Để có được các số liệu trong luận văn này, em xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ kinh phí của Đề tài độc lập cấp Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam về “Nghiên cứu sinh học, sinh th
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN : PGS.TS TRƯƠNG XUÂN LAM
Hà Nội - 2013
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận văn này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới Thầy giáo, PGS.TS Trương Xuân Lam – Trưởng phòng Côn trùng học thực nghiệm – Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật – người đã luôn tận tình hướng dẫn, định hướng và tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình thực hiện
đề tài
Để có được các số liệu trong luận văn này, em xin chân thành cảm ơn
sự hỗ trợ kinh phí của Đề tài độc lập cấp Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam về “Nghiên cứu sinh học, sinh thái học của Bọ xít hút máu và phân bố của chúng ở Việt Nam”
Lời cảm ơn xin được gửi tới tập thể cán bộ nghiên cứu, các bạn đồng nghiệp trong phòng Côn trùng thực nghiệm - Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã có những góp ý bổ ích cho em khi thực hiện luận văn này
Em xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn cổ vũ, giúp đỡ em trong quá trình học tập và hoàn thành tốt luận văn này
Do điều kiện thời gian còn hạn chế, nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý của thầy, cô giáo cũng như toàn thể các bạn để luận văn của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 09 tháng 12 năm 2013
Học viên
Nguyễn Thị Khuyên
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Nguyễn Thị Khuyên - Học viên cao học K15 Viện Sinh thái
và Tài nguyên sinh vật Tôi xin cam đoan những kết quả nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp là kết quả do tôi thực hiện tại phòng Côn trùng học thực nghiệm - Viện Sinh Thái và Tài nguyên sinh vật – Viện Hàn Lâm Khoa học
và Công nghệ Việt Nam Kết quả không sao chép từ bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học đã công bố
Hà Nội, ngày 09 tháng 12 năm 2013
Học viên
Nguyễn Thị Khuyên
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nội dung nghiên cứu 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tình hình nghiên của loài Triatoma rubrofasciata trên thế giới 3
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về phân bố và hình thái của loài T rubrofasciata 3
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về sinh học của loài Triatoma rubrofasciata 5
1.1.3 Tình hình nghiên cứu về sinh thái học của loài Triatoma rubrofasciata 6
1.2 Tình hình nghiên cứu bọ xít hút máu Triatoma rubrofasciata ở Việt Nam 7
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 8
2.2 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 8
2.3 Phương pháp nghiên cứu 8
2.3.1 Điều tra, thu thập mẫu BXHM 8
2.3.2 Xử lý và bảo quản mẫu 9
2.3.3 Làm tiêu bản 10
2.3.4 Nghiên cứu hình thái học 10
2.3.5 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học 11
2.3.6 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái học của loài BXHM 12
2.3.7 Xử lý số liệu và công thức tính toán 13
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 15
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3.1 Nghiên cứu hình thái học của các pha phát triển loài bọ xít hút máu
Triatoma rubrofasciata 15
3.1.1 Đặc điểm hình thái của pha trứng 15
3.1.2 Đặc điểm hình thái của các tuổi thiếu trùng 18
3.1.3 Đặc điểm hình thái của trưởng thành 29
3.2 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của loài BXHM Triatoma rubrofasciata 30
3.2.1 Sự phát dục của của trứng 30
3.2.2 Sự phát dục của các tuổi thiếu trùng 31
3.2.3 Sự phát dục của trưởng thành 33
3.2.4 Vòng đời của loài bọ xít hút máu T rubrofasciata 35
3.2.5 Nhịp điệu đẻ trứng, sức sinh sản và tỷ lệ giới tính của loà BXHM T rubrofasciata 36
3.3 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái của loài BXHM T rubrofasciata 38
3.3.1 Đặc điểm hút máu của loài bọ xít T rubrofasciata 38
3.3.2 Nghiên cứu khả năng nhịn đói của loài BXHM T rubrofasciata 40
3.3.3 Ảnh hưởng của số lượng cá thể nuôi, số lần hút máu đến khả năng sống của BXHM T rubrofasciata 50
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC 59
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BXHM : Bọ xít hút máu CT1 : Công thức 1 CT2 : Công thức 2 CT3 : Công thức 3
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Kích thước của trứng loài BXHM T rubrofasciata 17
Bảng 2 Kích thước của thiếu trùng bọ xít hút máu T rubrofasciata 27
Bảng 3 Kích thước của trưởng thành bọ xít hút máu T rubrofasciata 29
Bảng 4 Thời gian phát dục và tỷ lệ nở của trứng T rubrofasciata 30
Bảng 5 Thời gian phát dục và tỷ lệ lột xác của thiếu trùng loài BXHM T rubrofasciata (Nhiệt độ 28,55-30,45 0C, ẩm độ 71,12-76,20 % ) 32
Bảng 6 Thời gian trước phát dục, số lượng trứng đẻ và thời gian sống của trưởng thành bọ xít hút máu T rubrofasciata 34
Bảng 7 Thời gian giao phối của trưởng thành đực loài bọ xít hút máu 35
Bảng 8 Vòng đời của bọ xít hút máu T rubrofasciata 36
Bảng 9: Thời gian thiếu trùng và trưởng thành T rubrofasciata hút máu trên gà trong phòng thí nghiệm 38
Bảng 10: Khả năng nhịn đói của thiếu trùng loài BXHM T rubrofasciata (Nhiệt độ: 22.2 – 28.1 0 C , Ẩm độ: 57.3 – 75.72%) 40
Bảng 11: Thời gian sống của trưởng thành T rubrofasciata thu ngoài tự nhiên (Nhiệt độ: 22.2 – 28.1 0C , Ẩm độ: 57.3 – 75.72%) 45
Bảng 12: Tỷ lệ sống và lột xác của thiếu trùng BXHM T rubrofasciata được cho hút máu sau khi bị nhịn đói (Nhiệt độ: 22.2 – 28.1 0C , Ẩm độ: 57.3 – 75.72%) 47
Bảng 13: Khả năng sống không hút máu của thiếu trùng tuổi BXHM T rubrofasciata (Nhiệt độ 28.55-30.45 0C, ẩm độ 71.12-76.20 %) 50
Bảng 14 Ảnh hưởng của số lần hút máu đến thời gian phát dục của thiếu trùng (Nhiệt độ 28,55-30,45 0C, ẩm độ 71,12-76,20 %) 51
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Đặc điểm hình thái của BXHM T rubrofasciata 16
Hình 2 Thiếu trùng tuổi 1 của BXHM T rubrofasciata 19
Hình 3 Thiếu trùng tuổi 2 của BXHM T rubrofasciata 21
