Berberin được biết đến là 1 loại thuốc rẻ tiền,rất sẵn có.Từ hàng nghìn năm trước,các cây có chứa berberin đã đựơc sử dụng làm thuốc chữa bệnh.Qua thời gian,berberin đã khẳng định được mình trong việc chống lại các vi khuẩn,siêu vi,nấm sinh vât đơn bào,virus,giun sán và Chlamydia… Ngoài vàng đắng thì hoàng bá là một cây thuốc cung cấp một lượng berberin tương đối quan trọng.Hoàng bá có xuất xứ từ Trung Quốc nhưng vứi những tác dụng mà nó mang lại thì ta đã trồng thử nghiệm nhiều nơi và rất thành công. BTổng quan tài liệu: IĐặc điểm thực vật: Hoàng bá là cây gỗ to,cao 1025m,đường kính thân tới 50cm,cành rất phát triển,vỏ màu nâu nhạt hoặc xám nhạt,lớp bần dày,mềm,có đường rách dọc lung tung,vỏ trong màu vàng tươi.Lá kép lông chim,mọc đối,có 513 lá chét hình trứng hoạc mũi mác,dài 512cm,rộng 34,5cm,mép có răng cưa nhỏ hoặc hình gợn sóng,mặt trên màu lục xám,mặt dưới màu xanh nhạt,phần gốc của gân giữa mang lông che chở mềm.Hoa nhỏ màu vàng lục hoặc vàng nhạt,mẫu 5,hoa đơn tính,khác gốc.Quả mọng,hình cầu,khi chín có màu tím đen,có mùi thơm đặc biệt.Mùa hoa vào tháng 57,mùa quả vào tháng 911. Xuyên hoàng bá(Phellodendron chinense) cây nhỏ và thấp hơn,vỏ màu xám,mỏng và không có bần dày.Có 715 lá chét,mặt dưới lá có lông mềm,dài và rậm.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
BỘ MÔN DƯỢC LIỆU
TIỂU LUẬN DƯỢC LIỆU
Chủ đề: Tổng quan về cây Hoàng bá (Phellodendron amurense Rutaceae)
Sinh viên thực hiện :
HÀ NỘI, 02-2011
Trang 2MỤC LỤC
B- Tổng quan tài liệu
I Đặc điểm thực vật II.Phân bố
III Trồng trọt và thu hái
VI Kiểm nghiệm
VII.Cách bào chế
VIII.Tác dụng dược lí và công dụng
IX.Đơn thuốc kinh nghiệm
X.Biệt dược
C- Kết luận
Tài liệu tham khảo
Trang 3A-Đặt vấn đề:
Berberin được biết đến là 1 loại thuốc rẻ tiền,rất sẵn có.Từ hàng nghìn năm trước,các cây có chứa berberin đã đựơc sử dụng làm thuốc chữa bệnh.Qua thời gian,berberin đã khẳng định được mình trong việc chống lại các vi khuẩn,siêu vi,nấm sinh vât đơn
bào,virus,giun sán và Chlamydia…
Ngoài vàng đắng thì hoàng bá là một cây thuốc cung cấp một lượng berberin tương đối quan trọng.Hoàng bá có xuất xứ từ Trung Quốc nhưng vứi những tác dụng mà nó mang lại thì ta đã trồng thử nghiệm nhiều nơi và rất thành công
B-Tổng quan tài liệu:
I-Đặc điểm thực vật:
