Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT HOÀNG ANH TUẤN NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG KHU
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
HOÀNG ANH TUẤN
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG KHU HỆ CÁ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ NGUỒN LỢI CÁ TẠI CÁC THỦY VỰC Ở 2
XÃ BA NAM VÀ BA XA, HUYỆN BA TƠ, TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
HÀ NỘI, NĂM 2013
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Việc nghiên cứu cá nước ngọt ở nước ta được tiến hành từ cuối thế kỷ
19 (1881) nhưng chủ yếu do các chuyên gia nước ngoài tiến hành và chỉ được nhà nước quan tâm từ năm 1954 Sau khi hòa bình lặp lại công tác nghiên cứu
cá nước ngọt ngày càng được đi sâu và mở rộng, đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần cho việc phát triển nghề cá trong cả nước Tuy nhiên việc nghiên cứu mới chỉ tập trung vào các con sông lớn, các loài cá kinh tế, còn vùng sâu, vùng xa và đặc biệt nguồn lợi cá suối và cá hang động còn ít được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu
Ba Tơ là một trong 6 huyện miền núi, nằm về phía Tây Nam của tỉnh Quảng Ngãi Phía Bắc giáp các huyện Minh Long, Sơn Hà; phía Đông Bắc giáp huyện Nghĩa Hành; phía Đông giáp huyện Đức Phổ; phía Nam và Đông Nam giáp huyện An Lão của tỉnh Bình Định; phía Tây và Tây Nam giáp huyện Kon Plông của tỉnh Kon Tum và huyện K’Bang của tỉnh Gia Lai Đây
là huyện lớn nhất trong tỉnh có diện tích 1.136,69km2, chiếm 1/5 diện tích toàn tỉnh, địa hình của Ba Tơ chủ yếu là đồi núi (chiếm 4/5 diện tích toàn huyện), thung lũng và vực sông xen kẽ Ba Tơ nối liền với nhiều dãy núi cao
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
hiểm trở nhƣ dãy Ngọc Linh của tỉnh Kon Tum, núi Cao Muôn Ba Tơ cũng
là huyện có nhiều sông lớn nhƣ: sông Reh, Sông Liên, sông Vực Liêm là thƣợng nguồn của các con sông lớn của tỉnh Quảng Ngãi Chính sự phân hóa phức tạp về địa hình ở đây đã tạo nên sự đa dạng cả về thành phần loài sinh vật và sinh cảnh sống, đặc biệt là các loài cá suối sinh sống trên nhiều loại hình thủy vực khác nhau [69]
Cho đến nay, Ba Tơ vẫn vẫn chƣa có nhiều nghiên cứu về sự đa dạng thành phần loài cá Nhằm xây dựng danh lục thành phần các loài cá mới nhất,
từ đó phát hiện các loài cá có giá trị kinh tế cao và các loài cá quý hiếm, góp phần đề ra các biện pháp bảo vệ, khai thác nguồn lợi cá một cách hợp lý, đề
tài: “Nghiên cứu khu hệ cá và đề xuất các giải pháp bảo vệ nguồn lợi cá tại các thủy vực ở 2 xã Ba Nam và Ba Xa, huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi” đã
đƣợc thực hiện với các mục tiêu và nội dung nghiên cứu sau:
Mục tiêu nghiên cứu:
+ Lập đƣợc danh lục mới nhất về thành phần loài cá tại 2 xã Ba Nam và Ba
Xa, huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi Đánh giá sự đa dạng về thành phần loài
Nội dung nghiên cứu:
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
+ Điều tra, khảo sát thu thập mẫu cá nhằm xác định thành phần loài cá tại khu vực nghiên cứu
+ Điều tra, nghiên cứu xác định các loài cá có giá trị kinh tế, các loài cá quý
hiếm, đặc hữu cần được bảo tồn và phát triển nguồn lợi
+ Khảo sát hiện trạng nghề cá và đề xuất các giải pháp bảo vệ, khai thác hợp
lý và phát triển nguồn lợi cá tại địa phương
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
NỘI DUNG
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐA DẠNG LOÀI CÁ Ở THỦY VỰC NỘI ĐỊA
1.1.1 Sự đa dạng về thành phần loài cá nước ngọt tại Việt Nam
Đến năm 1996, các nhà khoa học đã thu thập, định loại và thống kê được 544 loài cá nước ngọt tại Việt Nam, thuộc 57 họ và 18 bộ (Nguyễn Tấn Trịnh và cộng sự, 1996) [1]
Hiện nay, sau một thời gian dài thu thập và phân loại mẫu vật của các loài cá trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, các nhà khoa học đã thống kê được
1027 loài và phân loài cá nằm trong 22 bộ, 97 họ và 427 giống Trong đó có
322 loài cá có nguồn gốc biển và cửa sông di cư vào nước ngọt (theo Nguyễn Văn Hảo, 2005) [16] Như vậy, trong vòng 10 năm số loài và phân loài cá nước ngọt Việt Nam đã tăng gần gấp đôi (Hình 1.1)
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.1.2 Nguồn gốc khu hệ và đặc trưng về phân bố địa lý của khu hệ
Theo Nguyễn Văn Hảo (2005) [16], khu hệ cá nước ngọt Việt Nam bao gồm khu Cao Lạng với 104 loài (chiếm 10,13%), khu Việt Bắc với 226 loài (chiếm 22,01%), khu Tây Bắc với 192 loài (chiếm 18,7%), khu Bắc Trung Bộ
372 loài (chiếm 36,22%), khu Đồng Bằng Bắc Bộ 316 loài (chiếm 30,77%), khu Tây Nguyên 189 loài (chiếm 18,4%), khu Đông Nam Bộ với 277 loài (chiếm 26,97%), khu Đồng Bằng Sông Cửu Long với 388 loài (chiếm 37,78%), khu Nam Trung Bộ với 251 loài (chiếm 24,44%), khu Điện Biên Phủ với 110 loài (chiếm 10,71%) Trong 10 khu hệ cá nước ngọt tại Việt Nam thì có 2 khu hệ lớn là khu Bắc Trung Bộ và khu Đồng Bằng Sông Cửu Long
có thành phần loài phong phú và đa dạng nhất
1.2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CÁ NƯỚC NGỌT
1.2.1 Lịch sử nghiên cứu cá trên thế giới