Hình 4 Thiếu trùng tuổi 3 của BXHM T rubrofasciata 23
Hình 5 Thiếu trùng tuổi 4 của BXHM T rubrofasciata 25
Hình 6 Thiếu trùng tuổi 5 của BXHM T rubofasciata 27
Hình 7: Thiếu trùng BXHM T rubrofasciata 28
Hình 8 Trưởng thành loài BXHM T rubrofasciata 30
Hình 9: Nhịp điệu đẻ trứng của BXHM T rubrofasciata 37
Hình 10: Bọ xít T rubrofascia hút máu gà 39
Hình 11 Thiếu trùng các tuổi của BXHM T rubrofasciata nhịn đói 42
Hình 12 Thiếu trùng các tuổi của BXHM T rubrofasciata no máu 43
Hình 13: Tỷ lệ lột xác của thiếu trùng BXHM T rubrofasciata thu ngoài tự nhiên và không cho tiếp tục hút máu 44
Hình 14: Tỷ lệ sống và lột xác của thiếu trùng BXHM T.rubrofasciata sau khi bị nhịn đói 49
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Loài bọ xít hút máu (BXHM) Triatoma rubrofasciata (De Geer, 1773)
thuộc phân họ Triatominae, họ Bọ xít ăn sâu Reduviidae, bộ cánh khác Heteroptera, là nhóm côn trùng sống bằng máu của động vật có xương sống trong đó có con người Loài này có thể là vector truyền bệnh Chagas- một loại bệnh gây tắc nghẽn mạch máu, làm xơ tim, nhiễm trùng máu, bệnh có nguồn gốc từ khu vực Mĩ La Tinh Vào những năm 70, bệnh Chagas đã nhiễm cho 18 triệu người khu vực Mĩ La Tinh và mỗi năm khoảng 41.000 người chết Bệnh Chagas đã lan ra nhiều nước ở khắp các châu lục, nặng nhất là ở Nhật Bản và Ôxtrâylia
Ở Việt Nam, loài BXHM Triatoma rubrofasciata xuất hiện khắp các
khu dân cư và ở cả một số thành phố lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đã gây ảnh hưởng tới sức khỏe và tâm lí của người dân Hơn nữa, với
xu thế hội nhập và mở cửa nền kinh tế, loại kí sinh trùng gây bệnh Chagas rất
có thể di nhập vào nước ta, khi đó loài BXHM này sẽ trở thành vật trung gian truyền bệnh Chagas, dịch bệnh sẽ khó có thể kiểm soát được
Cho đến nay, các thông tin về BXHM ở Việt Nam còn rất ít ỏi, một số câu hỏi về BXHM còn chưa có câu trả lời thỏa đáng Mặc dù một số loài BXHM đã được ghi nhận và nhắc tới ở Việt Nam nhưng việc định tên loài còn nhầm lẫn Các nghiên cứu về mặt hình thái, đặc biệt là các đặc điểm về sinh học và sinh thái ở các pha phát triển của các loài BXHM còn chưa được tiến hành, chưa được mô tả, minh họa cũng như không có thông tin về vùng phân bố và mẫu vật nghiên cứu Hiện nay, ở Việt Nam mới chỉ ghi nhận 2 loài BXHM nhưng thiếu các dẫn liệu về hình thái, đặc điểm sinh học, sinh thái học và tập tình hút máu của chúng, nhất là các số liệu của loài BXHM
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Triatoma rubrofasciata (De Geer,1773) - loài đang xuất hiện ở nhiều thành
phố lớn của nước ta và được nhiều người dân quan tâm
Từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu hình thái học và một số đặc điểm sinh học, sinh thái học của loài bọ xít hút máu Triatoma rubrofasciata (De Geer, 1773) (Heteroptera: Reduviidae) ở
Hà Nội”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm hình thái từ đó đưa ra đặc điểm nhận dạng loài
BXHM Triatoma rubrofasciata (De Geer,1773) Nghiên cứu một số đặc điểm
sinh học và sinh thái học của loài BXHM này trong phòng thí nghiệm nhằm tạo cơ sở khoa học góp phần phòng trừ chúng, bảo vệ sức khỏe cho người
dân
3 Nội dung nghiên cứu
- Mô tả đặc điểm hình thái ở các pha phát triển của loài BXHM Triatoma rubrofasciata (De Geer,1773)
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của loài BXHM Triatoma rubrofasciata (De Geer,1773)
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái học của loài BXHM Triatoma rubrofasciata (De Geer,1773)
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình nghiên cứu của loài Triatoma rubrofasciata trên thế giới 1.1.1 Tình hình nghiên cứu về phân bố và hình thái của loài T rubrofasciata
Trên thế giới, họ Bọ xít ăn sâu Reduviidae là một trong những họ lớn của bộ cánh khác Heteroptera, tổng bộ Rhynchota, của lớp côn trùng Insecta
Về mặt phân loại, họ Bọ xít ăn sâu được chia thành 32 phân họ, tuy nhiên một
số tác giả khác chỉ chia họ này thành từ 21-28 phân họ (Maldonado, 1990, Randall and James, 1995) [21, 24]
Các loài bọ xít thuộc phân họ Triatominae thuộc họ Reduviidae đã được nhiều tác giả nghiên cứu và công bố như: Dias and Neves (1943) [11], Lucena and Marques (1955) [19], Lucena (1959) [18], Fuentes et al.(1971) [13], Sherlock and Serafim (1974) [25], Braxin and Silva (1983) [5], Carcavallo et al (1997) [8], Galvaxo et al (2003) [15] trong các nghiên cứu các loài bọ xít hút máu thuộc họ Reduviidae đã ghi nhận họ phụ Triatominae
có khoảng 139 loài thuộc 16 giống, trong đó giống Triatoma có 67 loài Các giống ghi nhận gồm Alberprosenia Martisnez & Carcavallo, 1977; Bolbodera Valdes, 1910; Belminus Stal, 1859; Microtriatoma Prosen & Martínez, 1952; Parabelminus Lent, 1943; Cavernicola Barber, 1937; Torrealbaia Carcavallo, Jurberg & Lent, 1998; Psammolestes Bergroth, 1911; Rhodnius Stål, 1859; Dipetalogaster Usinger, 1939; Eratyrus Stål, 1859; Hermanlentia Jurberg & Galvão, 1997; Mepraia Mazza, Gajardo & Jörg, 1940; Panstrongylus Berg, 1879; Paratriatoma Barber, 1938; và Triatoma Laporte, 1832
Cai et al (2001) [7] đã ghi nhận loài bọ xít hút máu Triatoma rubrofasciata
(De Geer, 1773) là loài côn trùng dịch tễ trong danh lục các loài côn trùng có ý nghĩa trong thế kỷ 21 ở Trung Quốc Số lượng loài BXHM phía bắc của Châu Á
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thuộc Khu vực Palaearctic cũng đã ghi nhận 2 loài bọ BXHM thuộc giống
Triatoma của phân họ Triatominae (Bogitsh et al., 2005) [4]
Hầu hết các loài BXHM thuộc phân họ Triatominae (họ Reduviidae)
đều có phân bố rộng ở Châu Mĩ từ Mêxicô đến Ác-hen-tina và Chilê Loài T rubrofasciata (De Geer, 1773) phân bố toàn thế giới trong đó phải kể đến
những nước như Ấn Độ (đảo Andaman, Assam), Ăng-go-la, quần đảo goa, Ác-hen-ti-na, Braxin (Alagoas, Bahia, Ma-ran-hao, Paras, Paraiba, Pernambuco, Rio de Janeiro, RGN, Sao Paulo, Sergipe), Campuchia, Trung Quốc, Comoros, Cu Ba, Đô-mi-ni-ca-na, Guy-a-na, Granada, quần đảo Goa-đê-lốp, Haiti, Hồng Kông, Inđônêxia (Borneo, Java, Sumatra, Papua), Gia-mai-ca, Nhật Bản (Okinawa), Madagasca, Malaixia, Mauritius, Mianma, Philíppin, Nam Phi, Sri-Lanka, Đài Loan, Tanzania, Thái Lan, Vê-nê-zu-ê-la,
