có con trong vòng 2 tuổi do cán bộ y tế thôn bản cung cấp Chọn ngẫu nhiên nam giới đầu tiên (bằng cách sử dụng số đăng ký trên đồng tiền giấy) và sau đó chọn hộ tiếp theo để tiếp tục tìm được những nam giới khác theo kỹ thuật “cổng liền cổng” cho đủ 7 người nam giới

2.2.3 Kỹ thuật và công cụ thu thập thông tin

Bộ câu hỏi phỏng vấn nam giới có vợ 15-49 tuổi có cấu trúc:

- Phần A: Đặc điểm cá nhân

- Phần B: Nạo hút thai

- Phần C: Kiến thức của nam giới về khám thai

- Phần D: Kiến thức và thực hành của nam giới về sinh đẻ và sau khi sinh

2.2.4 Sai số và khống chế sai số

- Sai số mắc phải:

+ Sai số do bị từ chối hoặc không trả lời câu hỏi + Sai số do điều tra viên: Điều tra viên bỏ sót câu hỏi khi thu thập thông tin, sai số phỏng vấn, sai số khi ghi chép thông tin + Sai số nhớ lại: Do thời gian mang thai của phụ nữ dài đối tượng nghiên cứu là người chồng nên không nhớ chính xác thông tin khi được phỏng vấn

- Cách khắc phục sai số:

+ Tập huấn kĩ cho các điều tra viên: huấn luyện kỹ điều tra viên

về bộ câu hỏi cũng như một số ngôn ngữ ở địa phương

Trang 29

+ Đối với sai số nhớ lại: hỏi chi tiết kỹ hơn, kiểm tra chéo thông tin bằng cách lập lại câu hỏi, gắn các thời điểm với các sự kiện hoặc mốc thời gian

+ Giám sát

+ Làm sạch số liệu trước khi nhập liệu (đọc phiếu)

+ Tạo tệp check của phần mềm nhập liệu

+ Làm sạch các số liệu bị thiếu và số liệu vô lý trước khi phân tích

2.2.5 Biến số và chỉ số nghiên cứu

cơ sở, trung học phổ thông, cao đẳng trở lên)

- Tỷ lệ % theo dân tộc (kinh, khác)

- Tỷ lệ % theo tôn giáo (Đạo phật, Đạo Thiên chúa, Đạo Tin lành, tôn giáo khác, không theo tôn giáo

- Tỷ lệ % theo khả năng nói tiếng việt (thành thạo, có khó khăn, không nói được)

- Tỷ lệ % theo số con (con thứ nhất, thứ 2, thứ 3, thứ 4)

Trang 30

2 Mục tiêu 1&2:

- Mô tả kiến thức và thực hành về làm mẹ an toàn của nam giới có

vợ 15-49 tuổi có con nhỏ dưới 2 tuổi

- Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức và thực hành về

làm mẹ an toàn của đối tượng trên

- Kiến thức của nam giới về xử lý các dấu hiệu nguy hiểm của phụ nữ mang thai

- Kiến thức của nam giới về khám thai cho phụ nữ

- Kiến thức của nam giới về tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ mang thai

- Tỷ lệ % nam giới biết các dấu hiệu nguy hiểm đối với phụ nữ mang thai (sốt cao kéo dài, đau đầu, phù, chảy máu ở cửa mình, co giật, đau bụng, khác, không biết)

- Tỷ lệ % nam giới biết xử lý các dấu hiệu nguy hiểm của phụ nữ mang thai (để tự khỏi, tự chữa, mời thầy thuốc đến nhà, đến cơ sở

y tế nhà nước, đến phòng khám tư, đến thầy lang, cúng)

- Tỷ lệ % nam giới biết số lần khám thai cho phụ nữ mang thai (<3 lần và ≥3 lần)

- Tỷ lệ % nam giới biết số mũi tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ mang thai (<2 mũi và ≥2 mũi) Chăm sóc trong

sinh (nhóm biến

số phụ thuộc)

- Kiến thức của nam giới về các dấu hiệu nguy hiểm khi người phụ nữ chuyển dạ

- Tỷ lệ % nam giới biết dấu hiệu nguy hiểm khi người phụ nữ chuyển dạ (Đau bụng dữ dội, chảy máu nhiều, sốt, co giật, vỡ ối sớm trước khi đẻ, khác, không biết)

