Nhận thấy tầm quan trọng lớn lao của nhà văn, nhà thơ trong tiếntrình phát triển của văn học nước nhà, hơn nữa Nguyễn Du lại là một đạithi hào của dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới
Trang 1ĐỀ TÀI: GIÚP HỌC SINH TIẾP CẬN TÁC GIẢ NGUYỄN DU BẰNG PHƯƠNG PHÁP TỰ NGHIÊN CỨU
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Không có tác giả văn học sẽ không có nền văn học với những đỉnhcao Sự xuất hiện của tác giả văn học và nghiên cứu về tác giả văn họcgóp phần làm sáng tỏ những quy luật vận động, hình thành và phát triểncủa một nền văn học Muốn trở thành tác giả văn học, nhà văn phải dànhđược vị trí và vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của nền vănhọc dân tộc thành tựu của tác giả văn học không chỉ là số lượng tácphẩm và sự phong phú về thể loại mà còn là chất lượng tác phẩm, trong
đó những tác phẩm tốt góp phần khẳng định một khuyng hướng, trào lưuđịnh mốc cho sự hình thành và phát triển của nền văn học
Nhà văn, nhà thơ là nghệ sĩ sáng tác văn học Nghệ sĩ viết văn chânchính là những người có tâm hồn giàu xúc cảm; có tình yêu tha thiết, sâunặng đối với cuộc sống con người ; có trí tưởng tượng sáng tạo mãnhliệt; có năng lực trí tuệ sắc bén; một khả năng quan sát và tự quan sát tinh
tế, … Trên cơ sở những phẩm chất ấy, nghệ sĩ viết văn không ngừng tudưỡng để tạo cho mình một tài năng nghệ thuật cao Trong sáng tác vănhọc, tài năng nghệ thuật là kết quả tổng hợp kết tinh từ nhiều yếu tố: thếgiới quan lành mạnh, tích cực, vốn sống phong phú, vốn văn hóa uyênbác và chủ động, thành thạo trong sử dụng ngôn ngữ và tổ chức tác phẩmnghệ thuật ngôn từ
Nhận thấy tầm quan trọng lớn lao của nhà văn, nhà thơ trong tiếntrình phát triển của văn học nước nhà, hơn nữa Nguyễn Du lại là một đạithi hào của dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới nên tôi quyết địnhtìm hiểu, lựa chọn những phương pháp phù hợp nhất, đạt hiệu quả caonhất để giúp học sinh tiếp cận với tác giả một cách hứng thú, hiệu quả vàsáng tạo Những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy học là yêucầu quan trọng nhằm từng bước nâng cao chất lượng giáo dục, phát huytính chủ động sáng tạo của học sinh Tuy nhiên, đổi mới phải phù hợp vớiđặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khảnăng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực
Trang 2tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho họcsinh Để đổi mới phương pháp dạy học có hiệu quả, tôi đã luôn luôn tìmtòi, nghiên cứu, sử dụng các phương pháp cho phù hợp với từng phânmôn và từng bài học Có như vậy thì hiệu quả giảng dạy mới cao được.
