Theo các nhà khoa học, nguyên nhân chính dẫn tới sự biến mất hàng loạt của các loài động vật là do các hoạt động của con người, như chặt phá rừng, săn bắn, lấn chiếm đất đai làm thu hẹ
Trang 1Nhóm 1
Trang 210 LOÀI ĐỘNG
VẬT BÊN BỜ VỰC TUYỆT CHỦNG
Trang 3• Hiện nay, trên thế giới, mỗi năm có khoảng
50.000-100.000 loài động vật biến mất, tương đương với tốc
độ thảm họa đã từng xảy ra cách đây 65 triệu năm,
làm tuyệt diệt loài khủng long Con số này lớn gấp đôi
so với dự đoán được đưa ra năm 1997 trong Hội nghị Quốc tế về các loài động vật tuyệt chủng Theo các
nhà khoa học, nguyên nhân chính dẫn tới sự biến mất hàng loạt của các loài động vật là do các hoạt động
của con người, như chặt phá rừng, săn bắn, lấn chiếm đất đai làm thu hẹp không gian sống của chúng Tất
cả những tác động đó gộp lại đã đẩy nhiều loài động vật hoang dã đến bờ vực của sự tuyệt chủng Dưới
đây chỉ là 10 “đại diện tiêu biểu" trong số đó.
Trang 4• Tê giác Java còn được gọi là tê giác một
sừng (Rhinoceros sondaicus) là một trong
năm loài động vật guốc lẻ còn sống sót
của họ tê giác
Giới (regnum): Animalia
Trang 6Tê giác Java
• Chiều dài cơ thể của tê giác Java (bao gồm cả đầu) có thể lên đến 3,1–3,2 m (10–10,5 ft) và chiều cao là 1,4– 1,7 m (4,6–5,8 ft) Khi trưởng thành, chúng có cân nặng khác nhau, dao động từ 900 đến 2.300 kg, và do đang ở tình trạng cực kỳ nguy cấp nên vẫn chưa có một nghiên cứu chính xác nào về kích cỡ khối lượng của loài nay, bởi việc đó không phải là ưu tiên hàng đầu] Không có
sự khác biệt kích cỡ đáng kể nào giữa hai giới, nhưng con cái có thể to hơn con đực một ít Những con tê giác Việt Nam thì nhỏ hơn đáng kể so với đồng loại ở Java, dựa trên những bằng chứng hình ảnh hay kích cỡ dấu
Trang 7Tê giác Java
• Chúng cũng là loài phổ biến nhất trong các loài tê giác châu Á Tê giác Java từng phân bố ở các đảo của
Indonesia, trải rộng toàn bộ Đông Nam Á, tới cả Ấn Độ
và Trung Quốc
• Hiện nay chúng đang ở trong tình trạng cực kỳ nguy
cấp, với chỉ hai quần thể được ghi nhận trong môi
trường tự nhiên và không có con nào trong các vườn
thú Một quần thể có ít nhất 40 con sống tại Vườn quốc gia Ujung Kulon trên đảo Java của Indonesia Quần thể còn lại, theo ước lượng năm 2007, chỉ còn khoảng 8
con, sống tại Vườn quốc gia Cát Tiên của Việt Nam
Chúng có thể là loài thú lớn hiếm nhất trên thế giới Sinh cảnh sống thu hẹp và bị săn bắn ráo riết để lấy sừng là những nguyên nhân hàng đầu dẫn tới sự diệt vong của loài tê giác này
Trang 10Cá heo Vaquita
• Cá heo Vaquita (Phocoena sinus) - loài
cá heo nhỏ nhất và có nguy cơ tuyệt
chủng cao nhất
Trang 13Khỉ đột Cross River
• Khỉ đột (Gorilla) thuộc Họ người ,động vật
ăn cỏ sống trong rừng rậm Châu Phi là
giống lớn nhất trong bộ linh trưởng còn
tồn tại Gorilla được chia thành hai loài (có thể có 4 đến 5 phân loài nữa) DNA của
gorilla giống của con người 98% -99%
Chúng có họ hàng rất gần gũi với con
người chỉ sau 2 loài tinh tinh
Trang 14Khỉ đột Cross River
• Số lượng còn lại ít hơn 300 cá thể Loài
này tưởng chừng đã bị tuyệt chủng những năm 1980, nhưng chúng đã trụ lại được, ít nhất là đến thời điểm này Song với tình trạng săn bắn làm mồi nhậu ở quán ven
rừng và mất môi trường sinh sống hiện
nay, khả năng sống sót của chúng vẫn
còn rất bấp bênh
Trang 16Hổ Sumatra
• Hổ Sumatra - Panthera tigris sumatrae
Sống ở Sumatra, Indonesia
Trang 19Voọc Cát Bà
• Voọc Cát Bà (còn gọi là voọc đầu vàng, voọc
thân đen đầu vàng Cát Bà) Phân loại khoa học
Nhóm loài (species group):T francoisi
Loài (species):T p poliocephalus
Trang 20Voọc Cát Bà
• Số lượng còn lại ít hơn 70 cá thể Loài linh trưởng này từng suýt bị xóa sổ nhưng đã được may mắn
đặt dưới sự bảo vệ từ năm 2000 Năm 2003, số
lượng cá thể voọc Cát Bà lần đầu tiên gia tăng trong suốt vài thập niên gần đây Tuy nhiên, công tác bảo tồn loài voọc quý hiếm này vô cùng khó khăn vì khi những dải rừng ngập mặn mất đi, các quần thể voọc
bị cô lập trên các đảo, hầu như không có khả năng gặp gỡ và giao phối Một số đàn đang suy giảm vì chỉ còn lại toàn con cái Trong danh sách các loài
linh trưởng bị đe dọa của thế giới, voọc đầu vàng
Trang 21Chồn sương chân đen
• Chồn sương chân đen - Mustela nigripes
Trang 22Chồn sương chân đen
• sống ở khu vực đồng bằng lớn Bắc Mỹ Năm 1986, chúng chỉ còn 18 cá thể tồn tại, nhưng nay đang phục hồi, số lượng lên khoảng một ngàn cá thể Đây là loài chồn sương duy nhất của lục địa này
Trang 23Loài voi lùn Borneo
• Loài voi lùn Borneo (Elephas maximus
borneensis)
Trang 24Loài voi lùn Borneo
• Theo các chuyên gia hiện nay chỉ còn khoảng 1.000 voi lùn sống trong tự nhiên Mãi đến năm 2003, khi phân tích DNA, các nhà khoa học mới phát hiện ra rằng loài voi lùn sống trên đảo Borneo là một chi phụ của loài voi châu Á và bắt đầu bảo tồn chúng như một loài riêng Voi lùn trưởng thành chỉ cao 2,4 mét (lùn hơn loài voi châu Á khoảng từ 30-60 cm), mập hơn, mặt trông có vẻ con nít hơn và đuôi dài hơn - gần chạm đất.
