1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn hướng dẫn học sinh lớp 12 ôn thi đại học dạng đề so sánh phần văn xuôi trung học phổ thông triệu sơn 6

22 6,7K 12
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 183 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc ôn tập, đặc biệt là ôn thi đại học, giáo viên không chỉ ôn tập kiếnthức, các dạng đề trong từng tác phẩm riêng rẽ mà còn phải nhóm các tác phẩmcùng thể loại, thời đại, tác giả, đề t

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Văn học không chỉ là một môn khoa học mà còn là một món ăn tinh thầnkhông thể thiếu trong đời sống con người Văn học cung cấp kiến thức về cáclĩnh vực của đời sống xã hội Văn học còn bồi bổ tâm hồn, giúp cho tâm hồn conngười phong phú hơn, tinh tế hơn giúp họ biết sẻ chia, cảm thông, sống nhân ái

và vị tha Ngoài ra, văn học còn có chức năng giải trí, giúp con người quên đinhững căng thẳng, mệt mỏi Điều đó chứng tỏ văn học cũng như môn văn có vịtrí quan trọng không chỉ trong nhà trường mà còn cả xã hội Thế nhưng một thực

tế, trong những năm gần đây tình trạng học sinh ngại học văn ngày càng nhiều.Một phần là do văn học là một môn khoa học khó chiếm lĩnh, dù các em cóthích văn nhưng tiếp thu cũng không dễ dàng, phải có năng khiếu văn mới cảmthụ được nhưng số lượng học sinh có năng khiếu học văn giảm sút Phần khác,

do xu hướng phát triển của thời đại, người ta chuộng các môn khoa học tự nhiênhơn các môn khoa học xã hội, do yêu cầu xã hội, nghề nghiệp, gia đình địnhhướng cho các em học những môn khối A sẽ có nhiều trường thi, công việc saukhi ra trường dễ dàng hơn và thu nhập cao hơn Chính vì vậy dẫn đến tình trạngcác em xem thường, coi nhẹ, xa lánh môn văn

Thực tế đó đòi hỏi người giáo viên đặc biệt là những giáo viên văn khôngthể buông xuôi, chấp nhận theo xu thế mà tâm huyết nghề nghiệp lúc nào cũngcần hơn hết Ngoài việc chuẩn bị giáo án, thiết kế những bài giảng thật hay cònphải truyền đạt truyền cảm, lôi cuốn học sinh để học sinh yêu thích môn văn vàgiúp các em thấy văn học khác với các môn khác bởi nó gần gũi với con người,cho các em thấy mình trong văn học và văn học còn dạy các em cách sống

Và điều đặc biệt trong quá trình dạy văn, ngoài việc cung cấp kiến thứcthì khâu ôn luyện cho học sinh cũng rất quan trọng Ôn tập giúp củng cố kiếnthức, giúp học sinh khắc cốt ghi tâm và biết vận dụng vào làm các đề văn trongkhi thi cử Việc ôn tập, đặc biệt là ôn thi đại học, giáo viên không chỉ ôn tập kiếnthức, các dạng đề trong từng tác phẩm riêng rẽ mà còn phải nhóm các tác phẩmcùng thể loại, thời đại, tác giả, đề tài để chỉ ra những điểm giống và khác,những mặt kế thừa, những điểm cách tân của từng tác giả, từng tác phẩm Đây làdạng đề so sánh tổng hợp

Trong những năm gần đây xu hướng thi đại học ở câu 5 điểm theo kiểudạng đề so sánh rất nhiều Năm học 2008-2009 đề thi đại học khối C; năm 2009-

2010 đề thi đại học khối C ở cả hai ban cơ bản và nâng cao Năm học 2010-2011khối C ở cả hai ban cơ bản và nâng cao, đề khối D theo chương trình nâng cao

Trang 2

Vì vậy, trang bị kiến thức về dạng đề so sánh, chỉ ra các dạng đề so sánh và cáchlàm dạng đề này để học sinh biết cách vận dụng là rất quan trọng.