Phương pháp là một bộ phận hữu cơ trong quá trình dạy – học văn.Quá trình dạy - học văn bao gồm mục đích – nội dung, lí luận về phươngpháp và hoạt động dạy – học của giáo viên và học sinh Đây là quá trình
sư phạm mang tính chất và đặc điểm xã hội phong phú, phức tạp vớinhiều mối quan hệ qua lại nhằm hình thành và phát triển nhân cách xãhội chủ nghĩa cho học sinh bằng phương pháp văn chương
Người giáo viên là người tổ chức và điều khiển quá trình dạy họcvăn sao cho quá trình đó diễn ra phù hợp với đặc điểm nhận thức bộ môn
và điều kiện sư phạm Tính chất phức tạp của quá trình nhận thức vănhọc đòi hỏi người giáo viên không những có tri thức khác nhau về quátrình tiếp cận, phân tích, cắt nghĩa và đánh giá các hiện tượng văn học mà
cả khả năng nhìn thấy ở học sinh những cảm xúc tinh tế thường ẩn kín,khả năng quan sát và nhận thức nhạy bén về nhiều mặt đối với nhữngbiểu hiện tản mạn và lệch lạc trong cảm thụ và tư duy văn học của họcsinh Từ đó giáo viên lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp và hiệu quảcho bài học giúp học sinh lĩnh hội được một cách tốt nhất bài học
Có thể nói, cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt độnghọc tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động Thầy giáo khôngphải là người nhồi nhét kiến thức cho học sinh mà là người hướng dẫn, tổchức học sinh lĩnh hội tri thức bằng con đường tự học Trong bộ mônNgữ văn có những bài học thuộc về văn học sử, nếu chúng ta không chủđộng tìm tòi đổi mới phương pháp thì sẽ làm cho học sinh cảm thấy bàihọc đó trầm buồn, giáo viên rơi vào tâm thế giảng lại những kiến thức màSGK đã viết và viết rất hay, rất đầy đủ gây cảm giác nhàm chán cho bàihọc Mà tác giả văn học lại có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sốngvăn hóa, văn học của mỗi quốc gia, dân tộc Tuy nhiên việc giảng dạyphần tác giả lại khô khan và dễ gây nhàm chán cho người học
Trang 3Từ những vấn đề trên mà tôi đã mạnh dạn áp dụng phương pháp tựnghiên cứu vào giảng dạy bài tác giả NGUYỄN DU để giúp học sinh tiếpcận một cách tốt nhất với tác giả Nguyễn Du - một đại thi hào dân tộc,một danh nhân văn hóa của thế giới Đồng thời để phát huy tính tự học và
tư duy sáng tạo của học sinh Tôi nghiên cứu đề tài này với mục đích tìm
ra những phương pháp tối ưu nhất cho bài học nhằm đạt được mục đíchcao và nâng cao chất lượng giờ dạy, trình độ chuyên môn nghiệp vụ chogiáo viên Làm tốt công tác này sẽ kích thích tinh thần tự học của họcsinh, tạo không khí sôi nổi cho giờ dạy
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Cơ sở lý luận của vấn đề
1.1 Khái niệm phương pháp
Phương pháp dạy học là cách thức hành động có trình tự, phối hợp tương tác với nhau của giáo viên và của học sinh nhằm đạt được mục đích dạy học.
Nói cách khác phương pháp dạy học là hệ thống những hành động
có chủ đích theo một trình tự nhất định của giáo viên nhằm tổ chức hoạtđộng nhận thức và hoạt động thực hành của học sinh nhằm đảm bảo cho
họ lĩnh hội nội dung dạy học và chính như vậy mà đạt được mục đích dạyhọc
Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và phương pháphọc với sự tương tác lẫn nhau, trong đó phương pháp dạy đóng vai tròchủ đạo, còn phương pháp học có tính chất độc lập tương đối, chịu sự chiphối của phương pháp dạy, song nó cũng ảnh hưởng trở lại phương phápdạy
1.2 Khái quát về phương pháp tự nghiên cứu
