Mục đích nghiên cứu Xác định các biện pháp dạy học dạy học giải quyết vấn đề trong phần lý thuyết cơ sở góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo ở trường Cao đẳng kỹ thuật thôn
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TÔ VĂN KHÔI
DẠY HỌC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TRONG PHẦN LÝ THUYẾT CƠ SỞ Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ GIÁO DỤC
Mã số: 62.14.01.02
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thái Nguyên, năm 2013
Trang 2CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1 Tô Văn Khôi (2008), “Đổi mới hoạt động dạy nghề ở trường
Cao đẳng Công nghiệp Thái Nguyên”, Tạp chí Công nghiệp,
(2), tr.45- 46
2 Tô Văn Khôi (2012), “Một số biện pháp nhằm nâng cao chất
lượng đào tạo nghề ở các trường Cao đẳng kỹ thuật”, Tạp
chí Công nghiệp, (1), tr.48-49
3 Tô Văn Khôi (2012), “Nhận thức về dạy học giải quyết vấn ở
trường Cao đẳng Công nghiệp Thái nguyên”, Tạp chí giáo dục,
294(2), tr.31-32, 43
4 Tô Văn Khôi (2013), “Nguyên tắc dạy học giải quyết vấn đề
trong dạy học ở các trường Cao đẳng kỹ thuật”, Tạp chí giáo dục,
311 (1), tr.33-35
5 Tô Văn Khôi (2013), “Xây dựng công cụ kiểm tra, đánh giá kết quả học tậ của sinh viên trường Cao đẳng kỹ thuật theo tiếp cận
dạy học giải quyết vấn đề”, Tạp chí giáo dục, 318 (2), tr.23-24, 19
6 Tô Văn Khôi (2012 - Chủ nhiệm đề tài), “Nghiên cứu và đề
xuất giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở các trường Cao đẳng kỹ thuật khu vực miền núi phía Bắc”, Đề tài Khoa
học cấp Bộ, mã số: 050.11.RD, ngày nghiệm thu 06/4/1012
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghị quyết đại hội Đảng đã xác định “phát triển giáo dục và
đào tạo, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước"
Hội nghị TW 2, Khoá VIII đã chỉ rõ: “Đổi mới mạnh mẽ
phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học ”
Tuy vậy, cách tiếp cận này ở nước ta chưa được nghiên cứu đầy đủ, cho đến nay đã có một số đề tài, luận án, luận văn đề cập tới, nhưng chủ yếu dành cho bậc học phổ thông Các trường CĐKT hiện nay đang gặp khó khăn trong việc đổi mới phương pháp dạy học, chưa xác định được
hướng tiếp cận đổi mới Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Dạy
học giải quyết vấn đề trong phần lý thuyết cơ sở ở trường cao đẳng kỹ thuật” để thực hiện luận án tiến sĩ của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Xác định các biện pháp dạy học dạy học giải quyết vấn đề trong phần lý thuyết cơ sở góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo ở trường Cao đẳng kỹ thuật thông qua một số môn học
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học phần lý thuyết cơ sở ở trường CĐKT
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp dạy học giải quyết vấn đề trong phần lí thuyết cơ sở
ở trường CĐKT
Trang 44 Giả thuyết khoa học