Hoàng bá là cây gỗ to,cao 10-25m,đường kính thân tới 50cm,cành rất phát triển,vỏ màu nâu nhạt hoặc xám nhạt,lớp bần dày,mềm,có đường rách dọc lung tung,vỏ trong màu vàng tươi.Lá kép lông chim,mọc đối,có 13 lá chét hình trứng hoạc mũi mác,dài 5-12cm,rộng 3-4,5cm,mép có răng cưa nhỏ hoặc hình gợn sóng,mặt trên màu lục xám,mặt dưới màu xanh nhạt,phần gốc của gân giữa mang lông che chở mềm.Hoa nhỏ màu vàng lục hoặc vàng nhạt,mẫu 5,hoa đơn tính,khác gốc.Quả mọng,hình cầu,khi chín có màu tím đen,có mùi thơm đặc biệt.Mùa hoa vào tháng 5-7,mùa quả vào tháng 9-11
Xuyên hoàng bá(Phellodendron chinense) cây nhỏ và thấp hơn,vỏ màu xám,mỏng và không có bần dày.Có 7-15 lá chét, mặt dưới lá có lông mềm,dài và rậm
Trang 4II-Phân bố,trồng hái và chế biến:
Cây hoàng bá có nhiều ở vùng Đông Bắc Á Châu ,được trồng nhiều ở Trung Quốc và Nhật Bản,ở Nga(vùng Seberi) Ta đã di thực trồng thí nghiệm những năm 1960 ở Lào Cai(Sa Pa),lai Châu(Sìn Hồ),Vĩnh Phúc(Tam Đảo) và Lâm Đồng(Đà Lạt) thành công,thấy cây mọc tốt và khỏe.Đang có hướng phát triển cây này
Cây hoàng bá ưa khí hậu mát,chịu được rét,thích hợp với vùng núi cao trên
1000m,thường rụng lá về mùa đông,thích nghi với đất màu,yêu cầu phân bón cao.Trồng bằng hạt,gieo ở vườn ươm,sau 1 năm mới đánh ra trồng
Hái vỏ cây đã trồng trên 10 năm,hái vào mùa hạ,cạo sạch lớp bần,cắt thành từng miếng phơi khô hoặc sấy khô.Khi dung,rủa sạch,ủ mềm,thái mỏng,phơi khô,tẩm rượu sao vàng hoặc sao cháy
III-Bộ phận dùng:
Vỏ thân hoặc vỏ cành (Cortex Phellodendri).Lựa loại vỏ dày ,màu vàng tươi,cạo sạch lớp bần ngoài càng tốt
IV-Thành phần hóa học:
1.Trong vỏ hoàng bá có chừng 1,6% berberin,một lượng nho
phellodendrin,magnoflorin,jatrorrhizin,palmatin,candixin,menisperin
Trang 5Ngoài ra còn có những chất có tinh thể không chứa nito:obakullacton,obakunon,hợp chất sterolic:7-dehydrostigmasterol,beta-sitosterol,campesterol,chất béo
Berberin
2.Trong vỏ xuyên hoàng bá chứa khoảng 3% berberin
V-Kiểm nghiệm:
1.Ðặc điểm dược liệu
Các mảnh vỏ hơi cong, cạnh không đều, dài rộng không nhất định, dày 0,4-0,8cm mặt ngoài màu vàng hoặc vàng nâu, mặt ngoài thường sót lại các mảnh bần màu nâu, có rãnh, các vết sần sùi Mặt trong màu vàng hoặc xám nhạt, vết bẻ lởm chởm, màu vàng tươi, vị rất đắng, nhấm thấy dính và trơn
Trang 62.Vi học
2.1.Ðặc điểm vi phẫu
