Giáo dục hướng nghiệp là một bộ phận của giáo dục phổ thông. Hoạt động giáo dục hướng nghiệp được chính thức đưa vào chương trình và kế hoạch giáo dục phổ thông nhằm giúp học sinh biết cách chọn nghề phù hợp với hứng thú, năng lực của bản thân, đồng thời phù hợp với nhu cầu nhân lực và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nhờ đó học sinh dễ tìm được công việc phù hợp với ngành nghề được đào tạo, phát huy tối đa năng lực, sở trường của mình trong công việc và thành đạt trong lao động nghề nghiệp. Giáo dục hướng nghiệp còn là biện pháp hữu hiệu, góp phần tích cực và có hiệu quả vào việc phân luồng học sinh, chuẩn bị cho học sinh đi vào cuộc sống lao động nếu như các em không có điều kiện tiếp tục học lên ngay sau khi tốt nghiệp phổ thông. Vì lẽ đó, từ nhiều năm nay, yêu cầu đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông là nhu cầu cấp thiết. Điều này cũng được khẳng định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật và các Nghị quyết về giáo dục đào tạo như Luật Giáo dục, Quyết định 126/CP ngày 19/3/1981 của Chính phủ, Nghị quyết 40/2000/QH 10 của Quốc hội, Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, Chỉ thị 33/CT-BGD&ĐT ngày 23/7/2003 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02/8/2006 … Thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước, ngành giáo dục đã có nhiều cố gắng để đẩy mạnh công tác giáo dục hướng nghiệp và đã đạt được những kết quả bước đầu. Nhiều địa phương, nhiều trường đã triển khai thực hiện chương trình giáo dục hướng nghiệp theo hướng dẫn, chỉ đạo của Bộ, mặc dù các điều kiện để thực hiện chương trình hầu như chưa có. Nhìn chung, hiệu quả của hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong thời gian qua còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu của xã hội, nhiều học sinh rất lúng túng trong việc lựa chọn hướng đi cho mình sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông và thiếu tâm thế, năng lực để bước vào cuộc sống lao động. Đa số học sinh có tâm lý học xong trung học cơ sở phải vào trung học phổ thông và học xong trung học phổ thông phải vào được đại học hoặc cao đẳng, rất ít học sinh có nguyện vọng học nghề. Nhiều trường dạy nghề có chất lượng cao, thị trường lao động rất cần và trả lương cao nhưng vẫn thiếu học sinh học nghề. Chính điều này đã dẫn đến tình trạng mất cân đối trong cơ cấu trình độ nguồn nhân lực đã đào tạo và cơ cấu ngành nghề đào tạo ở nước ta. Những ngành nghề có nhu cầu phát triển thì chỉ có ít sinh viên theo học. Trong khi đó, rất đông học sinh theo học các ngành có nhu cầu về nhân lực qua đào tạo thấp, nên sau khi tốt nghiệp đại học, nhiều em không xin được việc làm hoặc làm những công việc trái với ngành nghề được đào tạo, gây lãng phí lớn cho gia đình và xã hội. Như vậy, mục tiêu hướng nghiệp của giáo dục phổ thông hầu như chưa đạt được. Một trong những nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là do nội dung công tác giáo dục hướng nghiệp chưa được thực hiện đầy đủ; các trường phổ thông thiếu các điều kiện cần thiết cho hoạt động giáo dục hướng nghiệp đặc biệt là điều kiện giáo viên. Cho đến nay, nước ta vẫn chưa có cơ sở giáo dục đào tạo nào làm nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng giáo viên chuyên trách hướng nghiệp. Giáo viên làm công tác giáo dục hướng nghiệp ở các trường trung học phổ thông đều là giáo viên kiêm nhiệm … Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông là một trong những nội dung của quản lý các hoạt động sư phạm. Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông bao gồm quản lý tốt việc thực hiện chương trình giáo dục hướng nghiệp, phát huy hiệu quả các trang thiết bị phục vụ giảng dạy, đầu tư đúng mức cho cơ sở hạ tầng, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên theo đúng yêu cầu của giáo dục hướng nghiệp, phối hợp tốt các lực lượng tham gia công tác giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông. Quản lý tốt hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh là góp phần vào việc giáo dục và đào tạo con người hoàn thiện về phẩm chất đạo đức, có năng lực, đủ trình độ kiến thức cống hiến cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, trong những năm vừa qua, việc quản lý công tác này ở các trường trung học phổ thông chưa thật sự đạt hiệu quả, phần lớn các trường chỉ giao khoán cho giáo viên chủ nhiệm, các nhà quản lý trường học chưa thật sự quan tâm đến việc tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá việc thực hiện công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để các nhà quản lý trường học quản lý tốt công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trong nhà trường. Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường Trung học phổ thông Quốc Tuấn, thành phố Hải Phòng”.
Trang 1CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
9 GD&ĐT: Giáo dục và Đào tạo
15 QLGDHN: Quản lý giáo dục hướng nghiệp
Bảng 2.1 Thống kê chất lượng giáo dục của Trường THPT Quốc Tuấn
trong 5 năm học gần đây Bảng 2.2 Nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động GDHN
Trang 2Bảng 2.3 Mức độ quan tâm của CBQL, GV với công tác GDHN
Bảng 2.4 Vai trò của gia đình trong GDHN
Bảng 2.5 Đánh giá mức độ hiểu biết của học sinh khi chọn nghề
Bảng 2.6 Mức độ sử dụng các nguồn thông tin cần biết về nghề
Bảng 2.7 GDHN thông qua dạy - học các môn văn hoá
Bảng 2.8 GDHN qua dạy - học môn Công nghệ và hoạt động LĐSX
Bảng 2.9 GDHN qua tổ chức hoạt động GDHN
Bảng 2.10 GDHN qua hoạt động tham quan, ngoại khoá
Bảng 2.11 Thống kê học sinh tốt nghiệp THPT Quốc Tuấn vào CĐ, ĐH giai đoạn 2010 - 2013
Bảng 2.12 Nhận thức về tầm quan trọng các biện pháp quản lý GDHN của trường THPT Quốc Tuấn - Thành phố Hải Phòng
Bảng 2.13 Mức độ thực hiện các biện pháp quản lý GDHN
Bảng 2.14 Tương quan giữa nhận thức tầm quan trọng và mức độ thực hiện các biện pháp quản lý GDHN của trường THPT Quốc Tuấn
Bảng 2.15 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý GDHN của trường THPT Quốc Tuấn
Bảng 3.1 Đánh giá mức độ cần thiết của các biện pháp đề xuất
Bảng 3.2 Đánh giá mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất
Bảng 3.3 Tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1 Mức độ cần thiết của các biện pháp
Biểu đồ 3.2 Mức độ khả thi của các biện pháp
Biểu đồ 3.3 Tương quan giữa mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp
Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ giữa các thành tố cấu trúc của quá trình GDHN MỤC LỤC Lời cảm ơn 1
DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 2
MỞ ĐẦU 8
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 14
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 14
Trang 31.1.1 Vấn đề giáo dục hướng nghiệp và quản lý hoạt động giáo dục hướng
nghiệp ở một số nước trên thế giới 14
1.1.2 Ở Việt Nam 21
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 23
1.2.1 Quản lý giáo dục 23
1.2.2 Quản lí nhà trường 25
1.2.3 Hướng nghiệp 26
1.2.4 Giáo dục hướng nghiệp 27
1.2.5 Quản lý giáo dục hướng nghiệp 27
1.2.6 Biện pháp 28
1.3 Giáo dục hướng ngiệp trong trường trung học phổ thông 28
1.3.1 Vị trí của trường trung học phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân.28 1.3.2 Ý nghĩa của giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông 29
1.3.3 Mục đích, chức năng, nhiệm vụ của giáo dục hướng nghiệp trong trường trung học phổ thông 31
1.3.4 Nôi dung của giáo dục hướng nghiệp trong trường trung học phổ thông.32 1.3.5 Các con đường giáo dục hường nghiệp trong trường trung học phổ thông
33
1.4 Quản lý giáo dục hướng nghiệp của Hiệu trưởng trường trung học phổ thông 36
1.4.1 Nội dung quản lý giáo dục hướng nghiệp của Hiệu trưởng trường trung học phổ thông 36
1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục hướng nghiệp trong trường trung học phổ thông 39
1.5.1 Đường lối của Đảng và Nhà nước về giáo dục hướng nghiệp 39
1.5.2 Yêu cầu đổi mới giáo dục trung học phổ thông 40
Trang 41.5.3 Những yêu cầu của giáo dục hướng nghiệp trong giai đoạn hiện nay 40 1.5.4 Điều kiện kinh tế - xã hội 41
Chương 2:THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC TUẤN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 43 2.1 Khái quát tình hình giáo dục và đào tạo tại trường THPT Quốc Tuấn – Thành phố Hải Phòng 43 2.2 Thực trạng hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông Quốc Tuấn 44
2.2.1 Nhận thức của cán bộ, giáo viên và học sinh về hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông Quốc Tuấn 45 2.2.2 Kết quả thực hiện các con đường giáo dục hướng nghiệp trong trường Trung học phổ thông Quốc Tuấn 49 2.2.3 Tình hình phân luồng học sinh Trung học phổ thông Quốc Tuấn 55
2.3 Thực trạng các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp của trường Trung học phổ thông Quốc Tuấn 56
2.3.1 Thực trạng mức độ nhận thức về tầm quan trọng các biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp của trường Trung học phổ thông Quốc Tuấn- thành phố Hải Phòng 56 2.3.2 Thực trạng mức độ thực hiện các biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp của trường Trung học phổ thông Quốc Tuấn - Thành phố Hải Phòng 58 2.3.3 Mối tương quan giữa mức độ nhận thức và thực hiện các biện pháp quản
lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường Trung học phổ thông Quốc Tuấn Thành phố Hải Phòng 59 2.3.4.Phân tích các biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp của trường Trung học phổ thông Quốc Tuấn - Thành phố Hải Phòng 60
Trang 5-2.3.5 Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục hướng nghiệp của
trường 64
2.4 Đánh giá chung về thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp 65
2.4.1.Những thành tựu cơ bản 65
2.4.2.Những tồn tại 66
2.4.3.Nguyên nhân của những tồn tại 66
Chương 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC TUẤN 70
3.1 Nguyên tắc định hướng cho việc đề xuất các biện pháp 70
3.1.1 Nguyên tắc tính pháp chế 70
3.1.2 Nguyên tắc tính thực tiễn 71
3.1.3 Nguyên tắc tính kế thừa và phát triển 72
3.1.4 Nguyên tắc tính khả thi 72
3.2 Đề xuất biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp của trường Trung học phổ thông Quốc Tuấn 73
3.2.1 Tổ chức các hoạt động truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức cho học sinh, các lực lượng giáo dục về giáo dục hướng nghiệp 73
3.2.2 Nâng cao chất lượng xây dựng kế hoạch giáo dục hướng nghiệp 78
3.2.3.Phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng tham gia giáo dục hướng nghiệp 80
3.2.4 Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên về công tác giáo dục hướng nghiệp 83
3.2.5.Tổ chức hoạt động ngoại khóa về giáo dục hướng nghiệp và tư vấn hướng nghiệp 86
3.2.6 Tạo động lực, khuyến khích thúc đẩy giáo viên thực hiện nhiệm vụ giáo dục hướng nghiệp 90
3.2.7 Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho giáo dục hướng nghiệp 92
Trang 63.2.8 Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá giáo dục hướng nghiệp 94
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 96
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 97
3.4.1 Các bước khảo nghiệm 97
3.4.2 Kết quả khảo nghiệm 98
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC 112
