Từ đó thấy được nhữngkhó khăn, vướng mắc của giáo viên và học sinh thông qua các giờ dạy và bài tậpLuyện từ và câu để tìm ra một số biện pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng dạy... Xuất
Trang 1PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ
I Lý do chọn đề tài.
Học sinh tiểu học là thế hệ măng non của đất nước, các em "Học vì ngày mailập nghiệp" Học để hiểu biết, học để trau dồi tri thức và học để trở thành nhữngngười công dân có ích cho xã hội Vì vậy việc đào tạo thế hệ trẻ trở thành nhữngngười năng động sáng tạo độc lập tiếp thu tri thức để trở thành một công dân thựcthụ là một vấn đề quan tâm hàng đầu của nền giáo dục nước ta Để thực hiện tốtnhiệm vụ này nhà trường Tiểu học phải bước đầu cung cấp cho học sinh những trithức ban đầu để hình thành và phát triển các năng lực nhận thức và trang bị cácphương pháp kĩ năng về hoạt động nhận thức, bồi dưỡng và phát triển tình cảm thóiquen, đức tính tốt đẹp của con người thông qua việc dạy các môn học nói chung vàmôn Tiếng Việt nói riêng
Môn Tiếng Việt trong chương trình bậc Tiểu học giúp học sinh biết đọcthông viết thạo, biết sử dụng từ ngữ một cách chuẩn xác và có kĩ năng giao tiếptrong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày Những kiến thức của môn Tiếng Việt là tiền
đề là cơ sở cho học sinh tiếp cận với các môn học khác Việc dạy và học môn TiếngViệt trong nhà trường luôn được chú trọng ngay từ lớp đầu cấp Đặc biệt trong bộmôn Tiếng Việt phân môn Luyện từ và câu có một vị trí rất quan trọng là chìa khoá
mở ra kho tàng văn hoá trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội của con người Hơn nữaphân môn Luyện từ và câu còn có nhiệm vụ cung cấp những kiến thức sơ giản vềTiếng Việt và rèn luyện kĩ năng dùng từ đặt câu (nói-viết), kĩ năng đọc cho họcsinh.Cụ thể là:
- Mở rộng, hệ thống hoá vốn từ trang bị cho học sinh một số hiểu biết sơ giản
về từ và câu
- Rèn luyện cho học sinh các kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng dấu câu
- Bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng và nói thành câu, có ý thức
sử dụng Tiếng Việt văn hoá trong giao tiếp
Nhận thức được tầm quan trọng đó của phân môn Lyuện từ và câu, tôi đãmạnh dạn nghiên cứu đề tài " Đổi mới phương pháp dạy - học các dạng bài tậpLuyện từ và câu lớp 4"
II Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
1 Mục đích.
Nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa phân môn Luyện từ vàcâu lớp 4, dự giờ, học hỏi đồng nghiệp, đồng thời điều tra khảo sát việc dạy và họcphân môn Luyện từ và câu của giáo viên và học sinh lớp 4 Từ đó thấy được nhữngkhó khăn, vướng mắc của giáo viên và học sinh thông qua các giờ dạy và bài tậpLuyện từ và câu để tìm ra một số biện pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng dạy
Trang 2và học môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Luyện từ và câu nói riêng ở Tiểuhọc.
2 Nhiệm vụ
Tìm hiểu tình hình học phân môn Luyện từ và câu trong môn Tiếng Việt,
thực hành xác định phương pháp tổ chức dạy các dạng bài tập Luyện từ và câu Đềxuất một số biện pháp thực hiện khi dạy học sinh dạng bài này
III Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận (đọc tài liệu )
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp đàm thoại
- Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm
IV Đối tượng và thời gian nghiên cứu
I Cơ sở lý luận của việc dạy và học phân môn luyện từ và câu.