An-ti-Việt Nam, Anh (đảo Virgin), Hoa Kì (đảo Carolina, Florida, Hawaiiatoma); T sinica Hsaio, 1965; phân bố ở Trung Quốc (Nam Ninh); loài T cavernicola phân bố ở Malaysia; loài T leopoldi phân bố Ôxtrâylia và Inđônêxia và T pugasi phân bố ở Ôxtrâylia, Nhật Bản và Trung Quốc và 6 loài thuộc giống Linshcosteus phân bố ở Ấn Độ (Lent and Wygodzinsky, 1979) [20]
Loài bọ xít hút máu được mô tả lần đầu tiên là Triatoma rubrofasciata (De Geer, 1773) và làm lây truyền loài ký sinh trùng Trypanosoma lewisi và Trypanosoma conorrhini ở chuột (Emmanuel et al., 1943)[12] Ở ngoài tự nhiên loài bọ xít hút máu Triatoma rubrofasciata là véc tơ truyền ký sinh trùng Trypanosoma cruzi Khi có ký sinh trùng Trypanosoma cruzi hiện hành
đã được phát hiện bởi Dias and Neves (1943), Lucena and Marques (1955), Fuentes et al.(1971), Sherlock and Serafim (1974), Braxin and Silva (1983) và Braxin (1986) [6, 5, 11, 13, 19, 25]
Gần đây tại Braxin, Fundacao Nacional the Saude (FNS) đã phát hiện
T rubrofasciata di chuyển vào các vùng nông thôn cùng với các loài gậm
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nhấm Tập tính thích nghi này có khả năng làm tăng nguồn lây nhiễm kí sinh
trùng T cruzi cho con người, do sự gia tăng của quần thể loài bọ xít T rubrofasciata (Fuentes et al 1971) [14] Đây là loài phân bố rộng và đã được
mô tả hình thái con trưởng thành (Lent and Wygodzinsky, 1979) [20]
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về sinh học của loài Triatoma rubrofasciata
Các dẫn liệu về đặc điểm sinh học của loài bọ xít hút máu thuộc phân họ
Triatominae như: Triatoma infestans, Triatoma dimidiata, Rhodnius prolixus, Triatoma maculata, Panstrongylus megistus và loài Eratyrus mucronatus cũng
đã được nghiên cứu và thu được nhiều kết quả như: cấu trúc trứng, thời gian đẻ trứng của con cái (từ 10-30 ngày sau khi giao phối), tổng số lượng trứng đẻ được cho cả vòng đời (trung bình khoảng 500 quả, nhiều nhất 1000 quả) Cấu trúc hình thái của thiếu trùng các tuổi, thời gian nở của trứng (khoảng 17- 30 ngày), thiếu trùng tuổi 1 sau 48 đến 72 giờ bắt đầu hút máu Vòng đời của một số loài
như Triatoma vitticeps, Triatoma dimidiata, Triatoma arthurneivai, Triatoma eratyrusiformis, Rhodnius prolixus, Panstrongylus megistus, Paratriatoma hirsuta giao động khoảng từ 120 - 300 ngày tùy trong điều kiện nhiệt độ khác
nhau từ 27- 36ºC, ẩm độ 70 - 80%
Loài T rubrofasciata là một loài quan trọng của phân họ Triatominae, một số người dân của Salvador thuộc Braxin đã bị nhiễm T cruzi lây truyền qua T rubrofasciata trong khu vực trung tâm của thành phố trong những năm 1970 Các
nghiên cứu về sinh học của nó vẫn còn ít được nghiên cứu trong điều kiện phòng thí nghiệm (Sherlock, 1979) [25] Một số nghiên cứu đã được tiến hành và thu
được kết quả: Vòng đời của loài Triatoma rubrofasciata đã được nghiên cứu
trong điều kiện phòng thí nghiệm (nhiệt độ 20,5- 33°C và ẩm độ 85% ) và trong tủ nuôi (nhiệt độ: 29 °C,độ ẩm: 80% ) Các nhóm được cho ăn hàng tuần hoặc hai tuần một lần bằng máu của chuột Kết quả cho thấy trong điều kiện (nhiệt độ 20,5- 33°C và ẩm độ 85% ) vòng đời kéo dài từ 315- 677 ngày và trong tủ nuôi (nhiệt
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
độ: 29 °C,độ ẩm: 80% ) vòng đời kéo dài từ 283- 376 ngày tùy thuộc vào khoảng
thời gian cho ăn khác nhau (Vianna et al., 1998) [27] Vòng đời của Triatoma rubrofasciata nuôi trong điều kiện nhiệt độ 20.5- 33°C, ẩm độ 85% ± 5 dao động
từ 83 đến 206 ngày, và trong điều kiện nhiệt độ 29°C, ẩm độ: 80% ± 5% dao động
từ 115 tới 385 ngày (Lucena et al., 1955, 1959) [18, 19] Các dịch tuyến và cơ
quan sinh dục của con đực Triatoma rubrofasciata cũng đã được mô tả và minh
họa chi tiết (Christiane, 2003) [10]
1.1.3 Tình hình nghiên cứu về sinh thái học của loài Triatoma rubrofasciata
Nghiên cứu về các đặc điểm sinh thái học của các loài BXHM thuộc phân
họ Triatominae: Triatoma infestans, Triatoma dimidiata, Rhodnius prolixus, Triatoma maculata, Panstrongylus megistus và loài Eratyrus mucronatus cũng
đã được nghiên cứu và thu được kết quả: Nhiệt độ thích hợp để BXHM phát triển là từ 27- 330C Đa số các loài BXHM đều rất ít khả năng sống sót ở nhiệt
độ trên 400C và dưới 100
C Sinh cảnh sống của phần lớn các loài bọ xít thuộc phân họ Triatominae là gần gia súc, gia cầm, người và động vật có xương sống khác và sử dụng máu làm thức ăn Các vật chủ thường bị bọ xít hút máu là các loài gậm nhấm, các loài gia súc thuộc lớp thú (Mammalia), một số loài thuộc lớp chim (Aves), một số loài thuộc lớp lưỡng cư (Amphibia), một số loài thuộc lớp bò sát (Reptilia) và con người Sự phát triển của trứng, tập tính hút
máu của thiếu trùng cũng như tỷ lệ chết của loài BXHM Lishcostens kali, Triatoma rubrofasciata và T mazzoottii cũng đã được nghiên cứu (Pellegrino,
1952; Lucena, 1959; Zeledon et al 1970; Lent & Wygodzinsky, 1979; Silva, 1985; Goncalves et al.,1989; Costa et.al., 1989 và Ambrose ,1999) [3, 9, 16, 18,20, 22, 26, 28]
Bên cạnh đó, các thử nghiệm về tính chống chịu và khả năng thiếu thức
ăn trong điều kiện nhiệt độ trung bình 29 ± 1°C và ẩm độ 70% với 300 thiếu
trùng các tuổi của loài Triatoma rubrofasciata đã được tiến hành [10]
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Nhìn chung, trên thế giới thì các loài bọ xít hút máu thuộc phân họ Triatominae rất được quan tâm nghiên cứu Cho đến nay số lượng loài đã được nghi nhận là 139 loài trong đó 111 loài đã mô tả hình thái và xác định vùng phân
bố Nhiều loài và véctơ truyền bệnh nguy hiểm cho người và gia súc đã được nghiên cứu sinh học, sinh thái học cũng như cơ chế truyền bệnh đặc biệt là các
loài như Triatoma infestans, Triatoma dimidiata, Triatoma vitticeps, Triatoma arthurneivai, Triatoma eratyrusiformis, Triatoma rubrofasciata, Rhodnius prolixus, Panstrongylus megistus và Paratriatoma hirsuta Các kết quả phân loại
học bằng phương pháp sinh học phân tử cũng đã được thực hiện và cây phát sinh chủng loại cho 4 giống thuộc phân họ Triatominae cũng được xây dựng