Trang 31

- Kiến thức của nam giới về người đỡ đẻ cho phụ nữ mang thai

- Thực hành của nam giới về có đưa vợ đi đẻ

- Thực hành của nam giới về giúp vợ chuẩn

bị cho việc sinh đẻ

- Tỷ lệ % nam giới biết người đỡ

đẻ (NVYT, mụ vườn, người chồng, người trong gia đình, người khác, không có ai)

- Tỷ lệ % nam giới trả lời (có/ không)

- Tỷ lệ % nam giới trả lời có/không

nữ sau sinh

- Kiến thức của nam giới về cách xử trí khi phụ nữ sau sinh gặp dấu hiệu nguy hiểm

- Tỷ lệ % nam giới biết các dấu hiệu nguy hiểm đối với phụ nữ sau sinh (Chảy máu kéo dài và tăng lên, ra dịch âm đạo có mùi hôi, sốt cao kéo dài, đau bụng kéo dài và tăng lên, co giật, khác, không biết)

- Tỷ lệ % nam giới biết cách xử trí khi phụ nữ sau sinh gặp dấu hiệu nguy hiểm (để tự khỏi, tự chữa, mời cán bộ y tế đến nhà, đến CSYT nhà nước, đế phòng khám

tư, đến thầy lang, cúng) Nạo hút thai

(nhóm biến số

phụ thuộc)

- Kiến thức của nam giới về cơ sở nạo hút thai cho người phụ nữ

- Kiến thức của nam giới về hậu quả của nạo hút thai đối với phụ nữ

- Tỷ lệ % nam giới biết về cơ sở nạo hút thai cho người phụ nữ

- Tỷ lệ % nam giới biết hậu quả của nạo hút thai đối với phụ nữ

Trang 32

2.2.6 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

• Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 11/2010 đến tháng 1/2011

• Địa điểm nghiên cứu:

Phú Thọ là tỉnh thuộc khu vực miền núi, trung du phía Bắc, nằm trong khu vực giao lưu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc có diện tích tự nhiên 353.294,93 ha Phía Đông giáp Hà Nội, phía Đông Bắc giáp Vĩnh Phúc, phía Tây giáp Sơn La, phía Tây Bắc giáp Yên Bái, phía Nam giáp Hoà Bình, phía Bắc giáp Tuyên Quang Với vị trí “ngã ba sông” cửa ngõ phía Tây của Thủ đô Hà Nội, Phú Thọ cách trung tâm Hà Nội 80 km với dân số 1.313.926 người

Địa hình bị chia cắt, được chia thành tiểu vùng chủ yếu Tiểu vùng núi cao phía Tây và phía Nam của Phú Thọ, tuy gặp một số khó khăn về việc đi lại, giao lưu song ở vùng này lại có nhiều tiềm năng phát triển lâm nghiệp, khai thác khoáng sản và phát triển kinh tế trang trại Tiểu vùng gò, đồi thấp bị chia cắt nhiều, xen kẽ là đồng ruộng và dải đồng bằng ven sông Hồng, hữu

Lô, tả Đáy Vùng này thuận lợi cho việc trồng các loại cây công nghiệp, phát triển cây lương thực và chăn nuôi

Phú Thọ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có một mùa đông lạnh Nhiệt độ trung bình năm khoảng 230C, lượng mưa trung bình trong năm khoảng 1.600 đến 1.800 mm Độ ẩm trung bình trong năm tương đối lớn, khoảng 85 – 87% Nhìn chung khí hậu của Phú Thọ thuận lợi cho việc phát triển cây trồng, vật nuôi đa dạng

Toàn tỉnh Phú Thọ có 13 đơn vị hành chính cấp huyện gồm thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ, huyện Đoan Hùng, Hạ Hoà, Thanh Đa, Cẩm Khê, Phù Ninh, Lâm Thao, Tam Nông, Thanh Thuỷ, Thanh Sơn, Tân Sơn và Yên Lập; 277 đơn vị hành chính cấp xã Thành phố Việt Trì là trung tâm chính trị

- kinh tế - văn hoá của tỉnh

30 xã tiến hành nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên trong tất cả các xã của tỉnh