1 Vị trí vai trò của phân môn Luyện từ và câu.
Phân môn Luyện từ và câu là một môn học giữ vị trí quan trọng trongchương trình Tiếng Việt lớp 4 Ngay từ đầu của hoạt động học tập ở trường, họcsinh đã được làm quen với lý thuyết của từ và câu Sau đó chương trình được mởrộng thêm và nâng cao dần để phục vụ cho nhu cầu ngày một tăng trong cuộc sốngcủa các em cũng như trong lao động, học tập và giao tiếp
Vai trò quan trọng đặc biệt trong hệ thống ngôn ngữ là đơn vị trung tâm củangôn ngữ Chính vì vậy, dạy Luyện từ và câu có vị trí rất quan trọng không có mộtvốn từ đầy đủ thì không thể nắm được ngôn ngữ như một phương pháp giao tiếp.Việc dạy từ và câu giúp học sinh nắm được tiếng mẹ đẻ, tạo điều kiện học tập pháttriển toàn diện Khả năng giáo dục nhiều mặt của Luyện từ và câu là rất to lớn Nó
có nhiều khả năng để phát triển ngôn ngữ, tư duy logíc và các năng lực trí tuệ nhưtrừu tượng hoá, khái quát hoá, phân tích tổng hợp và các phẩm chất đạo đức như
Trang 3tính cẩn thận, cần cù Ngoài ra phân môn Luyện từ và câu còn có vai trò hướng dẫncho học sinh kĩ năng nói, đọc, viết.
Luyện từ và câu là môn học nền tảng để học sinh học các môn học kháctrong tất cả các cấp học sau cũng như trong lao động và giao tiếp trong cuộcsống, bởi nó giúp học sinh có năng lực nói đúng Từ đó sử dụng Tiếng Việt văn hoámột cách thành thạo làm công cụ tư duy để học, giao tiếp và lao động
2 Nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu.
Dạy phân môn Luyện từ và câu ở trường Tiểu học nói chung và ở lớp 4 nóiriêng có nhiệm vụ cung cấp cho các em một số kiến thức cơ bản ban đầu và cầnthiết về từ, câu, các kiểu từ, các kiểu câu nhưng phải vừa sức đối với lứa tuổi các
3 Tác dụng của phân môn luyện từ và câu
Xuất phát từ nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu đã được trình bày ởtrên, giúp học sinh phân biệt câu và từ, từ và tiếng, các kiểu câu trong đó biếtdùng từ đặt câu, biết mở rộng vốn từ và giải nghĩa từ, biết dùng dấu câu phù hợp,góp phần bổ sung kiến thức, rèn luyện tư duy và hình thành nhân cách cho họcsinh( Thông qua các kĩ năng các em dùng từ để đặt câu)
Qua phân môn Luyện từ và câu các em nắm được cấu tạo từ và mở rộng vốn
từ, giải nghĩa của từ, nắm được các kiểu câu, các dấu câu ( dấu chấm hỏi, dấu chấmthan, dấu hai chấm, dấu ngoặc kép, dấu ngoặc đơn), biết cách sử dụng từ và câuphù hợp với ngữ cảnh và lời nói
Trang 4Ngoài ra, nội dung chương trình của phân môn Luyện từ và câu ở tiểu họcđược xây dựng phù hợp với yêu cầu phát triển lời nói của học sinh, giúp các em mởrộng thêm kiến thức trong quá trình học tập, lao động và giao tiếp ngày một tốthơn, tiến bộ hơn, đạt kết quả cao hơn Như vậy phân môn Luyện từ và câu có tácdụng to lớn trong quá trình phát triển tư duy ngôn ngữ cho học sinh.
II Thực trạng của việc dạy và học phân môn luyện từ và câu.
1 Khảo sát nội dung chương trình sách giáo khoa.
Môn Luyện từ và câu lớp 4 cả năm có 62 tiết và được bố trí dạy 2tiết/ 1tuần.Nội dung chương trình gồm:
- Mở rộng và hệ thống hoá vốn từ theo chủ điểm ( Gồm 10 chủ điểm ) Học kì I Học kì II
Chủ điểm 1: Thương người như thể
thực hiện ước mơ
Chủ điểm 3: Những người quả
Chủ điểm 5: Tình yêu cuộc sống-Lạc
quan yêu đời
- Cung cấp kiến thức sơ giản về cấu tạo của tiếng và từ:
+ Cấu tạo của tiếng
+ Cấu tạo của từ: Từ đơn và từ phức, các loại từ phức
- Từ loại: Cung cấp kiến thức sơ giản về Danh từ, Động từ, Tính từ
- Câu: Cung cấp cho học sinh một số hiểu biết sơ giản về cấu tạo, công dụng
và cách sử dụng các kiểu câu như câu hỏi, câu kể(bao gồm: Ai làm gì?; Ai thếnào?; Ai là gì?), câu khiến, câu cảm, thêm trạng ngữ cho câu
- Ôn luyện kiến thức về công dụng và luyện tập sử dụng một số dấu câu: Dấuhai chấm (: ), dấu ngoặc kép(" "), dấu chấm hỏi(?), Dấu ghạch ngang(-)