1.2 Tình hình nghiên cứu BXHM Triatoma rubrofasciata ở Việt Nam
Ở Việt Nam, cho đến nay chưa quan tâm nghiên cứu chuyên sâu về các loài BXHM thuộc phân họ Triatominae Tuy nhiên, một số tác giả trong và ngoài nước đã ghi nhận sự có mặt của chúng ở Việt Nam như: Lent and
Wygodzinsky (1979) [20] đã ghi nhận các loài Triatoma rubrofasciata, T migrans có phân bố ở Việt Nam và đã mô tả chi tiết loài T rubrofasciata Hsiao and Ren (1981) [17] đã ghi nhận và mô tả loài T rubrofasciata (De
geer, 1773) có vùng phân bố ở Trung quốc và Việt Nam Tạ Huy Thịnh và cs
(2002) [2] cũng ghi nhận loài T rubrofasciata có ở Vĩnh Phúc Trương Xuân Lam (2004) [1] đã xây dựng khóa định loại các loài thuộc giống Triatoma đã biết ở
Việt Nam và mô tả hình thái của loài T bouvieri Larrousse, 1924
Cho đến nay, 2 loài thuộc giống Triatoma đã được ghi nhận và mô tả
tóm tắt hình thái con trưởng thành Tuy vậy, các nghiên cứu về các pha phát triển đặc biệt là pha trứng, thiếu trùng và sự ghi nhận trong các khu dân cư ở thành phố, cũng như các nghiên cứu về sinh học, sinh thái học và tập tính hút
máu của chúng còn bị bỏ ngỏ và chưa được quan tâm nghiên cứu
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm điều tra: Nghiên cứu được tiến hành ở một số điểm tại thành phố Hà Nội như: Điều tra tại xóm 3, Cổ Nhuế (huyện Từ Liêm) và Sài Đồng (quận Long Biên) Điều tra tại Quan Nhân, Trần Quốc Hoàn, Hoàng Quốc Việt (Cầu Giấy), Láng Hạ, Khâm Thiên (Đống Đa), Minh Khai, Nguyễn Công Trứ (Hai Bà Trưng) và Định Công, Tam Trinh (Hoàng Mai) Điều tra tại Thụy Khuê, Lạc Long Quân (Tây Hồ) và Hà Đông, Mỗ Lao, Văn Quán (Thanh Xuân)
- Nghiên cứu sinh học tại phòng Côn trùng học thực nghiệm, Viện Sinh thái và Tài Nguyên sinh vật Hà Nội
- Thời gian nghiên cứu: năm 2012
2.2 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là BXHM Triatoma rubrofasciata (De Geer, 1773)
- Vật liệu nghiên cứu: Vật chủ là gà, tủ nuôi, đĩa petri, hộp nhựa nuôi, môi trường nuôi, hộp cho bọ xít ăn, lọ đựng mẫu, hóa chất (cồn, glycerin )
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Điều tra, thu thập mẫu BXHM (Carcavallo et al.,1997, Lent and Wygodzinsky , 1979 ) [8,20]
Tại các địa điểm điều tra xác định 1 hoặc 2 xã/quận (huyện) đại diện cho điểm nghiên cứu Tùy theo từng mục tiêu nghiên cứu mà tiến hành điều tra ngẫu nhiên theo các cụm dân cư hoặc theo tuyến (tuyến điều tra có thể là theo tuyến phố, xóm của khu dân cư ở nông thôn hay thành thị) Đơn vị điều tra có thể là hộ gia đình, ổ, hang, chuồng gia súc, gia cầm, có gắn liền với vật chủ có khả năng liên quan đến sự hiện diện của các loài BXHM Ở trong nhà, tập trung điều tra ở các vật dụng gần người (gường, tủ, kệ bàn ), các ổ nuôi gia súc trong nhà (chó, mèo hoặc các ổ chuột ), ở ngoài nhà, tập trung các khu
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
vực gần chuồng nuôi gia súc, gia cầm, các khe gỗ, đống gỗ có chuột thường trú ngụ và làm tổ Điều tra tuân thủ theo nguyên tắc là điểm điều tra lần sau không được trùng với điểm lần trước
Tại các nơi BXHM sinh sống tiến hành quan sát, điều tra và liệt kê các vật dụng mà bọ xít trú ngụ, thu bắt và đếm số lượng cá thể và trứng của bọ xít, điều tra khả năng ổ bọ xít sinh sống có sự liên thông với nơi ở của chuột hoặc có đường thông với nơi sống của chuột, xác định vị trí có ổ bọ xít hút máu, cấu trúc tuổi của các pha trong ổ để phục vụ cho việc nghiên cứu về sinh thái học Việc thu bắt bọ xít hút máu theo phương pháp thu mẫu của Lent and Wygodzinsky, 1979 ) [20] như: Thu mẫu bằng tay (có găng tay bảo vệ), ống hút côn trùng để thu bắt trứng và thiếu trùng tuổi 1 Kết hợp thu thập các thông tin, quan sát và chụp ảnh các sinh cảnh sống của các loài BXHM, điều kiện môi trường sống và sự có mặt của vật chủ bị đốt (nếu có) để tìm hiểu về vật chủ của chúng ở ngoài tự nhiên
Cùng với việc điều tra thu mẫu ngẫu nhiên, tiến hành cung cấp thông tin nhận dạng về hình thái của BXHM và đến các nơi mà người dân bắt được chúng để điều tra tại chỗ cũng như xung quanh khu vực có bọ xít Tiến hành trực tiếp thu các mẫu BXHM do người dân bắt và ghi chép tất cả các số liệu
về vị trí của nơi có BXHM, nơi bắt được, tình trạng vết thương do chúng gây lên, thời gian bắt được, thời gian bị bọ xít tấn công Điều tra người dân đã nhìn thấy hoặc phát hiện nơi có BXHM, ghi chép vị trí có ổ của BXHM và các địa điểm ghi ngờ có tồn tại ổBXHM hoặc nơi phát tán của BXHM
2.3.2 Xử lý và bảo quản mẫu (Carcavallo et al.,1997) [8]
Mẫu vật thu được, một phần được xử lý qua và bảo quản trong cồn, một phần được giữ sống trong các lọ nuôi kín ánh sáng (đường kính 15 cm và cao
20 cm) Mẫu vật được vận chuyển ngay về phòng thí nghiệm Các mẫu ngâm cồn thu thập ngoài thực địa một phần sẽ được bảo quản trong các đệm bông, một phần tách ra đựng trong lọ nhỏ có chứa cồn Mẫu vật sống được nuôi tiếp
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
tục trong các lọ nuôi bằng thức ăn là máu gà Quá trình xử lý và bảo quản mẫu phải tuân thủ nghiêm ngặt và quản lý từng cá thể sống trong phòng thí nghiệm tránh nguy cơ mẫu có thể bị phát tán hoặc bò mất trong khi bảo quản
để làm các thí nghiệm về sinh học và sinh thái học
2.3.3 Làm tiêu bản
Sau mỗi đợt thu mẫu, tiến hành xử lý và phân loại sơ bộ mẫu Mẫu được định vị bằng kim côn trùng hoặc ngâm cồn, mỗi cá thể mẫu ngắn với êteket ghi nhận các thông tin về mẫu Mẫu định vị bằng kim côn trùng được sấy khô trong vòng 24- 48 giờ ở nhiệt độ 50oC, xử lý sạch và bảo quản trong các hộp gỗ đựng mẫu
2.3.4 Nghiên cứu hình thái học (Lent and Wygodzinsky, 1979; Maldonado,
1990 ) [20, 21]
Phân loại học truyền thống bằng hình thái của các loài BXHM thuộc phân
họ Triatominae đã không ngừng thay đổi cho đến tận ngày nay Các tài liệu chuyên sâu sẽ được sử dụng để tham khảo trong khi phân loại dựa theo các tài liệu của Distant (1904), Hsiao (1981), Maldonado and Capriles (1990), Lent and Wygodzinsky (1979), Cai Wanzhi (2004) Các loài mô tả sẽ được kiểm định bởi các chuyên gia Cai Wanzhi (Trung Quốc), Dimitri Forero (USA), David Redei (Hunggari)