Năm - 384-322 (Trước công nguyên) thời Aristode, Ngư loại học được hình thành thực sự và có nhà khoa học ghi chép lại để cùng hiểu biết và sử dụng chung Từ đó đến nay, nhiều công trình khoa học vô cùng quí giá của rất nhiều nhà khoa học nổi tiếng như: C Linnaeus (1707,1778); G Cuvier ; A Valenciennes (1828-1848); P Bleeker (1819-1878); A Giinther (1830-1914); J Richardson (1844-1845); Ds Jordan (1854-1931); L S Berg (1876-1950); Pravdin (1964), Bănărescu Song nhìn chung Ngư loại học thế giới chia làm 3 thời kỳ:
Hình 1.1 Về sự đa dạng cá nước ngọt Việt Nam qua
hai thời kỳ (năm 1996 và năm 2005)
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Thời kỳ thứ nhất (Thời kỳ từ thời Aristode -384-322(trước Công Nguyên) đến thế kỷ XVI): Aristode với tác phẩm “Historia animalum” đã giới thiệu
115 loài cá với những dẫn liệu phân bố, sinh sản, di cư Thế kỷ XVI sau thời kỳ phục hưng của Châu Âu, Ngư loại học cùng với các môn khoa học
tự nhiên khác mới phát triển một cách mạnh mẽ Thời kỳ này có các nhà Ngư loại nổi tiếng như: P Belon (1518-1564) người Pháp đã giới thiệu 110 loài cá; G Rondelt (1507-1557) người Pháp giới thiệu 197 loài ở Địa Trung Hải; C Gasneri (1516-1565) người Pháp, đã gợi ý cách đặt tên hai chữ cho
cá mà sau này C Linnaeus đã sử dụng
- Thời kỳ thứ hai (Từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX): Ngư loại bắt đầu tích luỹ nhiều dẫn liệu khác nhau, nhất là về phân loại, địa lý phân bố và khu hệ
cá ở các vùng nước khác nhau Thời kỳ này có các nhà Ngư loại học nổi tiếng với công trình nghiên cứu như: P Artedi (Thuỵ Điển), 1705 - 1734 với
5 cuốn sách nổi tiếng: Bibliotheca ichthylogica, Philosophia ichthyologica, Genera piscium, Species piscium, Synonymia piscium; C Linnaeus (Thụy Điển), 1707-1778 - Systema nature (1735) đã đề ra cách gọi tên cá 2 chữ và
đã giới thiệu 2600 loài; G Cuvier và A Valenciennes - Historie Naturelle des Poissons gồm 21 tập xuất bản trong 20 năm (1828-1848); P Bleeker (Hà Lan), 1819-1878 - Atlas Ichthyologiques Indes Orientales of the Neserlandaises gồm 9 tập; A Giinther (Đức), 1830-1914 - catalogue of the Fishes of British Museum gồm 8 tập; Richardson (1844-1845); Bovelli (1608-1679)
- Thời kỳ thứ ba (Từ đầu thế kỷ XX đến nay): Những nghiên cứu về Ngư loại học tăng lên rất nhanh và toàn diện, trong đó phân loại cá, sinh lý sinh thái cá đóng vai trò là bước tiên phong để phát triển bền vững nghề cá
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Thời kỳ này có các nhà khoa học nổi tiếng như:
D S Jordan (1854-1931) đã giới thiệu các loài cá ở Nam Mỹ và Trung Mỹ;
G A Boulenger (1851) với 15 tập sách giới thiệu các loài cá ở bảo tàng Anh; L.S Berg (1876-1950) người Liên Xô, đã giới thiệu hệ thống Ngư loại; M Weber và L.F.de Beaufort (Hà Lan) đã công bố 10 tập sách về các loài cá ở vùng quần đảo Châu Úc (1911-1953); K Matsubara (Nhật) đã viết cuốn sách Hình thái và bảng tra các loài cá; F Day đã viết về các loài cá Ấn Độ và rất nhiều nhà Ngư loại khác của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác
đã góp phần thúc đẩy nền Ngư loại học phát triển
Phần nửa những năm sau của thập kỷ XX cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền khoa học công nghệ, Ngư loại học cũng được chú ý phát triển hơn Theo thống kê của Nelson, 1984 hiện trên thế giới có khoảng 29.000 loài cá sống ở các thủy vực; R Frose và D Pauly, 1995 - Fishbase a Biological Database on Fish trên đĩa CD đã tổng hợp giới thiệu trên 12000 loài chiếm khoảng 50% loài cá sinh sống trong các thủy vực
Ngày nay, Ngư loại học đã đi sâu nghiên cứu chi tiết hơn và phân chia các vùng nghiên cứu, các khu hệ và phân bố địa lý Các nước, các Châu lục đều
có các nhà Ngư loại nghiên cứu Điển hình: Pravdin, P Bănărescu, Chu Xinluo, Chen Yinrui, R Tyson, Kottelat, Walter Rainboth, Mai Đình Yên,
Về sinh lý, sinh thái cũng phát triển mạnh, nhiều công trình nghiên cứu, các sách chuyên khảo có giá trị như Sinh lý cá của Brown (1957), Putrkov (1941),
E Hoar (1968), Sinh thái chủng quần cá của G V Nicholxki, Hướng dẫn nghiên cứu cá của Pravdin (1958)
Tóm lại, lịch sử nghiên cứu Ngư loại có rất sớm và lâu đời, ở mỗi nước trên thế giới đều có nghiên cứu về cá Tập hợp đã xác định được 32700 loài cá
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
trên thế giới được thống kê từ 49500 tài liệu tham khảo và 53400 ảnh cá (Fishbase, 2013) [67] Qua đó cho thấy nhóm cá rất phong phú và đa dạng Tuy nhiên cũng chỉ là gần với thực tế mà chưa phản ánh hết giá trị thực của thực tế Ngư loại học thế giới đang phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng, đã nghiên cứu sâu về khu hệ, tính đa dạng sinh học, nghiên cứu sinh học cá thể và quần thể Trong những năm gần đây do sự suy giảm về môi trường, khai thác không hợp lý làm cho một số động vật quí hiếm trong đó
có cả một số loài cá đã và đang có nguy cơ bị diệt vong Vì vậy, Ngư loại lại càng có trách nhiệm nặng nề hơn trong công tác bảo vệ tính đa dạng sinh học
và nguồn lợi hiện nay: đưa ra những dự báo và phương hướng để duy trì và phát triển nguồn lợi giúp cho nghề cá phát triển bền vững [37]
