Kinh tế trang trại ở Can Lộc phát triển khá đa dạng trên nhiều lĩnh vực chăn nuôi, trồng trọt, tổng hợp, thủy sản và lâm nghiệp. Đặc biệt, chăn nuôi đang là thế mạnh của huyện, trong đó chăn nuôi theo hướng công nghiệp đang được chú trọng, góp phần phát triển nhanh cả về số lượng và quy mô, nâng cao năng suất, chất lượng, tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trungthực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõnguồn gốc
Tác giả luận văn
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 Các trang trại phân theo vùng, năm 2011 17
Bảng 3 60 mô hình kinh tế trang trại điều tra 60
Bảng 4 Thực trạng sử dụng đất của các trang trại điều tra 62
Bảng 5 Nguồn gốc đất của các trang trại điều tra 63
Bảng 6 Tình hình chủ quyền sử dụng đất của các trang trại 64
Bảng 8 Trình độ văn hóa và chuyên môn của các lao động 69
Bảng 9 Tình hình tiêu thụ sản phẩm của các trang trại điều tra 70
Bảng 10 Giá trị sản xuất các trang trại điều tra 71
Bảng 11 Chi phí sản xuất các trang trại điều tra 72
Bảng 12 Thu nhập của các trang trại điều tra 73
Bảng 13 Giá trị hàng hóa và tỷ suất hàng hóa qua điều tra 74
Bảng 15 Hiệu quả kinh tế trang trại điều tra 76
Trang 5DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1 Cơ cấu trang trại theo lĩnh vực sản xuất 18
Biểu đồ 2 KTTT năm 2011 theo giá trị thu nhập 50
Biểu đồ 3 KTTT năm 2011 theo quy mô trang trại 50
Biểu đồ 5 KTTT đến cuối 2012 theo quy mô 53
Biểu đồ 6 KTTT đến cuối 2012 theo loại hình sản xuất 54
Biểu đồ 7 Trình độ chuyên môn của chủ trang trại 67
Biểu đồ 8 Tỷ lệ nam nữ trong 60 chủ trang trại 68
Trang 6I MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa, kinh tế trang trại (KTTT) là mộthình thức tổ chức kinh tế cơ sở quan trọng và không thể thiếu hiện nay Sự pháttriển của KTTT sẽ góp phần không nhỏ vào phát triển kinh tế nông thôn, đặcbiệt tạo động lực thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nôngthôn Góp phần quan trọng trong việc phát triển một nền nông nghiệp bền vững.Bên cạnh đó còn góp phần tích cực trong việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên vàphát triển tính đa dạng của nông thôn, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực sảnxuất, tạo ra sự thịnh vượng trong khu vực nông thôn
Trong nền nông nghiệp thế giới, trang trại ( chủ yếu là trang trại gia đình)
là một hình thức sản xuất có vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống nôngnghiệp của mỗi nước Ở các nước phát triển, trang trại có vai trò hết sức to lớn
và có ý nghĩa quyết định trong nền sản xuất nông nghiệp, sản xuất ra tuyệt đại
bộ phận nông sản phẩm cung cấp cho xã hội Kinh tế trang trại là một hình thức
tổ chức kinh tế phổ biến và đã được hình thành từ rất lâu tại các nước phát triển.Tại Israel- đất nước có nền nông nghiệp phát triển bậc nhất trên thế giới, môhình kinh tế trang trại là một phần quan trọng trong nền nông nghiệp, cung cấphầu như số lượng sản phẩm nông nghiệp của quốc gia
Ở Việt Nam, kinh tế trang trại mới phát triển trong những năm gần đây, từkhi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, vớimục tiêu là công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước, song lấy nông nghiệp làmkhâu đột phá Đặc biệt là sau nghị quyết 10 của Bộ Chính Trị ( tháng 4 năm1988) về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, quan hệ sản xuất trong nôngnghiệp nước ta đã được tiến lên một bước Việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp
là một vấn đề cấp bách và lâu dài để nhằm từng bước đưa nền nông nghiệp tựcấp tự cung sang nền kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trường với sự quản lý vĩ
mô của nhà nước Đảng và Nhà nước đã có rất nhiều chính sách đúng đắn, kịpthời để thúc đẩy kinh tế trang trại phát triển và đã đạt được nhiều kết quả khả
Trang 7quan Cơ cấu sản xuất của các trang trại đang có bước chuyển biến tích cực theohướng hiện đại Tuy nhiên, xét về tổng thể thì KTTT đang gặp nhiều khó khăn
về quy mô lẫn vị thế trong nền sản xuất nông nghiệp Trong những năm đầu củathế kỉ 21, để loại hình KTTT phát triển mạnh hơn, năng động, hiệu quả hơn dướitầm nhìn của nền nông nghiệp trong và ngoài nước và làm thế nào để đạt đượcđiều đó đang là bài toán khó đặt ra cho những nhà hoạch định chính sách vĩ mô
và cả ở tầm quốc gia cũng như ở các địa phương Để tháo gỡ được những vướngmắc về nhận thức, cơ chế chính sách và giải pháp cụ thể về đất đai, vốn, laođộng, khoa học công nghệ, tổ chức quản lý thị trường,… Đòi hỏi phải có điều tranghiên cứu sâu mới có căn cứ để các cơ quan quản lý nhà nước đưa ra các chínhsách phù hợp cho phát triển loại hình kinh tế này
Can Lộc là một huyện nằm ở phía bắc của tỉnh Hà Tĩnh Trong những nămqua, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước trên lĩnh vực sản xuấtNông Lâm Ngư nghiệp Huyện đã đạt được những kết quả nhất định trong lĩnhvực nông nghiệp Với bước đột phá mới là một trong những huyện đầu tiên tiếptục chuyển đổi, tích tụ ruộng đất giai đoạn II Vì vậy,huyện ngày càng xuất hiệnnhiều mô hình sản xuất theo kinh tế trang trại, đem lại hiệu quả kinh tế cao, thayđổi nhận thức cho người nông dân và tạo động lực cho sự phát triển các phongtrào làm kinh tế giỏi Huyện Can Lộc có đủ 5 loại hình kinh tế trang trại là trangtrại trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp, và trang trại tổng hợp Nhưngloại hình kinh tế trang trại chiếm tỉ lệ chủ yếu là trang trại chăn nuôi, trồng trọt
và sản xuất kinh doanh tổng hợp Huyện Can Lộc có nhiều mô hình nông nghiệpsản xuất theo kiểu kinh tế trang trại Tuy nhiên, huyện có ít trang trại đạt tiêuchí trang trại năm 2011 của Bộ Nông Nghiệp và PTNT Còn lại là các gia trại,chúng thì sản xuất manh mún, chưa đạt hiệu quả kinh tế trang trại cao, nên khókhăn trong đầu ra cho các trang trại đó, và phòng nông nghiệp huyện cũng khóquản lý hơn, nên hiệu quả kinh tế chưa cao Hơn nữa, một số trang trại thì pháttriển kinh tế khá hiệu quả nhưng lại không tốt cho môi trường, nên cũng khôngbền vững trong tương lai
Trang 8Vì vậy, tôi nhận thấy vấn đề nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại cho cácloại hình kinh tế trang trại tại huyện Can Lộc là một vấn đề cần thiết, phù hợpvới xu hướng của nông nghiệp thế giới, định hướng phát triển của nhà nước, vàcải thiện nông nghiệp cho huyện nhà, và đem lại hiệu quả lớn hơn cho các trang
trại, nên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Đánh giá thực trạng và đề xuất giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại tại huyện Can Lộc- Hà Tĩnh”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng hiệu quả kinh tế trang trại ở huyện CanLộc, tìm hiểu nguyên nhân, từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng caohiệu quả kinh tế trang trại trên địa bàn, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trangtrại
1.2.1 Mục tiêu cụ thể
Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về trang trại, kinh tế trang trại, hiệuquả kinh tế trang trại, nâng cao hiểu biết về chúng, làm tiền đề cho sự phát triểnkinh tế trang trại một cách bền vững và đạt hiệu quả cao hơn
Nghiên cứu và tổng hợp các số liệu liên quan đến kinh tế trang trại củahuyện, từ đó đánh giá thực trạng hiệu quả kinh tế các trang trại, tìm ra các yếu tốảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trang trại ở Huyện
Đề xuất định hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trang trạitrên địa bàn huyện Can Lộc
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu một số nông trại trên toàn huyện Can Lộc, trong đógồm các loại hình kinh tế trang trại chủ yếu trên địa bàn huyện như các mô hìnhkinh tế trang trại trồng trọt, chăn nuôi, và tổng hợp; Nghiên cứu về thực trạngphát triển và hiệu quả của các trang trại đó
Trang 9Chúng tôi nghiên cứu vấn đề từ năm 2011 đến nay Chúng tôi lấy năm
2011 làm năm mở đầu cho nghiên cứu vì năm 2011, tiêu chí trang trại được thayđổi và áp dụng cho đến nay Và chúng tôi cũng đề xuất một số giải pháp nângcao hiệu quả kinh tế trang trại từ nay đến 2015
Trang 10Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần đánh giá thực trạng và hiệu quảkinh tế trang trại, phát triển kinh tế- xã hội của huyện Can Lộc, và nâng caonhận thức về các giải pháp nhằm phát triển kinh tế trang trại theo hướng bềnvững để nâng cao thu nhập cho người nông dân.