Dạy học GQVĐ trong phần lí thuyết cơ sở ở CĐKT hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, nếu xác định và thực hiện hợp lý các biện pháp dạy học giải quyết vấn đề như: Xây dựng qui trình dạy học GQVĐ; lựa chọn, phối hợp các phương pháp dạy học phù hợp với tình huống dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của SV; lựa chọn, sử dụng các kỹ thuật và phương tiện dạy học; xây dựng công cụ đánh giá kết quả học tập của SV và xây dựng môi trường học tập tích cực tăng cường sự tham gia hiệu quả của SV trong giải quyết các vấn đề thực tiễn sẽ góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo của các trường CĐKT
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Xây dựng cơ sở lý luận của dạy học GQVĐ trong phần lí thuyết cơ sở ở trường CĐKT
5.2 Đánh giá thực trạng dạy học GQVĐ ở một số trường CĐKT khu vực miền núi phía Bắc
5.3 Đề xuất các biện pháp dạy học 4 trong phần lý thuyết cơ sở
ở trường CĐKT
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Nội dung nghiên cứu được giới hạn trong phần lý thuyết
cơ sở trong chương trình đào tạo ở các trường CĐKT
6.2 Địa bàn nghiên cứu gồm 10 trường miền núi phía Bắc 6.3 Thực nghiệm dạy học GQVĐ một số môn lý thuyết cơ sở của ngành Công nghệ kỹ thuật điện - điện tử ở trường Cao đẳng Công nghiệp Thái nguyên
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Phương pháp lịch sử, Phương pháp phân tích, tổng hợp lý
thuyết, Phương pháp khái quát hóa, hệ thống hóa
Trang 57.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát; Phương pháp điều tra: Bằng phiếu hỏi, phỏng vấn trực; Phương pháp nghiên cứu sản phẩm; Phương pháp thực nghiệm sư phạm; Phương pháp chuyên gia
7.3 Các phương pháp hỗ trợ:
Sử dụng các công thức toán thống kê để xử lí số liệu
8 Luận điểm bảo vệ
8.1 Dạy học GQVĐ đáp ứng được các mục tiêu đào tạo ở các trường CĐKT, tạo cho SV thói quen chủ động và tích cực học tập 8.2 Dạy học GQVĐ vừa giúp SV nắm kiến thức lý thuyết vừa hình thành kỹ năng giải quyết các tình huống
8.3 Xây dựng các biện pháp dạy học GQVĐ, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo trong các trường CĐKT
9 Những đóng góp mới của luận án
9.1 Tổng quan được vấn đề nghiên cứu về dạy học dạy học giải quyết vấn đề trong phần lý thuyết cơ sở ở trường CĐKT
9.2 Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về GQVĐ, cũng như những khả năng ứng dụng dạy học GQVĐ trong các trường CĐKT 9.3 Đánh giá thực trạng nhận thức của GV về vai trò và thực trạng dạy học theo tiếp cận GQVĐ hiện nay ở các trường CĐKT 9.4 Xây dựng các biện pháp dạy học DGVĐ trong phần LTCS
ở trường CĐKT
9.5.Luận án có thể được xem là tài liệu tham khảo cho GV, SV
về việc đổi mới PPDH ở các trường CĐKT trong giai đoạn hiện nay
10 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của dạy học GQVĐ phần lý thuyết cơ
sở ở trường Cao đẳng kỹ thuật
Chương 2: Thực trạng của dạy học GQVĐ phần lý thuyết cơ
Trang 6Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA DẠY HỌC GIẢI QUYẾT
VẤN ĐỀ TRONG PHẦN LÝ THUYẾT CƠ SỞ Ở CÁC
TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT 1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Tư tưởng dạy học giải quyết vấn đề (DH GQVĐ) đã tồn tại trong lịch sử giáo dục hàng ngàn năm Ngay từ những năm cuối của thế kỷ XIX các nhà nghiên cứu như: Ghecđơ A.Ia., Xatxiulêvít M M., Rôgiơcốp N A., Bantalôn X P., Rưpnicôva M A