Trang 33

2.2.7 Xử lý và phân tích số liệu

Số liệu được nhập bằng phần mềm Epi data Số liệu được làm sạch, sau

đó xử lý bằng phần mềm Stata10 Các thông tin chung của nam giới và các chỉ số được tính các tỷ lệ % Test ước lượng khoảng (OR và 95% CI) được sử dụng để so sánh sự khác biệt giữa các nhóm nam giới Phân tích đơn biến và hồi quy đa biến được sử dụng khi phân tích mối liên quan giữa các đặc điểm

cá nhân và kiến thức, thực hành của nam giới về làm mẹ an toàn

2.2.8 Đạo đức trong nghiên cứu

- Đề cương nghiên cứu được Hội đồng chấm đề cương của Trường Đại học Y Hà nội thông qua và được sự đồng ý của UBND và Sở Y tế tỉnh Phú Thọ

- Giải thích rõ mục đích nghiên cứu và quyền lợi của đối tượng khi tham gia vào nghiên cứu và xin phép được phỏng vấn

- Chỉ phỏng vấn khi đối tượng tự nguyện đồng ý tham gia

- Các thông tin được đảm bảo giữ bí mật và chỉ dùng cho mục đích nghiên cứu

- Phản hồi kết quả cho địa phương sau khi kết thúc nghiên cứu

Trang 34

Chương 3 KẾT QUẢ

3.1 ĐẶC TRƯNG CÁ NHÂN CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Bảng 3.1 Một số đặc trưng cá nhân của nam giới có vợ 15-49 tuổi

có con nhỏ < 2 tuổi tại tỉnh Phú Thọ

Đặc trưng Số lượng Tỷ lệ % Tuổi

Trang 35

Bảng 3.1 cho thấy không có nam giới dưới 20 tuổi, nam giới ở độ tuổi 20-29 là cao nhất chiếm 58,6% Tỷ lệ nam giới 30-39 tuổi là 37,6%, nam giới 40-49 tuổi là 3,3% và nam giới trên năm mươi tuổi 0,5% (1 người)

Tỷ lệ nam giới dân tộc kinh chiếm đa số là 86,2%, còn lại là nam giới dân tộc Cao Lan, Dao, Mường chiếm 13,8% Phần lớn nam giới không theo tôn giáo chiếm 97,1%, nam giới theo tôn giáo là 2,9%

Tỷ lệ nam giới có trình độ học vấn trung học cơ sở chiếm cao nhất là 43,8%, tiếp đó đến nam giới có trình độ học vấn trung học phổ thông là 29,5%, nam giới có trình độ học vấn cao đẳng là 13,8%, nam giới có trình độ học vấn tiểu học 12,9% và không có nam giới nào mù chữ

Hầu hết các nam giới có từ 1-2 con chiếm 95,7%, chỉ có 4,3% là nam giới có con thứ 3 trở lên

3.2 KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ LÀM MẸ AN TOÀN CỦA NAM GIỚI

3.2.1 Kiến thức của nam giới về chăm sóc trước sinh cho người phụ nữ mang thai

Kiến thức của nam giới về các dấu hiệu nguy hiểm cho người phụ nữ mang thai

25,7 44,3

Biết 1DH Biết 2 DH Biết 3 DH Biết 4 DH Biết 5 DH Biết 6 DH Không biết

Biểu đồ 3.1 Kiến thức của nam giới về các dấu hiệu nguy hiểm cho người

phụ nữ khi mang thai

Trang 36

Theo biểu đồ 3.1 Tỷ lệ nam giới biết đồng thời 2 dấu hiệu nguy hiểm cho người phụ nữ mang thai cao nhất đạt 44,3%, tiếp đó là biết 1 dấu hiệu chiếm 25,7%; 15,7% nam giới biết đồng thời 3 dấu hiệu; 5,2% nam giới biết 4 dấu hiệu và 1,4% nam giới biết 5 dấu hiệu Đặc biệt không có nam giới nào biết đồng thời 6 dấu hiệu và còn 7,7% tỷ lệ nam giới không biết dấu hiệu nguy hiểm nào cho người phụ nữ mang thai

Bảng 3.2 Tỷ lệ nam giới biết được từng dấu hiệu nguy hiểm

cho người phụ nữ mang thai

Dấu hiệu PN có thai gặp nguy hiểm Số lượng Tỷ lệ %

Sốt cao kéo dài

Trong số 6 dấu hiệu, “sốt cao kéo dài” được nhiều nam giới biết nhất chiếm tỷ lệ 62,9%, tiếp đó là dấu hiệu “đau bụng” 51,4%; “chảy máu cửa mình” là 42,9% và dấu hiệu mà nam giới ít biết hơn là “phù” 6,2% và “đau đầu” là 9,5% Ngoài ra còn có 6,2% nam giới trả lời là cúm, buồn nôn, chóng mặt, chán ăn, người xanh, giảm cân, bệnh truyền nhiễm