2 Khảo sát việc dạy và học của giáo viên, học sinh.
a Thuận lợi.
- Chương trình SGK sau năm 2000 trình bày các bài Luyện từ và câu tươngđối khoa học giúp học sinh dễ phát hiện kiến thức, giáo viên dễ áp dụng cácphương pháp và hình thức dạy học Phân môn đã chỉ rõ hai dạng bài: Bài lý thuyết
và bài tập thực hành với định hướng rõ ràng
Trang 5- Công tác giảng dạy luôn được Ban giám hiệu nhà trường quan tâm tạo mọiđiều kiện thuận lợi về đồ dùng dạy học, SGK và được học về sử dụng các phươngtiện dạy học hiện đại, luôn tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn để rút kinhnghiệm trong tiết dạy, tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả dạy - học của giáo viên vàhọc sinh.
- Đội ngũ giáo viên có tay nghề chuyên môn vững vàng, giàu kinh nghiệm,nhiệt tình trong công tác, sáng tạo trong việc đổi mới phương pháp dạy học
- Học sinh: Hầu hết học sinh đều có ý thức làm bài tập, có thái độ tích cựctrong việc học và làm bài tập Luyện từ và câu Các em đã được làm quen với cáchhọc mới từ lớp 1,2,3 nên đã biết cách lĩnh hội và luyện tập thực hành dưới sựhướng dẫn của giáo viên
- Phụ huynh học sinh: Sự quan tâm của phụ huynh học sinh cũng góp phầnnâng cao chất lượng môn học nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung
b Khó khăn.
*Đối với giáo viên.
- Phân môn Luyện từ và câu là phần kiến thức khó nên một số giáo viên cònlúng túng và gặp khó khăn trong khi hướng dẫn học sinh nắm được yêu cầu và vậndụng vào việc làm các bài tập
- Một số giáo viên chưa chịu đầu tư thời gian cho việc nghiên cứu để khaithác kiến thức và tìm ra phương pháp phù hợp với học sinh còn lệ thuộc vào đáp
án, gợi ý dẫn đến học sinh ngại học phân môn này
- Hình thức tổ chức dạy học của một số giáo viên còn đơn điệu, hầu như ítsáng tạo, chưa thu hút lôi cuốn học sinh
- Một số giáo viên còn chưa quan tâm đến việc mở rộng vốn từ, phát triển vốn
từ cho học sinh, giúp học sinh làm giàu vốn hiểu biết phong phú về Tiếng Việt
* Đối với học sinh.
- Hầu hết học sinh chưa hiểu hết vị trí, tầm quan trọng, tác dụng của phânmôn Luyện từ và câu nên ít có hứng thú học tập, chưa dành nhiều thời gian để họcmôn này
- Nhiều học sinh chưa nắm rõ khái niệm của từ, câu Từ đó việc nhận diệnphân loại, xác định hướng làm bài lệch lạc Việc xác định còn nhầm lẫn
- Học sinh chưa có thói quen phân tích dữ kiện của đầu bài, thường hay bỏsót, làm sai hoặc không làm hết yêu cầu của đề bài
- Học sinh thường nắm kiến thức một cách máy móc, thụ động và tỏ ra yếukém thiếu chắc chắn
Trong quá trình dạy học, sau khi học bài: "Từ ghép, từ láy", SGKTV4 Trang 38), tôi đã tiến hành khảo sát học sinh lớp bằng bài tập sau :
Đề bài : Xác định từ ghép và từ láy trong đoạn văn sau.
Trang 6Dáng tre mộc mạc, màu tre tươi nhũn nhặn Rồi tre lớn lên cứng cáp, dẻo dai, vững chắc Tre trông thanh cao, giản dị, chí khí như người.