Ngoài ra, dạng đề so sánh văn học là một dạng đề khó Dạng đề này cầnkiến thức tổng hợp, khái quát nhưng chỉ một số học sinh có thể khái quát đượccòn đại bộ phận thì rất mơ hồ, lúng túng Hơn nữa, lâu nay các em chỉ quen vớinhững dạng đề phân tích từng tác phẩm, nhân vật, hình ảnh, chi tiết còn kết hợpnhiều tác phẩm, nhân vật, hình ảnh, chi tiết … để có cái nhìn tổng hợp về nềnvăn học, từng thời kì, trào lưu văn học thì không phải em nào cũng làm được Vìvậy, nếu không có sự hướng dẫn ôn tập của giáo viên thì học sinh sẽ không làmđược dạng đề này hoặc có làm thì cũng không bao hàm hết ý, không logic vàkhông khái quát được

Thấy rõ xu hướng, tính thiết thực và ý nghĩa của vấn đề cho nên trong quátrình dạy và đặc biệt là ôn tập tôi luôn chú trọng tới dạng đề so sánh Bằng cáchsau mỗi phần học về: thơ, văn xuôi, kí, kịch… trong chương trình Ngữ văn 11

và Ngữ văn 12 thuộc phần thi đại học tôi chỉ cho học sinh có những dạng đề sosánh nào, cách làm dạng đề đó và hướng dẫn cụ thể một số đề tiêu biểu, sau đóyêu cầu học sinh tự làm một số đề và kiểm tra đánh giá bằng bài kiểm tra cụ thể.Tuy nhiên, trong khuôn khổ SKKN, tôi chỉ xin nêu một số kinh nghiệm trongviệc hướng dẫn học sinh lớp 12 ôn tập dạng đề so sánh phần văn xuôi

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

* Chương trình Ngữ văn 11:

- Hai đứa trẻ (Thạch Lam)

- Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân)

- Hạnh phúc của một tang gia (Trích Số đỏ - Vũ Trọng Phụng)

- Chí Phèo (Nam Cao)

- Đời thừa (Nam Cao)

Trang 3

* Chương trình Ngữ văn 12

- Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài)

- Vợ nhặt (Kim Lân)

- Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành)

- Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi)

- Một người Hà Nội (Nguyễn Khải)

- Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu)

III MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

1 Chỉ ra các dạng đề so sánh trong phần văn xuôi

2 Hướng dẫn cách làm qua các bước và hướng dẫn cụ thể một số đề

3 Hướng dẫn học sinh luyện tập áp dụng

4 Kiểm tra, đánh giá mức độ hiểu, biết và áp dụng của học sinh

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chủ yếu là phương pháp thực nghiệm Đề tài là hướng dẫn học sinh lớp

12 ôn thi đại học nên đối tượng chủ yếu của đề tài là các em học sinh theo cáckhối lớp C và D Vì vậy, tôi tận dụng tối đa các tiết ôn tập có được trong nhữnggiờ học chính khóa và chủ yếu là các buổi học bồi dưỡng để có thời gian hướngdẫn học sinh ôn tập củng cố kiến thức Ngoài việc dạy học, hướng dẫn học sinh

ôn tập tôi còn kết hợp với kiểm tra, đánh giá mức độ hiểu biết, vận dụng của họcsinh

Trang 4

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

Nói đến khái niệm so sánh trong văn học cần phải được hiểu theo ba lớpnghĩa khác nhau Thứ nhất, so sánh văn học là “một biện pháp tu từ để tạo hìnhảnh cho câu văn” Thứ hai, nó được xem là một thao tác lập luận bên cạnh cácthao tác lập luận như: phân tích, bác bỏ, bình luận đã được đưa vào SGK Ngữvăn 11 Thứ ba, nó được xem như một phương pháp, một cách thức trình bàykhi viết bài nghị luận Ví dụ như nghị luận về một đoạn trích, một tác phẩm thơ;Nghị luận về một đoạn trích, một tác phẩm văn xuôi…ở SGK Ngữ văn 12 Vậytrong phạm vi đề tài, so sánh văn học là một kiểu bài nghị luận: nghị luận vănhọc ở dạng đề so sánh trong phần văn xuôi