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục hướng nghiệp là một bộ phận của giáo dục phổ thông Hoạt động giáodục hướng nghiệp được chính thức đưa vào chương trình và kế hoạch giáo dục phổthông nhằm giúp học sinh biết cách chọn nghề phù hợp với hứng thú, năng lực của bảnthân, đồng thời phù hợp với nhu cầu nhân lực và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội củađất nước Nhờ đó học sinh dễ tìm được công việc phù hợp với ngành nghề được đàotạo, phát huy tối đa năng lực, sở trường của mình trong công việc và thành đạt tronglao động nghề nghiệp Giáo dục hướng nghiệp còn là biện pháp hữu hiệu, góp phầntích cực và có hiệu quả vào việc phân luồng học sinh, chuẩn bị cho học sinh đi vàocuộc sống lao động nếu như các em không có điều kiện tiếp tục học lên ngay sau khitốt nghiệp phổ thông Vì lẽ đó, từ nhiều năm nay, yêu cầu đẩy mạnh và nâng cao chấtlượng hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông là nhu cầu cấpthiết Điều này cũng được khẳng định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật và cácNghị quyết về giáo dục đào tạo như Luật Giáo dục, Quyết định 126/CP ngày 19/3/1981của Chính phủ, Nghị quyết 40/2000/QH 10 của Quốc hội, Chiến lược phát triển giáodục 2001-2010, Chỉ thị 33/CT-BGD&ĐT ngày 23/7/2003 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo, Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02/8/2006 …
Thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước, ngành giáo dục đã có nhiều
cố gắng để đẩy mạnh công tác giáo dục hướng nghiệp và đã đạt được những kết quảbước đầu Nhiều địa phương, nhiều trường đã triển khai thực hiện chương trình giáodục hướng nghiệp theo hướng dẫn, chỉ đạo của Bộ, mặc dù các điều kiện để thực hiệnchương trình hầu như chưa có Nhìn chung, hiệu quả của hoạt động giáo dục hướngnghiệp trong thời gian qua còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu của xã hội, nhiều học sinhrất lúng túng trong việc lựa chọn hướng đi cho mình sau khi tốt nghiệp trung học phổthông và thiếu tâm thế, năng lực để bước vào cuộc sống lao động
Đa số học sinh có tâm lý học xong trung học cơ sở phải vào trung học phổ thông
và học xong trung học phổ thông phải vào được đại học hoặc cao đẳng, rất ít học sinh
có nguyện vọng học nghề Nhiều trường dạy nghề có chất lượng cao, thị trường laođộng rất cần và trả lương cao nhưng vẫn thiếu học sinh học nghề Chính điều này đãdẫn đến tình trạng mất cân đối trong cơ cấu trình độ nguồn nhân lực đã đào tạo và cơcấu ngành nghề đào tạo ở nước ta Những ngành nghề có nhu cầu phát triển thì chỉ có ítsinh viên theo học Trong khi đó, rất đông học sinh theo học các ngành có nhu cầu về
Trang 8nhân lực qua đào tạo thấp, nên sau khi tốt nghiệp đại học, nhiều em không xin đượcviệc làm hoặc làm những công việc trái với ngành nghề được đào tạo, gây lãng phí lớncho gia đình và xã hội Như vậy, mục tiêu hướng nghiệp của giáo dục phổ thông hầunhư chưa đạt được Một trong những nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là do nộidung công tác giáo dục hướng nghiệp chưa được thực hiện đầy đủ; các trường phổthông thiếu các điều kiện cần thiết cho hoạt động giáo dục hướng nghiệp đặc biệt làđiều kiện giáo viên Cho đến nay, nước ta vẫn chưa có cơ sở giáo dục đào tạo nào làmnhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng giáo viên chuyên trách hướng nghiệp Giáo viên làm côngtác giáo dục hướng nghiệp ở các trường trung học phổ thông đều là giáo viên kiêmnhiệm …
Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông là mộttrong những nội dung của quản lý các hoạt động sư phạm Quản lý hoạt động giáo dụchướng nghiệp ở trường trung học phổ thông bao gồm quản lý tốt việc thực hiện chươngtrình giáo dục hướng nghiệp, phát huy hiệu quả các trang thiết bị phục vụ giảng dạy,đầu tư đúng mức cho cơ sở hạ tầng, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên theo đúng yêu cầucủa giáo dục hướng nghiệp, phối hợp tốt các lực lượng tham gia công tác giáo dụchướng nghiệp ở trường trung học phổ thông Quản lý tốt hoạt động giáo dục hướngnghiệp cho học sinh là góp phần vào việc giáo dục và đào tạo con người hoàn thiện vềphẩm chất đạo đức, có năng lực, đủ trình độ kiến thức cống hiến cho sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tuy nhiên, trong những năm vừa qua, việc quản lý công tác này ở các trườngtrung học phổ thông chưa thật sự đạt hiệu quả, phần lớn các trường chỉ giao khoán chogiáo viên chủ nhiệm, các nhà quản lý trường học chưa thật sự quan tâm đến việc tổchức thực hiện, kiểm tra đánh giá việc thực hiện công tác giáo dục hướng nghiệp chohọc sinh ở các trường trung học phổ thông Vấn đề đặt ra là làm thế nào để các nhàquản lý trường học quản lý tốt công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trong nhàtrường
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, chúng tôi chọn đề tài
nghiên cứu: “Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường Trung học phổ thông Quốc Tuấn, thành phố Hải Phòng”
2 Mục đích nghiên cứu
Trang 9Đánh giá đúng thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở cáctrường trung học phổ thông Quốc Tuấn – thành phố Hải Phòng Từ đó đề xuất các biệnpháp nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp.
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về giáo dục hướng nghiệp trong giáo dục trung học phổthông, quản lý giáo dục, quản lý hoạt động giáo dục ở trường trung học phổ thông đểxác lập cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường trung họcphổ thông
- Trên cơ sở khung lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ởtrường trung học phổ thông, khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướngnghiệp ở trường trung học phổ thông Quốc Tuấn – thành phố Hải Phòng
- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trườngtrung học phổ thông Quốc Tuấn – thành phố Hải Phòng
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông Quốc Tuấn –thành phố Hải Phòng
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổthông Quốc Tuấn – thành phố Hải Phòng
5 Vấn đề nghiên cứu
Đề tài tập trung vào nghiên cứu vấn đề cơ bản sau: Biện pháp quản lý hoạtđộng giáo dục hướng nghiệp ở trường Trung học phổ thông Quốc Tuấn – Thành phốHải Phòng
6 Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trườngtrung học phổ thông Quốc Tuấn – thành phố Hải Phòng đã đạt được một số thành tựunhư chương trình giáo dục hướng nghiệp học sinh phổ thông đã được chính thức đưavào giảng dạy chính khoá, kế hoạch giáo dục hướng nghiệp khá chu đáo, phương phápthực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp có nhiều tiến bộ… Tuy nhiên, vẫn cònnhững tồn tại trong quá trình quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp về xây dựng kếhoạch thực hiện chương trình, tổ chức chỉ đạo, kiểm tra đánh giá, …
7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Trang 10Khảo sát và sử dụng các số liệu từ các năm 2007 trở lại đây.
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa lý luận:
Tổng kết thực tiễn công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho họcsinh trường Trung học phổ thông Quốc Tuấn – Thành phố Hải Phòng, chỉ ra những bàihọc thành công và mặt hạn chế, cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng các biện phápquản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh
- Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho các trường Trung học phổ thôngkhác trong cả nước về việc quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Nócòn có giá trị tham khảo cho các nhà quản lý giáo dục
9 Các phương pháp nghiên cứu
9.1 Phương pháp luận
9.1.1 Quan điểm hệ thống – cấu trúc
Vấn đề được nghiên cứu một cách toàn diện, khách quan: Quản lý hoạt độnggiáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông Quốc Tuấn – thành phố HảiPhòng phải được xem xét trong mối quan hệ với các hoạt động khác trong nhà trườngvới việc thực hiện đồng bộ bốn con đường giáo dục hướng nghiệp, việc giảng dạy hoạtđộng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông cũng như việc bồidưỡng đội ngũ tham gia hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường trung học phổthông trong phạm vi toàn quốc so với mục tiêu giáo dục và đào tạo chung
9.1.2 Quan điểm thực tiễn
Qua điều tra, nghiên cứu thực tế, phân tích để phát hiện những tồn tại trongquản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở trường trung học phổ thôngQuốc Tuấn – thành phố Hải Phòng, trên cơ sở đó, đề ra những biện pháp quản lý nângcao hiệu quả hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường trung học phổ thông
9.1.3 Quan điểm lịch sử, logic
Tìm hiểu sự hình thành và phát triển của hoạt động giáo dục hướng nghiệp trênthế giới và ở Việt Nam Đồng thời, xem xét xu thế phát triển kinh tế - xã hội và nhucầu nguồn nhân lực của đất nước và trên địa bàn thành phố Hải Phòng trong nhữngnăm vừa qua cùng với những thành tựu cần phát huy và những tồn tại cần khắc phục
9.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
9.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Trang 11Phương pháp phân tích - tổng hợp, phân loại, hệ thống hoá những vấn đề lý luậntrong các văn bản, tài liệu, sách báo, thông tin trên mạng Internet có liên quan đến vấn
đề nghiên cứu, từ đó xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
9.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát
Người nghiên cứu tiến hành quan sát có chủ định cách tổ chức, tiến hành quản
lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp, quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiệndạy học phục vụ cho công tác giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thôngQuốc Tuấn nhằm thu thập thông tin về thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dụchướng nghiệp ở trường trung học phổ thông Quốc Tuấn – thành phố Hải Phòng
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Người nghiên cứu xây dựng hai loại phiếu hỏi: một, dành cho cán bộ quản lý,giáo viên, các lực lượng tham gia hoạt động giáo dục hướng nghiệp; hai, dành cho họcsinh ở các lớp của trường trung học phổ thông Quốc Tuấn nhằm khảo sát thực trạngquản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông Quốc Tuấn –thành phố Hải Phòng
- Phương pháp phỏng vấn
Người nghiên cứu tiến hành phỏng vấn hoặc trao đổi với các cán bộ quản lý,giáo viên về công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổthông Quốc Tuấn – thành phố Hải Phòng
- Phương pháp chuyên gia
Tác giả trao đổi, lấy ý kiến chuyên gia về quản lý hoạt động giáo dục hướngnghiệp ở các trường trung học phổ thông
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Nghiên cứu các kế hoạch hoạt động giáo dục hướng nghiệp, kế hoạch bài dạygiáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông Quốc Tuấn nhằm thu thập thôngtin về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp
9.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học và phần mềm SPSS FOR WINDOWphiên bản 16.0 để xử lý các số liệu thu được trong quá trình khảo sát
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
dự kiến được trình bày theo 3 chương:
Trang 12Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở cáctrường Trung học phổ thông
Chương 2: Thực trạng hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường Trung họcphổ thông Quốc Tuấn – Thành phố Hải Phòng
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường Trunghọc phổ thông Quốc Tuấn
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
HƯỚNG NGHIỆP Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Vấn đề giáo dục hướng nghiệp và quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở một số nước trên thế giới
Trên thế giới, hoạt động giáo dục lao động – hướng nghiệp cho học sinh có từhàng trăm năm nay và ngày càng phát triển Những vấn đề hướng dẫn chọn nghề đượcđặt ra một cách rộng rãi ở nhiều nước với tính cấp thiết của nó vào những năm đầu thế
kỷ XX Để có sự tuyển chọn đích đáng những người lao động cho nhà máy, xí nghiệp,cần phải đưa hướng nghiệp vào trường phổ thông Từ lâu, N.K.Crupxkaia, nhà giáodục học và tâm lý học lỗi lạc người Nga đã từng nêu lên luận điểm “tự do chọn nghề”cho mỗi thanh niên Theo bà, thông qua hướng nghiệp, mỗi trẻ em đều phải nhận thứcsâu sắc hướng phát triển kinh tế của đất nước, những nhu cầu nào của nền sản xuất cầnđược thỏa mãn, những nhiệm vụ mà thanh thiếu niên phải đáp ứng trước yêu cầu mà xãhội đề ra trong lĩnh vực lao động sản xuất Đã có nhiều công trình nghiên cứu về hướngnghiệp và giáo dục hướng nghiệp ở các nước như Nga, Pháp, Đức, Anh, Mỹ, Nhật Bản,Trung Quốc