Kết quả khảo sát như sau:
từ ghép, từ láy chưa đầy đủ, Số học sinh đạt điểm trung bình đạt 47,0% đây lànhững học sinh chưa nắm vững cấu tạo từ,chỉ biết tìm từ láy dựa vào hình thức ( Từphối hợp những tiếng có âm đầu hay vần hoặc cả âm đầu và vần giống nhau là các
từ láy), học sinh không căn cứ vào nghĩa của từ Số học sinh yếu chiếm 24,8%, lànhững học sinh chưa nắm vững cấu tạo từ, không xác định đúng từ ghép, từ láy.Qua giảng dạy tôi nhận thấy kết quả chưa cao là do hai phía: người dạy và ngườihọc Xuất phát từ tình hình thực tế trên tôi đã tập trung nghiên cứu kiến thức củatừng bài học Luyện từ và câu, thông qua đó để tìm ra phương pháp dạy học hợp lýcho từng dạng bài tập, cho từng đối tượng học sinh, giúp các em phần nào khắcphục tình trạng trên
III.Một số biện pháp trong giảng dạy phân môn luyện từ và câu.
1 Để có thể học tốt phân môn luyện từ và câu, ngay từ đầu tiết học giáo viên phải khơi sự tò mò, hứng thú học tập cho học sinh.
Hứng thú là một khâu quan trọng, là một hiện tượng trong tâm lý đời sốngmỗi người Hứng thú tạo điều kiện cho con người học tập lao động được tốt hơn.Nhà văn M.Goóc ki nói "Thiên tài nảy nở từ tình yêu đối với công việc".Việc bồidưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt - Phân môn Luyện từ và câu lớp 4 là mộtviệc làm cần thiết Để tạo được sự hứng thú học tập cho các em, người giáo viênphải tạo được sự thoải mái trong học tập, phải làm cho các em cảm nhận được vẻđẹp và khả năng kì diệu của ngôn từ, để kích thích vốn từ sẵn có của từng em Nếugiáo viên biết gây hứng thú học tập cho học sinh sẽ làm cho các em thích thú họctập không còn gây cảm giác khô khan, chán học
Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài giáo viên có thể sử dụng nhiều phươngpháp, hình thức khác nhau (Phương pháp trò chơi, phương pháp động não, phươngpháp hỏi đáp) phù hợp với từng loại bài
Ví dụ : Sử dụng phương pháp hỏi đáp khi giới thiệu bài " Mở rộng vốn từ:
Trung thực - Tự trọng" - Tuần 5 SGK trang 48-49 Giáo viên đặt câu hỏi: Cậu béChôm trong truyện "Những hạt thóc giống"có đức tính gì đáng quý?(Trung thực)
Trang 7Vậy theo em trung thực là gì? Còn tự trọng, em hiểu thế nào là tự trọng?(Học sinhnêu ý kiến).
Giáo viên: Để giúp các em biết thêm nhiều từ, nắm được nghĩa và cách dùngcác từ ngữ theo chủ điểm Trung thực - Tự trọng Hôm nay chúng ta sẽ mở rộng vốn
từ theo chủ điểm này
Để thu hút học sinh vào bài học, ngoài giới thiệu bài thì trong khi tổ chức,hướng dẫn làm bài tập giáo viên cũng luôn tạo không khí học tập để khơi gợi sựhứng thú đối với học sinh
Ví dụ : Khi dạy bài Từ ghép - từ láy, Giáo viên tổ chức cho học sinh chơi
trò chơi "Phân biệt nhanh"
*Mục tiêu : Giúp học sinh có khả năng phân biệt các kiểu từ trong Tiếng
Tóm lại vì Luyện từ và câu được đánh giá là môn học hơi khô nên việc gây
hứng thú đối với học sinh là rất quan trọng Tuy nhiên phải làm sao trong lúc học
mà chơi, không biến giờ học thành giờ chơi
2 Giáo viên cần phân ra các kiểu bài trong phân môn luyện từ và câu.
Với mỗi loại bài đều có phương pháp, hình thức tổ chức dạy học khác nhau
Vì vậy để tiết học đạt hiệu quả cao giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung chương
Trang 8trình, xác định các loại bài cụ thể trong phân môn để từ đó vận dụng các phươngpháp, hình thức dạy học phù hợp.
a Đối với dạng bài mở rộng vốn từ.