Dạng đề so sánh văn học rất phong phú có thể so sánh trên nhiều bìnhdiện khác nhau: đề tài, nhân vật, tình huống, cốt truyện, cái tôi trữ tình, chi tiếtnghệ thuật, nghệ thuật trần thuật…Quá trình so sánh có thể chỉ diễn ra ở các tácphẩm ở cùng một tác giả nhưng cũng có thể diễn ra ở nhiều tác phẩm của các tácgiả cùng hoặc không cùng một thời đại, giữa các tác phẩm của những trào lưu,trường phái khác nhau của một nền văn học

Mục đích cuối cùng của dạng đề này là yêu cầu học sinh chỉ ra chỗ giống

và khác nhau giữa hai tác phẩm, hai tác giả từ đó thấy được những mặt kế thừa,những điểm cách tân của từng tác giả, từng tác phẩm, thấy được vẻ đẹp riêngcủa từng tác phẩm, sự đa dạng muôn màu của phong cách nhà văn Dạng đề nàycòn góp phần hình thành kĩ năng tổng hợp, khái quát, so sánh, lí giải nguyênnhân của sự khác nhau giữa các hiện tượng văn học- một năng lực rất cần thiếtgóp phần tránh đi khuynh hướng bình tán, khuôn sáo trong các bài văn của họcsinh hiện nay

Tuy nhiên, đây là dạng đề khó, giáo viên chỉ có thể đưa ra các tiêu chí sosánh có mức độ khó vừa phải, khả năng lí giải giống và khác nhau cũng cần thiếtphải tính toán hợp lí với năng lực của học sinh THPT

Phần văn xuôi thuộc chương trình thi đại học gồm nhiều tác phẩm trong

cả chương trình Ngữ văn 11 và Ngữ văn 12, kiến thức của từng tác phẩm lạinhiều, học sinh nhớ được kiến thức của từng tác phẩm đã là khó nên kiến thức

so sánh ở nhiều tác phẩm lại càng khó hơn Thậm chí là so sánh các tác phẩmcủa các giai đoạn khác nhau từ chương trình lớp 11 đến chương trình lớp 12.Vìvậy, trước khi đưa ra dạng đề so sánh giáo viên yêu cầu học sinh phải nhớ nộidung chính từng tác phẩm, phải chỉ ra trong các tác phẩm đó tác phẩm nào là

cùng dạng, cùng cảm hứng, cùng thời đại…Ví dụ: “Những đứa con trong gia

Trang 5

đình” của Nguyễn Thi và “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành cùng viết về

vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng Cách mạng thời đại đánh Mĩ Hoặc “Chí

Phèo”của Nam Cao và “Vợ nhặt” của Kim Lân cùng viết về tình cảnh của

người nông dân trước Cách mạng tháng Tám Đồng thời phải chỉ ra trong nhữngtác phẩm đó có những nhân vật nào có nét tính cách, phẩm chất tương đồng Ví

dụ, viết về vẻ đẹp người phụ nữ có: Mị trong “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài, người vợ nhặt trong “Vợ nhặt” của Kim Lân hay người đàn bà hàng chài trong

“Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu Hoặc nhân vật Chú Năm

trong “Những đứa con trong gia đình”(Nguyễn Thi) và cụ Mết trong “ Rừng xà

nu”(Nguyễn Trung Thành) họ là gạch nối giữa truyền thống với hiện tại…Giáo

viên phải chỉ ra trong những tác phẩm đó có những chi tiết nghệ thuật nào đặc

sắc góp phần thể hiện tư tưởng của tác phẩm, ví dụ như: chi tiết “tiếng chim hót

ngoài kia vui vẻ quá”(Chí Phèo - Nam Cao) mà Chí Phèo nghe được sau khi

thức tỉnh và chi tiết “Mị nghe tiếng sáo thiết tha bổi hổi”(Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài) trong đêm tình mùa xuân…Ngoài ra, ở dạng đề so sánh giáo viên phải

hướng dẫn học sinh thấy được được nét riêng, độc đáo trong từng tác phẩm vềnội dung, nghệ thuật, nhân vật, chi tiết…để thấy được giá trị của từng tác phẩmđóng góp vào nền văn học và phong cách nhà văn

II.THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ

Hiện nay trên thị trường có rất nhiều các tài liệu hướng dân ôn thi đại học:

Những bộ đề văn, Giới thiệu đề thi tuyển sinh đại học cao đẳng, quyển các bài văn mẫu…các em ở những lớp tôi dạy có nhiều em có những quyển sách như

vậy để tham khảo thêm nhưng trong các tài liệu đó chỉ đưa ra các đề và giải,thậm chí làm sẵn các đề đó mà không đưa ra cách làm và hướng dẫn học sinh

ôn tập Vì vậy, nếu giáo viên chỉ trang bị kiến thức mà không hướng dẫn các em

ôn tập để các em tự ôn tập dựa vào tài liệu thì sẽ dẫn đến tình trạng thụ độngtrong học tập cũng như trong thi cử

Hơn nữa, trong chương trình SGK Ngữ văn 12 có các bài học riêng về các

kiểu bài nghị luận: Nghị luận về một đoạn trích, một tác phẩm thơ; Nghị luận về

một đoạn trích, một tác phẩm văn xuôi Còn dạng đề so sánh (một kiểu bài nghị

luận) lại là một kiểu bài nghị luận khó thì chưa được cụ thể bằng một bài họcđộc lập Vì vậy, từ việc xác lập nội hàm khái niệm kiểu bài, mục đích, yêu cầuđến cách thức làm bài cho kiểu bài này thực sự rất cần thiết

Về phía giáo viên và học sinh – những nhân tố quyết định thì hầu như chỉchú trọng đến học bài mới, học nội dung chính chứ chưa chú trọng đến ôn tập.Hoặc ôn tập một cách đại khái, sơ sài hay chỉ dừng lại ở khái quát nội dung

Trang 6

chính, ở những vấn đề cụ thể trong từng tác phẩm Ví dụ: ôn tập đến “Vợ nhặt”

của Kim Lân giáo viên chỉ hướng học sinh nhớ lại hoàn cảnh ra đời, nội dungchính, nghệ thuật, phân tích các nhân vật mà không hướng dẫn cho học sinh có

thể liên hệ thấy được giữa tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân và “Chí Phèo” của

Nam Cao đều nói về tình cảnh của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám,

giữa nhân vật người vợ nhặt và người đàn bà hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa

của Nguyễn Minh Châu) đều ẩn chưa những vẻ đẹp khuất lấp hay người vợ nhặt

và Mị (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài) đều toát lên khát vọng sống, khát vọng hạnh

phúc hoặc ở nhân vật bà cụ Tứ giáo viên có thể khái quát lên những phẩm chấtcủa người phụ nữ Việt Nam: nhân hậu, giàu lòng vị tha, đức hi sinh Nếu giáoviên ôn tập có nói những vấn đề đó và đưa ra những đề văn có sự liên hệ các tácphẩm, nhân vật như vậy thì học sinh sẽ được cung cấp những kiến thức sâu hơn,rộng hơn Và các em sẽ hứng khởi hơn khi ôn tập văn học, tránh được tình trạngchủ quan, đơn giản, xem nhẹ khi nghĩ đến ôn tập văn trong quan niệm của họcsinh lâu nay