- Những năm 30 của thế kỷ XX ở các nước phương Tây xuất hiện khái niệm “phương pháp dạy học tích cực”, “dạy học lấy người học làm trung tâm” và được phổ biến rộng rãi ở Âu - Mỹ
- Vào những năm 50 của thế kỷ XX ở châu Âu đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề
- Trong những năm 70 của thế kỷ XX dạy học QVĐ được nghiên cứu ở Liên Xô và các nước Đông Âu, các nhà nghiên cứu như Okon V., Machiuskin A M., Cuđriaxep T.V., Kharlamop I F., Krugliac
M I., Lecner I.Ia Dạy học NVĐ được các tác giả nhìn nhận như một PPDH tích cực, góp phần phát triển tư duy, năng lực nhận thức và hình thành nên động cơ, thái độ, hứng thú cho HS
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam từ những năm 60 - 70 của thế kỷ XX Đã có nhiều nhà nghiên cứu về DH GQVĐ như: Nguyễn Ngọc Quang, Trần Bá Hoành, Lê khánh Bằng, Phạm Viết Vượng, Đặng Thành Hưng, Nguyễn Cương, Trần Kiều, Nguyễn Ngọc Bảo,Vũ Văn Tảo…
Những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu về DH GQVĐ cho các môn khoa học cơ bản, có một số các tác giả Nguyễn
Trang 7Lan Phương, Ngô Diệu Nga, Lê Văn Năm, Nguyễn Thị Ngân, Lê Trung Thành, Bùi thị Mùi, Nguyễn Thị Hà Lan, Dương Dáng Thiên Hương, Trần Văn Kiên và các tác giả khác nữa
Tuy nhiên việc nghiên cứu DH GQVĐ ở các trường CĐ KT còn ít được chú ý nhiều và chưa có công trình nào nghiên cứu
1.2 Những khái niệm cơ bản
1.2.1 Vấn đề khoa học và vấn đề học tập
- Theo từ điển tiếng Việt: “Vấn đề là điều cần được xem xét, nghiên cứu, giải quyết”
- Theo Lecner I Ia.: Vấn đề là một câu hỏi nảy ra hay đặt ra
cho chủ thể, là chủ thể chưa biết lời giải từ trước và phải tìm tòi, sáng tạo lời giải nhưng chủ thể đã có sẵn một số phương tiện ban đầu để sử dụng thích hợp vào sự tìm tòi đó Theo Crugliăc M thì VĐ
là một câu hỏi phức tạp về mặt thực hành hay lý thuyết đòi hỏi phải giải quyết
Tác giả Bùi Thị Mùi quan niệm rằng: “Vấn đề là mâu thuẫn (hay khó khăn) cần được xem xét, giải quyết” Lê Huy Hoàng quan niệm rằng: “VĐ là câu hỏi hay một điều gì đó chứa đựng sự nghi ngờ, sự không chắc chắn, khó khăn và được đưa ra để thảo luận hay tìm kiếm giải pháp” Còn Trần Văn Kiên cho rằng: “VĐ là câu hỏi chưa có câu trả lời, đòi hỏi phải nghiên cứu, giải quyết”
- Vấn đề khoa học là VĐ đang tồn tại trong khoa học chưa
được giải quyết, nó sẽ được giải quyết bằng nhận thức và hành động khoa học.Vấn đề khoa học xuất hiện trong hoạt động nghiên cứu khoa học Vấn đề khoa học cũng có thể là VĐ học tập ở trình độ cao
- Vấn đề học tập là vấn đề có trong chương trình đào tạo mà
người học chưa biết, chưa giải quyết được nhưng cần phải nghiên cứu để nắm vững
Trang 8Lecner I Ia nhận xét: “Vấn đề học tập là một tình huống được
chủ thể tiếp nhận để giải quyết dựa trên các phương tiện sẵn có của mình (tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm) Mọi vấn đề đều chứa đựng tình huống có vấn đề, nhưng không phải bất kỳ tình huống nào cũng đều là vấn đề cả”
Từ những phân tích trên chúng tôi cho rằng: Vấn đề học tập là
một hình thức biểu đạt nội dung học tập, tiềm ẩn điều cần biết, đòi hỏi người học phải tìm tòi, suy nghĩ để tìm ra cách giải quyết, qua đó nắm được nội dung học tập
1.2.2 Tình huống có vấn đề và tình huống dạy học