Cơ sở của việc hệ thống hoá vốn từ là sự tồn tại của từ trong ý thức conngười, từ tồn tại trong đầu óc con người không phải là những yếu tố rời rạc mà làmột hệ thống Chúng được sắp xếp theo một hệ thống liên tưởng nhất định giữa các
từ này với từ khác có một nét gì chung khiến ta phải nhớ đến từ kia nên từ đượctích luỹ nhanh chóng hơn Từ mới có thể được sử dung trong lời nói và khi sử dụngnhờ hệ thống liên tưởng, học sinh nhanh chóng huy động lựa chọn từ phù hợp vớiyêu cầu giao tiếp
Với mục đích tích luỹ nhanh chóng vốn từ và tạo điều kiện để sử dụng từmột cách dễ dàng, giáo viên nên đưa ra những từ theo một hệ thống và sử dụng linhhoạt nhiều phương pháp, hình thức dạy học ( Thảo luận nhóm, trò chơi, đàm thoại,hỏi đáp ) có sự hỗ trợ tích cực của đồ dùng dạy học
Ví dụ : Khi tổ chức làm bài tập2 trang 17, tiết Luyện từ và câu bài " Mở rộng
vốn từ: Nhân hậu - Đoàn kết" tuần 2.Giáo viên xác định mục tiêu bài học và chuẩn
bị đồ dùng cho tiết dạy như sau:
- Mục tiêu :Mở rộng và hệ thống hoá vốn từ ngữ theo chủ điểm Nắm được
cách dùng từ ngữ đó
- Đồ dùng: Bảng ( Từ có tiếng nhân có nghĩa là "người" và Từ có tiếng nhân
có nghĩa là "lòng thương người")
Từ có tiếng nhân có nghĩa là "người" Từ có tiếng nhân có nghĩa là"lòng
thương người"
+Bộ thẻ từ ghi từ đã cho :
nhân hậu
nhân tài nhân đức
nhân dân
Trang 9-Cách thực hiện: Giáo viên chia lớp thành các nhóm ( nhóm 4), phát cho các
nhóm bộ thẻ từ, thảo luận và gắn vào hai cột trên bảng cho phù hợp.Các nhóm trìnhbày kết quả (dán phiếu) trên bảng hoăc trên tường ở vị trí của nhóm
Từ có tiếng nhân có nghĩa là "người" Từ có tiếng nhân có nghĩa là"lòng
thương người"
Ngoài việc tổ chức chia nhóm như trên giáo viên có thể tổ chức hoạt động họctheo hình thức trò chơi
Ví dụ : Khi tổ chức làm bài tập 4 ở tiết Luyện từ và câu tuần 5 trang 148
SGK,Tiếng Việt 4, tập 1, bài "Mở rộng vốn từ: Đồ chơi - Trò chơi".Giáo viên tổ
chức cho học sinh chơi trò chơi " Mở rộng từ ngữ".
* Mục tiêu : Giúp học sinh củng cố mở rộng thêm từ, tích luỹ được vốn từ.Giúp học sinh phát huy tính chủ động và tự tin
* Chuẩn bị: Chuẩn bị bảng nhóm, bút lông
* Thời gian : 3 phút
* Cách chơi: Giáo viên tổ chức cho học sinh chơi theo đội, mỗi nhóm học tập là
một đội, giáo viên giao việc cho các đội trong thời gian 3 phút, học sinh tìm tìmcác từ miêu tả tình cảm thái độ của con người khi tham gia các trò chơi và ghi vàobảng nhóm các từ đúng theo yêu cầu thuộc chủ điểm Hết thời gian các đội trìnhbày Đội nào tìm được nhiều từ đúng thì đội đó thắng
Kết quả học sinh sẽ tìm được các từ như: hào hứng, say mê, say sưa, đam mê,
mê, ham thích
b Dạng bài tập về cấu tạo từ- Tìm từ ghép, từ láy.