1.1.1.1 Quan điểm giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp ở nước Nga hậu Xô Viết
Chương trình giáo dục công nghệ ở trường phổ thông của Liên bang Nga hiệnnay bao gồm những nội dung có tính chất giáo dục kỹ thuật tổng hợp không nhằm đàotạo một nghề cụ thể, học sinh được làm quen, thử sức với từng loại hình sản xuất trongxây dựng, đồng thời chú ý đến công nghệ thông tin được sử dụng trong nền kinh tếhiện đại Các nhà giáo Liên bang Nga vẫn kế thừa và tiếp tục phát triển lý luận về vaitrò và ý nghĩa của giáo dục tổng hợp, quán triệt vào dạy học các môn khoa học củatrường phổ thông, đồng thời vào giảng dạy môn công nghệ học và giáo dục lao động
Về mặt chỉ đạo thực tiễn, Bộ Giáo dục Liên bang Nga không tách giáo dục hướngnghiệp khỏi giáo dục công nghệ đại cương và giáo dục lao động của trường phổ thông,nhất là đối với học sinh trung học phổ thông, thì nội dung, phương pháp tổ chức dạyhọc các môn khoa học và công nghệ phân hóa nhằm mục tiêu hướng nghiệp cho họcsinh vào học nghề và cuộc sống Bộ Giáo dục Liên bang Nga từ những năm 1993 đãgiữ lại nội dung chương trình giáo dục lao động và hướng nghiệp tại nhà trường phổ
Trang 14thông, trong đó tăng cường phân hóa giáo dục lao động cũng như giáo dục kỹ thuậttổng hợp tại bậc trung học phổ thông Từ năm 1994 – 1995, Bộ Giáo dục Liên bangNga chủ trương tiến hành thí nghiệm dạy học rộng rãi, cuốn chiếu chương trình Côngnghệ học thay cho chương trình dạy học lao động và kỹ thuật áp dụng từ thời Xô Viết
và tổ chức soạn thảo tài liệu về phương pháp dạy học công nghệ trên quan điểm tăngcường định hướng phát triển kỹ thuật tổng hợp, công nghệ và tin học với các môn họcphổ thông Các nhà giáo dục Liên bang Nga cho rằng, trong các tiêu chí đánh giá chấtlượng học sinh thì “Sự thành đạt nắm vững nghề đã chọn là giá trị cao nhất”
1.1.1.2 Xu thế cải cách các trường học ở Châu Âu cuối thế kỷ XX gắn với hướng nghiệp và đào tạo nghề
Vào những năm 70 – 80 của thế kỷ trước, các nước Châu Âu lần lượt tiến hànhcải cách giáo dục từ cấu trúc, tổ chức đến nội dung, phương pháp giáo dục và giảngdạy, đáp ứng các yêu cầu phát triển của xã hội công nghiệp dựa vào sự tiến bộ vượt bậccủa khoa học – công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, kinh tế để đạt tới một số chuẩnmực chung về trình độ giáo dục phổ thông và giáo dục nghề Ở đây, tôi điểm qua một
số cải cách nhà trường gắn với vấn đề giáo dục, nghề và hướng nghiệp tại trường phổthông
* Nhà trường Pháp và vấn đề giáo dục lao động, nghề nghiệp
Năm 1975, nước Pháp đã tiến hành cải cách giáo dục để hiện đại hóa giáo dụcnhằm vào các hướng: tăng cường giáo dục tự nhiên và toán học, trong đó tăng kiếnthức thực hành đối với khoa học tự nhiên, đưa giáo dục kỹ thuật vào để đảm bảo sựliên hệ giữa trường học và đời sống, đồng thời vẫn giữ vững ý nghĩa của các môn xãhội và nhân văn Cải cách giáo dục Pháp đặc biệt chú trọng tới giảng dạy lao động vànghề nghiệp cho học sinh khắc phục khuynh hướng và quan niệm coi giáo dục laođộng là một hoạt động giáo dục lao động loại hai (tức là đứng sau các môn khoa học)
Để phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh, nhà trường Pháp đặt giáo dục lao động,thủ công và nghề nghiệp bình đẳng với các loại hình hoạt động khác của nhà trường,đào tạo “tiền nghề nghiệp” là cơ sở của việc học tập liên tục về sau và chuẩn bị cho họcsinh bước vào cuộc sống lao động “Công nghệ học là lĩnh vực cơ bản của văn hóa Nókhông có mục tiêu đào tạo một nghề cụ thể mà nhiệm vụ chính là giáo dục phổ thôngphải cung cấp những tri thức kỹ thuật xác định và phát triển những kỹ năng cần thiếtgiúp học sinh hiểu được thế giới công nghệ xung quanh” Chương trình công nghệ họcphải bao gồm những kiến thức liên quan đến thiết kế cơ khí, các loại máy và hiệu quả
Trang 15sử dụng chúng Học sinh cần hiểu được vị trí của công nghệ học trong môi trường xãhội và trong tự nhiên, trình độ công nghệ, những thành tựu to lớn và hiểm họa trong laođộng
Nhà trường Pháp hiện nay đã giảm bớt tính hàn lâm trong việc cung cấp cáckiến thức khoa học, tăng cường tỷ trọng các kiến thức có ý nghĩa thực và hướng nghiệp
để giúp học sinh trung học chuẩn bị đi vào đào tạo và cuộc sống nghề nghiệp
* Hiện đại hóa quá trình học tập của nhà trường Đức
Giáo dục phổ thông trong nhà trường của Liên bang Đức đang tiến tới “Một nhàtrường Châu Âu thống nhất” nhưng vẫn giữ được những truyền thống tốt đẹp nhất củanền giáo dục Đức Vì vậy, định hướng cải cách của nhà trường Đức đã đặt ra nhiệm vụxem xét lại mục tiêu và nhiệm vụ của trường phổ thông, hiện đại hóa, cụ thể là:
- Chuyển từ nhà trường truyền thống với hệ 3 loại hình sang 2 loại hình
- Giảm thời lượng học tập của trường Ghim-na-zi (THCS) nhưng vẫn bảo đảm trình độcao về giáo dục phổ thông
- Xác lập mối quan hệ chặt chẽ hơn giữa giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp
- Sử dụng nguồn lực của chính nhà trường, sự sáng tạo của giáo viên và sự đổi mớinhằm làm cho nhà trường được tự chủ nhiều hơn trong quản lý
Theo truyền thống, hệ thống trường phổ thông Đức quán triệt nguyên tắc hướngnghiệp để chuẩn bị cho học sinh đi vào trường đào tạo nghề tùy theo trình độ học tậpcủa mỗi em Học sinh được phân loại ngay từ cấp tiểu học Sau lớp 5, căn cứ vào thànhtích học tập của từng em, trường phân loại học sinh thành hai loại: loại chỉ học hết lớp
10 rồi đi vào học công nhân lành nghề tại các trung tâm dạy nghề và loại học hết trunghọc lớp 12 Đến đây, lại phân loại lần nữa, chỉ cho những học sinh học khá được lênlớp 13 thi lấy bằng tú tài toàn phần và vào học các trường đại học, số còn lại sẽ vào các
cơ sở đào tạo nghề trung cấp Sự phân loại sơ bộ được tiến hành từ khi học hết tiểu họcnhưng phải phúc tra và đưa ra quyết định chính xác sau lớp 9 Tới lớp 10, ngay từ học
kỳ 1, giáo viên chủ nhiệm liên hệ với nhiều cơ sở hướng nghiệp, những trường dạynghề của các công ty tư nhân và Nhà nước để bố trí học sinh đến đó tìm hiểu nghềmình muốn học, chế độ được hưởng khi học như trợ cấp bao gồm tiền ăn, tiền ở, đảmbảo nhu cầu tối thiểu theo mức sống ở Đức Những học sinh có nhu cầu hay năng lựchọc lên đại học buộc phải có học lực khá và từ lớp 11 được học trường phổ thông hệhọc lên đại học Nhà nước không để thanh niên dù là người thuộc quốc tịch nước ngoàiđang cư trú hợp pháp trên nước Đức bị thất học phổ thông và mù nghề Học sinh được
Trang 16học miễn phí trong tất cả các bậc học: tại nhà trẻ, lớp mẫu giáo, trường tiểu học đều tổchức căn tin và Nhà nước bù lỗ đối với việc ăn uống của trẻ Xu hướng hiện đại hóa ởđây là tạo điều kiện cho học sinh có thể học nghề ngay khi đang học phổ thông, cungcấp hệ thống và kiến thức khoa học gắn với hướng đào tạo nghề một cách linh hoạt,giảm bớt tính hàn lâm của bậc trung học hoàn chỉnh
* Nhà trường Ba Lan bước vào thế kỷ XXI
Trong báo cáo về chiến lược hiện đại hóa “con đường tới năm 2010”, “Ba Lantrong thế kỷ XXI” của Chủ tịch đoàn Viện Hàn lâm Ba Lan có đoạn viết: “Ưu tiên caonhất cho 15 năm tới là sử dụng tiềm lực trí tuệ Ba Lan và nguồn nhân lực để rút ngắn
và hiện đại hóa quá trình xã hội – kinh tế Chúng ta theo đuổi chiến lược đưa giáo dụctrong năm 2010 đạt được những tiêu chuẩn giáo dục Châu Âu” Nhà nước Ba Lan chủtrương chế độ giáo dục bắt buộc 9 năm, gồm giáo dục tích hợp lớp 1 – 3, giáo dục theokhối 4 đến 6 và tiếp tục là hệ thống giáo dục 3 năm phân hóa (từ 1/9/2001 tăng lên 4năm) theo hai hướng: hàn lâm và nghề nghiệp hướng vào lĩnh vực xã hội – kinh tế, vănhóa – nghệ thuật nhằm đào tạo nghề phân hóa rộng Báo cáo xác định một số nguyêntắc chỉ đạo cải cách giáo dục gồm:
- Nguyên tắc phân nhánh rộng thay cho hướng phân hóa hẹp trước đây, vì phân hóarộng đảm bảo thay đổi nhanh chóng trình độ lành nghề cho người lao động và đào tạocán bộ
- Nguyên tắc phát triển mọi mặt trí tuệ, tâm lý, nghề nghiệp – xã hội, thể chất của họcsinh, đảm bảo mục tiêu con người phát triển toàn diện
- Nguyên tắc giáo dục thông qua lao động được thực hiện thông qua quá trình laođộng, giáo dục kỹ thuật tổng hợp tiếp nhận tri thức và khả năng phù hợp với các giaiđoạn và hình thức học tập, công tác hướng học và hướng nghiệp Xu thế hiện tại củagiáo dục phổ thông và giáo dục nói chung trên thế giới là coi dạy nghề, bao gồm cảgiáo dục tiền nghề nghiệp ở trường phổ thông, với tính chất đặc biệt quan trọng đó làcách diễn đạt khác nhau, nhưng tựu chung đều thống nhất với nhau ở chỗ: giáo dục laođộng gắn liền với giáo dục công nghệ và giáo dục hướng nghiệp theo tinh thần màngười Nga gọi là giáo dục kỹ thuật tổng hợp
1.1.1.3 Giáo dục hướng nghiệp, lập nghiệp ở các trường trung học của Australia
Giáo dục hướng nghiệp, lập nghiệp (Career Education) ở các trường học củaAustralia nhằm phát triển những kỹ năng, kiến thức và thái độ thông qua một chương
Trang 17trình học tập được kế hoạch hóa Việc giáo dục này giúp cho học sinh biết ra nhữngquyết định về việc lựa chọn có tính hướng nghiệp, lập nghiệp trong và sau khi học ởtrường và tham gia có hiệu quả vào đời sống lao động Cá nhân con người thườngxuyên lao động suốt đời: ở nhà, trong hệ thống giáo dục chính
quy, ở cộng đồng (với tư cách là người chủ hoặc người làm thuê) Mô hình các vai tròtrong lao động mà cá nhân phát triển trong cuộc đời là kết quả mà hàng loạt các tácđộng qua lại của những yếu tố tâm lý, xã hội, giáo dục, vật chất, kinh tế và may mắn.Giáo dục hướng nghiệp, lập nghiệp yêu cầu học sinh phải hiểu biết những yếu tố nóitrên và phát triển năng lực chuẩn bị, biết lập và thực hiện những quyết định hướngnghiệp, lập nghiệp cho bản thân Quyết định này phản ánh những khả năng, lợi ích vàgiá trị cá nhân liên quan đến việc lựa chọn thích hợp Những kỹ năng và hiểu biết cầnthiết cho việc tham gia có hiệu quả vào lao động và rất quan trọng đối với học sinh,không phụ thuộc vào giới, hoàn cảnh văn hóa, điều kiện địa lý và đời sống vật chất
Những nghiên cứu về GDHN, lập nghiệp ở các trường học của Australia chỉ ra 4nhiệm vụ của học sinh Bốn nhiệm vụ này có liên quan với nhau:
- Học về bản thân trong mối quan hệ với lao động
- Học về thế giới nghề nghiệp
- Học về lập kế hoạch và ra quyết định hướng nghiệp, lập nghiệp
- Phát triển khả năng triển khai các quyết định về hướng nghiệp và tiến hành thay đổicông việc
Học sinh phải đối mặt với nhiều sự dịch chuyển trong suốt thời gian học ởtrường, kể cả dịch chuyển từ năm học này sang năm học khác, từ trường này sangtrường khác, từ môn học này sang môn học khác, từ thầy này sang thầy khác… Họphải có kỹ năng quản lý những dịch chuyển này, vì những kỹ năng này có thể áp dụngcho những dịch chuyển sau nhà trường
1.1.1.4 Chuẩn bị nguồn nhân lực và tinh thần hướng nghiệp ở nhà trường của Nhật Bản
Năm 1988, Nhật Bản công bố “sách trắng” và đã khẳng định: Nhật Bản đangđối mặt với mục tiêu cơ bản của cải cách giáo dục thế kỷ XXI, thực hiện một “xã hộihọc tập suốt đời” Hạ Nghị viện Nhật Bản thông qua ngày 01/07/1990 Đạo luật gọi là
“Luật về duy trì hệ thống khuyến khích học tập suốt đời” Nếu mục tiêu của cải cáchgiáo dục Nhật Bản ở giai đoạn sau chiến tranh thế giới lần thứ II là hướng tới tạonguồn nhân lực phục vụ cho tăng trưởng kinh tế, thì mục tiêu cải cách giáo dục hiện
Trang 18nay là sự phát triển của chính học sinh, giúp các em tự phát triển ngay từ nhỏ cho đếnkhi trưởng thành Sự kết hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trở thành mộtnguyên tắc cơ bản, trong đó vai trò chính của nhà trường phổ thông là phải tạo động cơhọc tập cho học sinh, dạy cho các em cách học, phát triển khả năng tự học Trên cơ sở
đó, vai trò của từng cấp học thay đổi nhằm thích ứng với yêu cầu phát triển này.Chương trình cải cách giáo dục được xây dựng trên cơ sở hai luận điểm quan trọng đó
là tăng cường tính linh hoạt và đa dạng trong đánh giá hệ thống giáo dục; thực hiệnchương trình cải cách giáo dục không chỉ đóng khung trong phạm vi nhà trường, trong