Đề xuất các giải pháp thích hợp để khắc phục những hạn chế và khai tháctối đa những thế mạnh nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại huyện CanLộc
II TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Kinh tế trang trại trên thế giới
2.1.1 Sự hình thành và phát triển
Trên thế giới, kinh tế trang trại đã hình thành và phát triển hàng trăm nămnay và đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của sản xuất nông nghiệp, trongứng dụng tiến bộ kỹ thuật và thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoátrong nền nông nghiệp hàng hoá Sở dĩ như vậy là bởi vì, nó là đơn vị kinh tế phùhợp với nông nghiệp nông thôn, rất cơ động và linh hoạt, dễ dàng vượt qua nhữngkhó khăn khi giá cả thị trường không ổn định
Ở Châu Âu, thế kỷ thứ XVIII, chủ nghĩa tư bản đã phát triển và xuất hiệntình trạng dân số bắt đầu tăng nhanh hơn, đồng thời nhu cầu nông sản cũng tăng,nhưng kỹ thuật nông nghiệp không làm tăng sản lượng nông nghiệp, làm cho giánông sản tăng Dân số tăng cộng với tư hữu ruộng đất đã dẫn đến người nghèo ởnông thôn tăng, giá thuê nhân công ở nông thôn giảm xuống trong điều kiện nôngnghiệp là ngành sản xuất có lãi, các trang trại lớn tư bản chủ nghĩa có nhiều lao độnglàm thuê ưu thế hơn trang trại gia đình Vì thế từ cuối thế kỷ XVIII đến khoảngnhững năm 1870, quy mô các trang trại lớn lên
Đến cuối thế kỷ XIX, do ngành đường sắt và tàu thủy chạy bằng hơi nướcphát triển, làm cho giá vận tải hàng hoá giảm, xuất hiện luồng di dân từ Châu Âusang Châu Mỹ và Châu Úc để mở rộng diện tích nông nghiệp, thời kỳ này máynông nghiệp và phân hoá học phát triển đã thúc đẩy sản lượng nông nghiệp tăng
Trang 11nhanh Từ đó làm giá nông nghiệp giảm mạnh, các trang trại lớn mất ưu thế vàthúc đẩy trang trại gia đình phát triển.
2.1.2 Phát triển kinh tế trang trại tại một số nước trên thế giới
Kinh tế trang trại ở Mỹ đến nay đã giảm đi về số lượng, tăng lên về quy môtrang trại, bình quân một trang trại ở Mỹ có quy mô diện tích đất canh tác là180ha Ở Mỹ, lao động làm thuê trong các trang trại là rất ít vì ứng dụng ngàycàng nhiều các khoa học kĩ thuật công nghệ tiến bộ mới vào nhiều lĩnh vực khácnhau, hiện nay có khoảng 35% số trang trại sử dụng máy vi tính phục vụ cho sảnxuất kinh doanh Ở nước Mỹ số trang trại gia đình chiếm khoảng 87% trongtổng số trang trại, 65% diện tích đất đai và chiếm gần 70% giá trị nông sản cảnước, với khoảng 2,2 triệu trang trại đã sản xuất ra hơn 50% sản lượng đậutương và ngô của toàn thế giới Xuất khẩu 40 – 50 triệu tấn lúa mỳ, 50 triệu tấnngô và đậu tương Năm 1990 một lao động ở Mỹ có khả năng nuôi sống 80người [1]
Năm 1960 vốn vay tín dụng của các trang trại Mỹ là 20 tỷ USD, năm
1970 là 54,5 tỷ USD bằng 3,7 lần thu nhập thuần tuý của các trang trại vànăm 1985 bằng 6 lần thu nhập của các trang trại
Ở nước Anh đầu thế kỷ thứ XVII, sự tập trung ruộng đất đã hình thành lênnhững xí nghiệp công nghiệp tư bản tập trung trên quy mô rộng lớn cùng vớiviệc sử dụng lao động làm thuê Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh nôngnghiệp ở đây giống như mô hình hoạt động của các công xưởng công nghiệp,thực tế cho thấy, sản xuất nông nghiệp tập trung, quy mô và sử dụng nhiều laođộng làm thuê đã không dễ dàng mang lại hiệu quả mong muốn Sang đầu thế kỹ
XX, lao động nông nghiệp bắt đầu giảm, nhiều nông trại đã bắt đầu giảm laođộng làm thuê Khi ấy thì 70 - 80% nông trại gia đình không thuê lao động Đây
là thời kỳ thịnh vượng của nông trại gia đình Ở Anh, 60% trang trại có ruộngđất riêng, 22% lĩnh canh một phần, 18% lĩnh canh toàn bộ
Sau cách mạng 1789, ruộng đất của địa chủ phong kiến được chuyển chonông dân Năm 1990 đã có tới 70% trang trại có ruộng đất riêng, 30% trang trại
Trang 12phải lĩnh canh một phần hay toàn bộ Số trang trại thuần nông chiếm khoảng 30
ha, mỗi gia đình gồm hai vợ chồng và 1 – 2 con, tự canh tác bằng máy mócriêng Số lượng trang trại có xu hướng giảm dần nhưng quy mô trang trại có xuhướng tăng lên Cụ thể, năm 1082 có số lượng gần 5,7 triệu trang trại, quy môbình quân 5,9 ha/trang trại thì đến năm 1987 chỉ có 982 nghìn trang trại, quy môbình quân tăng lên 24 ha/trang trại Chứng tỏ hoạt động sản xuất kinh doanh củatrang trại ngày càng phát triển về quy mô và có xu hướng hợp tác sản xuất hànghoá với quy mô ngày càng gia tăng [1]
Ở các nước Châu Á có nền kinh tế phát triển như Nhật Bản, Đài Loan sựphát triển trang trại diễn ra theo quy luật số lượng trang trại giảm, quy mô trangtrại tăng Tại Nhật Bản, năm 1950 số trang trại là 6176000 đến năm 1993 sốtrang trại còn 3691000 Số lượng trang trại giảm bình quân hàng năm là1,2%.Diện tích trang trại bình quân năm 1950 là 0,8 ha năm 1993 tăng lên là1,38 ha, tốc độ tăng bình quân là 1,3%
Ở Thái Lan trang trại đóng vai trò chủ chốt trong việc tạo ra nông sản phục vụtiêu dùng trong nước và xuất khẩu, số lượng trang trại gia đình có 4,5 triệu trangtrại, quy mô đất canh tác bình quân một trang trại là 5,6 ha, trong đó trang trại códiện tích từ 5-10 ha chiếm 28%, trang trại có diện tích lớn hơn 10 ha chiếm 14%.Năm 1980, tổng số máy kéo của trang trại có khoảng 460 nghìn chiếc, bảo đảm cơgiới khâu làm đất 60%, cơ giới hoá trong khâu chế biến cũng được phát triển mạnh,84% làng xã có điện phục vụ sản xuất và sinh hoạt
khi công nghiệp hoá đến mức tăng cao thì một mặt công nghiệp thu hút laođộng từ nông nghiệp mặt khác nó lại tác động làm tăng năng lực sản xuất của cáctrang trại bằng việc trang bị máy móc thiết bị thay thế lao động thủ công, đồng thờitrong nông nghiệp sử dụng ngày càng nhiều các chế phẩm công nghiệp Do vậy sốlượng các trang trại giảm đi nhưng quy mô diện tích, đầu động vật nuôi lại tăng lên.Năm 1950 ở Mỹ có 5648000 trang trại và giảm dần số lượng đến năm 1960 còn
3962000 trang trại Trong khi đó diện tích bình quân của trang trại tăng lên, năm
1950 là 56 ha, năm 1960 là 120 ha năm 1970 là 151 ha năm 1992 là 198,7 ha
Trang 13Nước Anh năm 1950 là 543000 trang trại, đến năm 1957 còn 254000 trang trại.Tốc độ giảm bình quân trang trại hàng năm là 2,1% Diện tích bình quân của cáctrang trại thì có xu hướng tăng lên năm 1950 diện tích bình quân 1 trang trại là
36 ha, năm 1987 là 71 ha Nước Pháp năm 1955 có 2285000 trang trại, đến năm
1993 chỉ còn 801400 trang trại Tốc độ giảm bình quân hàng năm là 2,7%
Máy móc và trang thiết bị phục vụ sản xuất: ở châu Âu 70% trang trại gia đìnhmua máy dùng riêng Ở Mỹ 35 % số trang trại, ở Miền Bắc, 75% trang trại ở Miềntây, 52% trang trại ở miền nam có máy riêng Nhờ trang trại lớn ở mỹ, Tây Đức, sửdụng máy tính điện tử để tổ chức sử dụng kinh doanh trồng trọt và chăn nuôi Còn
ở Châu Á như Nhật Bản, năm 1985 có 67% số trang trại có máy kéo nhỏ và 20%
có máy kéo lớn ở Đài Loan năm 1981 bình quân một trang trại có máy kéo 2 bánh
là 0,12 chiếc, máy cây 0,05 chiếc, máy liên hợp thu hoạch 0,02 chiếc, máy sấy 0,03chiếc, với việc trang bị máy móc như trên, các trang trại ở Đài Loan đã cơ giới hoá95% công việc làm đất, 91% công việc cấy lúa 80% gặt đập và 50% việc sấy hạt.Việc sử dụng chung đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn [2]
Lao động: do mức độ cơ giới hoá sản xuất nông nghiệp đạt mức độ caolên số lượng và tỷ lệ lao động làm việc trong các trang trại Ở Mỹ các trangtrại có thu nhập 100.000USD/năm không thuê lao động, các trang trại có thunhập từ 100.000- 500.000USD/năm thuê từ 1 - 2 năm lao động Ở Tây Âu vàBắc Mỹ, bình quân 1 trang trại có quy mô diện tích từ 25 - 30 ha chỉ sử dụng
1 - 2 lao động gia đình và 1 - 2 lao động thuê ngoài làm theo thời vụ ỞChâu á như Nhật Bản: năm 1990 mỗi trang trại có khoảng 3 lao động, nhưngchỉ có 1/3 lao động làm nông nghiệp
Cơ cấu trong tổng thu nhập của các trang trại cũng có sự biến đổi: trangtrại chuyên môn làm nông nghiệp thì giảm xuống, còn trang trại làm mộtphần nông nghiệp Kết hợp với ngành nghề phi nông nghiệp lại tăng lên ỞNhật Bản năm 1945 có 53,4% trang trại chuyên làm nông nghiệp 46,5%trang trại làm một phần nông nghiệp tăng lên 85% Như vậy cơ cấu thu nhập
Trang 14của các trang trại chuyên làm nông nghiệp ngày càng giảm, còn các trangtrại làm một phần nông nghiệp và phi nông nghiệp thì lại tăng lên.