Học văn học sử, học sinh trung học có thể tự đọc, tự nghiêncứu sách giáo khoa để tự lĩnh hội bài học So với phương pháp đặt câuhỏi, mối quan hệ tương tác giữa thầy và trò không được rõ, không đượcdiễn ra cùng một lúc Giáo viên chỉ có thể hướng dẫn tự đọc và kiểm trakết quả đó trên lớp Tuy nhiên đây là phương pháp có tác dụng rèn luyện
Trang 4năng lực tự học, tự lĩnh hội văn bản của học sinh Ở THPT, cần đặc biệtchú trọng đến phương pháp này Trong xu thế chung của dạy học hiệnđại, yêu cầu học sinh phổ thông tập dượt nghiên cứu đã đặt ra khá mạnhdạn ở nhiều nước Học sinh có thể được hướng dẫn tóm tắt toàn bài họchoặc một phần bài học bằng cách rút bỏ ý phụ hoặc bằng cách khái quát ýnhỏ thành ý lớn Trong quá trình tự đọc, tự nghiên cứu bài học, học sinh
có thể phát hiện ra những thiếu sót của sách giáo khoa (nhất là một hệthống) làm cho sự lĩnh hội của học sinh gặp khó khăn Cốt lõi của việchọc sinh tự nghiên cứu là tập dượt cho học sinh làm quen với khả năngđộc lập tự phát hiện nội dung văn bản một cách chính xác từ ý đồ chungcho đến luận điểm
Các bài bài học được dùng cho nghiên cứu được kiểm tra trên lớpkhi giáo viên lướt qua bài đó với mục đích xem các em có thật sự tự đọc
ở nhà không và nếu có tự đọc thì có hiểu, có nắm được tri thức cơ bảnkhông? Việc tự đọc, tự nghiên cứu sách giáo khoa là một việc làm khó.Đối với lớp thường, cần vận dụng từ thấp đến cao, bắt đầu từ việc chuẩn
bị cho bài dạy (lập dàn ý, trả lời câu hỏi, sau có thể thay cho bài dạy trênlớp Một bài dạy học văn học sử trên cơ sở học sinh đã tự học, tự nghiêncứu sách giáo khoa chưa có nhiều trong thực tiễn hiện nay) là kiểu bàicần được thực nghiệm và khuyến khích trong thời gian tới Học sinh làmviệc trên sách giáo khoa là chủ yếu Song cũng không loại trừ việc giáoviên (trong điều kiện cho phép ) nghiên cứu một vài bài viết có liên quanđến bài học văn học sử để hiểu đúng hơn vấn đề đặt ra trong sách giáokhoa
Bài dạy tác giả văn học là kiểu bài có thể vận dụng tổng hợp cácphương pháp nghiên cứu văn học và giảng dạy văn học một cách rộngrãi Trước hết đó là những phương pháp kết hợp tri thức khái quát (nhậnđịnh, quan điểm…) với tri thức cụ thể (tư liệu về đời sống và sáng tác tácphẩm ) để hình thành tri thức lí luận văn học (những quy luật văn học sử,quy luật sáng tác và quy luật tiếp nhận văn học)
Dù cho thức kiến thức đưa vào sách giáo khoa đã được cân nhắcđến từng câu, từng chữ, nhưng người giáo viên có trình độ vẫn không bao
Trang 5giờ “bê nguyên si” tri thức ấy truyền lại cho học sinh, mà thường làm
“sinh động hóa” những tri thức ấy bằng những dẫn chứng minh họa vănchương, bằng những hiện tượng, sự kiện văn học cụ thể
Phương pháp tự nghiên cứu là phương pháp học sinh làm việc mộtmình với sách giáo khoa dưới sự điều khiển gián tiếp của giáo viên theonhiệm vụ học tập do giáo viên đề ra
* Nghiên cứu sách giáo khoa
Sách là nguồn tri thức vô tận và đa dạng, là phương tiện quan trọng
để nhận thức thế giới xung quanh, vì nó phản ánh những kinh nghiệm đãđược loài người khái quát hoá, hệ thống hoá trong suốt quá trình pháttriển lịch sử của mình René Descartes, nhà triết học, nhà khoa học tự
nhiên người Pháp đã nói: “Đọc một cuốn sách tốt, khác nào như trao đổi
ý kiến với các nhân vật ưu tú của các thế kỷ đã qua, và hơn nữa, cuộc trao đổi này hoàn toàn bổ ích vì những con người ưu tú này chỉ thông báo cho chúng ta những tư tưởng cao quý của mình”.