1.2.2 Lịch sử nghiên cứu cá nước ngọt tại Việt Nam
1.2.2.1 Giai đoạn trước năm 1954
Các nghiên cứu phân loại cá nước ngọt ở Việt Nam đã được tiến hành khá sớm bởi các nhà khoa học nước ngoài, trong đó công trình nghiên cứu đầu tiên là của H.E Sauvage (1881): “Nghiên cứu về khu hệ cá Á Châu và
mô tả một số loài mới ở Đông Dương” trong công trình này tác giả đã thống
kê 139 loài cá chung cho toàn Đông Dương và mô tả 2 loài mới ở miền Bắc Việt Nam [37]
G.Tirant (1883) đã mô tả 70 loài cá nước ngọt ở sông Hương (Thừa Thiên Huế) trong đó có 3 loài mới Những năm tiếp theo, có nhiều công bố về thành phần loài cá ở các thủy vực khác nhau hoặc mô tả loài mới của nhiều tác giả như: H.E Sauvage (1884) thu thập 10 loài ở Hà Nội trong đó có 7 loài mới; L.Vaillant (1891-1904) thu thập 6 loài, mô tả 4 loài mới ở Lai Châu (1891), 1 loài mới ở sông Kỳ Cùng (Lạng Sơn)
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Với công trình nghiên cứu khá tổng quát về cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam “Góp phần nghiên cứu các loài cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam”, P.Chevey & J Lemasson (1937) đã giới thiệu 98 loài thuộc 17 họ cá ở miền Bắc Việt Nam
Thời kỳ cuối thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20 (1945) do hầu hết các nghiên cứu cá nước ngọt đều do người Pháp tiến hành nên các mẫu chuẩn hầu hết lưu giữ tại các Bảo tàng tự nhiên Paris Các nghiên cứu trong thời kỳ này mới chỉ dừng lại ở mức mô tả thống kê thành phần loài [37]
1.2.2.2 Giai đoạn sau năm 1954
Thời kỳ này công tác nghiên cứu phân loại cá chủ yếu do các nhà khoa học Việt Nam tiến hành Có thể chia thời kỳ này thành 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1 (Từ năm 1955-1975): Thời kỳ này ở miền Bắc các nhà khoa học
Việt Nam đã điều tra ở nhiều vùng sinh thái khác nhau như: Tây Bắc, Đông Bắc và khu Bốn cũ ở nhiều loại hình thủy vực sông, suối, ao, hồ, đầm, ruộng…Điển hình có các tác giả và các công trình đã nghiên cứu như: Đào Văn Tiến, Mai Đình Yên (1959) “Dẫn liệu sơ bộ ngư giới Sông Bôi”; Đặng Ngọc Thanh, Mai Đình Yên (1961) “Điều tra nguồn lợi sinh vật Hồ Tây”; Mai Đình Yên (1962) “Sơ bộ điều tra thành phần, nguồn gốc và phân bố của chủng quần cá Sông Hồng”; Nguyễn Văn Hảo (1964) “Dẫn liệu nguồn lợi cá
hồ Ba Bể”; Nguyễn Văn Hảo và cộng sự (1964) “Kết quả điều tra nguồn lợi
cá sông Thao”; Mai Đình Yên (1964) “Đặc điểm sinh học các loài cá sông Hồng”; Mai Đình Yên (1966) “Đặc điểm sinh học một số loài cá ruộng ở đồng bằng miền Bắc Việt Nam”
Giai đoạn này ở miền Nam cũng có một số công trình do các nhà khoa học trong và ngoài nước tiến hành như: Trần Ngọc Lợi, Nguyễn Cháu (1964);
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
M Yamamura (1966); Kawamoto, Nguyễn Viết Trương và Trần Tuý Hoa (1972)…[37]
- Giai đoạn 2 (từ năm 1975 đến nay): Đã có nhiều nghiên cứu chuyên sâu
đánh giá tiềm năng về nguồn lợi cá nước ngọt Việt nam, mở đường cho nghề
cá phát triển Đáng chú ý là 3 công trình tổng hợp các kết quả nghiên cứu các thời kỳ là: “Định loại cá nước ngọt các tỉnh phía Bắc Việt Nam” của Mai Đình Yên (1978) [39] tác giả đã lập danh mục, mô tả chi tiết, lập khóa định loại, đặc điểm phân bố và ý nghĩa kinh tế của 201 loài, 105 giống thuộc 27 họ
và 11 bộ; “Định loại cá nước ngọt Nam Bộ” của Mai Đình Yên, Nguyễn Văn Thiện, Lê Hoàng Yến, Hứa Bạch Loan, Nguyễn Văn Trọng (1992)[40] đã mô
tả 255 loài, 133 giống thuộc 57 họ và 14 bộ; “Định loại cá nước ngọt vùng ĐBSCL” của Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993), gồm 173 loài Đây là 3 công trình tổng hợp đầy đủ nhất về khu hệ cá miền Bắc và miền Nam nước ta Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng như: Nguyễn Thái Tự và cộng sự (1999) “Khu Hệ cá Phong Nha”; Nguyễn Hữu Dực, Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Văn Chiến (2001) đã nghiên cứu khu hệ cá Sông Đà thuộc 2 tỉnh Lai Châu và Sơn La gồm 174 loài; Mai Đình Yên và Nguyễn Hữu Dực (1991) công bố thành phần loài cá sông Thu Bồn (85 loài), Trà Khúc (47 loài), sông Vệ (34 loài), sông Côn (43 loài), sông Ba (48 loài), sông Cái (25 loài); Nguyễn Thái Tự (1983) với khu hệ cá sông Lam (157 loài); Nguyễn Thái Tự (1986), Đặc điểm khu hệ
cá Nghệ Tĩnh; Nguyễn Thái Tự (1992) Khu hệ cá Vũ Quang; Mai Đình Yên, Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Văn Thiện, Lê Hoàng Yến và Hứa Bạch Loan (1992) đã nghiên cứu về thành phần loài các sông: Tiền, Hậu, Vàm Cỏ, Sài Gòn và sông Đồng Nai (255 loài); Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Hữu Dực (1994) đã xác định được thành phần loài ở một số sông suối của Tây Nguyên
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
(82loài); Võ Văn Phú (1995) Thành phần loài cá ở các đầm phá Thừa Thiên Huế (163 loài); Nghiên cứu về đặc trưng phân bố và đặc điểm địa động vật học của cá nước ngọt Việt Nam, có các tác giả: Võ Quý (1966); Mai Đình Yên (1973, 1985, 1988); Nguyễn Thái Tự (1983, 2000, 2003); Kottelat (1989), Mai Đình Yên và Nguyễn Hữu Dực (1991) [37]