• Các nhà khoa học cho biết địa bàn cư trú chủ yếu của loài voi lùn là
ở những trảng rộng, thấp hoặc thung lũng những con sông, những nơi mà người dân tại Malaysia và Indonesia đang tích cực khai thác
gỗ hay lập trang trại trồng cọ.
• sống ở phía Bắc đảo Borneo Số lượng còn lại khoảng 1,5 ngàn cá thể So với voi châu Á, chúng thấp hơn khoảng nửa mét và cũng thuần tính hơn.
Trang 25Gấu trúc
• Gấu trúc - Ailuropoda Melanoleuca -
Trang 26Gấu trúc
• Số lượng còn chưa đầy 2.000 con Gấu trúc có khẩu phần ăn đến 99% là lá tre Ngoài ra, gấu trúc có thể ăn những loại thức ăn khác như
trứng, mật ong, cá, mứt, cam và chuối Gấu trúc
là tài sản quốc gia và biểu tượng quốc gia của Trung Quốc Hình ảnh gấu trúc xuất hiện trên các đồng tiền xu và rất nhiều đồ lưu niệm của nước này Ở Trung Quốc, loài gấu trúc này chủ yếu sống trong thiên nhiên, nhất là tại các vùng
Trang 27Gấu trúc
• sống ở Trung Quốc, Miến Điện và Việt
Nam Số lượng còn lại ít hơn 2 ngàn cá
thể Sự thu hẹp và phân mảnh của khu
vực sinh sống là nguyên nhân khiến gấu trúc rơi vào tình trạng nguy hiểm Việc cho loài này sinh sản trong môi trường nuôi
nhốt và bảo vệ chúng ngoài thiên nhiên
chỉ giúp gấu trúc trụ lại phần nào
Trang 29Gấu Bắc Cực
• Chúng có mặt ở ngoài khơi bờ biển phía bắc và tây bắc Alaska, Canada, Greenland, Svalbard
(Na Uy) và Liên bang Nga.Quần thể gấu Bắc
Cực ước tính khoảng 16.000 đến 35.000, với
thứ ba, giống như của mèo, giúp cho chúng
không bị chói băng và chói tuyết
Trang 30Gấu Bắc Cực
• Số lượng còn lại ít hơn 25 ngàn cá thể
Các hoạt động phát triển và săn bắn trộm của loài người từ lâu đã đe dọa cuộc sống của loài gấu Bắc Cực, nhưng thay đổi khí hậu và sự mất dần các tảng băng trên
biển hiện nay đã đẩy loài này vào danh
sách nguy hiểm
Trang 31Gấu Bắc Cực
• Thức ăn chính của gấu Bắc Cực là hải cẩu;
không có loài động vật này, gấu Bắc Cực khó có thể tồn tại Về mùa xuân, chúng săn hải cẩu
vòng mới đẻ; về mùa hè, chúng săn hải cẩu râu, hải cẩu đầu chỏm Gấu Bắc Cực là loài rất kén
ăn Khi ăn, chúng lột da hải cẩu và thường chỉ
ăn lớp mỡ dưới da và bộ lòng Chỉ khi nào quá đói chúng mới ăn toàn bộ xác con mồi Các loại mồi khác bao gồm cá heo trắng, voi biển và
động vật gặm nhấm
Trang 33Cá nheo khổng lồ sông Mê Kông
• Cá nheo khổng lồ sông Mê Kông
(Pangasianodon gigas)
Trang 34Cá nheo khổng lồ sông Mê Kông
• sống ở Đông Nam Á Cá thể lớn nhất từng
bị bắt nặng tới 293kg Mặc dù đã được
luật pháp bảo vệ ở Thái Lan, Lào và
Campuchia, nhưng việc săn bắt loài cá
này vẫn tiếp diễn Số lượng cá trong tự
nhiên chỉ còn khoảng vài trăm con
Trang 35Nguyên nhân
• Rừng bi khai thác can kiệt
• Phạm vi sống hẹp
• Môi trường bị ô nhiểm
• Môi trường sống bị thu hẹp
• Tình trạng săn bắt trái phép
• Thiên tai
Trang 36Kiến nghi
• Cần phải bảo vệ triệt để điều kiện và môi trường sống của những cá thể còn sống sót
• Nâng cao ý thức bảo vệ của cộng đồng đối với quá trình bảo tồn
• Quy định chặt chẻ hơn trong quản lý xuất nhập khẩu các sản phẩm từ động thực vật
Trang 37Tài liệu tham khảo
• Bài giảng động vật rừng-TS Vũ Thị Nga