Dạy nghĩa của từ được hiểu là nội dung đối tượng vật chất, là sự phản ánhđối tượng của hiện thực trong nhận thức được ghi lại bằng tổ hợp âm thanh xác
nhân loại
nhân ái nhân từ
nhân đứcc
nhân dân
công nhân
nhân
hânhaaaaaaaanhaanh nhân hậu
nhân tài
Trang 10định Để làm tăng vốn từ cho học sinh, công việc đầu tiên giáo viên cần phải làmcho học sinh hiểu nghĩa của từ.
Muốn thực hiện được điều này người giáo viên phải hiểu được nghĩa của từ,phải biết vận dụng các phương pháp cũng như hình thức dạy học phù hợp với đốitượng học sinh
Đối với các dạng bài tập này giáo viên tổ chức cho học sinh làm việc theonhóm Các nhóm thi làm bài và trình bày kết quả
Đối với hình thức chia nhóm, giáo viên nên sử dụng theo nhiều cách khácnhau tạo điều kiện cho các em được học hỏi, giao lưu với nhiều bạn khác trong lớp.Giáo viên có thể chia nhóm theo số điểm danh, theo màu sắc, theo tên các loại tráicây các em yêu thích Yêu cầu học sinh có cùng số điểm danh, cùng một màu,cùng một loại trái cây yêu thích sẽ cùng vào một nhóm
Ví dụ : Bài tập 2 trang 40 SGK tiết Luyện từ và câu " Từ ghép và từ láy".
- Tìm từ láy, từ ghép chứa các tiếng sau đây:
a) Ngay
b) Thẳng
c) Thật
*Mục tiêu: Học sinh biết vận dụng kiến thức đã học để phân biệt từ ghép với
từ láy, tìm được các từ ghép và từ láy đơn giản, tập đặt câu với các từ đó
*Chuẩn bị: Giáo viên chuẩn bị phiếu bài tập sau:
PHIẾU BÀI TẬP
Từ ghép
Từ láy
* Cách thực hiện:
- Giáo viên phát cho mỗi nhóm một phiếu bài tập như trên
- Giáo viên yêu cầu học sinh các nhóm thảo luận và tìm từ phù hợp để viếttrên mỗi hình
- Các nhóm trình bày kết quả Cả lớp nhận xét
Trang 11Theo cách tổ chức này, các em rất thích thú và quan trọng là đảm bảo chomọi học sinh đều được làm tất cả các phần của bài tập.
Sau khi học sinh trình bày kết quả Cùng yêu cầu của bài đã cho học sinhchọn từ để đặt câu với từ đó Giáo viên cho học sinh làm việc cá nhân
* Cho học sinh so sánh từ láy với từ ghép:
Giáo viên chốt :
Từ bao giờ cũng có nghĩa vì nó là đơn vị nhỏ nhất để đặt câu
Khi phân loại từ phải dựa vào mối quan hệ giữa các tiếng trong từ : Nếu có quan hệ về mặt ngữ nghĩa là từ ghép Nếu có quan hệ về mặt ngữ âm là từ láy
Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh lấy thêm ví dụ:
Ví dụ : Tìm những từ ngữ biểu thị mức độ của đặc điểm, tính chất (được innghiêng) trong đoạn văn sau:
` Hoa cà phê thơm đậm và ngọt nên mùi hương thường theo gió bay đi rất xa.
Nhà thơ Xuân Diệu chỉ có một lần đến đây ngắm nhìn hoa cà phê đã phải
thốt lên
Hoa cà phê thơm lắm em ơi
Hoa cùng một điệu với hoa nhài
Trong ngà trắng ngọc, xinh và sáng.
Như miệng em cười đâu đây thôi
Đây là dạng bài tập về tính từ dạng bài này hơi trừu tượng với học sinh nêngiáo viên cần cho các em phân tích đề bài trước vì yêu cầu của bài không quenthuộc với học sinh , khi các em đã hiểu đề bài yêu cầu các em tìm những từ biểu thịmức độ của đặc điểm tính chất của các từ in nghiêng.Cụ thể: Hoa cà phê thơm nhưthế nào?( thơm đậm và ngọt) nên mùi hương bay đi rất xa Lần lượt học sinhtìm( trả lời cá nhân theo phương pháp động não)