Vi phẫu ngang của các mảnh vỏ có hình chữ nhật, từ ngoài vào trong có: Mô mềm vỏ gồm ít lớp tế bào thành mỏng, dẹt, đôi khi ngoài mô mềm vỏ còn sót lại một số lớp bần Libe rất phát triển, chiếm hầu hết vi phẫu, có nhiều đám sợi xếp thành hàng, bị các tia ruột ngoằn ngoèo cấu tạo bởi 3-7 dãy tế bào chia ra thành từng phần, trong các đám sợi
có nhiều tinh thể calci oxalat hình khốiS oi lát cắt Hoàng bá dưới kính hiển vi huỳnh quang thấy trong libe và tia ruột có huỳnh quanvàng (berberin), sợi có huỳnh quang không đ k
Trang 72.2.Ðặc điểm bột dược liệu: Bột màu vàng, không mùi, vị đắng Soi dưới kính hiển vi thấy: Các mảnh mô mềm (1) Rất nhiều sợi màu vàng, thành dày, khoang hẹp riêng lẻ hay kết thành từng bó mang nhiều tinh thể calci oxalat hình khối (2) Các tinh thể calci oxalat hình khối kích thước 0,015-0,04mm (3)
3.Hoá học
3.1.Ðịnh tính
A Lấy bột dược liệu, thêm nước, đun nhẹ, lọc lấy một ít dịch lọc, thêm dung dịch acid sulfuric 1%, thêm dần dung dịch bão hòa clor Ðể yên 10 phút, chỗ tiếp xúc giữa 2 lớp chất lỏng có 1 vòng màu đỏ sẫm
B Bột dược liệu, chiết bằng ethanol, đun nhẹ, lọc
Lấy 1 - 2 giọt dịch lọc nhỏ trên lam kính, hơ nhẹ trên đèn cồn đến gần khô, thêm 1 giọt dung dịch acid nitric 25%, đậy lá kính mỏng lên Sau 20 phút soi kính hiển vi thấy những tinh thể hình kim to, xếp thành chùm, màu vàng tươi
Trang 8Lấy 1 - 2 giọt dịch lọc nhỏ trên lam kính, hơ nhẹ trên đèn cồn đến gần khô, thêm 1 giọt acid hydrocloric đậm đặc, đậy lá kính mỏng lên Sau 20 phút, soi kính hiển vi thấy có tinh thể hình kim ngắn, màu vàng tươi
Có thể sử dụng sắc ký lớp mỏng hiệu năng cao (HPTLC) để kiểm nghiệm Hoàng bá
3.2 Ðịnh lương:
Dung dịch thử: Cân chính xác một lượng bột dược liệu đã nghiền nhỏ (song song tiến
hành xác định độ ẩm), kiềm hoá bằng dung dịch natri hydroxyd 25%, chiết bằng ether ethylic, lọc qua giấy lọc vào bình định mức, bổ sung đến thể tích nhất định Hút chính xác một lượng dịch ether và tiến hành chiết hết berberin bằng dung dịch acid sulfuric 2% [kiểm tra bằng thuốc thử là acid silicowolframic ] Gộp dịch chiết acid vào bình định mứcl, thêm dung dịch acid sulfuric 2% đến vạch, lắc đều và đo mật độ quang của dung dịch ở bước sóng 420 nm
Dung dịch chuẩn: Dung dịch berberin 0,2% trong dung dịch acid sulfuric 2% (TT) (dung
dịch A) Hút chính xác 1 ml dung dịch A (tương đương với 2 mg berberin chuẩn) cho vào bình định mức 50 ml, thêm dung dịch acid sulfuric 2% (TT) đến vạch, lắc đều, đo mật độ quang ở bước sóng 420 nm
Mẫu trắng là acid sulfuric 2%.