Trang 37

Bảng 3.3 Kiến thức của nam giới về cách xử trí khi phụ nữ mang thai gặp

các dấu hiệu nguy hiểm

Theo bảng 3.3 các cơ sở y tế nhà nước có vai trò quan trọng đối với phụ nữ có thai khi gặp dấu hiệu nguy hiểm trong quá trình mang thai Khi đọc lần lượt các lựa chọn, phần lớn (90,5%) nam giới nói rằng nếu gặp các dấu hiệu nguy hiểm như thế họ sẽ tới cơ sở y tế nhà nước Một số cho biết họ sẽ mời thầy thuốc đến nhà hoặc chữa trị tại phòng khám tư nhân Chỉ một số rất

ít chọn giải pháp “để tự khỏi”, “tự chữa” và không có nam giới chọn đến

“thầy lang hoặc cúng”

Kiến thức của nam giới về khám thai và tiêm phòng uốn ván cho người phụ nữ mang thai

Bảng 3.4 Kiến thức của nam giới về khám thai cho phụ nữ

Trang 38

Khi hỏi về số lần khám thai trong một thai kỳ, phần lớn nam giới biết cần khám thai ba lần trở lên (97,6%) Một số ít cho biết chỉ cần khám 1 lần (1,0%) và khám 2 lần (1,4%) và không có nam giới nào cho rằng “không cần” hoặc “không biết” số lần khám thai

Bảng 3.5 Kiến thức của nam giới về tiêm phòng uốn ván cho

2 mũi (51,4%), số người trả lời là cần tiêm 1 mũi chiếm tỷ lệ là 35,7% Còn lại 12,9% trả lời số lần tiêm phòng khác, trong đó 8,1% nói cần tiêm 3 mũi trở lên và 4,8% nói không biết hoặc không nhớ

3.2.2 Kiến thức và thực hành của nam giới về chăm sóc trong sinh cho phụ nữ

3.2.2.1 Kiến thức của nam giới về chăm sóc trong sinh cho phụ nữ

Biểu đồ 3.2 Kiến thức của nam giới về các dấu hiệu nguy hiểm của người

mẹ trong quá trình chuyển dạ

Trang 39

Kiến thức của nam giới về các dấu hiệu nguy hiểm cho người phụ nữ trong chuyển dạ còn hạn chế Có 33,8% nam giới biết đồng thời 3 dấu hiệu trở lên Hơn một nửa nam giới được phỏng vấn biết 1-2 dấu hiệu Còn 10% nam giới không biết bất kỳ dấu hiệu nguy hiểm nào

Bảng 3.6 Tỷ lệ nam giới biết được từng dấu hiệu nguy hiểm cho người phụ

nữ trong quá trình chuyển dạ

Dấu hiệu PN chuyển dạ gặp nguy hiểm Số lượng Tỷ lệ %

Bảng 3.6 cho thấy dấu hiệu nguy hiểm được nhiều nam giới biết đến nhất là “đau bụng” (55,7%), tiếp đến là dấu hiệu “vỡ ối sớm trước khi đẻ” (48,6%) Dấu hiệu “Chảy máu nhiều” (46,2%) Dấu hiệu nguy hiểm được ít nam giới nhắc đến nhất là “co giật” (16,2%) Ngoài ra còn 1,0% nam giới trả lời là khó thở và mệt

Kiến thức của nam giới về “người đỡ đẻ tốt nhất” cho phụ nữ

Kiến thức về “người đỡ đẻ tốt nhất” cho phụ nữ mang thai của nam giới rất tốt 100% nam giới được phỏng vấn cho biết “người đỡ đẻ tốt nhất” là nhân viên y tế Không có nam giới nào trả lời là mụ vườn, người chồng, người trong gia đình, không cần ai hay không biết