Vì vậy, phương pháp tự nghiên cứu sách giáo khoa có một vị tríquan trọng không chỉ trong việc lĩnh hội tri thức mà còn làm cho học sinhhình thành cách đọc sách Nhờ đó mà học sinh có thể tiến hành học tậpliên tục, học tập suốt đời – một yêu cầu cấp bách trước sự bùng nổ thôngtin như hiện nay
Bản chất của phương pháp này là sử dụng sách giáo khoa trong quá trìnhlàm việc, học sinh nắm vững, đào sâu, mở rộng tri thức đồng thời hìnhthành những kỹ năng, kỹ xảo đọc sách
** Những yêu cầu của phương pháp tự nghiên cứu
Khi chuẩn bị bài giảng, giáo viên cần xác định nội dung nào trongsách giáo khoa hoặc sách báo khác để học sinh có thể tự lực nghiên cứu ởlớp
- Khi tiến hành bài học, giáo viên có trách nhiệm xem trong từng trườnghợp cụ thể phải hướng dẫn sử dụng sách giáo khoa hoặc các sách báokhác tại lớp cần theo trình tự nào là hợp lý nhất để kích thích hoạt động
tư duy tích cực của học sinh mà không dẫn tới ghi nhớ một cách máymóc
Trang 6- Trước khi tổ chức cho học sinh tự nghiên cứu sách giáo khoa và tài liệusách báo khác, giáo viên cần tiến hành đàm thoại một cách cặn kẽ, tỉ mỉ
về chủ đề học tập, nêu lên những vấn đề cơ bản của tài liệu cần nghiêncứu và xác định trình tự, phương pháp nghiên cứu theo trình tự đó
- Sử dụng việc nghiên cứu sách giáo khoa tại lớp dù bất kỳ trường hợpnào cũng không chiếm toàn bộ tiết học, cần phải phối hợp với cácphương pháp dạy học khác
- Sau khi tổ chức cho học sinh tự nghiên cứu nội dung nào đó trong sáchgiáo khoa hoặc trong tài liệu học tập khác cần đặt ra câu hỏi và kích thíchhọc sinh trả lời nhằm biết được mức độ lĩnh hội nội dung và qua đó cóbiện pháp mở rộng hoặc đào sâu những kiến thức hoặc sửa chữa nhữngđiều mà học sinh chưa hiểu đúng
- Tự học với sách giáo khoa tại lớp có thể sử dụng trong các tiết học lĩnhhội kiến thức mới và cả trong tiết học củng cố kiến thức đã học Để việc
sử dụng sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác có kết quả cần hìnhthành cho học sinh một số kỹ năng, kỹ xảo sau:
+ Kỹ năng, kỹ xảo đọc sách
+ Kỹ năng, kỹ xảo lập dàn ý, xây dựng đề cương
+ Kỹ năng, kỹ xảo trích ghi
+ Kỹ năng, kỹ xảo ghi tóm tắt
Những kỹ năng, kỹ xảo này được hình thành và hoàn thiện dầntrong quá trình sử dụng sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác tại lớp
và ở nhà với điều kiện ở lớp giáo viên đề ra những yêu cầu phải thực hiệnnghiêm túc, có sự kiểm tra chặt chẽ với những chỉ dẫn rõ ràng, tỉ mỉ, có
hệ thống và học sinh tích cực, cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập
Trang 7những giáo viên nỗ lực tìm con đường đi sao cho tiết dạy của mình đạthiệu quả cao nhất Nhưng số đó không phải là nhiều Đa phần họ đềugiảng dạy theo phương pháp cũ lâu nay đã làm, từ đó dẫn đến tình trạngchán học, ngại học ở học sinh Các em luôn nghĩ văn là đọc chép, văn lànhiều chữ, dài dòng mà không biết rằng văn học vốn rất gần gũi với cuộcsống, cuộc sống thì bao giờ cũng bề bộn và vô cùng phong phú Mỗi tácphẩm văn chương là một mảng cuộc sống đã được nhà văn chọn lọc phảnánh Vì vậy môn văn trong nhà trường có một vị trí rất quan trọng: nó là
vũ khí thanh tao đắc lực có tác dụng sâu sắc đến tâm hồn tình cảm củacon người, nó bồi đắp cho con người trở nên trong sáng, phong phú vàsâu sắc hơn