* Tình huống có vấn đề:
- Theo Rubinstein X L (1958): "Tư duy thường bắt đầu từ một
vấn đề hay một câu hỏi, từ sự ngạc nhiên hay sự thắc mắc, từ sự mâu thuẫn” Theo Lecner I Ia thì” Tình huống có vấn đề là một khó khăn được chủ thể ý thức rõ ràng hay mơ hồ, mà muốn khắc phục thì phải tìm tòi những tri thức mới, những phương thức hành động mới” Tác
giả Nguyễn Ngọc Bảo cho rằng: “Tình huống có vấn đề là trạng thái
tâm lý xuất hiện khi con người gặp phải khó khăn về mặt trí tuệ mà
họ không giải thích được một sự kiện mới bằng tri thức đã có trước đây mà phải đi tìm một hành động mới, một tri thức mới”
Từ các phân tích trên chúng tôi cho rằng: Tình huống có vấn
đề trong dạy học là trạng thái tâm lý đặc biệt của người học khi họ gặp phải những mâu thuẫn khách quan do bài toán nhận thức đặt
ra, mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết cần phải tìm, trên
cơ sở giải quyết các mâu thuẫn đó người học nắm được kiến thức
và phương pháp chiếm lĩnh kiến thức đó
* Tình huống dạy học:
-Theo Nguyễn Ngọc Bảo “THDH là tình huống do giáo viên chủ động tạo ra, còn tình huống sư phạm là tình huống ngẫu nhiên xảy ra trong hoạt động sư phạm”
Trang 9- Nguyễn Ngọc Quang cho rằng "Tình huống dạy học là đơn vị nhỏ nhất, sơ đẳng nhất của lôgic quá trình dạy học, chứa đựng mối liên hệ mục đích, nội dung, phương pháp ”
- Theo Đặng Thành Hưng "Tình huống dạy học là sự kết hợp
các yếu tố vật chất và các yếu tố tinh với các hình thức và cấu trúc được tổ chức sư phạm, có nội dung chứa đựng những mối liên hệ nhất định đối với kinh nghiệm quá khứ và kinh nghiệm đang được huy động lúc ấy của người học”
Qua phân tích so sánh THCVĐ và THDH chúng tôi cho rằng:
Tình huống dạy học là những tình huống có thực trong thực tiễn mà giáo viên tổng kết được Cũng có những tình huống mà giáo vieennqua trải nghiệm của công tác dạy học xây dựng nên trên cơ sở lôgic của nội dung bài học, kinh nghiệm giảng dạy của mình và trình
độ nhận thức của người học để đưa người họ vào trạng thái phải tìm tòi tích cực
1.2.3 Giải quyết vấn đề và mô hình giải quyết vấn đề
1.2.3.1 Giải quyết vấn đề
Theo Vũ Văn Tảo hướng vận dụng ý tưởng “Giải quyết vấn đề ở
nước ta” đó là ở phạm trù mục tiêu; ý tưởng này được coi như là một trong những năng lực cần được hình thành, bồi dưỡng đó là năng lực giải quyết vấn đề; ở phạm trù phương pháp đào tạo ý tưởng này được coi như là nấc thang cao của hệ thống phương pháp giáo dục tích cực
đó là phương pháp dạy học GQVĐ”
Như vậy, theo chúng tôi GQVĐ là tiến trình hoạt động của người học, nghĩa là họ học tập bằng cách GQVĐ Trong quá trình này, cá nhân phải thực hiện các hành động tư duy logic, qui nạp, diễn dịch, tổng hợp, phê phán, nêu giả thuyết và lựa chọn những dữ liệu phù hợp, ra quyết định về cách giải quyết
Trang 101.2.3.2 Mô hình giải quyết vấn đề
* Mô hình 5 bước của George Polya:
Mô hình GQVĐ của Polya George Mô hình này gồm 5 bước
* Mô hình 3 bước của Rob Foshay and Jamie Kirkley:
Theo Rob Foshay and Jamie Kirkley hai học giả người Mỹ thì
quá trình giải quyết vấn đề gồm 3 bước
