1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn ôn tập, bồi dưỡng kiến thức kỹ năng môn lịch sử lớp 12 trên cơ sở thiết lập vấn đề chung (cho học sinh giỏi và học sinh ôn khối c).

20 613 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 279 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: - Từ vị trí của bộ môn lịch sử trong cấp học THPT hiện nay: Lịch sử cũng như nhiều môn học khác được xem là môn khoa học cơ bản, có tác dụng to lớn trong

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG THPT YÊN ĐỊNH 3

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ÔN TẬP, BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC KĨ NĂNG MÔN LỊCH

SỬ LỚP 12 TRÊN CƠ SỞ THIẾT LẬP “VẤN ĐỀ CHUNG” (CHO HỌC SINH GIỎI VÀ HỌC SINH ÔN KHỐI C)

Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Hạnh

Chức vụ: Giáo viên

SKKN thuộc môn: Lịch sử

Trang 2

MỤC LỤC

A Đặt vấn đề - Lí do chọn đề tài ………2

B Giải quyết vấn đề 1.Cơ sở chọn đề tài 1.1 Cơ sở lí luận ……….3

1.2 Cơ sở thực tế ……….3

2 Đối tượng áp dụng ,phạm vi, tài liệu nghiên cứu ………4

3 Nội dung đề tài 3.1 “Nhận dạng’’ vấn đề chung……… 5

3.2 Mức độ áp dụng ………5

3.3 Lựa chọn kiến thức phù hợp ……….6

3.4 Tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau trong cùng một vấn đề… 7

3.5 Một số cách cụ thể để ôn tập bồi dưỡng kiến thức kỹ năng Tìm ra các đơn vị kiến thức trong mỗi vấn đề chung ……… 9

Tổng hợp theo vấn đề ……… 9

Nâng cao dần độ khó của nhận thức ……… 10

Phát triển “ngoại diên’’ của khái niệm ……… 11

4 Kết quả 4.1 Những kết quả đã đạt được……… 13

4.2 Những thiếu sót hạn chế ……… 13

4.3 Bài học kinh nghiệm……….13

C Kết luân vấn đề ……… 15

Phụ lục……….16

Tài liệu tham khảo ……… 19

Trang 3

A. ĐẶT VẤN ĐỀ

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

- Từ vị trí của bộ môn lịch sử trong cấp học THPT hiện nay:

Lịch sử cũng như nhiều môn học khác được xem là môn khoa học cơ bản,

có tác dụng to lớn trong việc giáo dục truyền thống, ý thức, lòng tự tôn dân tộc cho học sinh; là môn thi đại học bắt buộc của khối C; là môn thi học sinh giỏi các cấp được tổ chức hàng năm Bác Hồ đã từng nói: “ Dân ta phải biết

sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”

- Đặc trưng của môn lịch sử lớp 12 THPT:

Được cấu tạo đồng tâm với cấp THCS, lịch sử lớp 12 bao gồm 2 khóa trình cơ bản là: Lịch sử Việt Nam từ 1919 – 2000 và Lịch sử thế giới từ 1945 – 2000 Nội dung lịch sử có nhiều điểm mới và khó; các nội dung lịch sử đòi hỏi phải chính xác, nói và viết phải theo quan điểm chính thống Từ đó đòi hỏi người giáo viên dạy bộ môn phải không ngừng nâng cao kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ, phải có phương pháp tốt trong ôn tập và kiểm tra

-Từ thực tế của việc học tập bộ môn:

Đa số học sinh rất ngại học môn Lịch sử ( có cả nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan ) Phương pháp học tập còn bị động, đối phó, trông chờ, ỷ lại vào giáo viên

-Từ yêu cầu ngày càng cao của thi cử:

Nghiên cứu các đề thi từ 2009 trở đi tôi nhận thấy: Đề thi ngày càng ra theo

hướng mở để học sinh có điều kiện thể hiện kỹ năng kiến thức của mình.