Hàm lượng berberin chứa trong dược liệu khô không được ít hơn 2,5%
VI-Cách bào chế:
Theo Trung Y: Hoàng bá tính hàn mà chìm, dùng sống tả thực hoả, dùng chín khỏi hại
dạ dày, chế rượu trị bệnh ở thượng tiêu; chế muối trị bệnh ở hạ tiêu; chế mật trị bệnh
ở giữa (Bản Thảo Cương Mục)
Theo kinh nghiệm Việt Nam: Rửa sạch, ủ mềm thái miếng phơi khô (dùng sống) rồi tẩm rượu sao vàng (thường dùng) hoặc sao cháy
Trang 9VII-Tác dụng dược lý và công dụng:
+ Tác dụng kháng khuẩn: Cao cồn vỏ cây hoàng bá có tác dụng kháng khuẩn đối với nhiều vi khuẩn gram dương và gram âm, trong đó có trực khuẩn lao Hợp chất lacton trong hoàng bá có tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương và gây hạ đường huyết ở thỏ bình thường Ở thỏ đã cắt bỏ tuyến tụy, không thể hiện tác dụng này
Berberin có tác dụng tăng tiết mật vầ có ích trong điều trị giai đoạn mạn tính của các bệnh viêm túi mật với rối loạn vận động đường dẫn mật, viêm túi mật do sỏi mật, viêm gan - túi mật, có biến chứng của viêm ống mật Nó ít tác dụng trong viêm túi mật cấp tính (Trung Dược Học)
+ Dịch chiết toàn phần của Hoàng bá làm vỡ đơn bào Entamoeba histolytica, còn Berberin làm đơn bào co thần kinh (Trung Dược Học)
+ Nước sắc hoàng bá có tác dụng chống Entameoba histolytica trong ống nghiệm ở nồng độ l: 16 và Berberin có tác dụng rõ rệt ở nồng độ l: 200 Alcaloid toàn phần của Hoàng bá chứa Berberin với hàm lượng lớn nhất, ức chế trong ống nghiệm các vi khuẩn
và nấm Bacillus mycoides, Bacillus subtilis, Candida albicans, Salmeonella typhi, Shigella shigae, Sh flexneri, phế cầu, trực khuẩn lao, tụ cầu vàng, liên cầu khuẩn (Trung Dược Học)
+ Hoàng bá có tác dụng lợi tiểu và ức chế hoạt tính gây co thắt co trơn của histamin
và Acetylcholin Hoàng bá đã được kết hợp với các thuốc hóa dược trong điều trị viêm ruột kết mạn tính đạt kết quả tốt Một bài thuốc trong có hoàng bá dã được điều trị tiêu chảy trẻ em đạt tỷ lệ khỏi và đỡ 95% Viên Berberin đã được áp dụng điều trị lỵ trực khuẩn trên 80 bệnh nhân (30 nhiễm Shigella flexneri, 15 nhiễm Sh Shigae và 8 nhiễm các Shigella khác) Tỷ lệ khỏi đạt 93% (Trung Dược Học)
+ Hoàng bá còn được áp dụng trong công thức kết hợp để điều trị viêm loét cổ tử cung và lộ tuyến trên 360 bệnh nhân đạt tỉ lệ khỏi và đỡ 96% Thuốc có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm, giảm tiết dịch và giúp sự tái tạo tổ chức ở nơi tổn thương cổ tử cung được nhanh hơn (Trung Dược Học)
+ Viên berberin đặt vào âm đạo để điều trị nấm âm đạo trên 60 bệnh nhân, đạt tỷ lệ khỏi thấp 26,7% Thuốc ít gây dị ứng (Trung Dược Học)
+ Nước sắc hoặc cao cồn 100% có tác dụng kháng khuẩn ở mức độ khác nhau đối với tụ cầu khuẩn vàng, phẩy khuẩn tả, các trực khuẩn than, bạch hầu, lỵ, mủ xanh)