hệ thống giáo dục mà còn mở rộng tầm nhìn ra phạm vi toàn xã hội theo quan điểm mởcửa, giao lưu, hội nhập quốc tế Nội dung chương trình học gồm các môn học: Quốcngữ, Địa lý, Lịch sử, Giáo dục công dân, Toán, Khoa học, Nghịên cứu môi trường, Âmnhạc, Vẽ, Thủ công, Đồ họa, Kinh tế gia đình, Giáo dục sức khỏe và thể chất, Ngoạingữ, Tin học, Giáo dục hướng nghiệp, Giáo dục đạo đức và các hoạt động đặc biệtkhác
Với những thay đổi về nội dung, phương pháp học tập theo hướng nêu trên, giáodục phổ thông nhằm tăng cường năng lực thực tiễn của cá nhân học sinh, cần thiết chovai trò của người lao động Theo quan điểm mới về chất lượng nguồn nhân lực, trongtương lai, mỗi công dân cần phải có những kỹ năng đa dạng, phong phú hơn là nhữngkiến thức mà học sẽ quên ngay sau khi thi Những kỹ năng này không chỉ được họctrong nhà trường, mà còn phải được luyện tập, thực hành hằng ngày trong cuộc sống
Để đạt được mục tiêu này, phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình vàcộng đồng Để học tập trong nhà trường cho kết quả thật sự, học sinh phải được luyệntập những điều đã học được trong cuộc sống thực tế Kiến thức sẽ thiết thực đối vớihọc sinh hơn khi được vận dụng trong cuộc sống Đó là điểm then chốt trong chươngtrình học tập, tạo hứng thú cho học sinh Việc rèn luyện khả năng thích ứng của nhânlực đối với sự phát triển “nền văn hóa công nghiệp Nhật Bản” trong giáo dục phổthông Nhà trường phổ thông Nhật Bản rèn luyện khả năng thích ứng cho học sinh quamột số hoạt động như hoạt động nhóm nhỏ và “tinh thần doanh nghiệp Nhật Bản”;giáo dục lòng trung thành của người lao động Nhật Bản tương lai trong trường phổthông; giáo dục quan hệ lãnh đạo trong trường phổ thông; hình thành thói quen cần cù,
tự giác của người lao động
1.1.1.5 Quan điểm của UNESCO
Trang 19Quan điểm coi học tập là một quá trình liên tục, kéo dài suốt cả cuộc đời, khiếnchúng ta xét lại cả nội dung và cách tổ chức giáo dục trung học Đòi hỏi của thị trườnglao động tạo ra áp lực dẫn đến số năm học có xu hướng tăng lên Trên toàn thế giới,nếu xét về tỷ lệ học sinh đến trường, thì giáo dục trung học có số lượng học sinh tăngnhanh nhất trong hệ thống giáo dục chính quy Xác định nguyên tắc giáo dục suốt đời,tạo nhiều cơ hội cho người tự học, tự đào tạo và tự hoàn thiện sau đã hoàn thành giáodục cơ sở Ý tưởng về “quyền được có thời gian học tập” có thể được sử dụng suốt đời
và hướng các hoạch định chính sách tập trung vào các thủ tục cho phép quay trở lại họctập cho những ai còn trẻ mà việc học hành bị gián đoạn như cấp giấy phép đi học, côngnhận những khả năng đã tiếp thu được, cấp giấy chứng nhận đã theo học các chươngtrình không chính quy và công nhận những mối liên hệ liên thông giữa các loại hìnhgiáo dục khác nhau
Tóm lại, với nguyên tắc giáo dục thường xuyên, giáo dục trung học có thể gắnvới phạm vi học suốt đời theo ba nguyên tắc cơ bản: đa dạng hóa các khóa học; pháttriển xen kẽ giữa chương trình học và hoạt động nghề nghiệp hoặc xã hội và nghiêncứu cải tiến chất lượng Trong khi giáo dục cơ sở phải đáp ứng nhu cầu học tập thôngthường của dân cư, thì giáo dục trung học có nhiệm vụ làm cho tất cả tài năng của họcsinh bộc lộ và nở rộ Nói cách khác, cần phải quan tâm hơn nữa đến chất lượng và đếnviệc chuẩn bị cho cuộc sống trong một thế giới biến động nhanh, thường là những thayđổi về công nghệ
Ngày nay, các môn học về lý thuyết về cơ bản thường phục vụ cho việc chuẩn
bị cho học sinh vào đại học mà bỏ rơi những người không được học tiếp, không đượctrang bị những gì cần thiết cho lao động và cuộc sống Việc đa dạng hóa cơ cấu khóahọc và chú ý hơn không chỉ nội dung mà cả việc chuẩn bị cho cuộc sống lao động làmột trong những mục tiêu của mọi cuộc cải cách Dạy kỹ thuật và đào tạo nghề nhằmđào tạo ra những kỹ thuật viên trung cấp, thợ lành nghề Ở các nước đang phát triển,điều này mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng và cần được phát triển
Giáo dục trung học là giai đoạn mà thế hệ trẻ lựa chọn cho mình con đườngbước vào cuộc sống lao động thật sự Hướng nghiệp tạo điều kiện cho học sinh lựachọn một trong nhiều con đường khác nhau Các hệ thống giáo dục cần phải được thiết
kế dù linh hoạt để tính đến sự khác biệt cá nhân trong việc tổ chức các mô hình họctập, tạo cầu nối cho những người bị gián đoạn học tập có thể trở lại học theo hình thứcchính quy Việc lựa chọn con đường riêng biệt của giáo dục nghề hay giáo dục phổ
Trang 20thông cần phải dựa trên những đánh giá thận trọng về điểm mạnh và điểm yếu của họcsinh Nói cách khác, hướng nghiệp đòi hỏi sự đánh giá dựa trên việc kết hợp những tiêuchí về giáo dục và dự báo về nhân cách tương lai Nhà trường phải có khả năng vẽ lênmột bức tranh rõ nét nhất về khả năng của mỗi học sinh Vì vậy, cần phải có những nhà
tư vấn hướng nghiệp chuyên môn để giúp học sinh lựa chọn khóa học thích hợp (cótính đến nhu cầu của thị trường lao động), dự báo những khó khăn trong học tập vàgiúp giải quyết những vấn đề xã hội khi cần thiết
1.1.2 Ở Việt Nam
So với các nước trên thể giới thì GDHN ở nước ta còn mới mẻ cả về lý thuyết
và trong hoạt động thực tiễn, nhưng vấn đề này đã được nhiều nhà nghiên cứu quantâm và đề cập tới ở những góc độ khác nhau
Từ năm 1975 - 1980 Viện Khoa học Giáo dục Bộ Giáo dục nay là Bộ GD&ĐT
đã thực nghiệm để đưa công tác hướng nghiệp vào trường phổ thông Vào đầu nhữngnăm 80 của thế kỉ XX phải kể đến sự đóng góp của các tác giả như: Phạm Hoàng Gia,
Lê Sơn, Phạm Tất Dong, Đặng Danh Ánh đã nêu ra một số cơ sở tâm lý, nội dung củacông tác hướng nghiệp Những sản phẩm nghiên cứu của họ là cơ sở để ngày19/3/1981, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 126/CP về “Công tác hướng nghiệptrong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý học sinh các cấp phổ thông cơ sở vàphổ thông trung học tốt nghiệp ra trường” Quyết định này đã tạo hành lanh pháp lýcho sự phát triển của công tác hướng nghiệp, nhất là hướng nghiệp cho học sinh phổthông Để triển khai quyết định trên, ngày 17/11/1981 Bộ GD&ĐT ra thông tư số31/TT hướng dẫn việc thực hiện quyết định 126/CP cho các cơ quan quản lý giáo dục,trường phổ thông các cấp và các cơ quan liên ngành
Trong những năm 1983 - 1996, GDHN ở nước ta đã đạt được một số thành tựuquan trọng, GDHN phát triển rất mạnh mẽ ở hầu hết các trường cấp 2, cấp 3: nhiềutrường đã có phòng hướng nghiệp, nhiều lớp đã có góc hướng nghiệp, nhiều cá nhân cócông trình nghiên cứu về hướng nghiệp Tuy nhiên, từ năm 1997, do nhiều nguyênnhân khác nhau, vai trò của GDHN dần bị coi nhẹ, việc học nghề của HS phổ thông ítđược quan tâm, dẫn đến tình trạng thừa thầy thiếu thợ ở nước ta ngày càng nghiêmtrọng hơn, ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạnCNH - HĐH đất nước Nhiều Nghị quyết của Đảng đã nói đến thực trạng này Từ Đạihội Đảng lần thứ VIII (1996) đến Đại hội Đảng lần thứ XI (2011), Trung ương Đảngluôn nhấn mạnh đến tăng cường công tác hướng nghiệp, đẩy mạnh công tác dạy nghề
Trang 21Để thực hiện chủ trương của Đảng về công tác hướng nghiệp, ngay từ năm
2002, Bộ GD&ĐT đã cho xây dựng lại chương trình GDHN và viết sách về GDHNcho HS phổ thông từ lớp 9 đến lớp 12
Năm 2002, tại Hà Nội đã tổ chức hội thảo: “Giáo dục phổ thông và Hướngnghiệp - Nền tảng để phát triển nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước” [29] Có 20 báo cáo, tham luận khoa học tại hội thảo Các bài tham luận thực
sự là những nghiên cứu, tìm tòi, đúc rút, tổng kết có giá trị về lí luận và thực tiễn củagiáo dục phổ thông và hướng nghiệp Đồng thời cũng chỉ ra các giải pháp nhằm làmcho GDHN và giáo dục phổ thông phục vụ tốt cho việc chuẩn bị nguồn nhân lực trongthời kì CNH-HĐH và hội nhập quốc tế
Ngày 23/7/2003, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT có chỉ thị số 33/2003/CT-BGD&ĐT
“Về việc tăng cường giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông” và tiếp theo đótrong phương hướng nhiệm vụ từng năm học, GDHN được quan tâm chỉ đạo Quyếtđịnh số 16/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 05/6/2006 cũng đề cập về việc ban hành chươngtrình giáo dục phổ thông và trong đó có chương trình chuẩn của hoạt động GDHN.Như vậy, GDHN lại được chính thức có trong kế hoạch giáo dục ở bậc THCS, THPT
và được triển khai đại trà ở lớp 9 và lớp 10 trong cả nước kể từ năm học 2006- 2007
Ngày 11/1/2005, Khoa Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với Việnnghiên cứu Quốc gia về lao động và hướng nghiệp - Cộng hoà Pháp đã tổ chức Hộithảo khoa học quốc tế về GDHN với chủ đề: “Đối thoại Pháp -Á về các vấn đề vàhướng đi cho giáo dục hướng nghiệp tại Việt Nam” Trong hội thảo, nhiều tham luậncủa các nhà khoa học trong và ngoài nước đã trình bày sâu các nội dung, hướng đi cầnthiết để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ GDHN của nước nhà
Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu như Đặng Danh Ánh, PhạmTất Dong, Quang Dương, Nguyễn Văn Hộ, đã đề cập đến nhiều khía cạnh trongcông tác QLGDHN cho học sinh THPT
Một số công trình nghiên cứu về công tác GDHN ở cấp Bộ như: Đề tài cấp Bộnăm 2005: “Những giải pháp triển khai thực hiện tổ chức giáo dục hướng nghiệp chohọc sinh trung học phổ thông khu vực miền núi Đông Bắc Việt Nam trong thời kì côngnghiệp hoá - hiện đại hoá” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền thuộc Đại học sưphạm Thái Nguyên Đề tài nghiên cứu cấp Bộ năm 2009: “Tham vấn hướng nghiệpcho học sinh trung học phổ thông-Thực trạng ở Việt Nam và kinh nghiệm Quốc tế” do
Lê Thị Thanh Hương làm chủ nhiệm
Trang 22Kế thừa những nghiên cứu lý luận này đã có một số công trình nghiên cứu củacác học viên về công tác GDHN cho học sinh THPT Tác giả Bùi Việt Phú (2003): “Tổchức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông theo tinh thần xã hội hoá”- Luận
án tiến sĩ Khoa học giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội; Tác giả Phạm Văn Liêm(2004): “Một số biện pháp quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổthông trung học tại Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp số 3 Hà Nội” - Luậnvăn thạc sỹ Khoa học giáo dục, Đại học Sư phạm Hà Nội; Tác giả Nguyễn Thế Tuân(2008): “Biện pháp quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung họcphổ thông tại Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp Bắc Ninh” - Luận văn thạc
sỹ Khoa học giáo dục, Đại học sư phạm Hà Nội; Tác giả Cao Văn Nguyên (2008):
“Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp của Hiệu trưởng các trườngTrung học phổ thông huyện Thiệu Hoá - Tỉnh Thanh Hoá” - Luận văn thạc sỹ Khoahọc giáo dục, Đại học sư phạm Hà Nội; Tác giả Nguyễn Hữu Văn (2008): “Biện phápquản lý giáo dục hướng nghiệp của Hiệu trưởng các trường Trung học phổ thông tỉnhHậu Giang” - Luận văn thạc sỹ Khoa học giáo dục, Đại học sư phạm Hà Nội
Tóm lại, trên lĩnh vực GDHN cho học sinh THPT, nhìn chung các công trìnhcủa các tác giả đều tập trung vào cơ sở lý thuyết và thực tiễn của công tác hướngnghiệp với mục đích, ý nghĩa, nội dung, hình thức hướng nghiệp cho học sinh phổthông Riêng về khía cạnh QLGDHN thì có rất ít công trình nghiên cứu về vấn đề này
và những biện pháp đưa ra phù hợp với địa bàn của địa phương nơi họ công tác Hiệntại, ở trường THPT Quốc Tuấn, thành phố Hải Phòng chưa có công trình nào nghiêncứu về quản lý GDHN
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Quản lý giáo dục
Giáo dục và QLGD là sự tồn tại song hành Nếu nói giáo dục là hiện tượng XHtồn tại lâu dài cùng với XH loài người thì cũng có thể nói như thế về QLGD
Theo tác giả Trần Kiểm, khái niệm “quản lý giáo dục” có nhiều cấp độ Ít nhất
có hai cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô và cấp vi mô
Ở cấp vĩ mô
QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kếhoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các móc xích của hệthống (từ cấp độ cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất
Trang 23lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà XH đã đặt ra chongành giáo dục.