Cơ sở để phân loại là dựa trên các đặc điểm về hình thái của các phần đầu (antenna, anteocular, ocelli, eyes, rostrum), phần ngực (anterior pronotum lobe, posterior of pronotum lobe, legs ), scutellum, bụng (Abdomen), cánh (wing), các gai trên cơ thể và đặc biệt là cấu tạo của cơ quan sinh dục (pygophore, right clasper, phallus, phallobase, phallosoma) để xác định tới loài Tiến hành phân tích hình thái lượng (morphometrics) hay còn gọi là số
đo kích thước, số đo kích thước cần đủ về số lượng (> 10 cá thể) và cần có
đủ cả đực và cái Việc phân tích hình thái và hình thái lượng được tiến hành với kính lúp Olympus SZX7 Tuy nhiên, để quan sát và đánh giá một số đặc
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
điểm hình thái quan trọng trong phân loại thì cần có sự trợ giúp của kính hiển vi điện tử (SEM) cho phép quan sát chi tiết và chụp ảnh một số cấu trúc hiển vi rất quan trọng cho phân loại như: cấu trúc vùng ngực, đốt ống chân trước và đỉnh đầu, cấu trúc lông và vùng bụng bên, gai giao cấu và bộ phận sinh dục đực
2.3.5 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học (Ambrose,1999) [3]
Các mẫu sống của các loài bọ xít hút máu thu được kể cả trứng được bảo quản trong các lọ nuôi kín ánh sáng (đường kính từ 10- 20 cm và cao từ 20-
30 cm) hoặc trong các ống nuôi có đường kính 10- 20mm và điều kiện nhân nuôi phải đảm bảo an toàn vệ sinh
Chuẩn bị vật liệu thực nghiệm: đối tượng thực nghiệm là loài bọ xít hút
máu Triatoma rubrofasciata và vật chủ của chúng gà; tủ kính nuôi, đĩa Petri,
hộp nhựa nuôi, hộp ghép đôi, môi trường nuôi, hộp cho BXHM ăn và ống cho ăn…
Nghiên cứu đặc điểm hình thái của các pha phát triển: tiến hành bảo quản mẫu nuôi trong glycerin hoặc cồn 90% ở tất cả các pha trứng, thiếu trùng tuổi 1-5, xác lột, trường thành Đo đếm kích thước trứng, các pha phát dục (đơn vị
đo là mm), mô tả, chụp ảnh và vẽ hình bằng kính lúp Olympus SZX7
Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của bọ xít hút máu theo phương pháp nuôi cá thể bằng thức ăn là máu của gà trong điều kiện phòng thí nghiệm
và trong tủ nuôi ở các điều kiện nhiệt độ, ẩm độ khác nhau Số lượng cá thể theo dõi là từ 25 cá thể trở lên Các cá thể được nuôi trong các hộp nuôi tối từ thiếu trùng tuổi 1 cho đến thiếu trùng tuổi 5 và trưởng thành Sau khi thu được trứng từ cá thể cái, theo dõi trứng nở và tiến hành tách thiếu trùng tuổi 1 (mỗi
cá thể/1 hộp) và sau 48 giờ thì bắt đầu cho ăn máu bằng cách sử dụng ống ăn (đường kính 10mm) được gắn vào cơ thể vật chủ hoặc cho hút máu trức tiếp từ vật chủ đã được cố định Thời gian cho ăn khoảng từ 1-2 giờ, tùy theo các pha khác nhau tiến hành cho bọ xít hút máu vật chủ từ 7- 15 lần trong quá trình
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nuôi thiếu trùng và từ 1- 3 lần trong quá trình nuôi trưởng thành Các thiếu trùng tuổi 2- 5 cũng được nuôi tách rời nhau và cho ăn như thiếu trùng tuổi 1 bằng phương pháp cho ăn máu trực tiếp từ vật chủ cố định hoặc cho ăn qua ống
ăn gắn với vật chủ không cố định Hàng ngày theo dõi bọ xít hút máu, thay hộp nuôi, theo dõi thời gian lột xác của thiếu trùng, thu xác đã lột, nhiệt độ và ẩm
độ ở trong phòng được ghi lại bằng máy ghi tự động RH 250 Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm: thời gian phát dục của trứng, thiếu trùng từ tuổi 1 đến tuổi 5 (ngày), tỷ lệ trứng nở %, tỷ lệ chết %, tỷ lệ cá thể hút máu (%), tỷ lệ lột xác (%), tỷ lệ giới tính (đực/cái) và số lần lột xác (lần)
Thiếu trùng tuổi 5 sau khi lột xác chuyển thành trưởng thành, tiến hành xác định đực cái qua kính lúp và ghép đôi (1 đực + 1 cái) hoặc ( 1 đực + 2 cái) trong hộp ghép đôi (đường kính từ 20 cm và cao 30 cm) và thường xuyên cho
ăn máu Theo dõi thời gian cá thể cái đẻ ổ trứng đầu tiên cho đến khi cá thể cái chết vì sinh lý Hàng ngày ghi chép tập tính và thời gian bọ xít hút máu giao phối, thời gian đẻ, số lần đẻ và cách thức đẻ của con cái Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm thời gian tiền phát dục (ngày), số lượng trứng đẻ (quả), thời gian đẻ (ngày), thời gian sống của con cái, đực trưởng thành (ngày)
2.3.6 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái học của loài BXHM (Ambrose, 1999) [3]
Tiến hành thử nghiệm ảnh hưởng của số lượng nuôi đến khả năng sống sót khi không được hút máu của thiếu trùng tuổi 1 (mới nở từ trứng) Thí nghiệm được tiến hành với các công thức nuôi cá thể và tập thể trong các lọ nuôi kín ánh sáng (đường kính 10 cm, cao 15 cm) bao gồm công thức nuôi 1 cá thể/ lọ, 5 cá thể/ lọ, 10 cá thể/ lọ và 15 cá thể/ 1 lọ Nghiên cứu ảnh hưởng của
số lần hút máu đến thời gian phát dục thiếu trùng các tuổi của loài bọ xít hút
máu T rufrofasciata được tiến hành trong các công thức thử nghiệm gồm:
Công thức 1 (CT 1) là công thức không cho hút máu của vật chủ Công thức 2 (CT2) là công thức được cho hút máu gà 1 lần sau 2- 3 ngày lột xác và công
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thức 3 (CT 3) là công thức cho hút máu gà 2 lần (lần 1 sau 2- 3 ngày lột xác và lần 2 sau lần hút máu thứ nhất 7 ngày) So sánh sự sai khác giữa các công thức qua phân tích Anova (P<0.05)
2.3.7 Xử lý số liệu và công thức tính toán
Các số liệu thử nghiệm với các chỉ tiêu theo dõi: kích thước hình thái của các pha phát triển (mm), kích thước phần bụng ở từng pha trước và sau khi hút được máu (mm), thời gian phát dục của trứng (ngày), của thiếu trùng
từ tuổi 1 đến tuổi 5 (ngày), tỷ lệ trứng nở (%), tỷ lệ chết (%), tỷ lệ cá thể hút máu (%), tỷ lệ lột xác thành trưởng thành (%), tỷ lệ giới tính (đực/cái), số lần lột xác (lần), thời gian sống của trưởng thành (ngày) được xử lý, phân tích
và tính toán với mức xác suất (P<0.05) theo Poelou (1977) [23] Các chỉ tiêu
so sánh thực nghiệm được so sánh sự sai khác giữa các công thức qua phân tích Anova (P<0.05) và được hỗ trợ bởi phần mềm SPSS sản xuất năm 2008
Thời gian phát dục trung bình của trứng:
Xetb(ngày) = Xe ±
Trong đó: Xe = Xe: Thời gian phát dục của trứng (ngày)
Xetb: Thời gian phát dục trung bình của trứng (ngày)