Năm 1998, Hội nghị khoa học toàn quốc về nuôi trồng thủy sản tổ chức tại Viện NCNT Thủy sản I đã có nhiều báo cáo có giá trị trong nghiên cứu ứng dụng như: Mai Đình Yên “Hiện trạng nguồn lợi thủy sản nước ngọt và đề xuất chương trình bảo vệ và phát triển bền vững nguồn lợi này”; Trần Thanh Xuân “Bảo vệ và phát triển nguồn lợi cá nước ngọt ở đồng bằng sông Cửu Long”; Nguyễn Thị Thu Hè “Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài cá tự nhiên ở sông suối Đăk Lắc và một vài ý kiến bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong vùng”[18]… Về đặc trưng phân bố và đặc điểm địa động vật của cá nước ngọt Việt Nam có nghiên cứu của các tác giả như: Mai Đình Yên (1973), Nguyễn Thái Tự (1983), Mai Đình Yên và Nguyễn Hữu Dực (1991), Nguyễn Văn Hảo (1993,1998), Nguyễn Hữu Dực (1995) [34, 37]
Những năm gần đây đã có khá nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học nước ngoài tại Việt Nam Nhiều loài mới đã được phát hiện và mô tả: W.J.Rainboth (1996) với công trình nghiên cứu “The taxonomy systematics and zoogeography of Hypsibarbus a new Genus of Large Barbs (Pisces, Cyprinidae) from the Rivers of Southeastern Asia” đã mô tả 1 giống mới tại Quảng Trị; J Freyhof & D.V Serov (2000) với “Review of the genus Sewellia with descriptions of two new species from Vietnam (Cypriniformes:
Balitoridae)”[47] đã mô tả 8 loài trong giống Sewellia trong đó có 2 loài mới
cho khoa học tại Gia Lai Năm 2001, J.Freyhof, và D.V Serov đã mô tả 14
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
loài mới và 1 giống cá mới cho khoa học ở miền Trung Việt Nam [48] Năm
2003 J.Freyhof đã mô tả 1 loài cá mới thuộc giống Sewellia ở sông Thu Bồn [49] Năm 2007, Heok Hee Ng và Heok Hee Tan đã công bố 1 loài mới thuộc
giống Pseudecheneis tại Đà Nẵng với 1 mẫu duy nhất [60] Năm 2012, Koichi Shibukawa và cộng sự đã công bố 1 loài mới Phallostethus cuulong là loài
duy nhất đại diện cho họ Phallostethidae tại Việt Nam [66]
Nhìn chung, kể từ khi nước nhà độc lập các nghiên cứu về ngư loại học
đã có nhiều thành tựu to lớn, góp phần không nhỏ vào sự phát triển nghề cá nói riêng và sự phát triển của nước nhà nói chung Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước đã cho chúng ta cái nhìn rõ hơn về
sự đa dạng thành phần loài của khu hệ cá nước ngọt Việt Nam Tuy nhiên, như đã đề cập ở trên các công trình nghiên cứu phần lớn mới chỉ tập trung vào điều tra khu hệ cá các con sông lớn còn vùng sâu, vùng xa, hải đảo và đặc biệt
là nguồn lợi cá hang động vẫn ít được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu
Do đó, cần phải có nhiều công trình nghiên cứu hơn nữa để đánh giá đúng hiện trạng về đa dạng các loài cá và nghề cá trên cả nước để có biện pháp bảo
vệ và phát triển bền vững nguồn lợi cá
1.2.3 Lịch sử nghiên cứu cá nước ngọt tại tỉnh Quảng Ngãi và khu vực nghiên cứu
Các nghiên cứu về khu hệ cá 2 con sông lớn là sông Vệ và sông Trà Khúc của tỉnh Quảng Ngãi đã được tiến hành từ khá sớm bởi các nhà khoa học trong và ngoài nước Điển hình là các công trình nghiên cứu: Nguyễn Hữu Dực (1995) “Góp phần nghiên cứu khu hệ cá nước ngọt Nam Trung bộ Việt Nam” luận án Tiến sĩ khoa học trường Đại học Sư phạm I [8];Võ Văn Phú, Nguyễn Hoàng Diệu Minh, Hoàng Đình Trung (2011) “Dẫn liệu bước
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
đầu về thành phần loài cá ở vùng rừng Cà Đam, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi" [26];
Võ Văn Phú, Nguyễn Hoàng Diệu Minh, Hoàng Đình Trung (2012),
“Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài cá ở vùng rừng Cao Muôn, huyện Ba
Tơ, tỉnh Quảng Ngãi” [27]
Ngoài ra cũng có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều nhà khoa học nước ngoài tiến hành tại khu hệ miền Trung trong đó có Quảng Ngãi Điển hình là:
T R Roberts (1997) với công trình nghiên cứu “Systematics revision
of the Balitorid loach genus Sewellia of Vietnam and Laos, with diagnoses of four new species” tác giả đã công bố 4 loài mới thuộc giống cá Đép (Sewellia) trong đó có 1 loài (Sewellia pterolineata) thuộc sông Trà Khúc của tỉnh
Quảng Ngãi [62]
Năm 2001, bằng công trình “Nemacheiline loaches from central Vietnam with descriptions a new genus and 14 new species (Cypriniformes: Balitoridae)” các tác giả J.D.Freyhof, D.V.Serov đã công bố 14 loài mới và 1 giống mới trong đó có ghi nhận 1 loài mới thuộc tỉnh Quảng Ngãi [48]
Năm 2006, D.V.Serov, V.K.Nezdoliy và D.S.Pavlov bằng công trình nghiên cứu “The Freshwater Fishes of Central Vietnam” đã thống kê và mô tả
178 loài cá trong đó có nhiều loài quý hiếm và đặc hữu được ghi nhận ở
Quảng Ngãi như: Sewellia pterolineata, Sewellia marmorata, Sewellia lineolata [64]
Huyện Ba Tơ là đầu nguồn của 2 con sông lớn của tỉnh Quảng Ngãi là sông Vệ (xã Ba Xa) và sông Trà Khúc (xã Ba Nam) Tuy nhiên hiện nay vẫn
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
chưa có 1 nghiên cứu cụ thể nào được tiến hành tại Ba Tơ Do đó, việc tiến hành khảo sát điều tra thành phần loài tại Ba Tơ nhằm phát hiện các loài cá quý hiếm, các loài cá có giá trị kinh tế để bảo vệ và phát triển bền vững nguồn lợi cá tại địa phương là hết sức cần thiết