QLGD là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên
hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trồi của hệ thống; sử dụng một cách tối ưu các tiềmnăng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trongđiều kiện bảo đảm sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn biến động
Cũng có thể định nghĩa QLGD là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằmhuy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát, một cách có hiệu quả nguồn lựcgiáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực, thông tin, thời gian) phục vụ cho mục tiêu pháttriển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH
Ở cấp độ vi mô
QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có
kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể GV, công nhânviên, tập thể HS, CMHS và các lực lượng XH trong và ngoài nhà trường nhằm thựchiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là điềuhành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thể hệ trẻ theo yêu cầuphát triển của xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, côngtác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người Cho nên, quản lý giáodục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân” [4,31]
Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủthể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh,với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diệnnhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường” [30,38]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là một hệ thống tác động
có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ vận hànhtheo đường lối và nguyên lí giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhàtrường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dụcthế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”.[38,35]
Như vậy dù theo tác giả nào thì khái niệm quản lý giáo dục cũng đều chứa đựngcác nhân tố đặc trưng bản chất như: Phải có chủ thể quản lý giáo dục, ở tầm vĩ mô làquản lý của Nhà nước mà cơ quan quản lý trực tiếp là Bộ, Sở, Phòng giáo dục, còn ở
Trang 24tầm vi mô là quản lý của Hiệu trưởng nhà trường; Phải có hệ thống tác động quản lýtheo nội dung, chương trình kế hoạch thống nhất từ Trung ương đến địa phương nhằmthực hiện mục đích giáo dục trong mỗi giai đoạn cụ thể của XH; Phải có một lực lượngđông đảo của XH những người làm công tác giáo dục cùng với hệ thống cơ sở vật chất
kĩ thuật tương ứng
Từ các quan niệm trên ta có thể hiểu: Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành,
phối hợp các lực lượng giáo dục và hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội.
1.2.2 Quản lí nhà trường
Vấn đề cơ bản của QLGD là quản lý nhà trường, vì nhà trường là cơ sở giáodục, nơi tổ chức thực hiện mục tiêu giáo dục Nó là tế bào căn bản của bất cứ hệ thốnggiáo dục ở cấp nào
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý nhà trường là tập hợp những tácđộng tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và cán bộ khác, nhằmtận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do laođộng xây dựng vốn tự có Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường màđiểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kếhoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới”.[38]
Tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là lao động của các cơ quanquản lý nhằm tập hợp và tổ chức lao động của giáo viên, học sinh và các lực lượnggiáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực của giáo dục để nâng cao chấtlượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường” [40,205]
Quản lý nhà trường là quản lý một thiết chế của hệ thống giáo dục quốc dân, do
đó quản lý nhà trường có liên quan hữu cơ với QLGD QLGD gồm hai cấp độ là quản
lý cấp vĩ mô và quản lý cấp vi mô Quản lý cấp vĩ mô là quản lý hệ thống giáo dụcquốc dân trong các cấp từ Trung ương đến địa phương, còn quản lý vi mô là quản lýhoạt động giáo dục của nhà trường Do đó quản lý nhà trường còn có nghĩa là tổ chứccác lực lượng trong và ngoài nhà trường biến các quan điểm, đường lối, chủ trương,chính sách giáo dục của Đảng và Nhà nước thành hiện thực
Như vậy, Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong
phạm vi trách nhiệm của mình đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, đối với thế hệ trẻ
và đối với từng học sinh.
Trang 251.2.3 Hướng nghiệp
Tuỳ thuộc vào đặc trưng cho mỗi lĩnh vực khoa học mà khi xem xét hoạt độnghướng nghiệp có những quan điểm khác nhau về khái niệm này
Các nhà tâm lý học cho rằng, hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp sư phạm,
y học giúp cho thế hệ trẻ chọn nghề có tính đến nhu cầu của XH và năng lực của bảnthân
Theo các nhà Khoa học lao động, hướng nghiệp là hình thức giám định lao động
có tính chất chuẩn đoàn, đó là quá trình xác lập sự phù hợp của từng con người cụ thểtrên cơ sở xác định sự tương thích giữa những đặc điểm tâm - sinh lý của người họcvới những yêu cầu của một nghề nào đó đối với người lao động
Theo các nhà giáo dục học, hướng nghiệp như một hệ thống tác động giúp thế
hệ trẻ có cơ sở khoa học trong việc chọn nghề phù hợp với những yêu cầu của sự phâncông lao động XH, có tính đến hứng thú và năng lực của từng cá nhân
Về phương diện kinh tế học, hướng nghiệp được hiểu là những mối quan hệkinh tế giúp cho mỗi thành viên xã hội phát triển năng lực lao động và đưa họ vào mộtlĩnh vực hoạt động cụ thể phù hợp với sự phân bổ lực lượng lao động xã hội
Tháng 10/1980, Hội nghị lần thứ 9 những người đứng đầu cơ quan giáo dụcnghề nghiệp các nước Xã hội chủ nghĩa họp tại La-ha-ba-na thủ đô Cu Ba đã thốngnhất khái niệm hướng nghiệp như sau: “Hướng nghiệp là những biện pháp dựa trên cơ
sở tâm lý học, sinh lý học, y học và nhiều khoa học khác để giúp đỡ học sinh chọnnghề phù hợp với nhu cầu xã hội, đồng thời thoả mãn tối đa nguyện vọng, thích hợpvới những năng lực, sở trường và tâm sinh lý cá nhân, nhằm mục đích phân bố hợp lý
và sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động dự trữ có sẵn của đất nước”
Xét trên bình diện XH, hướng nghiệp là hệ thống tác động của xã hội về giáodục học, y học, xã hội học, kinh tế học, nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn được nghềvừa phù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của cá nhân, vừa đáp ứngđược nhu cầu nguồn nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân
Xét trên bình diện trường phổ thông, hướng nghiệp là một hình thức hoạt độngdạy của thầy và hoạt động học của trò Với tư cách là hoạt động dạy của thầy, hướngnghiệp được coi như là công việc của tập thể GV, tập thể sư phạm có mục đích giáodục HS trong việc chọn nghề, giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ
sở phân tích khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của cácngành sản xuất trong XH Như vậy, hướng nghiệp trong trường phổ thông được thể
Trang 26hiện như một hệ thống tác động sư phạm nhằm giúp cho HS chọn nghề phù hợp vớinhu cầu XH, đồng thời thoả mãn tối đa nguyện vọng, thích hợp với năng lực, sở trường
và điều kiện tâm sinh lý cá nhân cũng như điều kiện gia đình để người học có thể pháttriển đến đỉnh cao của nghề nghiệp, cống hiến cho XH, tạo lập cuộc sống tốt đẹp chobản thân
Từ các khái niệm trên, có thể hiểu: Hướng nghiệp là quá trình hướng dẫn chọnnghề, quá trình chuẩn bị cho thế hệ trẻ đi vào LĐSX; hướng nghiệp là một hệ thốngbiện pháp tác động của gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó nhà trường đóng vai tròchủ đạo nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng đi vào lao động ở cácngành nghề tại những nơi xã hội đang cần phát triển, đồng thời lại phù hợp với hứngthú, năng lực cá nhân
1.2.4 Giáo dục hướng nghiệp
Có nhiều khái niệm khác nhau về GDHN với các tiêu chí, mục tiêu quan sát vàgóc độ chuyên môn khác nhau
Tác giả Đặng Danh Ánh quan niệm: “Giáo dục hướng nghiệp là một hoạt độngcủa tập thể sư phạm, của cán bộ các cơ quan nhà máy khác nhau, được tiến hành vớimục đích giúp học sinh chọn nghề đúng đắn với năng lực, thể lực và tâm lý của cánhân với nhu cầu kinh tế xã hội Giáo dục hướng nghiệp là một bộ phận cấu thành quátrình giáo dục - học tập trong nhà trường” [1,27]
Theo tác giả Nguyễn Trọng Bảo: “Giáo dục hướng nghiệp là một hệ thống cácbiện pháp giáo dục nhằm chuẩn bị cho học sinh sớm có ý thức chọn ngành, nghề vừaphù hợp với nguyện vọng cá nhân vừa phù hợp với phân công lao động xã hội ngay từkhi còn học ở trường phổ thông”.[6,29]
Như vậy, GDHN là một hệ thống các biện pháp giáo dục của nhà trường, giađình và xã hội, nhằm dẫn dắt thế hệ trẻ đi vào thế giới nghề nghiệp, giúp cho các em cóđịnh hướng đúng trong việc lựa chọn nghề phù hợp với nguyện vọng, sở trường củabản thân, đáp ứng được nhu cầu nhân lực của xã hội đang đặt ra Đồng thời, giúp các
em phát huy hết năng lực của mình với nghề đã chọn
1.2.5 Quản lý giáo dục hướng nghiệp
Hướng nghiệp ở trường phổ thông là bước khởi đầu quan trọng trong quá trìnhphát triển nguồn nhân lực Vì vậy, quản lý GDHN ở trường THPT trong giai đoạn hiệnnay là quản lý các thành tố và mối quan hệ giữa các thành tố cấu trúc của quá trình
Trang 27GDHN nhằm đạt mục tiêu GDHN Các thành tố và mối quan hệ này được biểu diễnbằng sơ đồ 1.2 sau đây:
Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa các thành tố cấu trúc của quá trình GDHN
1.2.6 Biện pháp
Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể
* Biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp được hiểu: là quá trình tác động cómục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong công tácGDHN nhằm đạt mục tiêu GDHN đã đề ra
1.3 Giáo dục hướng ngiệp trong trường trung học phổ thông
1.3.1 Vị trí của trường trung học phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân
Hệ thống giáo dục quốc dân là một chỉnh thể thống nhất với đầy đủ các cấp học
và trình độ đào tạo từ mầm non đến sau đại học, đa dạng về loại hình, phương thức vànguồn lực Hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam bao gồm giáo dục mầm non, giáodục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục ĐH và giáo dục thường xuyên Trong
đó giáo dục phổ thông gồm có giáo dục Tiểu học, giáo dục THCS và giáo dục THPT
Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân được thành lập theo quy hoạch, kếhoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và được tổ chức theo các loại
Phương pháp GDHN Phương tiện GDHN
Môi trường xã hội Lực lượng GDHN Môi trường tự nhiên Hình thức GDHN Kết quả GDHN
Phương pháp GDHN Phương tiện GDHN
Môi trường xã hội Lực lượng GDHN Môi trường tự nhiên Hình thức GDHN Kết quả GDHN
Phương pháp GDHN Phương tiện GDHN
Môi trường xã hội Lực lượng GDHN Môi trường tự nhiên Hình thức GDHN Kết quả GDHN
Phương pháp GDHN Phương tiện GDHN
Môi trường xã hội Lực lượng GDHN Môi trường tự nhiên Hình thức GDHN Kết quả GDHN
Phương pháp GDHN Phương tiện GDHN
Môi trường xã hội Lực lượng GDHN Môi trường tự nhiên Hình thức GDHN Kết quả GDHN
Mục tiêu GDHN
Trang 28hình công lập, dân lập, tư thục, chịu sự quản lý Nhà nước của các cơ quan QLGD theo
sự phân công, phân cấp của Chính phủ; được tổ chức và hoạt động theo quy định củaLuật giáo dục và Điều lệ nhà trường
Trường THPT là cơ sở giáo dục cấp THPT, cấp học cuối cùng của bậc phổthông, là cấp học bắt buộc đối với mọi trẻ em từ 15 đến 24 tuổi
Trong Điều lệ trường phổ thông, điều 2 đã quy định vị trí của trường trung họctrong hệ thống giáo dục quốc dân: “Trường trung học là cơ sở giáo dục phổ thông của
hệ thống giáo dục quốc dân Trường có tư cách pháp nhân và con dấu riêng” [9,10]
Trường THPT nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, do đó, nội dung giáo dụcphải đảm bảo tính phổ thông, cơ bản, nền tảng, toàn diện và hệ thống; làm cơ sở choviệc phát triển hài hoà, toàn diện nhân cách của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dụcphổ thông
1.3.2 Ý nghĩa của giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông
1.3.2.1 Ý nghĩa giáo dục
Công tác hướng nghiệp là một bộ phận của công tác giáo dục xã hội Về phươngdiện này, hướng nghiệp là công việc điều chỉnh động cơ nghề của HS, điều chỉnh hứngthú nghề nghiệp của các em theo xu thế phân công lao động xã hội Kinh nghiệm trong
và ngoài nước cho thấy rằng, sự chọn nghề một cách tự phát của thanh thiếu niênthường không phù hợp với hướng phát triển sản xuất và cơ cấu ngành, nghề trong xãhội Vì vậy, tác động giáo dục trong quá trình hướng nghiệp có ý nghĩa rất đặc biệt.Kết quả cuối cùng cần đạt là mỗi HS phải tự giác chọn nghề với ý thức đặt lợi ích của
sự phát triển sản xuất lên trên những nguyện vọng cá nhân Hướng nghiệp với ý nghĩagiáo dục sẽ là một công việc góp phần vào việc cụ thể hóa mục tiêu đào tạo của trườngphổ thông Trong giai đoạn hiện nay, trường phổ thông phải đào tạo thế hệ trẻ thànhnhững người lao động trong lĩnh vực nghề nghiệp cụ thể Tốt nghiệp trường phổ thông,
HS phải có năng lực tham gia một nghề ở địa phương hoặc sẽ tiếp tục học để sau nàylàm tốt một nghề Như vậy, quá trình hướng nghiệp trong nhà trường không dừng lại ở
sự giáo dục ý thức lao động nghề nghiệp chung chung, mà phải hướng HS đi vào nghềnghiệp cụ thể
1.3.2.2.Ý nghĩa kinh tế
Công tác hướng nghiệp luôn hướng vào việc sử dụng hợp lý tiềm năng lao độngtrẻ tuổi của đất nước, từ đó, nâng cao năng suất lao động của xã hội Đưa thanh thiếuniên vào đúng vị trí lao động nghề nghiệp, giúp họ phát huy được hết năng lực, sở
Trang 29trường lao động, phát triển cao những hứng thú nghề nghiệp, làm nảy nở óc sáng tạotrong lao động là việc làm hết sức quan trọng đối với hướng nghiệp Làm như vậy,nghề nghiệp không phải là nơi kiếm sống, mà là nơi thể hiện nhân cách, phát triển tàinăng, cống hiến sức lực và trí tuệ cho công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ
Tổ quốc Để đảm bảo ý nghĩa kinh tế của hướng nghiệp, trường phổ thông phải gắnmục tiêu đào tạo với những mục tiêu kinh tế – xã hội Sự phát triển kinh tế – xã hội phụthuộc rất nhiều vào việc chuẩn bị cho thế hệ trẻ đi vào lao động sản xuất, đi vào sựphân công lao động trong phạm vi cả nước và từng địa phương Hướng nghiệp cónhiệm vụ quan trọng đối với công việc này, bởi vì thông qua đó, hướng nghiệp là mộttrong những yếu tố làm đồng bộ hóa đội ngũ lao động nghề nghiệp, phân bố lại lựclượng lao động xã hội, chuyên môn hóa tiềm năng lao động trẻ tuổi
1.3.2.3.Ý nghĩa chính trị
Nếu như nói rằng, hướng nghiệp có tác dụng góp phần làm cụ thể hóa mục tiêuđào tạo của trường phổ thông thì điều đó có nghĩa là, công tác hướng nghiệp có chứcnăng thực hiện đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước, hiện thực hóa đường lốigiáo dục trong đời sống xã hội Ngày nay, cuộc chạy đua về sản xuất đang diễn ra rấtmãnh liệt Trong cuộc chạy đua này, những nước bị tụt lại phần lớn là do không làm tốtcông tác đào tạo người lao động, đào tạo một đội ngũ thợ lành nghề và những cán bộkhoa học, kỹ thuật có trình độ cao, hay nói khác đi, là những nước chưa làm tốt côngtác giáo dục Hướng nghiệp phải được coi là điều kiện đảm bảo chất lượng và hiệu quảgiáo dục Hướng nghiệp sẽ tạo nên những yếu tố mới trong con người lao động – yếu
tố cơ bản của việc tăng năng suất lao động xã hội Làm tốt công tác hướng nghiệp,chúng ta sẽ có những lớp người đủ năng lực và phẩm chất cách mạng để xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Tóm lại, công tác hướng nghiệp có ý nghĩa lớn đốivới sự triển khai chiến lược con người – một bộ phận của chiến lược kinh tế, khoa học
và công nghệ
1.3.2.4.Ý nghĩa xã hội
Xét ở bình diện xã hội, hướng nghiệp có tác dụng điều chỉnh sự phân công laođộng xã hội, tạo ra sự cân bằng trong việc phân bố lực lượng dân cư Khi xã hội gặpkhó khăn trong việc tìm kiếm “công ăn, việc làm” cho thanh, thiếu niên, hướng nghiệpkết hợp chặt chẽ với lao động sản xuất và dạy nghề có tác dụng làm ổn định đời sống
xã hội: góp phần tạo điều kiện để xã hội sử dụng có hiệu quả lực lượng HS phổ thông
ra trường trong lĩnh vực kinh tế, kể cả kinh tế quốc doanh, ngoài kinh tế quốc doanh và
Trang 30kinh tế gia đình Chúng ta biết rằng thanh, thiếu niên không tham gia lao động nghềnghiệp, không có việc làm sẽ rất dễ gây ra nhiều tiêu cực cho xã hội Điều này khôngchỉ gây lo âu cho người lớn, mà nguy hiểm hơn là tạo ra những thói hư, tật xấu ở tuổitrẻ, từ đó dẫn đến tình trạng suy thoái nhân cách của lớp người mới lớn Hướng dẫnthanh thiếu niên chọn nghề, hình thành ở các em tinh thần yêu thích lao động, thái độsẵn sàng tham gia sản xuất, đóng góp sức lực, tài trí cho sự mở mang ngành, nghề, pháttriển kinh tế – đó là một nội dung giáo dục rất cơ bản giúp thế hệ trẻ phấn chấn và tựgiác chấp nhận sự phân công lao động xã hội, tin yêu chế độ xã hội chủ nghĩa
1.3.3 Mục đích, chức năng, nhiệm vụ của giáo dục hướng nghiệp trong trường trung học phổ thông
1.3.3.1 Mục đích của giáo dục hướng nghiệp
Mục đích chung của GDHN là hình thành năng lực tự chủ trong việc lựa chọnnghề của HS trên cơ sở của sự phù hợp giữa năng lực, hứng thú, sở thích cá nhân vớinhu cầu sử dụng lao động trong các hoạt động đa dạng của đời sống XH Thực hiệnđược mục đích nêu trên, GDHN sẽ góp phần nâng cao hiệu quả lao động XH, điềuchỉnh từ gốc sự phân luồng lao động dự trữ trên bình diện cả nước
Đối với trường THPT, mục đích của GDHN là giúp cho HS có được ý thức như
là chủ thể trong sự lựa chọn nghề, có định hướng đúng khi chọn nghề dựa trên cơ sởhiểu biết khoa học về nghề nghiệp, về nhu cầu thị trường lao động XH và năng lực, sởtrường của bản thân
1.3.3.2 Chức năng của giáo dục hướng nghiệp
GDHN là một bộ phận cấu thành của giáo dục phổ thông, góp phần bồi dưỡngphẩm chất, đạo đức, ý thức đúng đắn đối với lao động, nâng cao chất lượng dạy và học,tạo ra những cơ sở ban đầu rất quan trọng cho thế hệ trẻ tham gia LĐSX và đào tạonghề Vì vậy, GDHN trước hết phải đảm bảo chức năng giáo dục toàn diện, đồng thờitạo điều kiện cho HS tiếp xúc với những ngành nghề khác nhau trong XH, hiểu đượcnhu cầu sử dụng nhân lực của đất nước, thấy được những đòi hỏi của nghề Trên cơ sở
đó kích thích thế hệ trẻ tự giác tìm hiểu và phấn đấu để vươn tới nghề có dự kiến lựachọn
Như vậy, GDHN có chức năng chuẩn bị cho HS sẵn sàng đi vào cuộc sống laođộng sản xuất, đó là sẵn sàng về mặt tri thức, tư tưởng tình cảm, kỹ năng hành động vàđạo đức, lương tâm nghề nghiệp
1.3.3.3 Nhiệm vụ giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông
Trang 31GDHN cho học sinh THPT bao gồm những nhiệm vụ sau:
- Cung cấp kiến thức, hình thành kỹ năng, giáo dục thái độ lao động và ý thứcđúng đắn với nghề nghiệp
- Giúp cho HS có hiểu biết khái quát về sự phân công lao động XH, cơ cấu nềnkinh tế quốc dân, sự phát triển kinh tế của đất nước, địa phương, làm quen với nhữngngành nghề chủ yếu, nghề cơ bản, đặc biệt là nghề truyền thống của địa phương
- Tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng HS để khuyếnkhích, hướng dẫn và bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích hợp nhất
- Cung cấp thông tin về KT - XH, thị trường lao động, nghề nghiệp Giáo dục,động viên, hướng dẫn HS đi vào những ngành nghề mà nhà nước, địa phương đang cầnphát triển
1.3.4 Nội dung của giáo dục hướng nghiệp trong trường trung học phổ thông
- Kích thích hứng thú của học sinh tìm hiểu về các ngành, nghề trong xã hội
- Giúp HS có thái độ đúng đắn đối với nghề nghiệp, từng bước xóa bỏ nhữngquan niệm sai về nghề nghiệp trong XH
- Giáo dục HS tự giác lao động nhằm tự đánh giá và kiểm nghiệm hứng thú củabản thân đối với một dạng lao động nhất định
Trang 32- Tìm hiểu nguyện vọng, khuynh hướng, hứng thú nghề nghiệp của HS.