Quan hệ của trang trại trong cộng đồng: Sản xuất càng phát triển thì mốiquan hệ của trang trại với thị trường và các tổ chức trên địa bàn ngày càngchặt chẽ và không thể thay thế Ở Nhật bản hiện nay 99,20% số trang trại giađình tham gia các hoạt động của trên 4000 HTX nông nghiệp ở các cơ sởlàng, xã, có hệ thống dọc trên huyện, tỉnh và cả nước Các HTX này thựchiện việc cung ứng đầu vào, tiêu thụ sản phẩm của các trang trại Ngoài ra,nhà nước cho các trang trại vay vốn tín dụng lãi suất thấp từ 3,5 - 7,5% /năm để tái tạo đồng ruộng, mua sắm máy móc Nhà nước trợ cấp cho cácnông trại 1/2 đến 1/3 giá bán các loại máy móc nông nghiệp mà nhà nướccần khuyến khích Bến cạnh đó còn có các chính sách ổn định và giảm tô đểkhuyến khích sản xuất nông nghiệp, chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạtầng tiện lợi cho việc phát triển kinh tế và giao lưu văn hoá [1]
2.1.3 Kinh tế trang trại tại Israel
Israel là một đất nước nhỏ bé nằm bên bờ địa trung hải, điều kiện tựnhiên thì vô cùng khắc nghiệt, nhưng Israel được biết đến là một đất nước cónền nông nghiệp phát triển hàng đầu thế giới Nhiều năm qua, Israel vẫn lànhà cung cấp nông sản số 1 cho liên minh Châu Âu Tại sa mạc Arava-Israel, lượng mưa chỉ từ 20-50mm mỗi năm, mùa hè nhiệt độ ban ngàykhoảng 40 độ, trong khi độ ẩm thì cực thấp, nên ngay cả chính phủ Israel đãtừng tin rằng, không thể phát triển được nông nghiệp ở đây Nhưng điều kìdiệu là hiện nay, vùng Arava đã cung cấp cho Israel 60% nông sản xuấtkhẩu, với giá trị khoang 250 triệu erro mỗi năm Với 560 nông hộ ở đây,công nghệ nhà kính đã đem lại cho họ một cuộc cách mạng nông nghiệpthực sự [3]
Hầu như sản phẩm nông nghiệp của Israel đều từ các trang trại Nôngnghiệp Israel sản xuất chủ yếu theo 2 loại hình kinh tế là Moshav vàKibbutz, chúng đều là tập hợp của các trang trại Vì vậy, các vấn đề của 2
Trang 15loại hình kinh tế này có thể xem như là vấn đề về loại hình kinh tế trang trạitại Israel Và nghiên cứu về nông nghiệp Israel cũng như nghiên cứu về loạihình kinh tế trang trại tại đây.
Các Moshav có cấu trúc gồm một khu trung tâm ở giữa, ở đó có nhà trẻ,cửa hàng, nhà sinh hoạt cộng đồng Xung quanh khu trung tâm là các khudân cư Và bao quanh bên ngoài là các khu sản xuất, các gia trại của một sốngười chủ trang trại trong Moshav đó Kibbutz là một đơn vị kinh tế độc lập,mang tính hợp tác xã Ở Kibbutz, toàn bộ đất đai được tập hợp lại thành mộtdiện tích lớn và đồng nhất Mỗi người trong Kibbutz làm việc tùy theo phâncông và khả năng của mình, họ làm việc cùng nhau, có quyền lợi và nghĩa
vụ ngang nhau
Mô hình Kibbutz xuất phát từ khi nhà nước Israel mới được thành lập.khi đó mọi người thấy cần liên kết lại với nhau để cùng làm việc và chia sẻmọi khó khăn Ở Kibbutz, toàn bộ đất đai được tập hợp lại thành một diệntích lớn và đồng nhất, nên mọi thành viên trong Kibbutz có điều kiện để sửdụng các công nghệ cao trên diện tích lớn để nâng cao năng suất, và cùngnhau tìm kiếm thị trường, cùng trồng cùng bán thì chất lượng nông sản sẽtăng lên rất nhiều Tuy nhiên, hiện nay mô hình này đã được tư hữu hóa.Kibbutz đã thay đổi một số nguyên tắc và được tư hữu hóa, đất đai vẫn đượctập trung, mọi người cùng làm nhưng mỗi người làm một việc, hưởng lươngtheo công việc, và đóng thuế để xây dựng và ổn định các hoạt động chungcủa Kibbutz
Liên kết giữa 4 nhà trong nông nghiệp Israel là chuẩn mực Liên kết làchiếc đũa thần tạo nên kỳ tích trong nông nghiệp của Israel Các trang trạiIsrael luôn được chính phủ hỗ trợ về nhiều mặt, từ vốn sản xuất ban đầu chotới những lúc gặp rủi ro Các trang trại luôn được các nhà khoa học tới xem,tìm hiểu tình hình với các nhà khoa học nông nghiệp, viện nghiên cứu lítưởng nhất của họ là các trang trại vì ở đó họ mới biết người nông dân đangthực sự cần gì và các nghiên cứu của họ đang được ứng dụng ra làm sao
Trang 16Chính phủ Israel đầu tư rất lớn cho nghiên cứu khoa học, không ngần ngại
để giúp các doanh nghiệp phát triển các ý tưởng hay công nghệ cao, kể cảnhững ý tưởng tưởng chừng như điên rồ nhất, và những chính sách hỗ trợmang tính khuyến khích chứ không phải ban phát cho người nông dân, vaitrò của chính phủ ở đây giống như một bàn đỡ Như vậy, trong nông nghiệpIsrael sự đoàn kết đã mang lại lợi ích cho tất cả, vì thế nó hình thành và pháttriển một cách tự nhiên, thực chất và bền vững
Tại Israel, các trang trại luôn được cập nhật các loại giống mới, đượcứng dụng các máy móc thiết bị hiện đại Có các trung tâm nghiên cứu, tạo racác loại giống mới như Công ty Hazera Genetics Các trung tâm này thườngtạo ra các loại giống mới và thường chúng chỉ trồng cho năng suất cao nhấtchỉ trong 1 mùa vụ, nông dân không tạo ra giống mà mua tại các trung tâm
đó Các tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng được đổi mới thường xuyên, nhất làcông nghệ nhà kính và hệ thống tưới nước nhỏ giọt Các hoạt động gieotrồng, chăm sóc trên cây, con hầu như dùng máy móc Con người chỉ làmmột ít công việc như điều khiển máy, thu hoạch những loại hoa quả đòi hỏi
sự cẩn thận, nhẹ nhàng Có như vậy, hiện nay chỉ 2% dân số làm nôngnghiệp,nhưng Israel vẫn đủ cung cấp lương thực, thực phẩm trong nước và
là nước cung cấp nông sản số 1 cho liên minh châu âu trong những năm gầnđây
Tại Israel, các trang trại rất gắn kết với thị trường Sản xuât và thịthường gắn bó mật thiết với nhau như thể cây và nước, trong nhiều trườnghợp nhà nông cũng chính là doanh nghiệp Các chủ trang trại luôn tìm hiểuthị trường, cập nhật thông tin một cách nhanh chóng về nhu cầu của thịtrường Các trang trại có tính chuyên môn hóa khá cao, trong một Moshavtrang trại này trồng dưa, trang trại khác trồng rau, cà chua, hành tây nên thịtrường tiêu thụ tương đối ổn định, giảm được sự cạnh tranh trên thị trường.Còn trong một trang trại, cùng một loại nông sản, các chủ trang trại chia ra
Trang 17thành nhiều đợt trồng, nuôi nối tiếp nhau, nhằm cung cấp cho thị trườngliên tục và không để cung vượt quá cầu [3]
2.1.4 Một số kinh nghiệm hay từ kinh tế trang trại trên thế giới
Từ thực tiễn phát triển kinh tế trang trại trên thế giới chúng ta có thể đưa ramột vài nhận xét như sau:
Ở các nước phát triển, thường ở giai đoạn đầu có số trang trại nhiều và quy
mô trang trại nhỏ Nhưng cùng với sự phát triển của nông nghiệp, số lượng trangtrại giảm dần và quy mô của trang trại tăng lên, khối lượng nông sản tăng nhanh.Chúng ta cần tập trung ruộng đất và giao cho những người có khả năng sản xuấtcách có hiệu quả
Phần lớn các trang trại đều sử dụng lao động gia đình là chính, số lao độngthuê không nhiều và chỉ thuê mang tính thời vụ Máy móc, nông cụ cũng chủyếu là do trang trại bỏ vốn ra hoặc chung nhau mua Chúng ta cần đưa máy mócvào để hỗ trợ cho hoạt động sản xuất của trang trại, thay thế lao động thủ côngcủa con người, để có hiệu quả cao hơn
Chủ trang trại là người quản lý, người trực tiếp thuê lao động và là ngườikinh doanh nên có nhiều ưu thế trong sản xuất của trang trại Chúng ta cần pháttriển các trang trại gia đình, nó là xu thế của thế giới thời nay, và đem lại nhiềulợi ích
Qua sự liên kết 4 nhà trong nông nghiệp Israel, chúng ta cần học hỏi và tăngcường đoàn kết lại với nhau, để cùng tạo ra nền sản xuất hiệu quả, và cùng nhauhưởng lợi Ngoài ra, trong quá trình phát triển trang trại phải tự hợp tác với nhau
để giải quyết dịch vụ đầu vào, đầu ra cho trang trại một cách dễ dàng hơn
Vốn sản xuất : trong sản xuất và dịch vụ, ngoài nguồn vốn tự có các chủtrang trại còn sử dụng vốn vay của ngân hàng nhà nước và tư nhân, tiềnmua hàng chịu các loại vật tư kỹ thuật của các cửa hàng và công ty dịch vụ
Vì vậy, trong sản xuất trang trại, nhà nước cần hỗ trợ vốn bằng nhiều cáchnhư cho vay, các chính sách hỗ trợ để trang trại phát triển
Trang 18Cần đầu tư khoa học công nghệ vào sản xuất, tìm hiểu nhu cầu của cácthị trường nước ngoài để sản phẩm làm ra dễ dàng tiêu thụ và giá trị đem lạicao hơn.