thương hàn và phó thương hàn, liên cầu khuẩn Mức độ tác dụng hơi kém hơn so với Hoàng liên (Chinese Herbal Medicine)
Trang 10+ Berberin tác dụng trong ống nghiệm đối với llên cầu khuẩn ở nồng độ 1: 20.000, với trực khuẩn bạch hầu ở nồng độ 1: 10.000, với tụ cầu khuẩn ở nồng độ 1: 7.000, với trực khuẩn lỵ Shiga ở nồng độ 1: 3.000, đối với trực khuẩn lỵ Flexheri: trực khuẩn thương hàn và phó thương hăn ở nồng độ 1: 100
+ Nước sắc Hoàng Bá ức chế sự phát triển các nấm da trong ống nghiệm (Chinese Herbal Medicine)
+ Hòa 1ml dung dịch bão hòa Berberin với 0,5ml dung dịch 1% máu người Sau 2 giờ, hồng cầu bị tan hoàn toàn, bạch cầu còn lại một ít, các tiểu cầu còn nguyên vẹn Có thể dùng dung dịch 0,25% Berberin để pha loăng máu trong việc đếm tiểu cầu
Số liệu hơi cao hơn so với dung dịch pha loãng máu thông thường (Chinese Herbal Medicine)
+ Tiêm tĩnh mạch 10ml dung dịch bão hòa Berberin cho thỏ, không thấy biểu hiện độc Tiêm dưới da lml gây chết chuột nhắt, khi giải phẫu thấy các phủ tạng xung huyết, các hồng cầu bị tan (Chinese Herbal Medicine)
+ Nhỏ dung dịch 0,5% Berberin vào mắt thỏ, cách nửa giờ nhỏ một lần, làm giảm viêm xung huyết giác mạc gây nên bởi dung dịch 0,05% Nitrat bạc Nhỏ dung dịch này mỗi ngày một lần vào tai có thể chữa viêm tai giữa cho thỏ (Trung Dược Học)
+ Chích vào phúc mạc chuột nhắt 0,5ml dung dịch 0,5% Berberin trộn lẫn với trực khuẩn phó thương hàn, sau đó cho chuột uống Berberin nhiều lần, có thể bảo vệ chuột không chết (Chinese Herbal Medicine)
+ Cao Hoàng bá, chích vào phúc mạc cho mèo đã gây mê, có tác dụng giảm huyết
áp, nhịp tim không thay đổi (Chinese Herbal Medicine)
+ Ức chế thần kinh trung ương: cho thuốc ngoài đường tiêu hóa, nó có tác dụng gây trấn tĩnh và giảm sốt (Chinese Herbal Medicine)
+ Chống co thắt cơ trơn trên tử cung và ruột cô lập (Chinese Herbal Medicine) + Chống loét dạ dày và kiện vị: tác dụng giảm tiết dịch vị khi tiêm Berberin dưới da
Có thể dùng Berberin để điều trị chảy máu dạ dày, loét dạ dày và để giảm tiết dịch vị (Chinese Herbal Medicine)
+ Tác dụng kháng khuẩn trong ống nghiệm rõ rệt đối với nhiễm vi khuẩn gram âm và gram dương (Chinese Herbal Medicine)
Trang 11+ Chống tiêu chảy, giảm tiết các thành phần muối và nước ở ruột non (Chinese Herbal Medicine)
+ Giảm huyết áp: Berberin tiêm dưới da hoặc cao nước Hoàng bá tiêm tInh mạch
có tác dụng hạ áp, do kích thích các thụ thể b - Adrenergic và ức chế các thụ thể a - Adrenergic (Chinese Herbal Medicine)
+ Tác dụng chống viêm khá mạnh (Chinese Herbal Medicine)
VIII-Đơn thuốc kinh nghiệm:
+ Trị trẻ nhỏ lưỡi sưng: Hoàng bá, gĩa nát, trộn với Khổ trúc lịch, chấm trên lưỡi (Thiên Kim phương)