1.3 NGUỒN LỢI, THỰC TRẠNG KHAI THÁC VÀ NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGUỒN LỢI CÁ NƯỚC NGỌT VIỆT NAM
1.3.1 Nguồn lợi và thực trạng khai thác
Nước ta nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa nên có diện tích mặt nước khá lớn, trong đó diện tích mặt nước có thể nuôi trồng và phát triển thủy sản là 1,35 triệu ha Tuy nhiên tiềm năng diện tích mặt nước được phân
bố khác nhau theo từng vùng kinh tế, trong đó diện tích nước ngọt tập trung nhiều nhất ở đồng bằng Nam Bộ với 55,07%, còn Bắc Bộ là 24,15% Diện tích ruộng có khả năng nuôi cá tập trung chủ yếu ở đồng bằng Nam Bộ chiếm 90,59% Trong vòng 15 năm (1981 – 1994), sản lượng cá nội địa biến động từ
180 – 415.280 tấn/năm (trung bình 281.197 tấn/năm) và chiếm từ 26,94 – 32,78% (trung bình 30,11%) tổng sản lượng cá khai thác trên toàn quốc [1]
Do mang tính chất nhiệt đới gió mùa nên nguồn lợi thủy sản vùng đồng bằng sông Hồng phong phú về thành phần loài nhưng năng suất và sản lượng thấp Sản lượng cá sông Hồng ước tính đạt 1200 tấn/năm Sản lượng hàng năm ở đồng bằng sông Hồng khai thác tự nhiên khoảng 4000 tấn cá/năm Đối với đồng bằng sông Cửu Long do mang tính chất nhiệt đới rõ rệt nên nguồn lợi thủy sản tại đây được đánh giá là rất đa dạng về thành phần loài cũng như
có tiềm năng cao về sản lượng Nhiều loài cá có giá trị kinh tế cao đã được nhân nuôi và xuất khẩu như: cá Tra, cá Ba Sa…Sản lượng cá nội địa ở đồng bằng sông Cửu Long biến động hàng năm từ 112.650 – 176.156 tấn (trung
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
bình 146.991 tấn) trong thời gian từ năm 1981 đến năm 1988 chiếm từ 36,79% – 43,87% (trung bình 40,41%) sản lượng cá của vùng [1]
Hiện nay nghề nuôi cá lồng bè trên sông, hồ đang phát triển mạnh, mang lại nguồn thu không nhỏ cho ngư dân Tuy nhiên, nghề khai thác thủy sản vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, việc nuôi cá tràn lan của người dân chưa được kiểm soát, nhiều loài cá nhập nội có nguy cơ xâm hại đã phát triển mạnh ngoài tự nhiên, tác động tiêu cực đến môi trường, sinh thái như: cá Vược Nam
Mỹ, cá Bống Tượng,
1.3.2 Những thách thức đối với nguồn lợi cá nước ngọt Việt Nam
Hiện nay, nguồn lợi cá nước ngọt ở nước ta đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn:
- Việc người dân khai thác quá mức bằng các phương tiện mang tính hủy diệt như: kích điện, nổ mìn, hóa chất đã ngày càng làm suy kiệt và ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường, sinh thái cũng như nguồn lợi cá nước ngọt ở nước ta Nhiều loài cá nước ngọt đã và đang trên bờ vực của sự tuyệt chủng
- Việc xây đắp đập thủy điện ở các rừng đầu nguồn và hiện tượng phá rừng bừa bãi, tập tục du canh du cư của đồng bào dân tộc thiểu số đã làm thay đổi dòng chảy của nhiều sông suối đầu nguồn, thu hẹp và biến đổi môi trường sống của nhiều loài cá
- Rác thải của nhiều nhà máy, xí nghiệp; hóa chất diệt cỏ, diệt sâu bệnh đã làm ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước và làm ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sống của nhiều loài cá
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Công tác quản lý nghề cá ở nhiều nơi trong cả nước còn nhiều bất cập, kém hiệu quả Nhiều loài cá nhập nội hiện nay có nguy cơ trở thành loài xâm hại gây mất cân bằng sinh thái như: cá Dọn Bể, cá Bống Tượng,…
1.4 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.4.1 Vị trí địa lý khu vực nghiên cứu:
Quảng Ngãi là một tỉnh ven biển nằm ở vùng Duyên Hải Nam Trung
Bộ Việt Nam, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía Nam giáp tỉnh Bình Định, phía Tây giáp tỉnh Kon Tum, phía Đông giáp Biển Đông Diện tích của tỉnh Quảng Ngãi có là 5140,8 Km2 [3]
Ba Tơ là huyện có diện tích lớn nhất của tỉnh Quảng Ngãi với diện tích
là 1.136,69 Km2 Khu vực nghiên cứu nằm trên địa bàn 2 xã Ba Nam và Ba
Xa, có vị trí địa lý từ 140 32’ đến 140 41,5’ Bắc, từ 1080 28,5’ đến 1080 42’ Đông Đây là 2 trong 19 xã miền núi của huyện Ba Tơ, có diện tích lần lượt
là 119,59Km2 và 100,11Km2 [3]
1.4.2 Đặc điểm địa hình
Quảng Ngãi có địa hình tương đối phức tạp, có xu hướng thấp dần từ Tây sang Đông với các dạng địa hình đồi núi, dải đồng bằng hẹp, phía Tây của tỉnh là sườn Đông của dãy Trường Sơn, tiếp đến là địa hình núi thấp và đồi xen kẽ đồng bằng [68] Quảng Ngãi có rất nhiều dãy núi cao hiểm trở Các núi có độ cao trên 1.000m chủ yếu phân bổ ở phía Tây, Tây Bắc, Tây Nam và phía Bắc tỉnh như: núi Cà Đam (1413m), núi Bờ Rẫy (1371m), núi Roong (1459m) Về hình thái, các dãy núi của tỉnh thường có dạng tuyến, nhiều đỉnh nhọn, sườn dốc Cấu thành các dãy núi này là các thành tạo đá
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
xâm nhập và các đá biến chất có thành phần thạch học và tuổi khác nhau [69] Các dãy núi trong vùng có độ cao trên 300m hình thành nhiều đỉnh, với sườn núi hướng về các phía khác nhau, tạo nên nhiều vùng tiểu khí hậu Cấu tạo phức tạp của các dãy núi ở Quảng Ngãi đã tạo nên nhiều khe suối, từ đó hình thành nên các sông suối nhỏ với lưu tốc nước lớn