Xi: Thời gian phát dục của trứng theo dõi ngày thứ i
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trong đó X1 =
X1: Thời gian phát dục của thiếu trùng (ngày)
Xltb: Thời gian phát dục trung bình của thiếu trùng (ngày)
ti: Số lượng thiếu trùng phát dục ngày thứ i
n: Tổng số thiếu trùng theo dõi
Sx: Độ lệch chuẩn
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Nghiên cứu hình thái học của các pha phát triển loài bọ xít hút máu
Triatoma rubrofasciata
3.1.1 Đặc điểm hình thái của pha trứng
Trứng của loài BXHM T rubrofasciata mới đẻ có màu vàng nhạt (hình
1a), hình bầu dục, một đầu của trứng có nắp đậy giống như nắp ấm Trứng có
bề mặt nhẵn, không có chất dính bám, trên bề mặt của trứng có các vân xếp hình lục giác đều, các hình lục giác này xếp kế tiếp nhau liên tục tạo thành hình mạng lưới Trứng của loài BXHM này trước khi nở ra thiếu trùng chúng qua giai đoạn chuyển màu từ vàng nhạt sang màu hồng nhạt và màu hồng thẫm (hình 1b) Khi thiếu trùng được nở, vỏ trứng còn lại có màu trắng (hình 1c)
(a) Trứng của BXHM T rubrofasciata mới đẻ
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
(b) Trứng của BXHM T rubrofasciatachuyển màu
(c) Vỏ trứng của BXHM T rubrofasciata Hình 1 Đặc điểm hình thái của BXHM T rubrofasciata
(Nguồn: Phòng Côn trùng học thực nghiệm)
Nghiên cứu kích thước của trứng được trình bày trong bảng 1 cho thấy kích thước của trứng thu ở ngoài tự nhiên không sai khác với kích thước của trứng đẻ trong phòng cả chiều dài lẫn chiều rộng qua cả 3 lần đo Biên độ dao động của chiều dài là từ 1-2 mm ( trung bình 1,68-1,69 mm), biên độ dao động của chiều rộng là 0-1 mm ( trung bình 0,89 mm)
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Bảng 1 Kích thước của trứng loài BXHM T rubrofasciata
bề mặt đẻ trứng Tuy nhiên, loài BXHM T rubrofasciata có phương thức đẻ
trứng rời rạc không có chất bám dính, chính vì vậy trứng của bọ xít hút máu
có thể lăn tròn và nằm ở bất ký vị trí nào trong môi trường BXHM đẻ trứng
Trong quá trình đẻ trứng, con cái BXHM T rubrofasciata vừa đẻ vừa di
chuyển nên trứng được rải trong phạm vi rộng Sau mỗi lần đẻ, trứng có thể
có mặt ở nhiều nơi khác nhau tạo khả năng tìm kiếm thức ăn của thiếu trùng sau khi nở Bọ xít hút máu không đẻ liên tục mà đẻ ngắt quãng thành rất nhiều lần khác nhau trong suốt thời kỳ sinh sản, thời gian đẻ trứng có thể kéo dài trong nhiều ngày trong tuần Tập tính đẻ trứng khác biệt với các loài bọ xít ăn sâu trên cánh đồng đã làm tăng tỷ lệ bắt gặp và tiếp xúc với vật chủ để hút máu
và duy trì sự sống sót của thiếu trùng sau khi nở cũng như sự tồn tại của loài trong tự nhiên
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3.1.2 Đặc điểm hình thái của các tuổi thiếu trùng
Thiếu trùng tuổi 1 ( hình 2a, b): Thiếu trùng tuổi 1 cơ thể có màu đỏ nhạt
ở phần bụng và một phần mặt lưng ở đốt thứ 3 của ngực, từ đốt ngực thứ hai trở lên phía đầu có màu hung đỏ Đầu thuôn, màu nâu đỏ, đỉnh đầu kéo dài vượt qua mắt có nhiều lông cứng Đầu mang 1 đôi râu đầu, 1 đôi mắt kép, không có mắt đơn Kích thước phần trước mắt dài hơn so với phần sau mắt Râu gồm 4 đốt: Đốt 1: Màu vàng nâu, nhiều u sần, ngắn Chiều dài đốt 2,3 và
4 giảm dần Đốt 4 chia thành 2 phần khác biệt, 1/3 chiều dài đốt 4 (đoạn tiếp nối với đốt 3) có màu nâu đậm, phần còn lại ( 2/3 đốt 4) có màu trắng trong Các đốt râu có hình trụ, bên ngoài được bao phủ bởi các lông cảm giác Mắt kép rộng, nhô ra ở hai bên hộp sọ Vòi có 3 đốt với kích thước khác nhau, đốt
3 ngắn Phần ngực của thiếu trùng tuổi 1 có màu nâu đỏ, gồm 3 đốt: đốt trước ngực, đốt ngực giữa, đốt ngực sau Mỗi đốt đều có một đôi chân mang tên tương ứng (đôi chân ngực trước, đôi chân ngực giữa và đôi chân ngực sau) Nhìn từ mặt lưng thì phần ngực của thiếu trùng tuổi 1 được phân chia rõ ràng bởi một rãnh nhỏ thành 2 phần (tấm lưng ngực trên và tấm lưng ngực dưới) Tấm lưng ngực trên dài hơn tấm lưng ngực dưới Phía trước tấm lưng ngực trên có 2 gai dài nhô cao Trên các tấm lưng ngực này có rất ít hoa văn và được phủ kín bởi các lông cứng Ở thiếu trùng tuổi 1, mầm cánh chưa hình thành Mỗi đốt ngực mang 2 đôi chân với cấu tạo của mỗi chân gồm 5 đốt Bụng của thiếu trùng tuổi 1 có màu hồng nhạt, gồm 9 đốt, đốt bụng 1 bị phần ngực che khuất một phần Các đốt bụng co lại, rìa bụng của mỗi đốt có 1 khoảng đậm màu đen Rìa bụng có các chấm sáng, diện tích chấm sáng tăng dần từ đốt 1 đến đốt 3, đốt 4, sau đó giảm dần Cơ quan sinh dục có lông Khi chưa được hút máu thì bụng chúng xép xuống (hình 4), khi hút no máu bụng của chúng căng lên, hầu như toàn khoang bụng chứa máu, bụng của cá thể hút máu no thường dãn ra hết cỡ, căng và mọng, khi lột xác chuyển tuổi có một
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
đường dọc mặt lưng từ gần đốt bụng cuối cùng đến gần đỉnh đầu (hình 5) Thiếu trùng mới lột xác cơ thể yếu, có màu vàng nhạt, xác lột có màu nâu nhạt, nhẹ Thiếu trùng tuổi 1 có chiều dài trung bình 2,24 ± 0,04mm (biên độ 1,9-2.8mm), chiều rộng trung bình là 0,86 ± 0.02 mm (biên độ 0,7-1.45mm)(bảng 2)
(a) Thiếu trùng tuổi 1 chƣa hút máu
(b) Thiếu trùng tuổi 1 hút no máu và xác lột
Hình 2 Thiếu trùng tuổi 1 của BXHM T rubrofasciata
(Nguồn: Phòng Côn trùng học thực nghiệm)
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Thiếu trùng tuổi 2 (hình 3a, b): Cơ thể cũng có màu đỏ nhạt ở phần bụng
và một phần mặt lưng ở đốt thứ 3 của ngực, 2 đốt ngực trở nên phía đầu có màu hung đỏ Đầu thuôn, màu vàng nâu đỉnh đầu kéo dài vượt qua mắt có nhiều lông cứng Đầu mang 1 đôi râu đầu, 1 đôi mắt kép, không có mắt đơn Kích thước phần trước mắt dài hơn so với phần sau mắt Râu gồm 4 đốt Đốt
1 có màu vàng nâu, nhiều u sần, ngắn Chiều dài đốt 2,3 và 4 giảm dần Đốt 4 chia thành 2 phần khác biệt, 1/3 chiều dài đốt 4 (đoạn tiếp nối với đốt 3) có màu nâu đậm, phần còn lại ( 2/3 đốt 4) có màu trắng trong Các đốt râu có hình trụ, bên ngoài được bao phủ bởi các lông cảm giác Mắt kép rộng, nhô ra
ở hai bên hộp sọ Vòi có đốt 3 ngắn và nhọn Phần ngực của thiếu trùng tuổi