Mặt khác nhiều giáo viên khi ôn tập chỉ đưa ra các đề trong mỗi tác phẩm

và yêu cầu học sinh làm (hoặc lập dàn ý) các đề đó Tức là giáo viên chỉ chútrọng các đề và làm đề Giáo viên không khái quát thành các dạng đề và kháiquát thành các cách làm Như vậy, sẽ không phát huy được sự chủ động, sángtạo của học sinh Điều này dẫn đến tình trạng học sinh lúng túng khi gặp các đềkhác và sẽ không biết phải làm như thế nào

Ngoài ra, dạng đề so sánh là một dạng đề khó và mới nên nhiều giáo viênchủ quan, ít chú trọng đến dạng đề này Do vậy, trong quá trình ôn tập không đềcập tới hoặc có đề cập thì chỉ mang tính chất giới thiệu một cách qua loa Vìvậy, nhiều học sinh rất ngại khi phải tiếp xúc với dạng đề này Các em mơ hồvới kiểu bài, cách làm và làm bài thì rối rắm, sơ sài

Bản thân tôi là giáo viên trường THPT Triệu Sơn 6, trường tiền thân làmột trường bán công nên chất lượng đầu vào học sinh thấp Hầu hết các em chỉdừng lại ở học lực yếu, trung bình, có rất ít học sinh khá mà học sinh khá lại học

ở những lớp khối A, B.Vì vậy, dạng đề so sánh đối với học sinh của tôi là mộtdạng đề khó Cho nên, trong quá trình dạy và ôn tập nếu giáo viên không hướngdẫn mà để học sinh tự phát hiện thì các em không thể liên hệ, so sánh các tácphẩm, nhân vật, chi tiết với nhau Do đó, bên cạnh việc trang bị kiến thức thìkhâu ôn tập, tôi rất chú trọng tới dạng đề so sánh, hướng dẫn cho các em cáchlàm để các em biết cách tự làm khi gặp các đề tương tự Điều đó giúp các emchủ động, tự tin khi đứng trước dạng đề này

Trang 7

III GIẢI PHÁP VÀ CÁCH THỨC TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Tình cảnh người nông dân trước Cách mạng tháng Tám qua hai tác phẩm

“Chí Phèo” của Nam Cao và “Vợ nhặt” của Kim Lân.

Đề 4:

Nghệ thuật miêu tả tương phản của Nguyễn Tuân và Thạch Lam trong hai

tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân và “Hai đứa trẻ” của Thạch

Lam

1.2 So sánh các nhân vật có điểm tương đồng

Đề 1:

Cảm nhận của anh (chị) về những vẻ đẹp khuất lấp của nhân vật người vợ

nhặt (Vợ nhặt – Kim Lân) và nhân vật người đàn bà hàng chài (Chiếc thuyền

ngoài xa- Nguyễn Minh Châu).

(Đề tuyển sinh đại học khối C năm học 2009-2010)

Đề 2:

So sánh vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng qua hai nhân vật: Việt

(Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi) và Tnú (Rừng xà nu – Nguyễn

Trung Thành)

Đề 3:

Cảm nghĩ của anh (chị) về vai trò của truyền thống đối với hiện tại qua

hai nhân vật cụ Mết trong truyện ngắn Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành) và

Trang 8

nhân vật chú Năm trong truyện ngắn Những đứa con trong gia đình (Nguyễn

(Đề thi tuyển sinh đại học khối D năm học 2010-2011

Đề 2:

Cảm nhận của anh (chị) về chi tiết “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá!”

mà nhân vật Chí Phèo cảm nhận được sau đêm gặp thị Nở (Chí Phèo - Nam

Cao, Ngữ văn 11) và chi tiết “Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi” mà

nhân vật Mị nghe được trong đêm tình mùa xuân (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài,

Ngữ văn 12)

Đề 3:

Sau khi nhận được bát cháo hành từ tay Thị Nở, Chí Phèo bảo với thị:

- Hay là mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui (Chí Phèo – Nam Cao – Ngữ

văn 11)

Trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân (Ngữ văn 12), sau khi

đãi người đàn bà bốn bát bánh đúc, Tràng cười và nói với thị:

- Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về.