Địa hình của Ba Tơ chủ yếu là đồi núi, thung lũng và vực sông xen kẽ Đồi núi chiếm 4/5 diện tích toàn huyện, có nhiều núi cao hiểm trở nối liền với các huyện miền núi xung quanh như núi Cao Muôn, là một trong những ngọn núi cao của tỉnh Quảng Ngãi, Núi liền chân với các dãy núi ở các huyện Sơn
Hà, Minh Long với dãy Ngọc Linh nổi tiếng của tỉnh Kon Tum, đồng thời nó cũng liền chân với núi Lớn hay núi Dầu Rái của huyện Mộ Đức [69]
Địa điểm nghiên cứu của đề tài tập trung ở dạng sinh cảnh núi đất và núi đá vôi thuộc 2 xã Ba Nam và Ba Xa ở độ cao từ 100-990m so với mực nước biển
1.4.3 Đặc điểm khí hậu
Quảng Ngãi nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới điển hình, phân thành 2 mùa rõ rệt Nhiệt độ trung bình năm là 25,70C, nhiệt độ tháng thấp nhất là 20,70C (tháng I), nhiệt độ tháng cao nhất là 29,90C (tháng VII), lượng mưa trung bình hàng năm đạt 2713 mm, tập trung nhiều từ tháng 9 đến tháng 1 năm sau Tháng có lượng mưa ít nhất chỉ đạt 12 mm (tháng II và tháng VII), tháng có lượng mưa nhiều nhất là 786 mm (tháng IX) Số giờ nắng trong năm
là 1804 giờ, độ ẩm không khí trung bình là 83%, thấp nhất là 73% (tháng VII) Tổng lượng bức xạ lớn thuận lợi cho việc phơi sấy; sử dụng năng lượng mặt trời trong công nghiệp chế biến Nông – Lâm - Thuỷ sản
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Huyện Ba Tơ nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có hai mùa mƣa và mùa khô rõ rệt Ba Tơ cũng là vùng có lƣợng mƣa khá lớn, có số giờ nắng 2.034 giờ/năm; tổng bức xạ năm là 136,2 kcal/cm2 Nhiệt độ trung bình hàng năm là 25,30
C, nhiệt độ trung bình tháng I là 21,40C, nhiệt độ trung bình tháng VII là 27,90C, biên độ nhiệt độ trung bình ngày và đêm là 8,80C [3]
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.4.4 Chế độ thủy văn
Trên địa bàn Quảng Ngãi, sông suối phân bố tương đối đều Các sông
có một số đặc điểm như: bắt nguồn từ phía Đông dãy Trường Sơn và đổ ra biển, do chảy trên hai địa hình đồi núi phức tạp và đồng bằng hẹp nên sông ngắn và độ dốc lòng sông lớn Quảng Ngãi có 4 sông chính:
- Sông Trà Bồng: dài 45km, chiều dài lưu vực 56km, diện tích lưu vực 697km2, chiều rộng lưu vực trung bình 12,4km Phần lớn sông chảy qua vùng địa hình rừng núi có độ cao 200- 1.300m, phần còn lại chảy trong vùng đồng bằng xen đồi trọc và bãi cát
- Sông Trà Khúc: dài 135km, chiều dài lưu vực 123km, diện tích lưu vực 3.240km2, chiều rộng lưu vực trung bình 26,3km Là sông lớn nằm ở giữa tỉnh, sông Trà Khúc là sông lớn có lượng nước dồi dào nhất so với các con sông khác trong tỉnh Ở Thạch Nham, người ta đã xây dựng đập chắn ngang sông, để nước dâng lên theo hai kênh Chính Bắc- Chính Nam chảy tưới cho các đồng bằng Quảng Ngãi 1/3 chiều dài của sông chảy qua vùng rừng núi có
độ cao 200-1000m, phần còn lại chảy qua vùng đồng bằng Chế độ mực nước trung bình hằng năm tại các trạm Sông Giang là 2846cm, trạm Trà Khúc là 210cm Mực nước cao nhất năm thường xuất hiện vào tháng 10 đến tháng 11; mực nước cao nhất tại cầu Trà Khúc là 8,36m Mực nước thấp nhất năm thường xuất hiện vào mùa cạn Lưu lượng dòng chảy của sông Trà khúc rất lớn và có tốc độ dòng chảy mạnh
- Sông Vệ: Bắt nguồn từ phía Tây của huyện Ba Tơ Sông chảy theo hướng Tây Nam – Đông Bắc, dài 90km trong đó 2/3 chiều dài chảy trong vùng núi
có độ cao từ 100 – 1000m Diện tích lưu vực là 1.260km2
, chiều dài lưu vực 70km, chiều rộng lưu vực trung bình 18 km Thực vật che phủ phần thượng
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
lưu hầu hết là rừng già rậm rạp, vùng hạ lưu chủ yếu là vùng đất canh tác nông nghiệp Mực nước trung bình hàng năm tại sông Vệ là 506 cm, mực nước cao nhất là 599 cm, mực nước thấp nhất là 338 cm
- Sông Trà Câu: dài 32km, chiều dài lưu vực 19 km, diện tích lưu vực 442km2, chiều rộng lưu vực trung bình 14km
Ngoài các con sông lớn kể trên, ở huyện Ba Tơ còn có khá nhiều sông suối chủ yếu chạy qua vùng rừng núi có độ cao từ 100-1000m trong đó có 3 con sông lớn là sông Rhe, sông Liên, sông Vực Liêm là thượng nguồn của các con sông lớn ở Quảng Ngãi: sông Trà Khúc, sông Vệ, sông Trà Câu
- Sông Rhe: là thượng nguồn của sông Trà Khúc, bắt nguồn từ vùng núi Tây Nam Ba Tơ chảy theo hướng Bắc, qua các xã Ba Xa, Ba Vì, Ba Ngạc đến địa hạt Sơn Hà, hợp với các con sông khác chảy về sông Trà Khúc Sông Rhe dài khoảng 60km (đoạn chảy qua Ba Tơ dài khoảng 30km), quanh co khúc khuỷu, chia cắt, tạo thành các vực sông sâu dưới lòng các thung lũng
- Sông Liên: là thượng nguồn của sông Vệ, bắt nguồn từ vùng núi Giá Vụt, chảy qua thị trấn Ba Tơ, đến gần chân núi Cao Muôn thì chảy về hướng Đông Bắc Khúc sông Liên ở Ba Tơ dài khoảng 30km
- Sông Vực Liêm: bắt nguồn từ vùng Bàn Thạch, Hồng Thuyền, vực Liêm, xã
Ba Trang, chảy thẳng về hướng Đông, là thượng nguồn của sông Trà Câu Sông chảy qua các xã phía bắc huyện Đức Phổ trước khi đổ ra cửa biển Mỹ Á
[68]
1.4.5 Đa dạng Sinh học tại Quảng Ngãi
Theo kết quả kiểm kê diện tích rừng năm 2000 (Đoàn Điều tra Quy hoạch Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Ngãi) thì trong số
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