2.2 Kinh tế trang trại ở Việt Nam
2.2.1 Lịch sử phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam.
a Trước cách mạng tháng tám.
Trong thời kỳ phong kiến dân tộc (thế kỷ X - giữa thế kỷ XIX) một số triềuđại phong kiến đã có chính sách khai khẩn đất hoang bằng cách lập đồn điền, doanhđiền, được biểu hiện dưới các hình thức khác nhau: điền trang, điền doanh, tháiấp…
Thời kỳ Lý Trần: do nhu cầu phát triển kinh tế nông nghiệp và góp phần giảiquyết nạn phiêu tán, tập trung nhân lực xây dựng cơ sở kinh tế cho tầng lớp quí tộcđược biểu hiện qua nhiều cách thức như điền trang, thái ấp, đồn điền
Thời Lê Nguyễn: hình thức sản xuất nông nghiệp lúc này là các trại ấp, gồm:Trại ấp ban cấp và trại ấp khai hoang do các quan lại và các công thần cai quản.Những trại ấp ở thời kỳ này đã có vai trò tích cực trong phát triển sản xuất nôngnghiệp, mở rộng diện tích canh tác sử dụng nguồn nhân lực của địa phương và tùbinh
Kinh tế trang trại Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc Mục đích chủ yếu của kinh tếtrang trại trong thời kỳ này là nhằm vào việc khai thác những vùng lãnh thổ rộnglớn mà chúng ta đạt được Thiết lập ở đó các đồn điền tăng sức sản xuất ở khu vựcthuộc địa, thông qua để dễ phát triển mối quan hệ về thương mại quốc tế, chính phủthuộc địa đã có nhiều chính sách và biện pháp trực tiếp thúc đẩy sự ra đời đồn điềncủa người Pháp ở Việt Nam như: chính sách ruộng đất, chính sách thuế, chính sáchkhen thưởng…[4]
b.Từ sau cách mạng tháng 8/1945 đến Nghị quyết Trung ương Đảng khoá VII (tháng 6/1993).
Thời kỳ 1945 - 1975: Trước những năm 1975 nền công nghiệp miền Bắcmang nặng tính kế hoạch hoá tập trung và có các hình thức tổ chức sản xuất chủ
Trang 19yếu như: Các nông lâm trường quốc doanh, các HTX nông nghiệp, ruộng đất tưliệu sản xuất được tập trung hoá, kinh tế tư nhân bị thu hẹp tuy vậy hiệu quả kinh tếcủa sản xuất nông nghiệp trong thời kỳ này rất thấp kém Ở miền Nam trong thời
kỳ 1945 - 1975 các hình thức tổ chức sản xuất ởvùng tạm chính chủ yếu là các đồnđiền, dinh điền, các HTX kinh tế hộ gia đình sản xuất hàng hoá
Từ cuối những năm 1970 hiệu quả sản xuất thấp kém trong các HTX ở miềnBắc dẫn đến sự khủng hoảng của mô hình tập thể hoá nông nghiệp Trong thấp niên
80, đặc biệt là Đại hội VI của Đảng 12/1983 đã đưa ra các chủ trương đổi mới kinh
tế nước ta tiếp đó Bộ Chính trị có nghị quyết 10 (4/1989) và đổi mới cơ chế quản lýnông nghiệp và khằng định hộ xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ
Nghị Quyết 10 – NQ/TW ngày 5/4/1988 của Bộ Chính trị về đổi mới quản
lý nông nghiệp “Nhà nước tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho các thành phần này phát triển trồng trọt, chăn nuôi, trồng rừng…”
Với mục tiêu giải phóng sản xuất phát huy mọi tiềm năng của các thành phầnkinh tế, chuyển nền nông nghiệp nước ta sang sản xuất hàng hoá, Nghị quyết 10 đã
đề ra chủ trương giải pháp cơ bản để phát triển kinh tế hộ
Sau Nghị quyết 10, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản, Nghịquyết, Luật đất đai, Luật dân sự, Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư và các Nghị địnhnhằm thể chế hoá chính sách đối với kinh tế tư nhân trong công nghiệp.[4]
c.Từ sau Nghị quyết Trung ương Đảng khoá VII (tháng 6/1993) đến nay.
Nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ V khoá VII năm 1993 đã chủ trươngkhuyến khích phát triển các nông lâm ngư nghiệp trang trại với qui mô thích hợp,Luật đất đai năm 1983 và Nghị quyết 64/CP ngày 27/9/1993 cũng đã thể chế hoáchính sách đất đai đối với các hộ gia đình và cá nhân trong việc kinh doanh nôngnghiệp Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII năm 1996 và sau đó, nghị quyết hộinghị trung ương lần thứ 4 (khoá VIII) tiếp tục khuyến khích phát triển kinh tế trangtrại Ở hầu hết các địa phương, trong những năm gần đây, kinh tế trang trại đã pháttriển rất nhanh chóng, nhiều địa phương đã có những chính sách cụ thể khuyếnkhích phát triển loại hình kinh tế này
Trang 20Nghị quyết 05 – NQ/HNTW ngày 10/06/1993 Hội nghị lần thứ V Ban chấphành TW Đảng khoá VII đã “Đặc biệt khuyến khích các thành phần kinh tế đầu
tư phát triển các loại giống mới có hiệu quả kinh tế cao, khai thác đồi núi trọc…,xây dựng các nông, lâm, ngư trại với quy mô thích hợp phát triển tiểu thủ côngnghiệp và công nghiệp dịch vụ nông thôn tham gia xây dựng kết cấu hạ tầng,khuyến khích các nhà kinh doanh từ thành thị về nông thôn lập nghiệp”
Nghị quyết 04 – NQ/HNTW ngày 29/12/1997 và Hội nghị lần thứ IV Banchấp hành TW Đảng khóa VIII khẳng định “KTTT với các hình thức sở hữukhác nhau được phát triển chủ yếu để trồng cây dài ngày, chăn nuôi đại gia súc ởnhững nơi có nhiều ruộng đất, khuyến khích việc khai thác đất hoang vào mụcđích này”
Nghị quyết 05 – NQ/HNTW ngày 17/10/1998 và Hội nghị lần thứ VI (lần1) Ban chấp hành TW Đảng khóa VIII “Nhà nước có chính sách, khuyến khíchphát triển hình thức trang trại gia đình như các loại hình sản xuất khác của kinh
tế hộ gia đình…Nhà nước hoan nghênh, khuyến khích các chủ trang trại giaokhoán một phần đất hoang, vườn cây hoặc gia súc cho người lao động…, hướngdẫn chủ trang trại ký kết các hợp đồng lao động với người lao động theo phápluật trên cơ sở hai bên cùng có lợi”
Nghị quyết 03/2000/NQ –CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về KTTT:
“Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát huy kinh tế tự chủ của hộ nôngdân, phát triển KTTT đi đôi với chuyển HTX cũ, mở rộng các hình thức kinh tếhợp tác, liên kết SXKD giữa các hộ nông dân, các trang trại, các nông, lâmtrường quốc doanh, doanh nghiệp và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tếkhác để tạo động lực và sức mạnh tổng hợp cho nông nghiệp, nông thôn pháttriển… Nhà nước hỗ trợ về vốn, khoa học công nghệ, chế biến, tiêu thụ sảnphẩm, xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện cho các trang trại phát triển bềnvững…” [4]
Thông tư 27/2011/TT – BNNPTNT ngày 13/04/2011 của Bộ Nông nghiệpquy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận KTTT:
Trang 21‘‘Cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủysản đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại phải thỏa mãn điều kiện sau:
1 Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tổng hợp phải đạt:
a) Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu:
- 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long;
- 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại
b) Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm
2 Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệuđồng/năm trở lên;
3 Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha và giátrị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên.” [5]
2.2.2 Kinh tế trang trại Việt Nam hiện nay
Kinh tế trang trại đóng vai trò quan trọng trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
Trong cuộc Tổng điều tra, tiêu chí trang trại để xác định đơn vị điều tra
là trang trại được thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13 tháng 4 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhậnkinh tế trang trại Theo tiêu chí mới, quy mô và kết quả sản xuất của cáctrang trại từ năm 2011 sẽ phải đạt mức cao hơn nhiều so với quy định trướcđây [6]
Theo kết quả tổng hợp sơ bộ, năm 2011 cả nước có 20.065trang trại (bằng 13,8% số trang trại năm 2010) Trong tổng số, riêngĐồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ đã có 11.697 trang trại, chiếm58,3% số trang trại cả nước Trong đó, Đồng bằng sông Cửu Long với6.308 trang trại chiếm 31,4%; Đông Nam Bộ với 5.389 trang trạichiếm 26,9% Đây là 2 vùng có nhiều đất đai, diện tích nuôi trồng thủysản thuận lợi cho việc phát triển kinh tế trang trại
Trang 22Bảng 1: Các trang trại phân theo vùng, năm 2011
Cả nước có 8.642 trang trại trồng trọt chiếm 43% tổng số trangtrại; 6.202 trang trại chăn nuôi chiếm 30,9%; 4433 trang trại nuôi trồngthủy sản chiếm 22,1%; 737 trang trại tổng hợp chiếm 3,7% và 51 trang trạilâm nghiệp chiếm 0,3% Số lượng trang trại trồng trọt chủ yếu tập trung ởĐông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên với 7 809 trangtrại chiếm 90,4% số trang trại trồng trọt toàn quốc; số lượng trang trạithủy sản chủ yếu tập trung ở Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằngsông Hồng với 4.090 trang trại chiếm 92,3% số trang trại thủy sản; số lượngtrang trại chăn nuôi chủ yếu tập trung ở Đông Nam Bộ và Đồng bằngsông Hồng với 4.240 trang trại chiếm 68,3% số trang trại chăn nuôi
Trang 23Trang trại đã sử dụng nhiều ruộng đất và lao động Tại thờiđiểm 01/7/2011, diện tích đất nông, lâm nghiệp và diện tích mặt nước nuôitrồng thuỷ sản do các trang trại đang sử dụng là 157,6 nghìn ha, bình quân 1trang trại sử dụng 7,9 ha Trong tổng số nêu trên thì đất trồng cây lâu nămchiếm tỷ trọng lớn nhất với 78 nghìn ha (49,5%); đất trồng cây hàng năm36,7 nghìn ha (23,3% ); diện tích nuôi trồng thủy sản 34,2 nghìn ha (21,7%);đất lâm nghiệp 8,7 nghìn ha (5,5%) Diện tích đất nông, lâm nghiệp vàthuỷ sản bình quân 1 trang trại cao nhất là ở vùng Đông Nam Bộ 10,9 ha;Tây Nguyên 8,8 ha; Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 8,7 ha; Đồngbằng sông Cửu Long 7,3 ha; Trung du và miền núi phía Bắc 4,9 ha và Đồngbằng sông Hồng 3,6 ha Diện tích đất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm
2011 bình quân trang trại của cả nước và các vùng tăng cao so các năm trướcđây chủ yếu do thay đổi về tiêu chí trang trại.Kinh tế trang trại phát triểngóp phần tạo việc làm cho lao động nông thôn Theo kết quả sơ bộ, tạithời điểm 01/7/2011, các trang trại cả nước đã tạo công ăn, việc làmthường xuyên cho gần 100 nghìn lao động và rất nhiều lao động thời vụ,tạm thời ở các địa phương [6]
Kinh tế trang trại phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá quy mô ngày càng lớn, gắn với thị trường
Trang 24Tổng thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản của các trang trạinăm 2011 đạt gần 39 nghìn tỷ đồng (chiếm khoảng 6% giá trị sảnxuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản), bình quân 1942,5 triệu đồng 1 trangtrại Tổng thu sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản bình quân 1 trang trạicao nhất là vùng Trung du và miền núi phía Bắc 2.868 triệu đồng, Đồngbằng sông Hồng 2.519 triệu đồng, Đông Nam Bộ 2.353 triệu đồng, BắcTrung Bộ và duyên hải miền Trung 1 580 triệu đồng, Đồng bằng sông CửuLong 1.540 triệu đồng và thấp nhất là Tây Nguyên 1.315 triệu đồng Giátrị sản phẩm và dịch vụ nông, lâm nghiệp và thuỷ sản bán ra năm
2011 là 38.249 tỷ đồng, bình quân 1 trang trại 1.906,2 triệu đồng Trongtổng giá trị sản phẩm và dịch vụ, tỷ suất hàng hoá (phần trang trạibán ra) chiếm đến 98,1% Các vùng có tỷ suất hàng hoá cao là: Đông Nam
Bộ 99,0%, Đồng bằng sông Cửu Long 98,6%, Bắc Trung Bộ và duyên hảimiền trung 98,4%, Đồng bằng sông Hồng 98,2%, Tây Nguyên 96%, thấpnhất là Trung du và miền núi phía Bắc 92,2%
2.2.3 Xu hướng phát triển trong tương lai
Các trang trại đã được hình thành ở nước ta trong điều kiện kinh tế thịtrường đã đang và sẽ phát triển theo các xu hướng sau:
Tích tụ và tập trung sản xuất: Sau khi hình thành, nhìn chung các trang trại
vẫn diễn ra quá trình tích tụ ruộng đất và tập trung sản xuất và mở rộng quy mô vànâng cao hiệu quả SXKD Ở những nơi có điều kiện các trang trại nói chung vẫn có
xu hướng mở rộng diện tích phát triển sản xuất chủ yếu qua con đường khai phá đấthoang hóa, nhận thầu sử dụng đất, thuê đất sản xuất…
Chuyên môn hóa sản xuất: Chuyên môn hóa là điều kiện để phát triển sản
xuất hàng hóa Do vậy sản xuất ngày càng đi vào chuyên môn hóa là một xuhướng phát triển của KTTT Tuy nhiên, do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
mà chuyên môn hóa sản xuất trang trại trong nhiều trường hợp cần phải kết hợpmột cách hợp lý với phát triển đa dạng để sử dụng đầy đủ các điều kiện sản xuất
Trang 25của trang trại và thu nhập, đồng thời hạn chế những rủi ro có thể xẩy ra trongSXKD của trang trại do thiên tai và biến động của thị trường nông sản.
Nâng cao trình độ kỹ thuật và thâm canh hóa sản xuất: Phát triển sản
xuất nông sản phẩm hàng hóa và nâng cao hiệu quả sản xuất đòi hỏi phải khôngngừng nâng cao trình độ kỹ thuật và thâm canh sản xuất là cơ sở quan trọng đểnâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi, nâng cao năng suất lao động, chất lượng
và hạ giá thành sản phẩm
Hợp tác cạnh tranh: Các trang trại muốn SXKD phát triển ổn định lâu dài
và đạt hiệu quả cao thì cùng với việc thực hiện tích lũy mở rộng sản xuất,chuyên môn hóa sản xuất, nâng cao trình độ kỹ thuật và thâm canh hóa sản xuấtphải hợp tác với nhau và với các đơn vị, tổ chức kinh tế khác có liên quan đếnhoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại để giúp cho mỗi trang trại giảiquyết tốt hơn những vấn đề của SXKD mà nếu trang trại mà nếu tách rời sẽkhông giải quyết được hoặc giải quyết kém hiệu quả Cùng với hợp tác SXKD,mỗi trang trại đồng thời còn phải cạnh tranh với các trang trại, những đơn vị, tổchức kinh tế khác cùng sản xuất kinh doanh những sản phẩm như của trang trạimình để có thể tiêu thụ nông, sản phẩm làm ra với giá cả hợp lý, đảm bảo có lãi,thực hiện tích lũy và mở rộng thị trường…
III CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Theo Mac: Trong sản xuất nông nghiệp, vai trò hết sức quan trọng của trang trại
là mang lại hiệu quả kinh tế cao “Ngay ở nước Anh với nền công nghiệp phát triển,
Trang 26hình thức sản xuất có lợi nhất không phải là các xí nghiệp nông nghiệp quy mô lớn,
mà là các trang trại gia đình sử dụng lao động làm thuê”
Ở nước ta, trước năm 2000 do có nhiều cách tiếp cận, phân tích đánh giákhác nhau nên có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm “trang trại” và
“kinh tế trang trại”
Có quan điểm cho rằng: “Trang trại là một tổ chức sản xuất cơ sở trongnông nghiệp (bao gồm nông, lâm, ngư nghiệp) có mục đích là sản xuất hàng hoá,
tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của người chủ độc lập,sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất tập trung
đủ lớn với phương thức tổ chức quản lý sản xuất tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao,hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường”
Cũng có quan điểm cho rằng: “Trang trại là một hình thức sản xuất cơ sởtrong nông nghiệp (bao gồm cả nông, lâm, ngư nghiệp) phổ biến được hìnhthành từ kinh tế hộ, với mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, có sự tích tụvốn, đất đai lao động nhất định, phù hợp với từng loại cây trồng, vật nuôi, ngànhnghề và địa bàn sản xuất và yêu cầu ứng dụng khoa học công nghệ, tự chủ quản
lý kinh doanh theo cơ chế thị trường”
PGS.TS Hoàng Việt đã đưa ra khái niệm “Trang trại là một hình thức tổchức sản xuất sản phẩm hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặcquyền sử dụng của một người chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy môdiện tích ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớn, với cách thức tổchức tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thịtrường”
Khi nghiên cứu về trang trại, tác giả Trần Trác viết: “Kinh tế trang trại làhình thức tổ chức sản xuất và kinh doanh hàng hoá nông, lâm, thuỷ sản của một
hộ gia đình theo cơ chế thị trường”
Trong báo cáo tổng hợp đề tài “Nghiên cứu quản lý trang trại tư nhân quy
mô lớn và đề xuất các giải pháp chủ yếu phát triển chúng” của Viện quy hoạch
và thiết kế nông thôn đã đưa ra khái niệm: “Kinh tế trang trại là một hình thức tổ
Trang 27chức sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp, được hình thành và phát triển trên
cơ sở kinh tế hộ gia đình nông dân có mức độ tích tụ và tập trung cao hơn về đấtđai, vốn, lao động, kỹ thuật…nhằm tạo ra khối lượng hàng hoá nông sản lớnhơn, với lợi nhuận cao hơn theo yêu cầu của kinh tế thị trường, có sự điều tiếtcủa nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”
Qua những quan điểm khác nhau ở trên, mỗi quan điểm đều có cách nhìnnhận khác nhau, nhưng ta có thể tổng kết lại là: “Kinh tế trang trại là hình thức
tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản vớiquy mô về đất đai, vốn, lao động, đầu con gia súc gia cầm, giá trị sản xuất nông,lâm, thuỷ sản phải lớn, hiệu quả sản xuất cao và có thu nhập vượt trội so vớikinh tế hộ”
Còn rất nhiều tác giả ở các góc độ khác nhau, đã đưa ra nhiều khái niệmkhác nhau, nhưng tựu chung vẫn thống nhất cho rằng, trang trại là một hình thức
tổ chức sản xuất hàng hóa ở mức cao hơn kinh tế hộ về cả quy mô, lẫn hình thứcquản lý Hơn nữa các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh khác ở các hộ giađình thì mục đích chủ yếu là tự sản tự tiêu, nhưng mục đích của người chủtrang trại chủ yếu là sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu thị trường, có quan hệchặt chẽ và phản ứng nhanh nhạy với thị trường Còn một phần nhỏ sản phẩmlàm ra phục vụ ngược trở lại cho sản xuất và tiêu dùng [8]
Như vậy, đã nói đến trang trại là nói đến trang trại sản xuất Dưới sự quản
lý, điều hành của chủ trang trại, các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất (đấtđai, vốn, lao động) được kết hợp để thực hiện quy trình sản xuất nông, lâm, ngưnghiệp nhằm tạo ra các sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp Hoạt động của kinh tếtrang trại luôn gắn với các yếu tố đầu vào (đất đai, vốn, lao đông), công nghệ sảnxuất - quản lý, đầu ra (sản phẩm của trang trại và việc bán sản phẩm của trangtrại ra thị trường để thu hồi vốn) Việc quyết định các vấn đề như mua gì, sửdụng công nghệ gì, bán gì, giá cả ra sao là hoàn toàn thuộc về chủ trang trại Nhànước không can thiệp trực tiếp vào các quyết định này của chủ trang trại khi việc
ra và thực hiện các quyết định đó xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công
Trang 28cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác Tuy nhiên, để cho hoạtđộng của trang trại ngày một thuận lợi, theo đúng định hướng Nhà nước đặt ra,bên cạnh sự tôn trọng tính độc lập, tự chủ của các chủ trang trại trong việc ra vàthực hiện quyết định đầu tư kinh doanh, Nhà nước hết sức quan tâm, tạo điềukiện bằng chính sách cụ thể như các ưu đãi về vốn, đất đai, thuế và các chínhsách bảo hộ tài sản để chủ trang trại yên tâm sản xuất.