Phân tích hai mô hình trên chúng tôi đưa ra mô hình cấu trúc của quá trình GQVĐ trong dạy học như sau: Bước 1 Nhận biết vấn đề; Bước 2: Tìm các phương án giải quyết; Bước 3: Quyết định phương
án giải quyết vấn đề:
1.2.4 Học tập giải quyết vấn đề
Kharlamop I F khẳng định: “Học tập là quá trình nhận thức
tích cực” Quá trình GQVĐ học tập người học phải tìm tòi nghiên
cứu, phải thực hành trải nghiệm để tích luỹ kinh nghiệm, phải sẵn sàng đối mặt với các vấn đề phức tạp trong thực tế cuộc sống
Từ đây ta có thể đi đến kết luận: Học tập giải quyết vấn đề là
quá trình người học thực hiện các nhiệm vụ học tập dưới dạng giải quyết các vấn đề, do giáo viên đưa ra, để hình thành kiến thức mới
và kỹ năng mới
1.2.5 Dạy học giải quyết vấn đề
I.Ia Lecner định nghĩa như sau: “Dạy học nêu vấn đề là
phương pháp dạy học trong đó học sinh tham gia một cách có hệ thống vào quá trình giải quyết vấn đề và các bài toán có vấn đề được xây dựng theo nội dung tài liệu trong chương trình”.Theo O Kon
“Dạy học nêu vấn đề dưới dạng chung nhất là toàn bộ các hành động
như tổ chức các tình huống có vấn đề, biểu đạt các vấn đề, chú ý giúp đỡ HS những điều cần biết để giải quyết vấn đề ”
Theo Đặng Thành Hưng: “Dạy học GQVĐ là công việc của
GV, nghĩa là họ tiến hành dạy người học cách học tập thông qua quá trình giải quyết vấn đề”
Trang 11Trong đề tài này chúng tôi sử dụng khái niệm: dạy học giải
quyết vấn đề (Teaching Problem Solving) là một kiểu dạy học (hoặc chiến lược dạy học) do giáo viên định hướng nhằm tích cực hóa tư duy của người học, thông qua giải quyết các vấn đề phù hợp với nội dung học tập và với khả năng của họ
1.3 Tƣ duy kỹ thuật trong quá trình giải quyết vấn đề
1.3.1 Khái niệm tư duy kỹ thuật
Tư duy kỹ thuật là một loại tư duy có trong hoạt động kỹ thuật, nhằm giải quyết các bài toán kỹ thuật
1.3.2 Đặc điểm của tư duy kỹ thuật
1 Tư duy kỹ thuật là loại tư duy có mối liên hệ chặt chẽ giữa
tư duy lý thuyết và tư duy hành động
2 Tư duy kỹ thuật diễn ra theo một quy trình từ thử nghiệm, đến hành động thực hiện, rồi kiểm tra và điều chỉnh
3 Tư duy kỹ thuật có mối liên hệ chặt chẽ giữa hình ảnh trực quan và khái niệm
1.3.3 Phát triển tư duy kỹ thuật trong dạy học phần lý thuyết cơ sở
Phát triển tư duy kỹ thuật là nhiệm vụ quan trọng của các trường CĐKT nói chung và GV dạy lý thuyết và thực hành kỹ thuật
nói riêng
1.4 Đặc điểm của sinh viên và đặc điểm học tập ở trường Cao đẳng
kỹ thuật
1.4.1 Đặc điểm của sinh viên trường cao đẳng kỹ thuật
- Sinh viên đã có ý thức và kinh nghiệm học tập, có phương pháp học lý thuyết trên lớp và phương pháp rèn luyện kỹ năng trong phòng thí nghiệm, thực hành
- Sinh viên năng động, sáng tạo trong học tập và có nhu cầu hoạt động thực tiễn, có khả năng thích ứng cao
Trang 12- Phần lớn các SV xác định rõ trách nhiệm của bản thân, sống
có lý tưởng, có hoài bão, khát khao vươn tới cái mới, cái tiến bộ, có ý thức phấn đấu, phát huy nhũng mặt tích cực và hạn chế những mặt yếu kém
- Sinh viên đang rèn luyện để hình thành ý thức kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp
- SV đang cố gắng rèn luyện để vượt qua được những khó khăn trong cuộc sống, luôn hướng tới sự hoàn thiện bản thân