- Kết quả bồi dưỡng HSG và học sinh vào các trường ĐH – CĐ:

Từ khi được phân công nhiệm vụ đến nay, bản thân đã không ngừng học hỏi, tích lũy được nhiều kinh nghiệm hay để có thể áp dụng trong thực tế Việc bồi dưỡng học sinh giỏi đã có kết quả nhất định Trong các kỳ thi vào ĐH – CĐ hàng năm có nhiều học sinh đạt điểm cao

Tôi nghiên cứu đề tài này nhằm:

+ Giúp học sinh có được các kiến thức và kỹ năng cơ bản trong ôn tập và thi cử

+ Được trau dồi, được nghe lời nhận xét góp ý từ đồng nghiệp, đồng môn + Nâng cao chất lượng bộ môn, góp phần nhỏ bé vào công cuộc CNH – HĐH đất nước

+ Mong muốn được HĐKH các cấp nhận xét, đánh giá, ghi nhận kết qủa nỗ lực của bản thân giúp cho tôi có nhiều động lực mới hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Cơ sở chọn đề tài:

1.1 Cơ sở lý luận:

LỊCH SỬ TRÊN CƠ SỞ THIẾT LẬP “ VẤN ĐỀ CHUNG”

(CHO HSG VÀ ÔN THI ĐH – CĐ LƠP 12 THPT KHỐI C).

Đề tài của tôi được dựa trên các cơ sở chính sau đây:

Cơ sở của việc dạy - học bộ môn: Dạy học là quá trình tác động 2 chiều

giữa giáo viên và học sinh, trong đó học sinh là chủ thể của quá trình nhận thức còn giáo viên là người tổ chức các hoạt động nhận thức cho học sinh Nếu giáo viên có phương pháp tốt thì học sinh sẽ nắm kiến thức một cách dễ dàng và ngược lại

Cơ sở của việc nắm kiến thức - kỹ năng:

+ Về mặt kiến thức: Sau khi học xong, học sinh phải nhớ được, hiểu được các kiến thức cơ bản trong chương trình sách giáo khoa Đó là nền tảng vững vàng để phát triển năng lực cho học sinh ở cấp cao hơn

+ Về kỹ năng: Học sinh biết vận dụng kiến thức đã học để trả lời được

các câu hỏi, giải được các bài tập hoặc làm các bài thực hành Việc bồi

dưỡng các kiến thức kỹ năng phải dựa trên cơ sở năng lực, trí tuệ của học

sinh ở các mức độ từ đơn giản đến phức tạp Như vậy, việc dạy bài mới

trên lớp mới chỉ cung cấp kiến thức cho học sinh Học sinh muốn có kiến thức

kỹ năng phải được thông qua một quá trình khác: Đó là quá trình ôn tập

Trong 6 mức độ của nhận thức, tôi chú ý đến 2 mức độ là: Mức độ vận dụng

và mức độ sáng tạo

Mức độ vận dụng là mức độ học sinh có thể vận dụng các kiến thức

đã học để giải quyết một vấn đề mới được đặt ra Còn mức độ sáng tạo yêu

cầu học sinh phải biết tổng hợp lại, sắp xếp lại thiết kế lại những thông tin đã

có thành dạng “một vấn đề chung” hoặc bổ sung thông tin từ các nguồn tài liệu khác để sáng lập một “mô hình mới” v.v…

1.2 Cơ sở thực tế:

- Việc học tập của học sinh nhằm 2 mục đích: Học để biết và học để thi Nếu

chỉ học để biết thì học sinh chỉ cần “đọc” và “nhớ” Còn học để thi học sinh phải có kỹ năng cao hơn: Nhớ kiến thức -> Trình bày kiến thức -> Vận dụng kiến thức -> Kết quả học tập

- Trong các đề thi ĐH - CĐ và HSG gần đây: Mỗi đề thi thườngcó từ một

đến 2 câu hỏi khó (câu hỏi nâng cao) Những câu hỏi đó có chứa đựng “một

vấn đề chung” nào đó, từ đây thúc đẩy tôi nghiên cứu, tìm tòi một phương

pháp ôn tập mới Phương pháp đó tôi gọi là “thiết lập vấn đề chung” nhằm

bồi dưỡng một số kỹ năng kiến thức cơ bản cho học sinh lơp 12 trước khi các

em bước vào các kỳ thi quan trọng (thi HSG và thi ĐH- CĐ)

* Một số ví dụ về các đề thi chứa đựng “vấn đề chung”:

Trang 5

- Đề thi HSG cấp tỉnh 2008 – 2009:

+ Câu 1: Lập bảng so sánh chiến lược phát triển kinh tế của 5 nước sáng lập ASEAN

+ Câu 4: Cuộc đấu tranh ngoại giao của ta những năm đầu sau CM tháng 8

- Đề thi ĐH 2009:

+ Câu 2: Nhận xét chủ chương tập hợp lực lượng Cách mạng của Đảng được

đề ra trong các hội nghị

- Đề thi HSG tỉnh 2012 – 2013:

+ Câu 1: Lập bảng so sánh một số điểm chủ yếu của Chính cương và Luận cương

+ Câu 3: Những thắng lợi trên mặt trận ngoại giao của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp

- Trong quá trình ôn thi HSG và ĐH – CĐ, tôi cũng phát hiện nhiều câu

hỏi, nhiều đề bài có dạng vấn đề chung như:

+ Các xu thế phát triển của thế giới hiện đại sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến nay

+ Các tổ chức quốc tế và khu vực

+ Các thắng lợi quân sự của ta trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ

+ Trật tự thế giới mới

+ Hậu phương của ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp…

Vậy: Làm thế nào để ôn tập tốt cho học sinh khi đã phát hiện các

“vấn đề chung”? (Cả nội dung và phương pháp)

Đặt ra yêu cầu ôn tập phải bao gồm 2 khâu: Cơ bản và nâng cao

2 Đối tượng áp dụng, phạm vi, tài liệu nâng cao và phương pháp triển khai đề tài.

2.1 Đối tượng áp dụng: Là học sinh thi khối C, lớp 12 trường THPT Yên

Định 3

- Thuận lợi: Học sinh cuối cấp, có ý thức mục tiêu rõ ràng trong việc chọn

nghề, chọn trường, chọn khối

+ Học sinh nông thôn, ít tệ nạn xã hội, có ý thức vươn lên để thoát khỏi đói nghèo

+ Một số ít học sinh có năng lực thật sự do vậy có nguyện vọng thi vào các trường ĐH lớn, các Học viện…

- Khó khăn: Tổng hợp qua hàng năm:

+ Mỗi năm trường chỉ có 1 lớp học sinh chọn khối C ( khoảng 40 học sinh ) trong đó:

1/3 học sinh có nhu cầu thực sự - Học khá đều các môn

1/3 học để theo khối - Học lực trung bình

1/3 không thể học các khối khác - Học yếu, ý thức kém

+ Việc chọn học sinh vào đội tuyển Sử khó khăn hơn vì học sinh thích thi Địa lý và Ngữ văn hơn Khi được hỏi: Tại sao em không thích vào đội Sử?

Trang 6

60% số học sinh trả lời: Môn sử dài, kiến thức đòi hỏi phải chính xác, khó nhớ, viết khó hay nên ngại

15% số học sinh trả lời: Môn Sử ít có đồ dùng trực quan, nên thiếu hấp dẫn, không lôi cuốn người học dẫn đến chán

20% số học sinh trả lời: Môn văn dễ bày tỏ được ý kiến bản thân, môn Địa thực tế còn môn sử khô khan

Số còn lại không bày tỏ ý kiến gì, chỉ có 1 số em học sinh nam có quyết tâm thi vào các học viện An ninh, Biên phòng, Cảnh sát là “đầu quân” cho môn Sử

2.2 Phạm vi áp dụng:

Đề tài được sử dụng vào việc:

- Ôn tập chính khóa và môn thi tốt nghiệp ( chỉ là phụ )

- Ôn thi HSG và CĐ – ĐH là chính

- Cơ sở là học sinh đã có kiến thức cơ bản (thông sử), giáo viên hướng dẫn

ôn tập trên cơ sở thiết lập “vấn đề chung” nhằm bồi dưỡng cho học sinh các kíên thức và hình thành các kỹ năng cơ bản