Thực tế bài dạy: đây là một bài nghiên cứu về tác giả văn học,được viết theo phong cách ngôn ngữ khoa học Trong bài nghiên cứu này,tác giả đã giới thiệu thân thế và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Du,một nhà thơ nhân đạo tiêu biểu của văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuốithế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX Ông có một đóng góp to lớn đối vớinền văn học dân tộc về nhiều phương diện nội dung và nghệ thuật, xứngđáng được gọi là thiên tài văn học, danh nhân văn hóa thế giới
- Bài học tác gia văn học gồm hai phần: cuộc đời và sự nghiệp văn học,hai nội dung này có mối quan hệ minh giải lẫn nhau làm sáng tỏ mốiquan hệ giữa nhà thơ và người Xử lý mối quan hệ giữa văn và ngườikhông thể chỉ nhìn hình thức bề ngoài để cắt nghĩa đơn giản, thô thiển:văn là người, người thế nào thì văn thế ấy! Ý nghĩa xã hội tiêu biểu củaNguyễn Du, của Truyện Kiều Đây là bài học có tính chất tổng quát và lý
Trang 8luận về một tác giả nên giáo viên cần hướng dẫn học sinh nắm vững dàn
ý, kết cấu của bài và nắm vững một số khái niệm chủ yếu đã nêu trongbài để có thể hiểu được bài
- Giáo viên hướng dẫn học sinh tự học theo nguyên tắc hướng dẫn chohọc sinh tự đọc, tự nghiên cứu văn bản bài học trước, sau đó cho học sinhthảo luận, tranh luận, học sinh nêu các luận điểm đã tiếp nhận dược qua
tự nghiên cứu sách giáo khoa, giáo viên góp ý, bổ sung, học sinh nêu các
ý kiến băn khoăn, thắc mắc và giáo viên giải đáp Hình thức dạy bài nàychủ yếu là học sinh tự nghiên cứu sách giáo khoa và các tài liệu khác liênquan đến bài học
- Cuộc đời
Trong bài học tác giả Nguyễn Du bao gồm cuộc đời nhà thơ đượctrình bày trước sự nghiệp văn học Lịch sử văn hóa nhân loại luôn luôngắn chặt với sự sáng tạo của con người Việc trình bày trước sau như vậyhàm chứa tính hợp lý tự nhiên, đồng thời thể hiện mối quan hệ đúng đắngiữa con người với sản phấm sáng tạo Sản phẩm dù có tinh xảo nhưngười máy thì vẫn thấp hơn người sáng tạo ra nó Tác giả văn học đâuphải chỉ là người sản xuất ra sản phẩm cho xã hội Đó là một nghệ sỹ,một nhân cách có những nét riêng Vì vậy, cần thiết phải tìm hiểu cuộcđời tác giả Nguyễn Du với tư cách “Tổng hòa các mối quan hệ xã hội”(Mác) trong khi giảng dạy
Trong cuộc đời tác giả Nguyễn Du, chúng ta cần thiết phải cho họcsinh tìm hiểu về các yếu tố gia đình, quê hương, thời đại xã hội và cuộcđời riêng đã góp phần hình thành nên thiên tài Nguyễn Du
- Sự nghiệp văn học
Yếu tố đầu tiên làm nên vị trí, vai trò của một tác giả trong lịch sửvăn học chính là sự nghiệp văn học Phần sự nghiệp văn học giữ vai tròquan trọng trong phần bài dạy Xét tác gia văn học như một chỉnh thể vănhọc sử thì phải chú ý đầy đủ mối quan hệ cuộc đời và sự nghiệp sáng tácvới tuổi thọ của những trang sách và hoạt động nhà văn để lại Như vậy,chúng ta đều thấy Nguyễn Du và Truyện Kiều đều đã trở thành bất hủtrong lòng độc giả xưa và nay
Trang 9Trong khi trình bày về thành tựu văn học, tôi không chỉ dừng lại ởliệt kê tác phẩm mà có thể phân tích một số tác phẩm chính như TruyệnKiều, Văn chiêu hồn, … để soi sáng những nhận định văn học sử và lýluận văn học có liên quan
Cống hiến quan trọng của Nguyễn Du là tác phẩm Truyện Kiều, một tác
phẩm đủ sức làm rõ nét một phong cách nghệ thuật đã được định hình vàđem đến cho nền văn học dân tộc một cá tính sáng tạo độc đáo, một tiếngnói riêng không ai thay thế được