Trang 40

3.2.2.2 Thực hành về chăm sóc trong sinh

Bảng 3.7 Thực hành của người chồng khi phụ nữ sinh nở

94,7

5,3

cókhông

Biểu đồ 3.3 Nam giới đưa vợ đi đẻ

Theo biểu đồ 3.3 cho thấy hầu hết nam giới được phỏng vấn cho biết có đưa vợ đi đẻ trong lần sinh con vừa rồi (94,7%), chỉ có 5,3% nam giới nói không đưa vợ đi đẻ vì vợ sinh con ở nhà

Ngày đăng: 20/07/2014, 04:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Y tế - Chương trình giảm tử vong mẹ và tử vong sơ sinh Trung ương (2009). “Báo cáo kết quả điều tra cơ bản Chương trình giảm tử vong mẹ và tử vong sơ sinh tại tỉnh Điện Biên”, Vụ SKSS: tr. 23-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả điều tra cơ bản Chương trình giảm tử vong mẹ và tử vong sơ sinh tại tỉnh Điện Biên”, "Vụ SKSS
Tác giả: Bộ Y tế - Chương trình giảm tử vong mẹ và tử vong sơ sinh Trung ương
Năm: 2009
2. Bộ Y tế - Vụ BVBMTE-KHHGĐ (2003). "Hội thảo vùng xây dựng kế hoạch quốc gia về làm mẹ an toàn," Vụ BVBMTE-KHHGĐ: tr. 2-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo vùng xây dựng kế hoạch quốc gia về làm mẹ an toàn
Tác giả: Bộ Y tế - Vụ BVBMTE-KHHGĐ
Năm: 2003
3. Bộ Y tế - Vụ SKSS (2007).“Hội thảo triển khai chăm sóc sức khỏe thiết yếu cho bà mẹ và trẻ sơ sinh”, Vụ SKSS: tr. 36-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Hội thảo triển khai chăm sóc sức khỏe thiết yếu cho bà mẹ và trẻ sơ sinh”, "Vụ SKSS
Tác giả: Bộ Y tế - Vụ SKSS
Năm: 2007
4. Bộ Y tế - Vụ SKSS (2009). “Báo cáo tình hình thực hiện Dự án mục tiêu Quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản”, Vụ SKSS: tr. 11-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Báo cáo tình hình thực hiện Dự án mục tiêu Quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản”, "Vụ SKSS
Tác giả: Bộ Y tế - Vụ SKSS
Năm: 2009
5. Bộ Y tế (2001). “Chiến lược Quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản”, Nhà xuất bản quân đội nhân dân, tr. 15-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Chiến lược Quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản”, "Nhà xuất bản quân đội nhân dân
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản quân đội nhân dân
Năm: 2001
6. Bộ Y tế (2003). “Kế hoạch Quốc gia về làm mẹ an toàn tại Việt Nam 2003-2010”, Bộ Y tế, tr. 19-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Kế hoạch Quốc gia về làm mẹ an toàn tại Việt Nam 2003-2010”, "Bộ Y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2003
7. Bộ Y tế (2006). "Báo cáo tổng kết công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản năm 2005 và phương hướng năm 2006," Vụ SKSS, tr. 6-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản năm 2005 và phương hướng năm 2006
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2006
8. Bộ Y tế (2009). "Báo cáo tổng kết công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản năm 2008 và phương hướng năm 2009," Vụ SKSS, tr. 10-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản năm 2008 và phương hướng năm 2009
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2009
9. Bộ Y tế (2010). "Báo cáo tổng kết công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản năm 2009 và phương hướng năm 2010," Vụ SKSS, tr. 13-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản năm 2009 và phương hướng năm 2010
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2010
10. Bộ Y tế (2011). "Báo cáo tổng kết công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản năm 2010 và phương hướng năm 2011," Vụ SKSS, tr. 11-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản năm 2010 và phương hướng năm 2011
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2011
11. Bộ Y tế (2009).“Báo cáo kết quả điều tra cơ bản Chương trình giảm tử vong mẹ và tử vong sơ sinh tại 14 tỉnh Dự án”, Điều tra ban đầu, tr. 9-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Báo cáo kết quả điều tra cơ bản Chương trình giảm tử vong mẹ và tử vong sơ sinh tại 14 tỉnh Dự án”, "Điều tra ban đầu