+ Trị họng sưng đột ngột, ăn uống không thông: Hoàng bá tán bột trộn giấm đắp lên nơi sưng (Trửu Hậu phương)
+ Trị trúng độc do ăn thịt súc vật chết: Hoàng bá, tán bột, uống 12g Nếu chưa đỡ uống tiếp (Trửu Hậu phương)
+ Trị miệng lưỡi lở loét: Hoàng bá cắt nhỏ, ngậm Có thể nuốt nước hoặc nhổ đi (Ngoại Đài Bí Yếu)
+ Trị sốt nóng, người gầy yếu, đau mắt, nhức đầu, ù tai, đau răng, chảy máu cam, thổ huyết: Hoàng bá 40g, Thục địa 320g, Sơn thù 160g, Sơn dược 160g, Phục linh 120g, Đơn bì 120g, Trạch tả 120g, Tri mẫu 40g (Tri Bá Bát Vị Hoàn – Ngoại Đài Bí Yếu)
+ Trị phế ủng tắc, trong mũi có nhọt: Hoàng nghiệt, Binh lang Lượng bằng nhau, tán bột Trộn với mỡ heo, bôi (Thánh Huệ phương)
+ Trị tỵ cam: Hoàng bá 80g, ngâm với nước lạnh một đêm, vắt lấy nước uống (Thánh Huệ phương)
+ Trị hoàng đản, phát bối, đố nhũ: Hoàng nghiệt, tán nhuyễn Trộn với Kê tử bạch (tròng trắng trứng), đắp, hễ khô là khỏi (Bổ Khuyết Trửu Hậu phương)
+ Trị thương hàn thời khí, ôn bệnh độc công xuống tay chân xưng đau muốn gẫy, còn trị độc công kích vào âm hộ sưng đau: Hoàng bá 5 cân, cạo nhỏ, sắc với 3 đấu nước, nấu cho cao lại mà rửa (Thương Hàn Loại Yếu)
+ Trị nôn ra máu: Hoàng bá ngâm với mật, sao khô, gĩa nát Mỗi lần uống 8g với nước sắc Mạch đông thì có hiệu quả (Kinh Nghiệm phương)
Trang 12+ Trị ung thư, phát bối, tuyến vú mới sưng hơi ẩm đỏ: Hoàng bá tán thành bột, trộn với lòng trắng trứng gà bôi vào (Mai Sư phương)
+ Trị nhiệt quá sinh ra thổ huyết: Hoàng bá 80g, sao với mật, tán bột Mỗi lần uống 8g với nước gạo nếp (Giản Yếu Tế Chúng phương)
+ Trị trẻ nhỏ tiêu chảy do nhiệt: Hoàng bá sấy khô, tán bột, trộn với nước cơm loãng làm viên, to bằng hạt thóc Mỗi lần uống 10 viên với nước cơm (Thập Toàn Bác Cứu phương)
+ Trị nhiệt bệnh do thương hàn làm lở miệng: Hoàng bá ngâm mật Ong một đêm, nếu người bệnh chỉ muốn uống nước lạnh thì ngậm nước cốt ấy thật lâu, nếu nôn ra thì ngậm tiếp, nếu có nóng trong ngực, có lở loét thì uống 5,3 hớp cũng tốt (Tam Nhân Cực – Bệnh Chứng Phương Luận)
+ Trị cam miệng lở, miệng hôi: Hoàng bá 20g, Đồng lục 8g, tán bột, xức vào, đừng nuốt (Lục Vân Tán - Tam Nhân Cực – Bệnh Chứng Phương Luận)
+ Trị ung thư (mụn nhọt), nhọt độc: Hoàng bá bài (sao), Xuyên ô đầu (nướng) Lượng bằng nhau Tán nhuyễn, đắp vào vết thương, chừa đầu vết thương ra, rối lấy nước gạo rưới vào cho ướt thuốc (Tần Hồ Tập Giản phương)
+ Trị trẻ nhỏ rốn lở loét không lành miệng: Hoàng bá, tán nhuyễn, rắc vào (Tử Mẫu
Bí lục)
+ Trị có thai mà bị xích bạch lỵ, ngày đêm đi 30-40 lần: dùng Hoàng Bá lấy vỏ ở gốc
có màu thật vàng và dày, sao đen với mật, tán bột Dùng củ Tỏi lớn nước chín bỏ vỏ, gĩa nát, trộn với thuốc bột làm thành viên, to bằng hạt ngô đồng lớn Mỗi lần uống 30 viên, lúc đói, với nước cơm, ngày 3 lần rất thần hiệu (Phụ Nhân Lương phương)