2 gồm 3 đốt: đốt trước ngực, đốt ngực giữa, đốt ngực sau Mỗi đốt đều có một đôi chân mang tên tương ứng (đôi chân ngực trước, đôi chân ngực giữa và đôi chân ngực sau) Nhìn từ mặt lưng thì phần ngực của thiếu trùng tuổi 2 được phân chia rõ ràng bởi một rãnh nhỏ thành 2 phần Tấm lưng ngực trên dài hơn tấm lưng ngực dưới Phía trước tấm lưng ngực trên có 2 gai dài nhô cao Trên các tấm lưng ngực này có rất nhiều hoa văn và được phủ kín bởi các lông cứng Ở thiếu trùng tuổi 2, mầm cánh vẫn chưa hình thành Mỗi đốt ngực mang 2 đôi chân với cấu tạo của mỗi chân gồm 5 đốt Bụng của thiếu trùng tuổi 2 có màu vàng nhạt, gồm 9 đốt, đốt bụng 1 bị phần ngực che khuất một phần Rìa bụng dưới của mỗi đốt có 1 khoảng đậm màu đen Bụng có 1 khoảng đen rộng kéo dài từ giữa đốt 3 tới hết đốt bụng cuối cùng Rìa bụng trên có các chấm sáng, diện tích chấm sáng tăng dần từ đốt 1 đến đốt 3, đốt 4, sau đó giảm dần Khi chưa được hút máu thì bụng chúng xép xuống (hình 3a), nhìn từ phía mặt bụng trông rất rõ nội tạng màu đen bên trong.Khi hút no (hình 3b), bụng của chúng căng lên, hầu như toàn khoang bụng chứa máu, bụng tiếp xúc dãn ra hết cỡ, căng và mọng Khi lột xác chúng nứt một đường dọc mặt lưng từ gần đốt bụng cuối cùng đến gần đỉnh đầu Thiếu trùng mới lột xác cơ thể yếu, có màu vàng nhạt toàn thân và nhìn rất rõ nội tạng phía mặt bụng Xác lột
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
có dạng hình thù gần như ban đầu, vỏ xác có màu nâu nhạt So sánh với thiếu trùng tuổi 1 thì ở tuổi 2 chưa có dấu hiệu sai khác đáng kể về hình dạng bọ xít ngoài kích thước của chúng Kích thước của thiếu trùng tuổi 2 có chiều dài trung bình 4,31 ± 0,10 mm (biên độ 3,2 – 5,6mm), chiều rộng trung bình là 1,72 ± 0,06mm (biên độ 0,9 – 2,7mm) (bảng 2)
(a) Thiếu trùng tuổi 2 chƣa hút máu
(b) Thiếu trùng tuổi 2 hút no máu và xác lột
Hình 3 Thiếu trùng tuổi 2 của BXHM T rubrofasciata
(Nguồn: Phòng Côn trùng học thực nghiệm)
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Thiếu trùng tuổi 3 (hình 4a, b): Cơ thể có màu nâu ở hầu như toàn cơ
thể, riêng chỉ có phần những tấm lưng ngực có màu nâu đen Còn lại về hình thái không có gì thay đổi nhiều so với thiếu trùng tuổi 1 và 2 Đầu thuôn dài, hẹp, màu vàng nâu đỉnh đầu kéo dài vượt qua mắt Đầu mang 1 đôi râu đầu, 1 đôi mắt kép, không có mắt đơn Kích thước phần trước mắt dài hơn so với phần sau mắt Râu gồm 4 đốt, đốt 1 có màu vàng nâu, nhiều u sần, ngắn Chiều dài đốt 2,3 và 4 giảm dần Đốt 4 chia thành 2 phần khác biệt, 1/3 chiều dài đốt 4 (đoạn tiếp nối với đốt 3) có màu nâu đậm, phần còn lại ( 2/3 đốt 4) có màu trắng trong Các đốt râu có hình trụ, bên ngoài được bao phủ bởi các lông cảm giác Mắt kép rộng, nhô ra ở hai bên hộp sọ Vòi có đốt 3 ngắn và nhọn Phần ngực của thiếu trùng tuổi 3 được phân chia rõ ràng bởi một rãnh nhỏ thành 2 phần Phía trước tấm lưng ngực trên có 2 gai dài nhô cao Trên các tấm lưng ngực này có rất nhiều hoa văn và được phủ kín bởi các lông cứng Thiếu trùng tuổi 3 thì mầm cánh bắt đầu hình thành Bụng của thiếu trùng tuổi 3 có màu vàng nhạt, gồm 9 đốt, đốt bụng 1 bị phần ngực che khuất một phần Rìa bụng dưới của mỗi đốt có 1 khoảng đậm màu đen Bụng có 1 khoảng đen rộng kéo dài từ giữa đốt 3 tới hết đốt bụng cuối cùng Rìa bụng trên có các chấm sáng, diện tích chấm sáng tăng dần từ đốt 1 đến đốt 3, đốt 4, sau đó giảm dần Cơ quan sinh dục có nhiều lông xung quanh Xác lột có dạng hình thù gần như ban đầu, vỏ xác có màu nâu nhạt (hình 4b) Tuy nhiên hình thức lột xác có phần hơi khác một chút so với thiếu trùng tuổi 1 và 2 là vết nứt chỉ chủ yếu ở tấm lưng ngực và kéo dài một ít xuống đốt bụng thứ 4 và 5 Kích thước của thiếu trùng tuổi 3 có chiều dài trung bình là 6,10 ± 0,13mm ( biên độ 4,5 –7,5mm), chiều rộng trung bình là 2,44 ± 0,08mm (biên độ 1,6 – 3,7mm) Như vậy, kích thước của thiếu trùng tuổi 3 lớn hơn so với thiếu trùng tuổi 1 và tuổi 2 (bảng 2)
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
(a) Thiếu trùng tuổi 3 chƣa hút máu
(b) Thiếu trùng tuổi 3 hút no máu và xác lột
Hình 4 Thiếu trùng tuổi 3 của BXHM T rubrofasciata
(Nguồn: Phòng Côn trùng học thực nghiệm)
Thiếu trùng tuổi 4 (hình 5a, b): Cơ thể có màu đen nâu hoặc sẫm,
mầm cánh đã xuất hiện Đầu thuôn dài, hẹp, màu vàng nâu đỉnh đầu kéo dài vượt qua mắt Đầu mang 1 đôi râu đầu, 1 đôi mắt kép, không có mắt đơn Kích thước phần trước mắt dài hơn so với phần sau mắt Râu gồm 4 đốt với đốt 1 màu vàng nâu, nhiều u sần, ngắn Chiều dài đốt 2,3 và 4 giảm dần Đốt
4 chia thành 2 phần khác biệt, 1/3 chiều dài đốt 4 (đoạn tiếp nối với đốt 3) có
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
màu nâu đậm, phần còn lại ( 2/3 đốt 4) có màu trắng trong Các đốt râu có hình trụ, bên ngoài được bao phủ bởi các lông cảm giác Mắt kép rộng, nhô ra
ở hai bên hộp sọ Vòi có 3 đốt với kích thước khác nhau, đốt 3 ngắn và nhọn Phần ngực của thiếu trùng tuổi 4 được phân chia rõ ràng bởi một rãnh nhỏ thành 2 phần Tấm lưng ngực trên dài hơn tấm lưng ngực dưới Phía trước tấm lưng ngực trên có 2 gai dài nhô cao Trên các tấm lưng ngực này có rất nhiều hoa văn và được phủ kín bởi các lông cứng Thiếu trùng tuổi 4 thì mầm cánh hình thành nhưng chưa phủ kín hết tấm lưng ngực sau Bụng của thiếu trùng tuổi 4 gồm 9 đốt, đốt bụng 1 bị phần ngực che khuất một phần Rìa bụng dưới của mỗi đốt có 1 khoảng đậm màu đen Bụng có 1 khoảng đen rộng kéo dài từ giữa đốt 3 tới hết đốt bụng cuối cùng Rìa bụng trên có các chấm sáng, diện tích chấm sáng tăng dần từ đốt 1 đến đốt 3, đốt 4, sau đó giảm dần.Cơ quan sinh dục có nhiều lông Kích thước của thiếu trùng tuổi 4
có chiều dài trung bình là 9,48 ± 0,13mm ( biên độ 8,0 – 10,67mm), chiều rộng trung bình là 3,71 ± 0,11 mm(biên độ 2,56 – 4,60mm) (bảng 2)
(a) Thiếu trùng tuổi 4 chƣa hút máu và hút máu no
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
(b) Thiếu trùng tuổi 4 chuẩn bị chuyển tuổi và xác lột
Hình 5 Thiếu trùng tuổi 4 của BXHM T rubrofasciata
(Nguồn: Phòng Côn trùng học thực nghiệm)
Thiếu trùng tuổi 5 (hình 6a, b): Có màu đen, khác hẳn so với các