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2009
12. Bộ Y tế (2009).“Hướng dẫn Quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản”, tr. 31-44, 52-65, 191-193, 261-262, 374-375 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Hướng dẫn Quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2009
13. Bộ Y tế, Tổng cục Thống kê (2003). "Báo cáo chuyên đề: Đánh giá hiệu quả sử dụng dịch vụ y tế," Điều tra y tế quốc gia: tr. 4-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chuyên đề: Đánh giá hiệu quả sử dụng dịch vụ y tế
Tác giả: Bộ Y tế, Tổng cục Thống kê
Năm: 2003
14. Bộ Y tế (2005). “Niên giám thống kê năm 2004”, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội: tr. 23-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2004”, "Nhà xuất bản Y học, Hà Nội
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2005
15. Bộ Y tế (2006). “Niên giám thống kê năm 2005”, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội: tr. 45-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2005”, "Nhà xuất bản Y học, Hà Nội
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2006
16. Bộ Y tế (2007). “Niên giám thống kê năm 2006”, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội: tr. 34-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2006”, "Nhà xuất bản Y học, Hà Nội
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2007
17. Đinh Thanh Huề, Dương Thu Hương (2002). "Tìm hiểu sự hiểu biết và thực hành chăm sóc trước sinh của phụ nữ mang thai xã Hương Long, thành phố Huế," Tạp chí y học thực hành số 1-2004: tr. 29-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu sự hiểu biết và thực hành chăm sóc trước sinh của phụ nữ mang thai xã Hương Long, thành phố Huế
Tác giả: Đinh Thanh Huề, Dương Thu Hương
Năm: 2002
18. Ngô Văn Toàn (2006). "Kiến thức và thực hành chăm sóc khi sinh tại thành phố Đà Nẵng năm 2005," Tạp chí thông tin Y Dược số 4 – 2006: tr.19-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức và thực hành chăm sóc khi sinh tại thành phố Đà Nẵng năm 2005
Tác giả: Ngô Văn Toàn
Năm: 2006
19. Ngô Văn Toàn (2007). "Phân tích đa biến mối liên quan giữa các yếu tố ảnh hưởng và thực hành chăm sóc trước và trong khi sinh tại tỉnh Quảng Trị năm 2005," Tạp chí y học thực hành số 1 – 2007: tr. 25-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích đa biến mối liên quan giữa các yếu tố ảnh hưởng và thực hành chăm sóc trước và trong khi sinh tại tỉnh Quảng Trị năm 2005
Tác giả: Ngô Văn Toàn
Năm: 2007
20. Nguyễn Thị Như Tú (2009). “Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng dịch vụ chăm sóc trước, trong và sau sinh của các bà mẹ tại tỉnh Bình Định năm 2008-2009 ”, Luận văn thạc sỹ y tế công cộng, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng dịch vụ chăm sóc trước, trong và sau sinh của các bà mẹ tại tỉnh Bình Định năm 2008-2009 ”
Tác giả: Nguyễn Thị Như Tú
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Một số  đặc trưng cá nhân của nam giới có vợ 15-49 tuổi   có con nhỏ &lt; 2 tuổi tại tỉnh Phú Thọ - Nghiên cứu kiến thức, thực hành và các yếu tố ảnh hưởng đến làm mẹ an toàn của nam giới có vợ 15 – 49 tuổi tại tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.1. Một số đặc trưng cá nhân của nam giới có vợ 15-49 tuổi có con nhỏ &lt; 2 tuổi tại tỉnh Phú Thọ (Trang 34)
Bảng 3.1 cho thấy không có nam giới dưới 20 tuổi, nam giới ở độ tuổi  20-29 là cao nhất chiếm 58,6% - Nghiên cứu kiến thức, thực hành và các yếu tố ảnh hưởng đến làm mẹ an toàn của nam giới có vợ 15 – 49 tuổi tại tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.1 cho thấy không có nam giới dưới 20 tuổi, nam giới ở độ tuổi 20-29 là cao nhất chiếm 58,6% (Trang 35)
Bảng 3.2. Tỷ lệ nam giới biết được từng dấu hiệu nguy hiểm   cho người phụ nữ mang thai - Nghiên cứu kiến thức, thực hành và các yếu tố ảnh hưởng đến làm mẹ an toàn của nam giới có vợ 15 – 49 tuổi tại tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.2. Tỷ lệ nam giới biết được từng dấu hiệu nguy hiểm cho người phụ nữ mang thai (Trang 36)