Hai thuật ngữ “trang trại” hay “kinh tế trang trại”, trong nhiều trường hợpđược sử dụng như những thuật ngữ đồng nghĩa Về thực chất, trang trại và kinh
tế trang trại là những khái niệm không đồng nhất Bởi vì: “kinh tế trang trại làtổng thể các yếu tố vật chất của sản xuất và các quan hệ kinh tế nảy sinh trongquá trình tồn tại và hoạt động của trang trại, còn trang trại là nơi kết hợp các yếu
tố vật chất của sản xuất và là chủ thể của các quan hệ kinh tế đó”
Khi chúng ta nói về “trang trại” tức là nói đến những cơ sở sản xuất kinhdoanh nông nghiệp của một loại hình tổ chức sản xuất nhất định theo nghĩa rộngbao gồm cả hoạt động xã hội kinh doanh trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi,lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản…Bản thân cụm từ “trang trại” là đề cập đếntổng thể những mối quan hệ kinh tế - xã hội, môi trường nảy sinh trong quá trìnhsản xuất kinh doanh của các trang trại, quan hệ giữa các trang trại với nhau, giữacác trang trại với các tổ chức kinh tế khác, với Nhà nước, với thị trường, với môitrường sinh thái tự nhiên
Từ các quan điểm trên và tinh thần trong Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP,ngày 02/02/2000, về kinh tế trang trại, Chính phủ đã thống nhất nhận thức vềkinh tế trang trại như sau: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hànghóa trong nông nghiệp, nông thôn chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộngquy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, trồng rừng, chănnuôi, nuôi trồng thủy sản, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thủy,hải sản”
Trang 293.1.1.2 Đặc trưng của trang trại
Việc nghiên cứu những đặc trưng của kinh tế trang trại có ý nghĩa quantrọng trong nghiên cứu cũng như trong thực tiễn quản lý Đó chính là nhữngđiểm khác biệt mang tính bản chất của kinh tế trang trại so với kinh tế nông hộ
và các hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung khác Với quan điểm như vậy,kinh tế trang trại mang những đặc trưng cơ bản sau đây:
Một là: Mục đích chủ yếu của kinh tế trang trại là sản xuất nông sản
phẩm hàng hóa theo nhu cầu thị trường
Sản xuất nông nghiệp theo kiểu truyền thống tự cung, tự cấp chỉ giảiquyết nhu cầu của chính người sản xuất, lượng sản phẩm dư thừa đem bán trênthị trường chiếm một tỷ trọng rất nhỏ so với khối lượng nông sản mà họ sản xuất
ra Các hộ nông dân cũng cố gắng bán bất kỳ thứ nông sản nào do chính bảnthân họ sản xuất ra - giai đoạn này gọi là thương mại hóa sản phẩm Sau đó,
hộ nông dân sản xuất hàng hóa theo yêu cầu của thị trường - đó là giai đoạn sảnxuất hàng hóa của hộ đã đạt tới một trình độ cao để thích ứng với nhu cầu của thịtrường Tới khi sản xuất hàng hóa khu vực nông thôn đã đạt đến một cấp độ caohơn, một bộ phận hộ nông dân đã phát triển đến hình thức sản xuất theo môhình trang trại
Hai là: Tư liệu sản xuất trong trang trại thuộc quyền sở hữu hoặc quyền
Trang 30chủ trang trại là người có quyền định đoạt việc phân phối sản phẩm do trang trạimình sản xuất ra
Ba là: Trong các trang trại, các yếu tố sản xuất trước hết là ruộng đất
được tập trung tới quy mô nhất định theo yêu cầu phát triển của sản xuất hàng hóa.
Sự phát triển kinh tế trang trại gắn liền với quá tŕnh tích tụ vốn và tập trung đất Nông hộ phải tập trung đất đai với quy mô nhất định, mới có điều kiện sản xuất hàng hóa và một lượng vốn nhất định Việc phân phối, giao đất cho người sử dụng sẽ khắc phục được tình trạng đất đai phân tán, manh mún Thông qua chuyển đổi ruộng đất, sẽ dẫn đến tích tụ tập trung để sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm và sản phẩm hàng hóa xuất khẩu, sẽ tích lũy tái sản xuất
mở rộng nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và khai thác tối đa lợi thế của vùng
Bốn là: Kinh tế trang trại có cách thức tổ chức quản lý sản xuất tiến bộ
dựa trên cơ sở chuyên môn hóa sản xuất, thâm canh, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, thực hiện hạch toán, điều hành sản xuất hợp lý và thường xuyên tiếp cận thị trường
Dưới góc độ kỹ thuật canh tác : Trang trại là đơn vị sản xuất hàng hóa ápdụng một cách tích cực những tiến bộ của khoa học công nghệ để thâm canh,tăng năng suất cây trồng, vật nuôi Nhờ đó, sản phẩm sản xuất ra mới đảm bảotiêu chuẩn mà khách hàng yêu cầu, thỏa mãn nhu cầu thị trường, từ đó tăngnăng lực cạnh tranh sản phẩm, từ đó làm cho tăng năng suất lao động của trang trạicao hơn hẳn so với phương thức sản xuất của các hộ
Năm là: Chủ trang trại là người có ý chí, có năng lực tổ chức quản lý,
có kiến thức và kinh nghiệm sản xuất, đồng thời có hiểu biết nhất định về kinh doanh
Trước hết, xin nói về công tác điều hành, kế hoạch hóa, tổ chức kiểm tra, đánh giá hoạt động sản xuất được các chủ trang trại chú ý, hoạt động sản xuất hàng hóa của trang trại không thể theo một tư duy sản xuất theo kiểu tự cung,
tự cấp Do đó, trang trại phải đặt ra cho mình câu hỏi sản xuất nông sản để
Trang 31đáp ứng nhu cầu thị trường, kỹ thuật canh tác nào sẽ được lựa chọn áp dụng chocông việc sản xuất tại trang trại Việc phân bố nguồn lực lao động vào hoạt động sản xuất ra sao, số lượng cần bao nhiêu? Hoặc là phân phối lượng vốn của trang trại được đầu tư cho tài sản lưu động là bao nhiêu, trong đó dưới các dạng tiền mặt là bao nhiêu, dưới dạng dự trữ vật tư là bao nhiêu? là một công việc của người chủ trang trại, nó đòi hỏi phải có hạch toán một cách đầy đủ, bởi mọi chi phí phát sinh không ghi chép, theo dõi sẽ không thể kiểm soát,
và như vậy, công việc hạch toán không tốt có thể dẫn đến kết quả sản xuất kinhdoanh của trang trại được đánh giá một cách sai lệch, thiếu khách quan
Sáu là: Các trang trại đều có thuê mướn lao động
Sản xuất trong trang trại đã vượt quá quy mô sản xuất gia đình nông hộ.Như đã nói, quy mô sản xuất của trang trại đã lớn: đó là quy mô tư liệu sản xuất tăng lên rất lớn, diện tích sản xuất, số lượng trang trại thiết bị sản xuất…cũng như quy mô khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ cũng lớn hơn Chính vì vậy, số lao động có tính chất gia đình của chủ trang trại là không thể đảm đương được Ngay cả trường hợp đổi công cũng không phải là giải pháp khả thi [4]
3.1.1.2 Phân loại trang trại
a Phân loại trang trại theo lĩnh vực sản xuất
Theo kiểu phân chia này, các trang trại được xác định theo lĩnh vực sảnxuất như sau:
-Trang trại trồng trọt
-Trang trại chăn nuôi
-Trang trại lâm nghiệp
-Trang trại nuôi trồng thuỷ sản
-Trang trại tổng hợp
Trang trại chuyên ngành (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồngthủy sản) là trang trại có tỷ trọng giá trị sản lượng nông sản hàng hóa củangành chiếm trên 50% cơ cấu giá trị sản lượng hàng hóa của trang trại trong
Trang 32năm Trường hợp không có ngành nào chiếm trên 50% cơ cấu giá trị sảnlượng hàng hóa thì được gọi là trang trại tổng hợp.