513.151ha đất tự nhiên có 336.455,8ha đất lâm nghiệp, trong đó đất rừng là 126.604,9ha, phân bố ở hầu hết các huyện miền núi [69]
Rừng Quảng Ngãi hiện tại chủ yếu là rừng trung bình và rừng nghèo (phân loại theo trữ lượng gỗ) hoặc rừng tái sinh Chỉ có một số diện tích rừng nguyên sinh và rừng già thứ sinh (rừng giàu) ít bị tác động của con người phân bố ở vùng núi cao, độ dốc lớn ở các huyện Ba Tơ (7.609ha), Sơn Hà (3.988,5ha) [69]
Theo thống kê năm 2005 của tỉnh Quảng Ngãi, khu hệ thực vật của tỉnh
có khoảng 560 loài thực vật thuộc 140 họ trong đó có 26 loài nằm trong Sách
Đỏ Việt Nam (1996) Quảng Ngãi cũng là tỉnh có sự đa dạng cao về thành phần loài động vật với khoảng 478 loài, thuộc 279 giống, 102 họ, 28 bộ thuộc
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
tính phong phú về thành phần loài, đa dạng về các taxon, đặc biệt là taxon bậc giống
Ba Tơ là huyện có diện tích rừng nguyên sinh lớn nhất của tỉnh Quảng Ngãi Theo thống kê của nhóm nghiên cứu Trường Đại học Huế năm 2000 thì
ở Ba Tơ có 469 loài thực vật, trong đó có 43 loài được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam (1992) [69]
1.5 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.5.1 Đặc điểm dân số
Tính đến năm 2011, dân số trung bình của tỉnh Quảng Ngãi có khoảng 1.221.640 người, trong đó có 81,96% sống ở đồng bằng, 16,53% sống ở miền núi và 1,5% sống ở hải đảo Mật độ dân số là 237 người/Km2
Tỉnh Quảng Ngãi có 17 dân tộc khác nhau cùng chung sống trong đó chiếm đa số chỉ có 4 dân tộc: dân tộc Kinh (chiếm 86,7%), Hre (9,49%), Cor (2,3%), Ca Dong (1,5%), số người của 13 dân tộc thiểu số khác chỉ chiếm 0,04% dân số của tỉnh
Dân cư tại huyện Ba Tơ chủ yếu là người Hre và người kinh Dân số trung bình tại huyện Ba Tơ là 51,703 người, mật độ dân số 45 người/Km2 Dân cư tại 2 xã Ba Nam và Ba xa hầu hết là người Hre, chỉ có một số hộ là người Kinh Dân số tại xã Ba Nam là 748 người với mật độ dân số là 6,3 người/Km2
; dân số tại xã Ba Xa là 3,883 người với mật độ dân số là 38,8 người/Km2
[3]
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.5.2 Đặc điểm kinh tế
Tỉnh Quảng Ngãi nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung được Chính phủ chọn khu vực Dung Quất để xây dựng nhà máy lọc dầu đầu tiên của cả nước và sẽ hình thành khu kinh tế Dung Quất nối liền với khu kinh tế
mở Chu Lai Đây là lợi thế rất quan trọng, tạo điều kiện để tỉnh phát triển nhanh công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp đi kèm theo chương trình phát triển lọc dầu của quốc gia, đồng thời góp phần đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế tỉnh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Quảng Ngãi có 129 Km chiều dài bờ biển, có 6 cửa biển, với vùng lãnh hải rộng 11,000 Km2 giàu nguồn lực hải sản Theo thống kê 6 tháng đầu năm
2013 tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) 6 tháng đầu năm có mức tăng ấn tượng 13,6%, cao nhất trong các tỉnh thành và cao hơn nhiều so với mức bình quân thu nhập của cả nước (4,9%)
Cơ cấu kinh tế huyện Ba Tơ được xác định gồm: Nông - Lâm Nghiệp, Công Nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp, Thương mại - Dịch vụ Theo Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của huyện Ba Tơ trong năm 2012 cho thấy, tổng giá trị sản xuất (hiện hành) ước đạt 462,17 tỷ đồng, tăng 16,1% so với năm 2011 Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 7,6 triệu đồng năm 2011 lên 8,7 triệu đồng năm 2012 Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng Nông - Lâm – Ngư Nghiệp, tăng dần tỷ trọng Công Nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp và Thương mại – Dịch vụ (Nông - Lâm – Ngư Nghiệp từ 61,03% xuống 59,10%, Công Nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp
từ 17,85% lên 18,80%, Thương mại – Dịch vụ từ 21,12% lên 22,10%) [71]
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Chúng tôi đã tiến hành 3 đợt khảo sát tại 2 xã Ba Nam và Ba Xa huyện
Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi Cụ thể như sau:
- Đợt 1: tại xã Ba Nam ở độ cao 400 - 990m từ ngày 26/5 – 5/6/2011 Các địa điểm khảo sát và thu mẫu: Suối nước Cao, thượng lưu suối nước Lếch, suối Làng Vờ 1, suối làng Vờ 2, Ao kinh tế, Ngòi Reh, Chợ Ba Tơ
- Đợt 2: tại xã Ba Xa ở độ cao 260 – 900m từ ngày 10/03 – 25/03/2012 Các địa điểm khảo sát và thu mẫu: Thượng lưu suối nước Lây, hạ lưu suối nước Lây, suối nước Lang, suối nước Lếch làng Jut, Ngòi Reh, suối nước Pà
Ư, chợ Ba Vì, suối nước Cơi
- Đợt 3: tại xã Ba Nam ở độ cao 100 – 900m từ ngày 14/4 -23/4/2013 Các địa điểm khảo sát và thu mẫu: hạ lưu suối nước Lếch, suối nước Lơi, suối Bàu, ngòi Reh
Bảng 2.1 Tọa độ, độ cao và đặc điểm nền đáy tại khu vực nghiên cứu
thu mẫu
Độ cao (m)
Đặc điểm nền đáy
140 37’30,78’’ 1080 36’49,62’’
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
140 38’20,04’’ 1080 35’27,06’’
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Lơi
0 37’45,42’’ 1080 34’14,88’’
2.1.2 Đối tƣợng nghiên cứu
Hình 2.1 Bản đồ địa điểm thu mẫu
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Đối tượng nghiên cứu là các loài cá có tại lưu vực sông suối thuộc khu vực 2