thiếu trùng tuổi 1, 2, 3, 4 mầm cánh cũng dài hơn và lộ rất rõ Viền mầm cánh kéo dài cùng với tấm lưng ngực tạo thành hình chữ V Đầu thuôn dài, hẹp, màu vàng nâu đỉnh đầu kéo dài vượt qua mắt Đầu mang 1 đôi râu đầu, 1 đôi mắt kép, không có mắt đơn Kích thước phần trước mắt dài hơn so với phần sau mắt Râu gồm có đốt 1 màu vàng nâu, chiều dài đốt 2,3 và 4 giảm dần Đốt 4 chia thành 2 phần khác biệt, đoạn tiếp nối với đốt 3 có màu nâu đậm, phần còn lại ( 2/3 đốt 4) có màu trắng trong Các đốt râu có hình trụ, bên ngoài được bao phủ bởi các lông cảm giác Mắt kép rộng, nhô ra ở hai bên hộp sọ Vòi có 3 đốt với kích thước khác nhau, đốt 3 ngắn và nhọn Phía trước tấm lưng ngực trên có 2 gai dài nhô cao Trên các tấm lưng ngực này có rất nhiều hoa văn và được phủ kín bởi các lông cứng Thiếu trùng tuổi 5 thì mầm cánh đã hình thành kéo dài đến đốt bụng 2 Bụng của thiếu trùng tuổi 5 gồm 9 đốt, đốt bụng 1 bị phần ngực che khuất một phần Rìa bụng dưới của mỗi đốt
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
có 1 khoảng đậm màu đen Bụng có 1 khoảng đen rộng kéo dài từ giữa đốt 3 tới hết đốt bụng cuối cùng Rìa bụng trên có các chấm sáng, diện tích chấm sáng tăng dần từ đốt 1 đến đốt 3, đốt 4, sau đó giảm dần Cơ quan sinh dục có nhiều lông xung quanh Xác lột có dạng hình thù gần như ban đầu, vỏ xác có màu nâu nhạt, nhẹ Xác lột lúc này chủ yếu vết nứt ở đốt ngực và đốt bụng thứ 4 Kích thước của thiếu trùng tuổi 5 có chiều dài trung bình 14,06 ± 0,18mm, chiều rộng trung bình 6,21 ± 0,12 mm (bảng 2) Thiếu trùng tuổi 5 trước trưởng thành cơ thể có màu đen, mầm cánh dài gấp đôi so với thiếu trùng tuổi 4 Di chuyển nhanh nhẹn hơn Ở giai đoạn này, khi hút no máu chúng ta cũng không thể nhìn rõ máu màu đỏ như các thiếu trùng tuổi 1, 2, 3,
4 Xác lột thường co dúm lại, điều này khác hẳn so với các pha thiếu trùng trên, vỏ xác có màu đen Ở giai đoạn thiếu trùng tuổi 5 trước trưởng thành chiều dài trung bình là 15,20 0.05mm, chiều rộng trung bình là 6,52 0.02mm (bảng 2)
(a) Thiếu trùng tuổi 5 chƣa hút máu
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
(b) Thiếu trùng tuổi 5 hút no máu và xác lột
Hình 6 Thiếu trùng tuổi 5 của BXHM T rubofasciata
(Nguồn: Phòng Côn trùng học thực nghiệm)
Bảng 2 Kích thước của thiếu trùng bọ xít hút máu T rubrofasciata
Thiếu trùng Chiều dài (mm) Chiều rộng (mm) Tuổi 1
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3.1.3 Đặc điểm hình thái của trưởng thành (hình 8)
Cả trưởng thành đực và trưởng thành cái đều có hình thái bên ngoài tương
tự nhau Với trưởng thành cái bộ phận sinh dục trông rất rõ vì chúng nổi hẳn ra phía sau có hình tù nhọn khác biệt với con đực hình tròn Khi hút no căng máu thì bụng của chúng căng lên đẩy đôi cánh nổi hẳn lên phía trên và gờ bụng cũng dãn ra làm tấm lưng bụng của chúng nhô căng lên trông như hình mai rùa Trưởng thành đực phần cuối bụng có hình bán nguyệt và bộ phận sinh dục không lộ rõ, tuy nhiên, nếu nhìn từ phái mặt bụng thì bộ phận sinh dục của con đực nhô ra rất rõ Kích thước của trưởng thành cái có chiều dài trung bình 22,20 0.09mm, chiều rộng trung bình là 8,25 0.05mm lớn hơn kích thước của con đực tương tự có chiều dài 20,30 0.15mm và rộng là 7,35 0.21 nn (bảng 3)
Bảng 3 Kích thước của trưởng thành bọ xít hút máu T rubrofasciata
Chỉ tiêu theo dõi
Trưởng thành cái ( n= 120)
Trưởng thành đực ( n= 120)
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
(a) Con đực (b) Con cái
Hình 8 Trưởng thành loài BXHM T rubrofasciata
(Nguồn: Phòng Côn trùng học thực nghiệm)
3.2 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của loài BXHM Triatoma
rubrofasciata (De Geer, 1773)
3.2.1 Sự phát dục của của trứng
Nghiên cứu và theo dõi thời gian phát dục và tỷ lệ nở của trứng loài bọ xít hút
máu Triatoma rubrofasciata với 3 lần nhắc lại trong điều kiện nuôi trong phòng
thí nghiệm (nhiệt độ 28,55-30,45 0C, ẩm độ 71,12-76,20 %) kết quả cho thấy trước khi trứng nở có sự chuyển màu rõ rệt từ màu vàng sang màu đỏ thẫm
Bảng 4 Thời gian phát dục và tỷ lệ nở của trứng T rubrofasciata
(Nhiệt độ 28.55-30.45 0 C, ẩm độ 71,12-76,20 %)
Số lần theo
dõi
Thời gian chuyển màu (ngày)
Thời gian phát dục (ngày)
Tỷ lệ nở của trứng (%)
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Kết quả bảng 4 cho thấy ở trong phòng với nhiệt độ 28,55 – 30,45 0C, ẩm độ 71,12 – 76,20 %, trứng sau khi đẻ khoảng thời gian 7- 9 ngày chuyển màu sắc từ màu vàng sang màu hồng và đỏ thẫm Thời gian phát dục của trứng dao dộng từ
13 – 16 ngày (trung bình 14,32 0,36 ngày) trứng nở với tỷ lệ nở rất cao dao động 95,62 – 97,22% (trung bình 96,33 0,62 %)
3.2.2 Sự phát dục của các tuổi thiếu trùng
Nghiên cứu và theo dõi thời gian phát dục và tỷ lệ lột xác của thiếu trùng các
tuổi của loài BXHM T rubrofasciata với 3 lần nhắc lại trong điều kiện phòng thí
nghiệm với nhiệt độ 28,55-30,45 0C, ẩm độ 71,12-76,20 % với vật chủ là gà Kết quả được trình bày ở bảng 5
Kết quả bảng 5 cho thấy: Giai đoạn thiếu trùng của loài bọ xít hút máu này kéo dài trong điều kiện nuôi trong phòng (nhiệt độ 28,55-30,45 0C, ẩm độ 71,12-76,20 % ) Với số lần hút máu dao động từ 7-15 lần (trung bình 10 lần) thì cả giai đoạn thiếu trùng thời gian phát dục dao động từ 196 – 381 ngày (trung bình là 323,54 26,18 ngày) và tỷ lệ lột xác cũng khá cao dao động 84 - 100% (trung bình là 96,09 4,53 %)
Thiếu trùng tuổi 1 khi mới nở đã biết di chuyển để tìm kiếm vật chủ để hút máu Khi lột xác chúng tách ở đốt ngực thứ 2 và thứ 3 trên mặt lưng (hình 3b), trong đó với số lần cho thiếu trùng tuổi 1 hút máu gà từ 1- 3 lần thì sau khi nở
3 – 5 ngày, thiếu trùng tuổi 1 đã bắt đầu hút máu (trung bình là 3,15 0,68 ngày), thời gian phát dục dao động 12- 23 ngày (trung bình là 19, 21 1,41 ngày) và tỷ lệ lột xác dao động 98 - 100% (trung bình là 99,01 0,13%) Ở tuổi 1 chưa xuất hiện mầm cánh thì ở tuổi 2 chúng bắt đầu xuất hiện mầm cánh nhưng rất ngắn Với số lần cho máu gà từ 1- 3 lần thì thiếu trùng tuổi 2 sau khi
nở 2 – 5 ngày đã bắt đầu hút máu (trung bình là 3,19 0,21 ngày), thời gian phát dục dao động 30 – 52 ngày (trung bình là 47,34 3,20 ngày) và tỷ lệ lột xác dao động 96 -100 % (trung bình là 96,44 4,53 %)