Bài học tác gia văn học nói chung và Nguyễn Du nói riêng tạo nênmột cái nhìn tổng thể về tiến trình văn học và tránh được sự khô khan,phiến diện vì nó kết hợp được cái chung và cái riêng, tri thức khái quát vàtri thức cụ thể, con người và tác phẩm, nhân cách và tài năng, lý luận vănhọc và thực tiễn sáng tác Vì vậy, bài học về tác giả Nguyễn Du có khảnăng tạo nên sự sinh động về tri thức và giáo dục
So với chương trình PTCS văn học Việt Nam được học ở PTTH ít hơnnhưng vẫn đòi hỏi giáo viên cung cấp kiến thức cơ bản, hệ thống cho họcsinh Để khắc phục những khó khăn trên, không thể tăng thêm bài kháiquát văn học sử mà cần khai thác triệt để của các bài học về tác giả vănhọc đồng thời quan tâm thích đáng đến những tác phẩm dạng trích và đọcthêm của những nhà văn, nhà thơ cùng thời với Nguyễn Du
3.2 Tổ chức thực hiện
3.2.1 Cách thức tổ chức
Do đặc điểm bài học tương đối dài nên giáo viên nhanh chóng ổnđịnh lớp và kiểm tra bài cũ trong vòng 5 phút, còn lại 40 phút cho giảngdạy bài mới với kế hoạch thời gian như sau: 22-15-3: 22 phút: học sinhlàm việc độc lập với SGK theo phương pháp tự nghiên cứu; 15 phút sau:giáo viên kiểm tra quá trình tự học của học sinh theo phương pháp vấnđáp; 3 phút còn lại: giáo viên củng cố bài học
Giáo viên yêu cầu học sinh đọc, tóm tắt nội dung chính của bài họctrong sách giáo khoa Gợi ý cách đọc và trình tự bài học như sau:
- Đây là bài trình bày những nét lớn về thân thế và sự nghiệp văn chươngcủa một tác giả lớn, vì thế khi đọc cần chú ý các yếu tố về gia đình, quê
Trang 10hương, nền giáo dục, tác động của thời đại, sự từng trải, vốn văn hóa, thếgiới quan, nhân sinh quan, … ảnh hưởng đến sáng tác của tác giả.
- Khi đọc phần Sự nghiệp văn học, cần nhớ tên những sáng tác tiêu biểu,
khắc sâu những đặc điểm nổi bật về nội dung và nghệ thuật của thơ vănNguyễn Du, chú ý các luận điểm, luận cứ của tác giả bài viết
Sau khi hướng dẫn xong, giáo viên cho học sinh làm việc độc lậpdưới sự giám sát trực tiếp của mình Sau khi học sinh tự nghiên cứu vàtóm tắt những nội dung chính vào vở, giáo viên tiến hành kiểm tra dướihình thức vấn đáp (đàm thoại) Tương ứng với mỗi phần, giáo viên có thểđưa ra các câu hỏi để kiểm tra và kích thích học sinh trả lời nhằm biếtđược mức độ lĩnh hội nội dung và qua đó có biện pháp mở rộng hoặc đàosâu những kiến thức hoặc sửa chữa những điều mà học sinh chưa hiểuđúng
3.2.2 Đề xuất hướng triển khai bài giảng TRUYỆN KIỀU – tiết 80: Phần một tác giả NGUYỄN DU
- Ổn định lớp
- Kiểm tra bài cũ
- Dạy bài mới:
Hoạt động của Giáo viên
và Học sinh
Yêu cầu cần đạt
Giáo viên yêu cầu
học sinh đọc, tóm tắt nội
dung chính của bài học
trong sách giáo khoa
Giáo viên gợi ý cách đọc và
trình tự bài học
- GV: Hãy lý giải sự hình
thành thiên tài văn học
Nguyễn Du từ sự tác động
của ba yếu tố: quê hương,
gia đình; thời đại – xã hội;
cuộc đời riêng ?
- GV phát vấn :
I CUỘC ĐỜI
Nguyễn Du (1765- 1820), tên chữ là TốNhư, hiệu là Thanh Hiên.
1 Quê hương và gia đình:
- Quê cha Hà Tĩnh, núi Hồng, sôngLam anh kiệt, khổ nghèo
- Quê mẹ Kinh bắc hào hoa, cái nôi củadân ca Quan họ
- Nơi sinh ra và lớn lên: kinh thànhThăng Long nghìn năm văn hiến lộnglẫy hào hoa
- Quê vợ đồng lúa Thái Bình lam lũ
- Gia đình quan lại có danh vọng lớn,học vấn cao nổi tiếng:
“ Bao giờ Ngàn Hồng hết cây