b.Phân loại theo hình thức tổ chức quản lý
Theo cách phân loại này có trang trại gia đình, trang trại liên doanh, trangtrại hợp doanh kiểu cổ phần và trang trại ủy thác :
Trang trại gia đình là loại hình có tính phổ biến nhất Đó là kiểu trangtrại độc lập sản xuất kinh doanh do người chủ hộ hay một người thay mặt giađình đứng ra quản lý
Thông thường mỗi trang trại là của một hộ gia đình nhưng có những nơiquan hệ huyết thống còn đậm nét thì có khi mấy gia đình cùng tham gia quản lýkinh doanh một cơ sở
Trang trại liên doanh do 2 - 3 trang trại gia đình hợp thành một trang trạilớn với năng lực sản xuất lớn hơn, đủ sức cạnh tranh với các loại trang trại lớn,tuy nhiên mỗi trang trại thành viên vẫn có sức tự chủ điều hành sản xuất Đốitượng liên doanh đều là anh em, họ hàng hay bạn bè thân thiết Ở các nướcChâu Á do quy mô trang trại nhỏ nên loại trang trại liên doanh có rất ít Ở Mỹtrang trại liên doanh có nhiều hơn, nhưng chỉ chiếm 10% tổng số trang trại và16% đất đai
Trang trại hợp doanh tổ chức theo nguyên tắc một công ty cổ phần hoạt độngtrong lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản Loại trang trại này thường cóquy mô lớn, thực hiện chuyên môn hóa sản xuất, sử dụng lao động làm thuê làchủ yếu, ở Mỹ năm 1982, bình quân một trang trại hợp doanh nông nghiệp có 1triệu 52 ngàn USD giá trị đất đai và công trình, 144 ngàn USD máy móc và thiết
bị, 4 ô tô vận tải, 1,3 máy gặt đập liên hợp, 9 công nhân thường xuyên và 18 côngnhân thời vụ
c.Phân loại theo hình thức sở hữu tư liệu sản xuất
Trường hợp phổ biến là người chủ trang trại có sở hữu toàn bộ tư liệu sảnxuất từ đất đai, công cụ máy móc đến chuồng trại, kho bãi Riêng về sở hữuruộng đất, ở nhiều nước 70 - 80% số chủ trang trại có ruộng đất riêng Ở Mỹ
Trang 33năm 1982, số chủ trang trại có sở hữu hoàn toàn về đất đai chiếm 59%, sở hữumột phần là 29,3% và thuê hoàn toàn ruộng đất là 11,7%
Chủ trang trại chỉ có sở hữu một phần tư liệu sản xuất, còn một phần thuêngười khác Trường hợp này không phải là cá biệt tuy trang trại có đất đainhưng phải thuê máy móc, chuồng trại, kho bãi
Chủ trang trại hoàn toàn không có tư liệu sản xuất mà đi thuê toàn bộ cơ
sở của một trang trại hoặc của nhà nước để sản xuất, không chỉ máy móc,thiết bị, kho tàng, chuồng trại mà cả đất đai, mặt nước, rừng cây Ở Mỹ năm
1988, giá thuê hàng năm toàn bộ một trang trại bằng 1 - 8,8% tổng giá trị tàisản của trang trại ấy Theo giá thị trường tùy từng vùng và loại hình trang trại Thực tế các nước phát triển trên thế giới cho thấy sở hữu tư liệu sản xuấtkhông phải là yếu tố quyết định thành bại của trang trại Ở Mỹ không ít nhữngchủ trang trại đi thuê tư liệu sản xuất để kinh doanh có lợi nhuận cao không kémcác chủ trang trại có quyền sở hữu về tư liệu sản xuất [9]
3.1.1.3 Cơ cấu trang trại
a.Cơ cấu đất đai
Đất đai là một nhân tố quan trọng nhất trong việc phát triển kinh tế nôngnghiệp, là tư liệu sản xuất chủ yếu trong hoạt động sản xuất nông, lâm và thuỷsản Để phát triển KTTT trước hết phải dựa vào đất đai Quy mô đất đai trangtrại là khác nhau nếu chia theo các hướng kinh doanh chính, trang trại lâmnghiệp có quy mô trung bình lớn hơn nhiều trang trại chăn nuôi Nguồn gốc đấtđai trong trang trại rất đa dạng như là đất được giao, đất chuyển nhượng, đất tựkhai hoang Trong đó, đất được giao là chủ yếu
b.Cơ cấu vốn và nguồn vốn
Vốn là yếu tố quan trọng để phát triển KTTT, do đó đòi hỏi có lượng vốn
đủ lớn Nhóm trang trại có hướng kinh doanh cây lấu năm và chăn nuôi lợn cóquy mô vốn lớn Nguồn vốn của trang trại chủ yếu dựa vào vốn tự có, còn vốnvay thì ít hơn
Trang 34Về cơ cấu tư liệu sản xuất và tài sản của trang trại cũng đa dạng Tư liệu,công cụ sản xuất trong trang trại có thể là tài sản riêng của trang trại đó hay tàisản chung của nhiều trang trại cùng góp vào để mua Tùy từng loại máy móc, tưliệu cụ thể mà nó có thể thuộc một trong hai trường hợp trên Có thể máy đó quáđắt nên mỗi trang trại không thể mua hay là loại máy đó là không cần thiết đểmua hẳn một cái, dùng chung thì tiết kiệm hơn.
c.Cơ cấu lao động
Lao động trong trang trại chia theo trình độ gồm lao động qua đào tạo vàlao động chưa được đào tạo Tại các trang trại ở các nước nông nghiệp phát triểnnhư Mỹ, Israel, chủ trang trại thường là những lao động đã qua đào tạo, đượcnhà nước giao đất cho làm Còn các lao động khác trong trang trại chủ yếu làhọc hỏi từ ông chủ hay tích lũy từ kinh nghiệm
Nếu chia theo tuổi lao động thì có trong tuổi lao động và ngoài tuổi laođộng Độ tuổi lao động là độ tuổi được tính từ thời điểm bắt đầu đủ tuổi lao độngđến tuổi nghỉ hữu Độ tuổi lao động là 15 - 60 tuổi đối với nam và 15 - 55 tuổiđối với nữ Trường hợp người lao động làm công tác quản lý và một số trườnghợp đặc biệt khác có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 05 năm.(theo Luật lao động mới số 10/2012/QH13 )
Nếu chia theo tính chất lao động thì có lao động làm thuê và lao động giađình Các lao động trang trại chủ yếu là lao động gia đình Hai loại lao động nàyđược quản lý và tính tiền công khác nhau Lao động làm thuê thì làm việc phải
có trách nhiệm, được quản lý chặt chẽ, đòi hỏi cao hơn, và tiền công cũng đượctrả sòng phẳng, đầy đủ ứng với công lao mà họ bỏ ra Còn lao động gia đình thìchủ yếu dựa vào tinh thần tự giác, họ làm việc thường theo tâm lý, thích thì làm,không thì thôi [9]
3.1.2 Những lý luận về hiệu quả kinh tế trang trại
3.1.2.1 Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của cáchoạt động kinh tế, nó phản ánh trình độ các nguồn lực trong quá trình sản xuất
Trang 35kinh doanh Hiệu quả kinh tế có 2 mặt là kinh tế và xã hội Nhưng trong điềukiện thị trường hiện nay, mục tiêu hàng đầu của người sản xuất kinh doanh làthu nhập và lợi nhuận cao, do vậy hiệu quả kinh tế trong sản xuất thiên hướng vềmặt kinh tế nhiều hơn so với mặt xã hội.[10]
Có 2 quan điểm khác nhau để xác định hiệu quả kinh tế:
Quan điểm I: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa kết quả đạt
được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Theo quan điểm này cho phépchúng ta xác định được các chỉ tiêu tương đối của hiệu quả kinh tế bằng cách sosánh kết quả với chi phí cần thiết để đạt được hiệu quả đó
H =
Q K
Trong đó:
H là hiệu quả kinh tế
Q là kết quả sản xuất
K là tổng chi phí sản xuất
Quan điểm II: Hiệu quả kinh tế đo bằng hiệu số những giá trị sản xuất đạt
được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
HQKT = KQSX – CPSX ( H = Q – K )
3.1.2.2 Đặc điểm hiệu quả kinh tế
Mục đích yêu cầu đặt ra đối với quá trình sản xuất ở các thành phần kinh tế
là khác nhau Do vậy, việc vận dụng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế cũngrất đa dạng
Hiệu quả kinh tế có tính chất về mặt thời gian Nó luôn luôn có xu hướngthay đổi Một hoạt động kinh tế diễn ra ở hôm nay với giá trị mà nó đạt được đóđược gọi là có hiệu quả kinh tế cao song trong tương lai thì nó chưa chắc đãđược coi là có hiệu quả, bởi vì yêu cầu ngày một tăng
Mọi quá trình sản xuất liên quan mật thiết đến hai yếu tố cơ bản đó là chiphí sản xuất và kết quả sản xuất thu được từ chi phí đó Mối quan hệ của hai yếu
tố này là nội dung cơ bản phản ánh hiệu quả kinh tế trong sản xuất
Trang 36Mức độ hiệu quả đạt được nó phản ánh trình độ phát triển lực lượng sảnxuất và trình độ phát triển của xã hội
Hiệu quả kinh tế đi liền với nội dung tiết kiệm chi phí tài nguyên cho sảnxuất trên một đơn vị sảm phẩm tạo ra
Để đạt được kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất trong kinh doanh, cầnxem xét hiệu quả trên tất cả các khâu sản xuất, phân phối và lưu thông sản phẩm
có nội dung phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có
Để làm rõ bản chất của hiệu quả cần phải phân định sự khác nhau giữa hiệuquả, kết quả và mối quan hệ giữa chúng Trong đó, kết quả là phần vật chất thuđược từ mục đích hoạt động của con người Do tính hữu hạn về tài nguyên vớinhu cầu không ngừng tăng lên của con người, mà yêu cầu người ta phải xem xétkết quả đạt được tạo ra như thế nào, chi phí bỏ ra là bao nhiêu Việc đánh giáchất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh là một nội dung đánh giá hiệu quảkinh tế
3.1.2.3 Phân loại hiệu quả kinh tế
a.Phân loại hiệu quả kinh tế theo nội dung và bản chất