2.3 Tài liệu nghiên cứu: Sách giáo khoa Lịch sử 12, sách giáo viên, các

chuyên đề, đề thi và đáp án hàng năm, tài liệu từ internet…

2.4 Phương pháp triển khai đề tài: Thực hiện ôn tập cho học sinh lớp 12

theo khối C - không phải dạy bài mới

3 Nội dung đề tài:

3.1 Nhận dạng “vấn đề chung”: Giáo viên giúp học sinh tìm ra

“vấn đề chung” hàm chứa trong các câu hỏi và bài tập

Đó có thể là:

- Các thắng lợi quân sự của ta trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược

- Các tổ chức quốc tế và khu vực

- Các quyết định quan trọng của Đảng

- Vấn đề về hậu phương, mặt trận

- Các xu thế của lịch sử hiện đại

- Quyền dân tộc cơ bản v.v…

Những câu hỏi, bài tập đề cập đến các vấn đề này thường cho điểm cao, đòi

hỏi học sinh phải “nhận dạng” được, từ đó mới có các bước quyết định tiếp

theo

3.2 Làm quen với các dạng câu hỏi, bài tập có chứa đựng

“vấn đề chung”.

Mức độ tôi ra đề cho các dạng câu hỏi nâng cao là:

Trang 7

Mức độ

Nội dung

Câu hỏi kiểm tra kiến thức Câu hỏi nâng cao

Bài kiểm tra 45 phút 1 câu 1 câu Bài kiểm tra 90 phút 2 câu 1 câu Bài kiểm tra 180 phút 3 câu 2 câu

Mục đích: Để học sinh làm quen với cấu trúc đề thi, phân loại đối tượng

và giáo viên có thể phát hiện ra học sinh có năng khiếu

3.3 Phân tích đề, lựa chọn kiến thức đúng, tránh nhầm lẫn

Kiến thức của phần lịch sử Việt Nam cũng như thế giới rất phong phú

và đa dạng Trong quá trình ôn tập cho học sinh nếu giáo viên không có kinh nghiệm dễ nhận thức sai dẫn đến hướng dẫn sai cho học sinh Còn đối với học sinh, khi làm bài không phân tích kỹ đề cũng dễ lựa chọn kiến thức không đúng nên kết quả bài làm không cao, không đạt yêu cầu

Ví dụ 1: Về tình hình thế giới sau “chiến tranh lạnh’’

Vấn đề này có thể được ra theo 2 câu:

1 Những biến đổi của tình hình thế giới sau chiến tranh lạnh.

2 Các xu thế phát triển của lịch sử thế giới hiện đại sau chiến tranh lạnh.

Câu này học sinh rất dễ nhầm lẫn nếu trước đó học sinh không được luyện

tập và củng cố Học sinh không phân biệt được những biến đổi của tình hình

thế giới sau chiến tranh lạnh là gì và các xu thế phát triển của lcih sử thế giới sau chiến tranh lạnh là gì nên dẫn đến việc lựa chọn kiến thức sai.

Ví dụ 2: Về cơ hội và thách thức của Việt Nam.

Bắt gặp trong các đề thi và đáp án vấn đề này dưới dạng 3 câu hỏi:

1 Cơ hội và thách thức của Việt Nam khi gia nhập ASEAN?

2 Cơ hội và thách thức của Việt Nam trước xu thế “toàn cầu hóa’’?

3 Cơ hội và thách thức của Việt Nam trước “xu thế mới của thế giới hiện đại”?

Rõ ràng là cùng một vấn đề chung ( cơ hội và thách thức ) nhưng khi Việt Nam gia nhập vào Á SEAN sẽ khác khi gia nhập vào xu thế “toàn cầu hóa’’ Vấn đề ở chỗ: giáo viên đã hướng dẫn cho họ sinh nhận biết ra chỗ khác biệt trên nền một vấn đề chung đó chưa? Liệu học sinh có biết phân tích đề để lựa chọn kiến thức cơ bản cho đúng hay không?