- Tìm hiểu toàn diện nhân cách HS
- So sánh, đối chiếu kết quả khảo sát và nguyện vọng của HS với yêu cầu củanghề
- Cho HS lời khuyên về lựa chọn nghề
1.3.4.3 Tuyển chọn nghề
Tuyển chọn nghề là quá trình đánh giá sự phù hợp ban đầu về phẩm chất, nhâncách, năng lực của cá nhân đối với những yêu cầu do nghề đặt ra Để thực hiện nộidung này trường THPT phải cung cấp tư liệu về đặc điểm nhân cách của từng HS khi
ra trường, góp ý cho việc tuyển sinh vào các trường đào tạo nghề, tuyển chọn người laođộng vào các lĩnh vực kinh tế được thuận lợi, chính xác
Trong trường THPT, GDHN chủ yếu là định hướng nghề nghiệp và một phần tưvấn nghề, việc tuyển chọn nghề không thuộc chức năng của trường THPT nhưng cóliên quan với công việc định hướng, tư vấn nghề nghiệp Tuyển chọn nghề và thích ứngnghề được tiến hành thông qua quá trình người lao động tham gia vào làm việc tại các
cơ quan, xí nghiệp, nhà máy Thông qua đó, người lao động có thể tự quyết định nghềnghiệp tương lai của mình
1.3.5 Các con đường giáo dục hường nghiệp trong trường trung học phổ thông
1.3.5.1.Hướng nghiệp qua dạy – học các môn văn hóa
Quá trình lĩnh hội kiến thức nằm trong các bộ môn khoa học cơ bản là một trongnhững con đường hình thành, phát triển khuynh hướng, sở trường của HS Người GVkhi truyền thụ cho HS hệ thống các kiến thức phổ thông còn có nhiệm vụ chỉ rõ ý nghĩacủa những kiến thức này đối với việc nắm vững các nghề nghiệp phổ biến và quantrọng của nền kinh tế quốc dân Bản thân những kiến thức trong các môn học mà HSlĩnh hội sẽ tạo thành nền móng cho sự tiếp thu kiến thức nghề nghiệp bởi lẽ đó là hệthống tri thức cơ bản, chung nhất, được tất cả các ngành nghề lấy đó làm điểm tựa đểbồi dần tri thức chuyên ngành cho giai đoạn tiếp theo
Hướng nghiệp qua các môn học có tác dụng góp phần nâng cao chất lượng họctập, lôi cuốn thế hệ trẻ vào thế giới nghề nghiệp nhằm tìm hiểu và dự kiến cho bản thânnghề nghiệp trong tương lai Môn học nào cũng có khả năng hướng nghiệp cho HS,mỗi môn học có vị trí và tầm quan trọng khác nhau, có quan hệ với những ngành nghề
Trang 33có liên quan đến môn học đó Đây là việc làm khó khăn nhưng để có kết quả trước hếtphải dạy tốt kiến thức cơ bản và tùy đặc trưng của từng bộ môn chỉ rõ cho HS những kĩnăng, tri thức của bộ môn nói chung, từng bài nói riêng và có thể vận dụng như thế nàovào đối tượng lao động, mục đích, công cụ, điều kiện lao động của những nghề xácđịnh, qua đó giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức, tác phong nghề nghiệp cho HS.
1.3.5.2.Hướng nghiệp qua dạy – học môn Công nghệ, dạy nghề phổ thông và hoạt động lao động sản xuất
Chương trình môn Công nghệ ở bậc THPT tập trung vào các lĩnh vực Nông –Lâm – Ngư nghiệp, tạo lập doanh nghiệp và công nghiệp Với tư cách là môn khoa họcứng dụng, môn Công nghệ góp phần nâng cao hiệu quả GDHN thông qua việc cungcấp cho HS những nguyên lý chung của các quá trình sản xuất chủ yếu, củng cố nhữngnguyên lý khoa học và làm cho HS hiểu được những ứng dụng của chúng trong sảnxuất, trong các dạng hoạt động nghề nghiệp khác nhau Môn Công nghệ được coi làmột phương tiện quan trọng trong việc chuẩn bị kĩ năng, kĩ xảo nghề cho HS, là môitrường tạo ra sự thích ứng cần thiết trong việc tiếp cận với hoạt động nghề nghiệp
Hoạt động LĐSX và dạy nghề phổ thông nhằm tạo điều kiện gắn lý luận vớithực tiễn Hướng nghiệp qua hoạt động LĐSX và dạy nghề trước hết làm cho HS hiểu
rõ vai trò hoạt động có ý thức của con người trong sự phát triển XH Đồng thời làm cho
HS hiểu rõ tác dụng to lớn của khoa học kỹ thuật trong việc đấu tranh, chinh phục vàcải tạo tự nhiên
Qua việc dạy nghề phổ thông, HS có điều kiện tìm hiểu một cách hệ thống vềvai trò, nhiệm vụ, tính chất, đặc điểm hoạt động của nghề, những đòi hỏi của nghề, trên
cơ sở đó bồi dưỡng phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, phát triển hứng thú nghề nghiệp.Dạy nghề phổ thông nhằm chuẩn bị cho HS một số kĩ năng lao động về những lĩnh vựcnghề phù hợp với lứa tuổi HS và là hoạt động mang tính chất GDHN cho HS phổthông
Hoạt động LĐSX không chỉ đơn thuần là tổ chức cho HS tham gia lao động mà
có nhiệm vụ chủ yếu là cung cấp cho HS kiến thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo về laođộng và giáo dục thái độ lao động Thông qua đó, hình thành và phát triển nhân cách
Trang 34cho HS, giúp HS có đủ năng lực và phẩm chất, sẵn sàng về tâm thế để tham gia vàocuộc sống lao động sau khi rời ghế nhà trường.
1.3.5.3 Hướng nghiệp qua hoạt động giáo dục hướng nghiệp
Hoạt động GDHN được đưa vào chương trình giáo dục phổ thông trên qui môtoàn quốc và được tổ chức theo các chủ đề từ năm học 2006 – 2007 với thời lượng 27tiết/lớp/năm học đối với các lớp cấp THPT; đến năm học 2008 – 2009 theo công vănhướng dẫn số 7475/BGDĐT-GDTrH về hướng dẫn nhiệm vụ giáo dục trung học của
Bộ GD&ĐT sau khi tích hợp đưa sang giảng dạy ở môn Công nghệ và tích hợp đưasang môn Hoạt động GD ngoài giờ lên lớp thì môn hoạt động GDHN còn 9tiết/lớp/năm học với cả 3 khối lớp và thực hiện 3 buổi/năm học, mỗi buổi 3 tiết Việcđưa hoạt động GDHN vào trường phổ thông đã có tác động tích cực đến việc địnhhướng nghề nghiệp của học sinh cuối cấp THPT
Đây là con đường hướng nghiệp chính và có tầm quan trọng đặc biệt ở trongnhà trường vì:
- Cung cấp cho HS những thông tin nghề nghiệp, hệ thống đào tạo và thị trườnglao động một cách có hệ thống, có chủ đích
- HS biết được về năng lực cá nhân, điều kiện và truyền thống gia đình để địnhhướng lựa chọn nghề trong thế giới nghề nghiệp, chọn hướng đi sau khi tốt nghiệp mộtcách có ý thức, có cơ sở khoa học
1.3.5.4 Hướng nghiệp qua hoạt động tham quan, ngoại khóa trong và ngoài nhà trường.
Hoạt động ngoại khóa rất phong phú, đa dạng và có tính chất đa mục tiêu, nênbằng các hoạt động ngoại khóa chúng ta hướng nghiệp cho HS Có nhiều hình thứchoạt động ngoại khóa về hướng nghiệp ở trong và ngoài nhà trường như: Tổ chức cho
HS xem phim, xem kịch, đọc sách báo, nghe đài, giới thiệu sách để tìm hiểu đặc điểm
và yêu cầu của các nghề đang cần phát triển; Tổ chức cho HS tham gia các trò chơihướng nghiệp giúp các em làm quen dần với hoạt động nghề nghiệp của XH; Tổ chứccho HS tham quan các cơ sở sản xuất, các trường học nghề; Phối hợp với Đoàn thanhniên tổ chức các buổi tọa đàm, diễn đàn về lựa chọn nghề nghiệp; Tổ chức các buổi gặp
Trang 35gỡ, trao đổi về nghề nghiệp với những điển hình, những gương vượt khó nhưng thànhđạt trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, học tập; Động viên HS tích cực tham giahoạt động hướng nghiệp của các cơ sở giáo dục ở ngoài nhà trường tổ chức.
1.4 Quản lý giáo dục hướng nghiệp của Hiệu trưởng trường trung học phổ thông.
1.4.1 Nội dung quản lý giáo dục hướng nghiệp của Hiệu trưởng trường trung học phổ thông
1.4.1.1 Nâng cao nhận thức về giáo dục hướng nghiệp
GDHN là một hoạt động giáo dục trong nhà trường, tuy nhiên với hoạt độnggiáo dục này, có nhiều cách nghĩ khác nhau, có những quan điểm trái ngược nhau Nhưvậy, vấn đề nhận thức tư tưởng là vấn đề quan trọng GDHN trong trường THPT muốnđạt hiệu quả thì Hiệu trưởng cần có những biện pháp tốt nhất để tăng cường nâng caonhận thức cho cán bộ, GV, HS, CMHS và các lực lượng bên ngoài nhà trường về vị trí,vai trò, chức năng, nhiệm vụ và sự cần thiết của GDHN đối với việc phát triển nguồnnhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH của địa phương, đất nước
1.4.1.2 Xây dựng kế hoạch giáo dục hướng nghiệp
Những căn cứ để xây dựng kế hoạch
- Mục tiêu chung của GDHN ở trường THPT là nhằm phát hiện và bồi dưỡngphẩm chất nhân cách nghề nghiệp cho HS, giúp học sinh hiểu mình, hiểu yêu cầu củanghề; định hướng cho học sinh đi vào những lĩnh vực mà XH đang có yêu cầu
- Tình hình giảng dạy và nội dung chương trình các môn học trong nhà trường,các chủ trương công tác trọng tâm và nhiệm vụ chính trị của địa phương Điều tra cơbản khả năng của GV và các lực lượng ngoài nhà trường hỗ trợ cho công tác GDHN
- Điều kiện KT-XH của địa phương và cơ sở vật chất của nhà trường để xâydựng kế hoạch GDHN mang tính khả thi
- Văn bản hướng dẫn của Bộ GD&ĐT về GDHN, trên cơ sở đó đề ra kế hoạchcho sát hợp
- Đặc điểm sinh lý, tính cách, lứa tuổi, dân tộc
Xây dựng kế hoạch
- Xây dựng kế hoạch cần xác định rõ: Mục đích yêu cầu, thời gian thực hiện,hình thức tổ chức, lực lượng tham gia, điều kiện thực hiện, địa điểm, người phụ tráchcho từng hoạt động, từng học kỳ và cả năm học Kế hoạch phải cân đối, hợp lý với kếhoạch toàn diện của nhà trường trong năm học
Trang 36- Triển khai thực hiện các hoạt động trong kế hoạch GDHN (giao việc, hướngdẫn, giám sát, thúc đẩy thực hiện các hoạt động cụ thể theo từng tháng, từng học kì vànăm học).