xã Ba Nam và Ba Xa, huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp thu thập mẫu vật ngoài thực địa
- Chuẩn bị dụng cụ: Chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ cần thiết cho thu mẫu
+ Găng tay cao su, khẩu trang
+ Panh, kéo, kim tiêm
- Chọn địa điểm thu mẫu: các điểm thu mẫu được chọn gồm đầy đủ các dạng thủy vực: hồ, ao, suối Tọa độ các điểm thu mẫu được xác định bằng máy GPS Garmin 76CSX
- Thời gian thu mẫu: tiến hành thu mẫu trong khoảng thời gian từ 6h – 24h trong ngày
- Thu mẫu trực tiếp:
+ Dựa vào bản đồ xác định các tuyến điều tra chính tại các thủy vực ở 2
xã Ba Nam và Ba Xa
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
+ Dùng mùng, lưới, chài để thu mẫu ở những nơi rộng rãi ít chướng ngại vật
+ Dùng vợt, để bắt cá bám ở các hốc, kẽ đá
+ Giăng lưới ở những vị trí thích hợp của thủy vực
- Thu mẫu gián tiếp:
+ Mua mẫu cá tại các chợ địa phương và người dân đánh bắt cá ở các thủy vực trong khu vực nghiên cứu
+ Mẫu sau khi định hình được cho vào lọ đựng có nắp kín chứa dung dịch foocmaline 8 – 10% trong 2 tuần sau đó chuyển sang ngâm trong dung dịch Alcohol 70% để bảo quản
- Điều tra, phỏng vấn: Phỏng vấn người dân địa phương để thu thập thông tin
về các loài cá xuất hiện tại khu vực nghiên cứu, cũng như mùa vụ, các loại
ngư cụ và phương pháp đánh bắt của người dân trong vùng nghiên cứu
2.2.2 Phương pháp phân tích và định loại trong phòng thí nghiệm
2.2.2.1 Phương pháp phân tích các số liệu hình thái
- Việc phân tích, định loại dựa trên phương pháp so sánh hình thái theo hướng dẫn của Pravadin, 1973 [42] Mỗi họ có các chỉ tiêu đo đếm hình thái khác
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nhau, nhưng ở đây chúng tôi chỉ xin giới thiệu dạng hình thái phân tích cá Chép làm đại diện vì đây là họ cá có số loài nhiều nhất (Hình 2.3) Các chỉ tiêu về kích thước được đo bằng thước kẹp điện tử Stainless Hardened với đơn vị đo nhỏ nhất là 0,01 mm (Hình 2.2)
Hình 2.3 Các chỉ tiêu đo đếm hình thái Hình 2.2 Thước kẹp điện tử Stainless Hardened
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Các chỉ tiêu đo (mm):
1: Chiều dài toàn thân
2: Chiều dài chuẩn
3: Chiều cao thân
4: Chiều dài đầu
5: Đường kính mắt
6: Khoảng cách trước mắt
7: Chiều dài vây ngực
8: Chiều dài vây bụng
9: Chiều dài gốc vây lưng
10: Chiều cao vây lưng
11: Chiều dài cuống đuôi
12: Chiều rộng cuống đuôi
Trên đây là các chỉ tiêu chính ngoài ra tôi còn tiến hành đo thêm một số chỉ tiêu khác
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Số vảy trên đường bên
Số vảy dưới đường bên
Số vảy trước vây lưng
Số vảy quanh cuống đuôi
Số râu
- Các tỷ lệ dùng trong định loại: HL/L0; TL/L0; O/TL; OO/TL (%)
2.2.2.2 Phương pháp định loại mẫu cá
Trong quá trình định loại:
- Trình tự các bộ, họ được sắp xếp theo hệ thống phân loại cá của Eschmeyer,
1998 [46], có tham khảo của Nguyễn Văn Hảo, 2005 [16] về tên Tiếng Việt một số loài cá
- Các tài liệu chính dùng trong định loại:
+ “Định loại cá nước ngọt các tỉnh phía Bắc Việt Nam” của Mai Đình Yên, (1978) [39]
+ “Định loại cá nước ngọt Nam Bộ” của Mai Đình Yên, Nguyễn Văn Thiện, Lê Hoàng Yến, Hứa Bạch Loan, Nguyễn Văn Trọng, (1992) [40]
+ “Cá nước ngọt Việt Nam, tập 1” của Nguyễn Văn Hảo, Ngô Sĩ Vân (2001) [15]
+ “Cá nước ngọt Việt Nam, tập 2” của Nguyễn Văn Hảo (2005) [16] + “Cá nước ngọt Việt Nam, tập 3” của Nguyễn Văn Hảo (2005) [17] + “Fishes of Laos” của M Kottelat (2001) [53]
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
+ “Freshwater fishes of the Northern Vietnam” của M Kottelat (2001) [55]
+ “An inventory of the Loaches of the world (Teleostei: Cypriniformes: Cobitoidei)” của M.Kottelat (2012) [57]
+ “Fishes of the Cambodia Mekong” của Rainboth (1996) [51]
+ “The Status and Distribution of Freshwater Biodiversity in Burma” của D.J Allen, K.G Smith and W.R.T Darwall (Compilers) (2012) [44]
Indo-+ “A new species of Rhinogobius (Teleostei: Gobiidae) from the Julongjiang Basin in Fujian province, China” của I-Shiung Chen, You-Hua Cheng, Kwang – Tsao Shao (2008) [45]
+ “Freshwater Fishes of Western Indonesia and Sulawesi” của M.Kottelat Anthony J.Whitten, Sri Nurani Kartikasari and Soetikno Wirjoatmodjo (1993) [52]
+ “Handbook of European Freshwater Fishes” của Maurince Kottelat, J Freyhof (2007) [56]
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 ĐA DẠNG LOÀI VÀ CẤU TRÚC PHÂN LOẠI CÁ KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1.1 Thành phần loài cá tại khu vực nghiên cứu
Trong thời gian nghiên cứu từ năm 2011 đến năm 2013, chúng tôi đã thu thập được tổng số 255 mẫu cá Dựa trên cơ sở phân tích hình thái các mẫu
cá đã thu được kết hợp với điều tra phỏng vấn người dân địa phương chúng tôi đã xác định được ở khu vực nghiên cứu có 43 loài thuộc 17 họ và 7 bộ trong đó có 40 loài có mẫu (Bảng 3.1)
Bảng 3.1 Danh lục thành phần loài cá tại 2 xã Ba Nam và Ba Xa, huyện
Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
M
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
36 Gambusia affinis (Baird &
Girard, 1853)