Sau đây là đáp án tham khảo:

Trang 8

Những biến đổi của tình hình thế giới

sau khi “chiến tranh lạnh’’ chấm dứt

Các xu thế phát triển của lịch sử

thế giới sau “chiến tranh lạnh’’

1 Trật tự “2 cực’’ tan rã, 1 trật tự

thế giới mới đang dần được hình

thành

2 Các quốc gia điều chỉnh chiến

lược phát triển

3 Mỹ đang có lợi thế tạm thời

4 Hòa bình được củng cố nhưng

nhiều nơi vẫn còn xung đột, nội

chiến

1 Các quốc gia điều chỉnh chiến lược

2 Quan hệ giữa các nước lớn được điều chỉnh lại

3 Nhiều nơi vẫn xảy ra xung đột

4 Xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra như vũ bão

Cơ hội và thách thức của Việt Nam:

Trong xu thế toàn cầu hóa Trong xu thế mới của thời đại

1 Cơ hội:

- Việt Nam có thể tham gia vào

các tổ chức quốc tế, khu vực, các

liên minh kinh tế

- Việt Nam có thể khai thác

nguồn vốn đầu tư, công nghệ, kinh

nghiệm quản lý

2 Thách thức:

- Xuất phát điểm thấp…chất

lượng nguồn nhân lực chưa đáp

ứng

- Gặp phải sự cạnh tranh quyết

liệt…

- Vấn đề sử dụng nguồn vốn…

- Dễ bị hòa tan…

1 Cơ hội:

- Thế giới hòa bình tạo môi trường quốc tế thuận lợi

- Xu thế của thế giới đã thúc đẩy sự phát tiển của lực lượng sản xuất, chuyển dịch nền cơ cấu nước ta

- Đẩy nhanh sự hội nhập quốc tế, nâng cao vị thế của Việt Nam…

2 Thách thức:

- Trong thế giới đầy biến động, ta có nguy cơ bị tụt hậu

- Phải đẩy mạnh hơn nữa việc cải cách hành chính, giáo dục, pháp luật

- Phải giải quyết tốt tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội

3.4 Sử dụng phương pháp lập bảng để tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau trong mỗi vấn đề chung.

Ví dụ 1: So sánh các chiến lược phát triển kinh tế của 5 nước ASEAN.

Ví dụ 2: So sánh nội dung chủ yếu của 2 văn kiện của Đảng trong năm 1930.

- Bước 1: Xác định vấn đề chung: Chiến lược phát triển kinh tế, Nội dung

chủ yếu của 2 văn kiện

- Bước 2: Xác định nội dung cụ thể phải hình thành.

Trang 9

+ Ở ví dụ 1: Thời gian, mục tiêu, nội dung, thành tựu, hạn chế của hai chiến lược kinh tế

+ Ở ví dụ 2: Tình chất,nhiệm vụ trước mắt, lực lượng lãnh đạo, lực lượng tham gia được trình bày trong hai văn kiện …

- Bước 3: Lập bảng biểu, hoàn thành bài tập

- Bước 4: Tìm ra những điểm giống nhau

+ Ở ví dụ 1: Chiến lược đều được thực hiện ở 5 nước ASEAN

+ Ở ví dụ 2: Đều là các văn kiện của Đảng trong năm 1930

- Bước 5: Tìm ra những điểm khác nhau

+ Ở ví dụ 1: Khác nhau về mục tiêu, biện pháp, kết quả

+ Ở ví dụ 2: Khác nhau về nhiệm vụ trước mắt, về lực lượng cách mạng

( quan điểm giai cấp, nhiệm vụ chống đế quốc, phong kiến)

- Bước 6: Rút kinh nghiệm:

Ở các vấn đề này, khi triển khai ôn tập thường hay mắc các lỗi như: Học sinh chủ quan: Vì các bảng so sánh này đã có sẵn trong tài liệu ôn tập, nên học sinh ít phải đầu tư nghiên cứu, cho là dễ dẫn đến qua loa ; Chưa hoàn thiện kiến thức, kỹ năng: Phần lớn học sinh chỉ mới hình thành ở mức độ 1 ( hoàn thành bảng biểu ) Các mức độ tiếp theo như so sánh, nhận xét, đánh giá… chưa thuần thục

Cách khắc phục:

+ Ôn tập kỹ

+ Sử dụng nhiều thao tác trong ôn tập: Đặt câu hỏi, nhấn mạnh các ý chốt, hướng dẫn học sinh biết phân biệt nội dung kiến thức (giống, khác nhau…) + Ôn tập gắn với hình thành kỹ năng cho học sinh

3.5 Một số cách cụ thể để ôn tập dựa trên cơ sở thiết lập “một vấn đề chung”.

Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy :

- Nội dung kiến thức trình bày trong sách giáo khoa thường theo trình tự thời gian Các vấn đề cụ thể cũng được sắp xếp theo trình tự thời gian Điều này

có một thuận lợi cơ bản là: Sách giáo khoa sẽ cung cấp 1 hệ thống kiến thức

đủ để học sinh có thể hoàn thành được các câu hỏi ở mức độ “nhận biết”

“thông hiểu” ( chiếm khoảng 40 – 50% yêu cầu của các đề thi)

- Việc kiểm tra đánh giá học sinh lại có yêu cầu cao hơn ( nhất là các kỳ thi HSG và ĐH – CĐ) Mỗi đề thi ít nhất có từ 2 đến 3 câu hỏi khó đòi hỏi học sinh có trình độ nhận thức cao hơn (vận dụng, sáng tạo) mới đảm bảo được nội dung yêu cầu

Như vậy: Học sinh phải được ôn tập tốt hơn và phải biết vận dụng tốt hơn Việc ôn tập phụ thuộc nhiều vào giáo viên, còn việc vận dụng phụ thuộc nhiều vào học sinh

Tôi mạnh dạn đưa ra một số cách cụ thể để ôn tập kiến thức lich sử trên cơ sở“cùng một vấn đề chung”

Cách 1: Tìm ra “các đơn vị kiến thức’’ trong mỗi “vấn đề chung’’.

Trang 10

Ví dụ: Cho bài tập:

a Kể tên các tổ chức quốc tế , khu vực đã học

b Cho biết: Thời gian thành lập, số lượng thành viên, mục tiêu, vai trò của mỗi tổ chức, thời gian Việt Nam gia nhập.

* Cách thực hiện:

- Vấn đề chung được nêu: Các tổ chức quốc tế và khu vực

- Phạm vi kiến thức: Nằm rải rác ở bài 1 (mục II); bài 4 (mục IV); bài 8 (mục V) của sách giáo khoa nâng cao

- Các đơn vị kiến thức phải hoàn thành: Thời gian thành lập của mỗi tổ chức,

số lượng thành viên của mỗi tổ chức, mục tiêu của mỗi tổ chức, thời gian Việt Nam gia nhập (hoặc đặt quan hệ), triển vọng của mỗi tổ chức

- Kỹ năng cơ bản cần hình thành cho học sinh: Kỹ năng khai thác SGK, kỹ năng sắp xếp lại các kiến thức mới theo một “mô hình chung”, kỹ năng tổng hợp…

* Thực hiện:

+ Giáo viên chủ động đưa ra yêu cầu nội dung ôn tập, hướng dẫn học sinh khai thác SGK, kiểm tra bài tập của học sinh

+ Học sinh tích cực làm bài tập, nắm vững kiến thức cơ bản, phát triển kỹ năng

* Sử dụng kiến thức ôn tập: Nội dung ôn tập được sử dụng vào các đề kiểm tra cuối kỳ, ôn thi HSG và ĐH – CĐ

Cách 2: Tổng hợp theo vấn đề:

a Cho bài tập: Khái quát các xu thế phát triển của lịch sử thế giới

hiện đại từ sau chiến tranh thế giới đến nay.

b Thực hiện:

- Xác định “vấn đề chung” của đề bài: “Các xu thế của lich sử thế giới hiện đại”

( nhiều xu thế) Thời gian: Từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến nay (dài)

- Các nội dung cụ thể của bài tập: Kể tên được các xu thế đi liền với các mốc thời gian (mở đầu, kết thúc); các biểu hiện cụ thể của các xu thế đó; hệ quả ( hoặc hậu quả) của chúng

- Trên cơ sở đã xác định được nội dung yêu cầu của đề bài, giáo viên hướng dẫn học sinh lập bảng

- Phạm vi kiến thức: Nằm ở bài 20 - Lịch sử 12 nâng cao

Nội dung Thời gian Biểu hiện Hệ quả

Xu thế đối đầu Xô - Mỹ

Xu thế hòa hoãn Đông

-Tây

Xu thế “toàn cầu hóa”

Ngày đăng: 19/07/2014, 17:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w