Bảng 3.4 Kiến thức  của nam giới về khám thai cho phụ nữ - Nghiên cứu kiến thức, thực hành và các yếu tố ảnh hưởng đến làm mẹ an toàn của nam giới có vợ 15 – 49 tuổi tại tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.4 Kiến thức của nam giới về khám thai cho phụ nữ (Trang 37)
Bảng 3.6 cho thấy dấu hiệu nguy hiểm  được nhiều nam giới biết  đến  nhất là “đau bụng” (55,7%), tiếp  đến là dấu hiệu “vỡ  ối sớm trước khi đẻ” - Nghiên cứu kiến thức, thực hành và các yếu tố ảnh hưởng đến làm mẹ an toàn của nam giới có vợ 15 – 49 tuổi tại tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.6 cho thấy dấu hiệu nguy hiểm được nhiều nam giới biết đến nhất là “đau bụng” (55,7%), tiếp đến là dấu hiệu “vỡ ối sớm trước khi đẻ” (Trang 39)
Bảng 3.7. Thực hành của người chồng khi phụ nữ sinh nở - Nghiên cứu kiến thức, thực hành và các yếu tố ảnh hưởng đến làm mẹ an toàn của nam giới có vợ 15 – 49 tuổi tại tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.7. Thực hành của người chồng khi phụ nữ sinh nở (Trang 40)
Bảng 3.8. Tỷ lệ nam giới biết được từng dấu hiệu nguy hiểm   cho người phụ nữ sau sinh - Nghiên cứu kiến thức, thực hành và các yếu tố ảnh hưởng đến làm mẹ an toàn của nam giới có vợ 15 – 49 tuổi tại tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.8. Tỷ lệ nam giới biết được từng dấu hiệu nguy hiểm cho người phụ nữ sau sinh (Trang 41)
Bảng 3.9. Kiến thức của nam giới về cách xử trí   khi phụ nữ sau sinh gặp nguy hiểm. - Nghiên cứu kiến thức, thực hành và các yếu tố ảnh hưởng đến làm mẹ an toàn của nam giới có vợ 15 – 49 tuổi tại tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.9. Kiến thức của nam giới về cách xử trí khi phụ nữ sau sinh gặp nguy hiểm (Trang 42)
Bảng 3.10. Kiến thức của nam giới về cơ sở có thể thực hiện nạo hút thai - Nghiên cứu kiến thức, thực hành và các yếu tố ảnh hưởng đến làm mẹ an toàn của nam giới có vợ 15 – 49 tuổi tại tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.10. Kiến thức của nam giới về cơ sở có thể thực hiện nạo hút thai (Trang 43)
Bảng 3. 11. Tỷ lệ nam giới biết được từng hậu quả của   nạo hút thai cho người phụ nữ - Nghiên cứu kiến thức, thực hành và các yếu tố ảnh hưởng đến làm mẹ an toàn của nam giới có vợ 15 – 49 tuổi tại tỉnh Phú Thọ
Bảng 3. 11. Tỷ lệ nam giới biết được từng hậu quả của nạo hút thai cho người phụ nữ (Trang 44)
Bảng 3.13. Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân và kiến thức về khám  thai của nam giới - Nghiên cứu kiến thức, thực hành và các yếu tố ảnh hưởng đến làm mẹ an toàn của nam giới có vợ 15 – 49 tuổi tại tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.13. Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân và kiến thức về khám thai của nam giới (Trang 47)
Bảng 3.14. Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân - Nghiên cứu kiến thức, thực hành và các yếu tố ảnh hưởng đến làm mẹ an toàn của nam giới có vợ 15 – 49 tuổi tại tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.14. Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân (Trang 49)
Bảng 3.15. Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân và kiến thức của  người chồng về  dấu hiệu nguy hiểm trong sinh - Nghiên cứu kiến thức, thực hành và các yếu tố ảnh hưởng đến làm mẹ an toàn của nam giới có vợ 15 – 49 tuổi tại tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.15. Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân và kiến thức của người chồng về dấu hiệu nguy hiểm trong sinh (Trang 51)
Bảng 3.16. Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân của nam giới   và thực hành đưa vợ đi sinh con - Nghiên cứu kiến thức, thực hành và các yếu tố ảnh hưởng đến làm mẹ an toàn của nam giới có vợ 15 – 49 tuổi tại tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.16. Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân của nam giới và thực hành đưa vợ đi sinh con (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w