+ Trị xích bạch trọc dâm của phụ nữ, mộng tinh, di tinh của nam giới: Hoàng bá sao, Chân cáp phấn, mỗi thứ 1 cân, tán bột, luyện mật làm viên, to bằng hạt đậu xanh Mỗi lần uống 100 viên với rượu nóng lúc đói Vị hoàng bá đắng mà giáng hỏa, Cáp phấn mặn
mà bổ Thận (Chân Châu Phấn Hoàn - Khiết Cổ Gia Trân)
+ Trị di tinh, mộng tinh do tích nhiệt, hồi hộp, hoảng hốt, là trong ngực có nhiệt: nên dùng ‘Thanh Tâm Hoàn’ làm chủ, dùng bột Hoàng bá 40g, Phiến não 4g, luyện với mật làm viên, to bằng hạt ngô đồng lớn Mỗi lần uống 15 viên với nước sắc Mạch môn (Bản Sự phương)
Trang 13+ Trị trên đầu lở độc, lông tóc quăn lại, mới đầu như quả nho, đau chịu không nổi: Hoàng bá 40g, Nhũ hương 10g, tán bột Hoè hoa sắc lấy nước, trộn thuốc bột làm thành làm bánh, đắp trên chỗ lở (Phổ Tế phương)
+ Trị hỏa độc sinh ra lở loét, hoặc mùa đông thường ngồi ở cửa lâu ngày, hỏa khí nhập vào bên trong, làm 2 đùi sinh lở, nước chảy rỉ rả: dùng bột Hoàng bá xức vào Ngày xưa có một phụ nữ bị chứng này người ta không biết trị gì, dùng nó thì lành (Y Thuyết) + Sinh cơ nhục lên da non: dùng bột Hoàng bá với bột Miến xức vào (Tuyên Minh phương)
+ Trị trẻ nhỏ lở loét, nửa người không khô: Hoàng bá, tán nhuyễn Thêm ít Khô phàn, xoa (Giản Tiện Đơn phương)
+ Trị di tinh, đái đục: Hoàng bá (sao) 640g, Mẫu lệ (nung) 640g tánn nhỏ, trộn với nước làm thành viên Mỗi lần uống 8g, ngày 2 lần (Y Phương Hải Hội)
+ Trị phong hủi: Hoàng bá sao rượu, Bồ kết (gai) đốt thành than, tán nhỏ, trộn đều uống với rượu Kết hợp với dầu Đại phong tử hòa với rượu, để bôi bên ngoài (Y Phương Hải Hội)
+ Trị trẻ nhỏ tiêu chảy do nhiệt, tiêu tóe ra nước, hoặc phân giống hoa cà hoa cải, phân lẫn máu, hoặc có sốt, khát nước, nước tiểu đỏ: Vỏ Hoàng bá, tán nhỏ, uống với nước cơm mỗi lần 2 - 3g, ngày 4 - 5 lần (Nam Dược Thần Hiệu)
+ Trị xích bạch trọc dâm của phụ nữ, mộng tinh, di tinh của nam giới: Hoàng bá sao, Chân cáp phấn, mỗi thứ 1 cân, Tri mẫu (sao), Mẫu lệ (nung), Sơn dược (sao), các vị bằng nhau Tán bột trộn với hồ làm viên, to bằng hạt ngô đồng lớn Mỗi lần uống 80 viên với nước muối (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển)
+ Trị chi dưới bị thấp nhiệt, phù thũng và yếu: phối hợp với Ý dĩ, Thương truật (Trung Dược Học)
+ Trị lỵ, tiêu chảy: phối hợp với Hoàng liên, Bạch đầu ông (Trung Dược Học)
+ Trị hoàng đản: phối hợp với Đại hoàng, Câu kỷ tử (Trung Dược Học)
+ Trị khí hư: phối hợp với Cương tằm(sao) (Trung Dược Học)
+ Trị tiểu không thông, đường tiểu nóng, đau: phối hợp với Tri mẫu, Nhục quế (Trung Dược Học)
+ Trị trẻ nhỏ tiêu chảy: Hoàng bá 125g, Ngũ vị tử 42,5g, Ngũ bội tử 37,5g, Bạch phàn