Cảm nhận của anh (chị) về ý nghĩa những câu nói trên

2 Hướng dẫn học sinh cách làm các dạng đề

2.1 Ở dạng đề thứ nhất và dạng đề thứ hai có thể nhóm lại một cách làm như sau:

a) Mở bài

- Dẫn dắt vấn đề (mở bài trực tiếp không cần)

- Giới thiệu khái quát về các đối tượng so sánh

b) Thân bài

- Khái quát điểm chung của hai tác phẩm, hai nhân vật (Ví dụ: cùng nói

về vẻ đẹp khuất lấp thì phải nói rõ vẻ đẹp khuất lấp là gì, cùng nói về chủ nghĩaanh hùng cách mạng thì phải làm rõ chủ nghĩa anh hùng cách mạng là gì hoặcnghệ thuật miêu tả tương phản thì phải nói rõ nghệ thuật miêu tả tương phản làgì)

Trang 9

- Làm rõ đối tượng thứ nhất (kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủyếu là phân tích) để làm rõ biểu hiện các mặt của đối tượng.

- Làm rõ đối tượng thứ hai (kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu

là phân tích) để làm rõ biểu hiện các mặt của đối tượng

- So sánh: nét tương đồng và khác biệt giữa hai đối tượng trên cả hai bìnhdiện nội dung và hình thức nghệ thuật (bước này vận dụng kết hợp nhiều thaotác lập luận nhưng chủ yếu là phân tích và so sánh)

- Lí giải sự khác biệt (do bối cảnh xã hội, văn hóa mà từng đối tượng tồntại, phong cách nhà văn )

c) Kết bài:

- Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu

- Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân

2.2 Dạng đề thứ ba có thể làm như sau:

a) Mở bài

- Khái quát về tác giả, tác phẩm

- Giới thiệu và trích dẫn chi tiết, câu nói

b) Thân bài

- Làm rõ đối tượng thứ nhất về hai đặc điểm: nội dung và nghệ thuật

+ Sự xuất hiện chi tiết, câu nói+ Chi tiết, câu nói có ý nghĩa gì+ Giá trị nghệ thuật của chi tiết, câu nói

- Làm rõ đối tượng thứ hai về hai đặc điểm: nội dung và nghệ thuật

+ Sự xuất hiện chi tiết, câu nói+ Chi tiết, câu nói có ý nghĩa gì+ Giá trị nghệ thuật của chi tiết, câu nói

- So sánh điểm tương đồng và khác biệt

ý, sau đó giáo viên khái quát thành các ý chính

3.1 Ở dạng đề thứ nhất và thứ hai tôi hướng dẫn cụ thể đề sau:

Trang 10

- Giới thiệu về hai tác phẩm “Những đứa con trong gia đình” và “Rừng

xà nu” và chủ nghĩa anh hùng cách mạng qua hai tác phẩm.

b) Thân bài

* Những nét cơ bản của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam:

- Dũng cảm, kiên cường, bất khuất trong cuộc đấu tranh gìn giữ đất nước

- Sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc, nhân dân

- Giàu tình cảm với gia đình, với quê hương, với Tổ quốc

- Anh hùng, vĩ đại mà giản dị, khiêm nhường

* Phân tích

1 “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành:

- Hình ảnh những cánh rừng xà nu bất diệt, vừa mang nghĩa tả thực vừatượng trưng cho con người Tây Nguyên:

+ Những cánh rừng xà nu bạt ngàn bị đạn đại bác của giặc tàn phá,

xà nu mang nhiều thương tích trên mình nhưng nó là loại cây có sức sống mãnhliệt, sinh sôi nảy nở

+ Cây xà nu tượng trưng cho số phận, phẩm chất của người dânTây Nguyên: tượng trưng cho những mất mát, đau thương, cho tấm lòng thathiết yêu cách mạng, sự bất khuất, kiên cường của người dân Tây Nguyên

- Hình ảnh tập thể anh hùng làng Xô Man: Cụ Mết, Tnú, Dít, Heng…lànhững con người anh dũng, sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp giải phóng dân tộc,giàu tình nghĩa với quê hương

- Nhân vật Tnú- nhân vật chính, là biểu tượng, niềm tự hào của người dânTây Nguyên đánh Mĩ thể hiện những phẩm chất tiêu biểu của chủ nghĩa anhhùng cách mạng: kìm nén đau thương, đi lực lượng để được cầm súng giết giặc

và chính Tnú đã dùng đôi bàn tay tàn tật của mình để bóp chết thằng chỉ huy đồngiặc ở Xô Man

2.“Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi

- Một gia đình nông dân Nam bộ giàu truyền thống yêu nước, yêu Cáchmạng từ ba, má, chú Năm đến chị em Chiến, Việt

Trang 11

- Nhân vật chính: Việt, Chiến thể hiện những phẩm chất của chủ nghĩaanh hùng Cách mạng: anh dũng, kiên cường, sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc, cămthù giặc sâu sắc, giàu tình cảm với quê hương và Cách mạng.

- Có sự kế thừa và phát huy giữa khúc sông trước: ba, má, chú Năm vàkhúc sông sau: Việt, Chiến Khúc sông sau Việt, Chiến chảy xa hơn, mạnh hơnkhúc sông trước

3 Sự tương đồng và khác biệt:

- Tương đồng: Đều trát lên những phẩm chất của chủ nghĩa anh hùng thời

đại chống Mĩ cứu nước: anh dũng, kiên cường, sẵn sàng xả thân vì đất nước,giàu tình cảm với gia đình, quê hương và Cách mạng Chủ nghĩa anh hùng cáchmạng biểu hiện qua nhiều thế hệ, mang tính truyền thống dân tộc, cả hai tácphẩm thế hệ đi sau đều đang kế thừa xuất sắc truyền thống yêu nước, cách mạngcủa thế hệ đi trước

- Khác biệt:

+ Số phận một con người gắn với buôn làng trong chặng đường đau

thương mà anh dũng của làng Xô Man anh hùng trong “Rừng xà nu” của

Nguyễn Trung Thành

+ Câu chuyện về một gia đình Nam bộ giàu truyền thống cách mạng, thế

hệ những đứa con đang tiếp nối truyền thống của gia đình một cách xứng đángqua nhân vật Việt - Chiến Sự gắn bó giữa gia đình với đất nước, dân tộc vànhân loại

c) Kết bài:

- Khái quát chung về vẻ đẹp chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam quahai tác phẩm

- Suy nghĩ của bản thân

3.2 Ở dạng đề thứ ba tôi hướng dẫn đề sau:

Đề bài:

Cảm nhận của anh/chị về chi tiết “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá!”

mà nhân vật Chí Phèo cảm nhận được sau đêm gặp thị Nở (Chí Phèo - Nam

Cao, Ngữ văn 11) và chi tiết “Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi” mà

nhân vật Mị nghe được trong đêm tình mùa xuân (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài,

Ngữ văn 12)

Hướng dẫn:

a) Mở bài: Giới thiệu về tác giả, tác phẩm và chi tiết

- Nam Cao, cây bút hiện thực xuất sắc và thấm đẫm tinh thần nhân đạo

“Chí Phèo” (1941) là kiệt tác đã kết tinh cao nhất cho đặc điểm nghệ thuật của

Ngày đăng: 19/07/2014, 09:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w