Hiệu quả kinh tế nó biểu hiện mối tương quan giữa kết quả đạt được về mặtkinh tế với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó bao gồm: Bảo vệ môi trường, lợiích công cộng, trật tự an toàn xã hội,…
Hiệu quả kinh tế nó thể hiện sự phát triển của công ty, của vùng lãnh thổ,của một quốc gia,… đây là kết quả của nhiều yếu tố tổng hợp lại như tình hìnhđời sống, trình độ dân trí, vấn đề phát triển cơ sở hạ tầng, sự phát triển sản xuấtcủa cả vùng…
b.Phân loại hiệu quả kinh tế theo phạm vi và đối tượng xem xét
Phạm trù này được đề cập đến mọi đối tượng của nền sản xuất xã hội nhưcác địa phương, các ngành sản xuất, từng cơ sở, đơn vị sản xuất hay một quyếtđịnh quản lý,… có thể phân loại phạm trù này như sau:
-Hiệu quả kinh tế quốc dân: Là hiệu quả kinh tế chung trong toàn bộ nềnsản xuất xã hội
Trang 37-Hiệu quả kinh tế ngành: Là hiệu quả tính riêng từng ngành sản xuất vậtchất như ở ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ,… Trong nông nghiệpđược chia thành hiệu quả kinh tế của cây nông nghiệp, hiệu quả kinh tế của câylương thực, hiệu quả kinh tế chăn nuôi gia súc, gia cầm,…
-Hiệu quả kinh tế theo vùng lãnh thổ: Là tính riêng đối với từng vùng, khuvực và địa phương,…
-Hiệu quả kinh tế của từng quy mô sản xuất – kinh doanh như: Hộ gia đình,hợp tác xã, nông trường quốc doanh, công ty, tập đoàn sản xuất
-Hiệu quả kinh tế của từng biện pháp kỹ thuật, từng yếu tố chi phí đầu tưvới sản xuất như: biện pháp về giống, chi phí thức ăn
c.Phân loại hiệu quả kinh tế theo từng yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất
-Hiệu quả sử dụng đất
-Hiệu quả sử dụng lao động
-Hiệu quả sử dụng vốn
-Hiệu quả ứng dụng công nghệ mới
-Hiệu quả của các biện pháp kỹ thuật [11]
3.1.2.4 Hiệu quả kinh tế trang trại
Trong sản xuất nông nghiệp nói chung và kinh tế trang trại nói riêng, hiệuquả bị chi phối bởi nhiều yếu tố Những yếu tố đó bao gồm lợi thế so sánh củatừng vùng như điều kiện tự nhiên, xã hội, tập quán canh tác, đặc điểm của từng
mô hình kinh tế trang trại; thị trường yếu tố đầu vào như giá cả tư liệu sản xuất,vốn, lao động; đầu ra của sản phẩm như các kênh tiêu thụ sản phẩm, thời gianbảo quản chế biến, quan hệ cung cầu trong thị trường
Các kết quả đạt được về mặt vật chất có thể lượng hóa được để so sánh, tuynhiên có những yếu tố không thể so sánh được như yếu tố môi trường sinh thái,
an ninh xã hội Các yếu tố trên đều tác động mạnh vào quá trình sản xuất và tổchức kinh doanh của trang trại Do vậy, việc xác định hiệu quả kinh tế của trang
Trang 38trại càng trở nên phức tạp Vì vậy cần phải có phương pháp luận, quan điểmđúng đắn về hiệu quả kinh tế trang trại.
Từ những phân tích trên về hiệu quả nói chung và đặc thù của sản xuấtnông nghiệp Có thể đưa ra khái niệm hiệu quả kinh tế trang trại như sau:
Hiệu quả kinh tế trang trại là sử dụng tối thiểu các nguồn lực khan hiếm như đất đai, tiền vốn, lao động và các nguồn lực khác một cách tốt nhất để sản xuất ra một lượng hàng hóa có giá trị kinh tế cao nhất, thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của xã hội, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái và xây dựng một nền nông nghiệp bền vững.
3.1.2.5 Các quan điểm cơ bản đánh giá hiệu quả kinh tế trang trại
a.Quan điểm thứ nhất
Quan điểm đảm bảo thống nhất giữa hiệu quả kinh tế trang trại và lợi ích xãhội
Khi đánh giá quả kinh tế trang trại phải dựa trên hiệu quả kinh tế và lợi ích
xã hội Quan điểm này đòi hỏi nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại phải xuất phát
từ mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của đảng và nhà nước Mỗi trang trại làmột tế bào của nền kinh tế quốc dân,hoạt động của trang trại có liên quan tới các
cơ sở sản xuất kinh doanh khác cũng như toàn bộ các nghành kinh tế trong hệthống Do vậy, mỗi giải pháp kinh doanh của từng trang trại phải được đánh giámột cách toàn diện, không được làm tổn hại chung đến hiệu quả chung của nềnkinh tế Hiệu quả của trang trại góp phần làm tăng hiệu quả của nghành nôngnghiệp, của nền kinh tế quốc dân và ngược lại một hệ thống kinh tế quốc dânđược tổ chức và có cơ cấu đúng đắn sẽ làm môi trường thuận lợi để cho mỗitrang trại nâng cao hiệu quả kinh tế của mình
Hơn nữa, về mặt định tính, hiệu quả kinh tế trang trại phải gắn chặt với hiệuquả xã hội môi trường, hoạt động của ttrang trại trong nền kinh tế thị trường có
sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Không chỉ theo đuổimục tiêu kinh tế mà còn phải tham gia vào các nhiệm vụ chính trị, xã hội nhưđảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, giải quyết việc làm tăng thu
Trang 39nhập cho dân cư điều này thể hiện phạm trù bản chất hiệu quả kinh tế gắn chặtvới bản chất của quan hệ sản xuất chế độ XHCN.
b.Quan điểm thứ 2
Đây là quan điểm đảm bảo kết hợp giữa hiệu quả kinh tế trang trại với quan
hệ lợi ích và nhân cách của người lao động trong trang trại đó
Quan điểm đảm bảo kết hợp giữa hiệu quả kinh tế trang trại với quan hệ lợiích và nhân cách của người lao động trong trang trại gồm chủ trang trại,lao độngtrong gia đình và lao động làm thuê Con người trong trang trại vừa là điều kiện,vừa là mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại Con người thamgia vào quá trình sản xuất kinh doanh nhằm đảm bảo lợi ích kinh tế của họ vàqua đó thể hiện nhân cách của họ trong quá trình lao động ở trang trại Quanđiểm này cũng là vấn đề mà nhiều người quan tâm, đặc biệt là người chủ trangtrại khi thuê lao động làm thuê trong trang trại của mình
Một số lao động là nông dân do chuyển nhượng, chuyển đổi dẫn đến không
có ruộng đất nên phải đi làm thuê cho các chủ trang trại Có cả những người xuấtthân không phải là nông dân nhưng cũng đi làm thuê cho các chủ trang trại vàmột số người có trình độ chuyên môn Nói tóm lại, trong lao động làm thuê thìmọi quyền lợi kinh tế như ngày công lao động, lương bình quân theo tháng sẽđược thỏa thuận với chủ trang trại Trên quan điểm người lao động thực sự gắn
bó với trang trại, khai thác mọi tiềm năng để nâng ca hiệu quả kinh tế Sự kếthợp giữa nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại với việc chăm lo đời sống vật chấttinh thành cho người lao động làm thuê sẽ là một nét văn hóa đặc sắc Do vậy,phải đảm bảo kết hợp giữa hiệu quả kinh tế trang trại với quan hệ lợi ích và nhâncách của người lao động đi làm thuê và lợi ích kinh tế của họ
Trang 40thì đảm bảo yêu cầu của nền sản xuất trong nghành, địa phương Hơn nữa trongtừng trang trại, việc nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại pahir được xem xét ở tất
cả các khâu, các công đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh và xem xét mốiquan hệ giữa các lĩnh vực, các bộ phận nhằm hướng tới mục tiêu chung củatrang trại Về mặt thời gian, nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại phải được đánhgiá trong từng thời gian, trong tổng thể phát triển lâu dài của trang trại, đặc biệt
là đối với trang trại trồng cây lâm nghiệp, cây lâu năm Trong thực tế, hiệu quảkinh tế trang trại phải được tính toán và đánh giá trong một thời gian nhất định,nhiều khoản mục cho chi phí đầu tư xây dựng cơ bản của trang trại không chỉphát huy hết cho giai đoạn trước mắt mà còn mang lại hiệu quả kinh tế lâu dài
Do đó trong quá trinh CNH- HĐH nông nghiệp nông thôn, việc xây dựng
mô hình kinh tế trang trại và nâng cao hiệu quả của nó sẽ góp phần vào pháttriển nông nghiệp bền vững, chúng ta cần có quan điểm nâng cao hiệu quả kinh
tế trang trại một cáh toàn diện [4]
3.1.2.6 Các điều kiện, nhân tố hình thành và nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại
a.Điều kiện hình thành
-Điều kiện môi trường pháp lý
Trang trại là bộ phận cấu thành hệ thống nông nghiệp của các nước theo môhình kinh tế thị trường Tuy nhiên nó chỉ hình thành và phát triển khi có môitrường pháp lý phù hợp và thuận lợi, kinh tế trang trại phải đủ điều kiện nhà nướccông nhận về mặt pháp lý Sự công nhận địa vị pháp lý của kinh tế trang trại sẽgiúp các chủ trang trại yên tâm đầu tư phát triển sản xuất theo hướng môi trườngtrang trại, đồng thời, nhà nước sẽ tạo điều kiện cần thiết cho kinh tế trang trại rađời và phát triển, ví dụ như:
+Có quỹ ruộng đất cần thiết và chính sách để tập trung ruộng đất
+Có sự hỗ trợ về kết cấu hạ tầng, trước hết là giao thông và thủy lợi
+Theo sự quy hoạch tổng thể của nhà nước
+Ngoài nhà nước, còn có cơ hội gặp gỡ, liên kết với các nhà khác trong các