- Một số SV có tính độc lập trong hoạt động
1.4.2 Đặc điểm học tập ở trường Cao đẳng kỹ thuật
1.4.2.1 Việc học tập ở trường CĐKT mang tính chuyên nghiệp gắn liền với các vấn đề kỹ thuật
1.4.2.2 Việc học tập ở trường CĐ kỹ thuật đòi hỏi người học phải chủ động, tích cực và linh hoạt
1.4.2.3 Việc học tập ở các trường kỹ thuật đồi hỏi sinh viên phải có tính cộng đồng tập thể
1.5 Nguyên tắc và các mức độ của dạy học giải quyết vấn đề
1.5.1 Những nguyên tắc dạy học GQVĐ trong phần lý thuyết cơ sở
1.5.1.1 Các nguyên tắc dạy học chung
1.5.1.2 Nguyên tắc dạy học GQVĐ trong phần lý thuyết cơ sở:
+ Nguyên tắc 1: Khuyến khích SV tư duy tích cực để giải quyết
vấn đề
+ Nguyên tắc 2: Khuyến khích SV tự học, tự nghiên cứu trên tài liệu, bản vẽ, trên phương tiện kỹ thuật và trong thực tập sản xuất + Nguyên tắc 3: Khai thác kinh nghiệm học tập và kinh nghiệm hoạt động thực tế của sinh viên
+ Nguyên tắc 4: Khuyến khích SV hợp tác chia sẻ trước những thách thức trí tuệ
+ Nguyên tắc 5: Giúp sinh viên xác định mục đích học tập là
để phát triển bản thân mình
Trang 131.5.2 Các mức độ của dạy học giải quyết vấn đề
Dựa trên cơ sở các cách phân loại nêu trên của các tác giả chúng tôi đề xuất dạy học giải quyết VĐ có thể tiến hành theo các hình thức (cấp độ) sau:1/Giáo viên thuyết trình GQVĐ; 2/ Thầy và trò đàm thoại GQVĐ; 3/ Sinh viên hợp tác GQVĐ; 4/ Tự nghiên cứu
1.6 Đặc trưng của dạy học phần lý thuyết cơ sở và những yêu cầu sư phạm
Lý thuyết là một hệ thống tri thức khoa học bao gồm khái niệm, phạm trù, qui luật, là nền tảng cung cấp cho người học những
cơ sở kiến thức để lập luận và giải quyết các vấn đề Lý thuyết kỹ thuật phản ánh quá trình và cấu trúc tư duy, gợi lên vấn đề học tập đòi hỏi SV phải tư duy sâu sắc Đây chính là những khả năng để áp dụng dạy học GQVĐ vào học các môn lý thuyết cơ sở
Để dạy học GQVĐ đạt hiệu quả, cần đảm bảo các yêu cầu sư phạm sau đây:
1 GV phải thiết kế được các vấn đề học tập theo mục tiêu, nội dung bài học, môn học
2 Vấn đề học tập phải chứa mâu thuẫn về kiến thức và nhận thức
3 Vấn đề học tập phải được người học chấp nhận như một nhiệm vụ cần phải giải quyết
4 Người học tiếp thu được kiến thức qua hoạt động GQVĐ mà còn nắm vững phương pháp đi tới kiến thức đó
5 Người học có khả năng tự đánh giá các kết quả học tập
Kết luận chương 1
1 Dạy học GQVĐ là một kiểu dạy học, trong đó GV sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học khác nhau, kể cả những yếu tố truyền thống để kích thích tính tích cực hoạt động của học sinh, sinh viên
2 Dạy học GQVĐ nhấn mạnh quá trình học tập có tính chủ động và độc lập cao của người học, đặc biệt là kĩ năng tư duy phát hiện, phân tích và kĩ năng giải quyết VĐ trí tuệ
3 Dạy học GQVĐ kỹ thuật dựa vào bản chất của hoạt động và
mô hình cấu trúc của hoạt động giải quyết vấn đề kỹ thuật, người học phải khai thác kiến thức và kinh nghiệm của mình để hình thành kiến thức và kỹ năng hoạt động nghề nghiệp trong tương lai
4 Phần lý thuyết cơ sở trong chương trình đào tạo của các trường cao đẳng kỹ thuật có những nhiều tiềm năng trong việc dạy cho sinh viên tư duy giải quyết vấn đề kỹ thuật cần được khai thác