- Kiểm tra đôn đốc việc thực hiện kế hoạch của Ban hướng nghiệp trên một sốmặt quan trọng như nội dung, thời gian, phương tiện, nhân lực và hiệu quả kinh tế, giáodục của GDHN
1.4.1.3 Tổ chức thực hiện giáo dục hướng nghiệp
Thành lập Ban hướng nghiệp và phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhàtrường trong công tác GDHN
Ban hướng nghiệp gồm các thành phần: Phó hiệu trưởng (trưởng ban), GV chủnhiệm, GV bộ môn, đại diện Đoàn thanh niên Cộng sản trong nhà trường, đại diện Banđại diện CMHS, đại diện các cơ sở sản xuất ở địa phương, cán bộ thư viện, y tế nhàtrường (làm ủy viên) Sự có mặt của các thành phần trong và ngoài nhà trường chophép mở rộng khả năng liên kết các lực lượng giáo dục (nhà trường – gia đình – xãhội) Chức năng chính của Ban hướng nghiệp nhà trường là chỉ đạo kế hoạch (soạnthảo, phê chuẩn, kiểm tra và đánh giá việc thực hiện kế hoạch), nó đồng thời còn là một
bộ phận trung gian, môi giới liên kết tất cả các thành phần có trong hệ thống để đạtđược mục đích chung của hướng nghiệp
Nhiệm vụ của Ban hướng nghiệp:
Giúp cho cán bộ, công nhân viên trong nhà trường, GV, các tổ chức đoàn thểtrong nhà trường, HS nhận thức đầy đủ và sâu sắc mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ, nộidung của GDHN trong trường học.Tuyên truyền, vận động các tổ chức xã hội có liênquan cùng tham gia vào công tác GDHN Giúp Hiệu trưởng xây dựng chương trình, kếhoạch hoạt động hàng tháng, năm và chỉ đạo thực hiện chương trình, kế hoạch đó.Tổchức các hoạt động GDHN và thực hiện sự phối hợp các lực lượng giáo dục trong côngtác GDHN Giúp Hiệu trưởng kiểm tra, đánh giá công tác GDHN
1.4.1.4 Chỉ đạo thực hiện giáo dục hướng nghiệp
Chỉ đạo thực hiện GDHN qua các con đường GDHN: Dạy và học các bộ mônvăn hóa; Dạy và học môn Công nghệ, dạy nghề phổ thông và hoạt động LĐSX; Tổchức hoạt động GDHN; Các hoạt động tham quan, ngoại khóa trong và ngoài nhàtrường GDHN phải hướng đến yêu cầu: Thực hiện đồng bộ qua các con đường hướngnghiệp ở trường THPT để giúp HS biết lựa chọn hướng học tập và nghề nghiệp tương
Trang 37lai một cách có ý thức, đặc biệt là hướng phân luồng phù hợp với điều kiện KT-XH của
cả nước và từng địa phương sau khi HS tốt nghiệp THPT
Chỉ đạo đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt độngGDHN cho phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý HS và quá trình phát triển trong nhậnthức về nghề của HS Phương pháp tổ chức các hoạt động GDHN phải chú trọng vàocác hoạt động tìm hiểu, nhận thức về nghề nghiệp, trong đó phải tập trung vào cácphương pháp tự hướng nghiệp ở HS Chương trình hoạt động GDHN của Bộ GD&ĐTchỉ là chương trình khung và tài liệu hoạt động GDHN chỉ có tài liệu tham khảo cho
GV (không có sách cho học sinh), vì thế không nên cứng nhắc theo sách vở, tài liệu màcăn cứ vào xu hướng chọn nghề của các nhóm HS trong lớp và hơn 6000 nghề khácnhau trong xã hội để thay đổi phương pháp tổ chức các hoạt động GDHN hiệu quả
Chỉ đạo sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục: nhà trường, gia đình, xã hộitrong GDHN
1.4.1.5 Bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên làm công tác giáo dục hướng nghiệp
Đội ngũ hỗ trợ công tác hướng nghiệp nhà trường: Ban giám hiệu, GV bộ môn,Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Trong đó GV bộ môn là người tham mưutrực tiếp cho GV chủ nhiệm về học lực và khí chất của HS, GV chủ nhiệm là cầu nốigiữa nhà trường với gia đình học sinh trong quá trình GDHN, GV chủ nhiệm và Banhướng nghiệp đóng vai trò chủ đạo trong quá trình GDHN
Đội ngũ trực tiếp tổ chức các nội dung GDHN là giáo viên chủ nhiệm, kết hợpvới Ban hướng nghiệp và công tác với một số bậc phụ huynh làm việc ở các ngànhnghề khác nhau trong xã hội
Hiệu trưởng cần bồi dưỡng các thành viên trong Ban hướng nghiệp về năng lực
tổ chức, quản lý các hoạt động GDHN có nề nếp, chất lượng, thường xuyên, liên tục.Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, phương pháp hướng nghiệp cho đội ngũ GV các mônhọc để lồng ghép trong quá trình dạy học
Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng tại nhà trường, kế hoạch cử CBQL, GV tham giacác lớp tập huấn về công tác GDHN do Bộ và Sở GD&ĐT tổ chức Đội ngũ giáo viênthường xuyên nhận thức tốt về vai trò, nhiệm vụ của GDHN theo yêu cầu giáo dục toàndiện HS
1.4.1.6 Xây dựng các điều kiện phục vụ giáo dục hướng nghiệp
Trang 38Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đáp ứng nhu cầu giảng dạy và học tậpGDHN trong nhà trường.
Xây dựng nguồn kinh phí phục vụ các hoạt động của công tác GDHN
Tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và XH trong công tácGDHN
Tổ chức công tác thi đua khen thưởng để động viên, khích lệ tính chủ động, tíchcực hoạt động của từng cá nhân và tập thể
1.4.1.7 Kiểm tra, đánh giá công tác giáo dục hướng nghiệp
Kiểm tra, đánh giá là quá trình thu thập thông tin về các nội dung trong công tácGDHN, đưa ra những nhận định, phán đoán về thực trạng GDHN trong nhà trường,trên cơ sở đó đề xuất những quyết định phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả GDHN ở nhàtrường
Việc kiểm tra, đánh giá công tác GDHN góp phần làm sáng tỏ mức độ đạt được
và chưa đạt được về các mục tiêu của GDHN, xác định những nguyên nhân ảnh hưởng,
từ đó có những điều chỉnh hợp lý trong quá trình tổ chức GDHN Do đó, trong kiểmtra, đánh giá GDHN, Hiệu trưởng coi mục tiêu đã xây dựng trong kế hoạch là tiêuchuẩn để đánh giá kết quả Việc kiểm tra phải thường xuyên, liên tục, có tiêu chí,chuẩn mực cụ thể
1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục hướng nghiệp trong trường trung học phổ thông
1.5.1 Đường lối của Đảng và Nhà nước về giáo dục hướng nghiệp
Nhiều Văn kiện, Nghị quyết của Đảng về giáo dục đã nhấn mạnh ý nghĩa, tầmquan trọng của GDHN, phân luồng HS các cấp để góp phần thiết thực vào việc thựchiện giáo dục toàn diện, chuẩn bị nguồn nhân lực cho sự nghiệp đổi mới, CNH-HĐHđất nước
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam đãkhẳng định: coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh THPT, chuẩn bịcho thanh niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tếtrong cả nước và từng địa phương Nguồn nhân lực ngày nay được coi là một trongnhững yếu tố quan trọng nhất GDHN là biện pháp cơ bản nhất, chủ yếu và quan trọngnhất để phát triển nguồn nhân lực phục vụ CNH-HĐH đất nước
Quyết định số 126/CP ngày 19/3/1981 của Chính phủ về công tác hướng nghiệptrong trường phổ thông và sử dụng hợp lý HS các cấp phổ thông cơ sở và phổ thông
Trang 39trung học ra trường đã quy định mục đích, nhiệm vụ của công tác hướng nghiệp, vàgiao nhiệm vụ cho các bộ, ngành, địa phương phối hợp với ngành giáo dục thực hiện.
Bộ GD&ĐT đã ban hành Thông tư 31/TT ngày 17/8/1981 hướng dẫn thực hiện Quyếtđịnh 126/CP
Chỉ thị số 33/2003/CT-BGD&ĐT ngày 23/7/2003 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT
về việc tăng cường GDHN cho HS phổ thông với 6 nội dung: Xác định nhận thức vềGDHN; Quán triệt yêu cầu GDHN trong suốt quá trình xây dựng, hoàn thiện chươngtrình, biên soạn sách giáo khoa, sách GV và trong giảng dạy các môn học; Triển khaihoạt động GDHN – Tư vấn hướng nghiệp; Nâng cao chất lượng dạy nghề phổ thông;Xây dựng và củng cố các Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp; Xã hội hóaGDHN
1.5.2 Yêu cầu đổi mới giáo dục trung học phổ thông
Trong thời đại ngày nay, xu hướng chung của thế giới là tiến tới toàn cầu hóa vàhội nhập quốc tế, xây dựng nền kinh tế công nghiệp hóa dựa trên nền tảng của sự pháttriển khoa học và công nghệ tiên tiến Xu thế phát triển khách quan đã đặt ra thách thứcđối với các nước đang phát triển, đó là một quá trình hội nhập, hợp tác để phát triển vàđấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc
Trước những thách thức của XH trong thời kỳ đổi mới ở nước ta, GD&ĐT cóvai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển đất nước với “nhân tố con người” nhằmthực hiện phương hướng của Đảng cộng sản Việt Nam là: “nâng cao dân trí, đào tạonhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức, có tay nghề, cónăng lực thực hành, tự chủ, có năng lực sáng tạo” Chính vì lẽ đó, Quốc hội khóa X đãban hành Nghị quyết 40/2000/QH10, Quốc hội khóa XI ban hành Nghị quyết 37/2004/QH11 đặt trọng tâm vào đổi mới giáo dục THPT là hạn chế tính hàn lâm, tăng cườngthực hành, gắn liền với thực tiễn cuộc sống; tăng cường tích hợp nội dung dạy học;thực hiện theo con đường phân hóa là phương án phân ban, tài liệu tự chọn để thựchiện chương trình; đảm bảo kiến thức toàn diện, hướng nghiệp cho học sinh GDHN làcầu nối giữa giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp Do vậy, GDHN trong cáctrường THPT hiện nay cũng cần có những đổi mới để phù hợp và đáp ứng với yêu cầuđổi mới giáo dục THPT
1.5.3 Những yêu cầu của giáo dục hướng nghiệp trong giai đoạn hiện nay
Trang 40GDHN phải chú trọng việc phân luồng sau khi học sinh tốt nghiệp THPT, chuẩn
bị nguồn cho đào tạo nhân lực chất lượng cao, nhân lực đa năng và theo chuẩn côngnghiệp của thế giới
GDHN trong trường phổ thông phải bám sát xu thể chuyển dịch cơ cấu kinh tếcủa địa phương, gắn với thị trường lao động và định hướng phát triển các ngành nghềtrong XH
GDHN nhằm hướng đến thế giới việc làm, không chỉ hướng đến một nghề màhướng đến một nhóm nghề và rộng hơn
1.5.4 Điều kiện kinh tế - xã hội
Điều kiện KT-XH của đất nước, của địa phương là yếu tố khách quan có ảnhhưởng trực tiếp đến trường THPT nói chung và QLGDHN nói riêng Do đó, Hiệutrưởng khi lập kế hoạch quản lý, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra cũng như thông tin trongQLGDHN không thể tách rời điều kiện KT-XH của đất nước cũng như địa phương vàphải có những đổi mới về QLGDHN cho phù hợp đó là: Mục tiêu phải thiết thực, phùhợp và khả thi Nội dung chương trình phải thiết thực, cập nhật, thường xuyên bổ sungnhững nội dung, thông tin phù hợp với định hướng phát triển KT-XH của địa phương,đất nước, tình hình quốc tế
Kết luận chương 1
Trên cơ sở nghiên cứu tư liệu, trong chương 1 tác giả đã trình bày vấn đề cơ sở
lý luận về quản lý giáo dục hướng nghiệp của Hiệu trưởng trong trường THPT, baogồm những nội dung: Lịch sử nghiên cứu vấn đề; Một số khái niệm cơ bản của đề tài(Quản lý giáo dục; Quản lý nhà trường; Hướng nghiệp; Giáo dục hướng nghiệp; Quản
lý giáo dục hướng nghiệp; Biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp); Giáo dục hướngnghiệp trong trường Trung học phổ thông; Quản lý giáo dục hướng nghiệp của Hiệutrưởng trường THPT; Những nhân tố ảnh hưởng đến giáo dục hướng nghiệp trongtrường THPT
Công tác GDHN trong nhà trường THPT có vị trí vô cùng quan trọng, GDHN làmột bộ phận của giáo dục toàn diện giúp mỗi HS hình thành những biểu tượng đúngđắn về các nghề cần phát triển trong XH; Phát triển hứng thú của HS trên cơ sở phântích các đặc điểm, hoàn cảnh và điều kiện của mỗi HS; Tạo điều kiện để HS hình thànhnăng lực tương ứng với hứng thú nghề nghiệp đã xuất hiện; Giáo dục cho HS có thái
độ, có ý thức đúng đắn với lao động Qua đó HS lựa chọn nghề phù hợp với năng lực,
sở trường của bản thân, điều kiện gia đình và nhu cầu của XH