Tuy nhiên trong thực tế, ý thức học tập của học sinh đốivới các tiết học làm văn chưa thật cao, nếu để trả lời cho câu hỏi vì sao lại cóhiện tượng đó thì có rất nhiều lý do khác nhau: ng
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT TRIỆU SƠN I
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP THỰC HÀNH ĐỂ RÚT RA
LÝ THUYẾT TRONG TIẾT LÀM VĂN 10
TIẾT – ĐỀ VĂN NGHỊ LUẬN
Người thực hiện : Nguyễn Thị Thủy Chức vụ : Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ văn
THANH HÓA NĂM 2013
Trang 2MỤC LỤC
Trang
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2
1 Cơ sở lí luận 2 2 Thực trạng 3
3 Giải pháp áp dụng thực hành rút ra lý thuyết trong tiết Đề văn nghị luận 4
3.1.Nhận thức về nhan đề tiết học 5
3.2.Phần I – Yêu cầu chung của đề văn nghị luận 6
3.3.Phần II- Tìm hiểu đề văn nghị luận 9
3.4.Phần III- Luyện tập 13
3.5.Kiểm nghiệm 15
4.Kết quả đạt được 15
III KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 17
1 Kết luận 17
2 Đề xuất 17
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 3I ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bộ môn ngữ văn, phân môn làm văn nói chung có vai trò rất quantrọng - Dù trong tiết đọc hiểu các em có học tốt, cảm thụ một tác phẩm thật sâusắc thì kết quả cuối cùng của các em cũng thể hiện trên bài làm văn Và muốnbài làm văn có kết quả cao tất yếu các em phải năm vững kiến thức lí thuyếttrong các tiết làm văn Tuy nhiên trong thực tế, ý thức học tập của học sinh đốivới các tiết học làm văn chưa thật cao, nếu để trả lời cho câu hỏi vì sao lại cóhiện tượng đó thì có rất nhiều lý do khác nhau: nguyên nhân khách quan có, chủquan có… Thứ nhất, vì đặc thù các tiết học này bao giờ cũng khô khan hơn sovới tiết đọc hiểu văn bản; thứ hai, hầu hết kiến thức của tiết học đều đã thể hiện
cụ thể, chi tiết trong sách giáo khoa, vì vậy không chỉ học sinh mà đôi khi ngay
cả giáo viên dễ rơi vào tâm lí nhàm chán, chủ quan, tiếp cận tiết học một cáchqua loa dẫn đến kết quả là các em sẽ không thật sự hiểu, nắm vững về kiến thứcphân môn, và như vậy, khi làm bài thực hành các em sẽ không chủ động với mộtcông thức có sẵn mà rất mày mò… Nhưng điều mà tôi quan tâm ở đây là khôngphải đi sâu vào phân tích, tìm hiểu cặn kẽ các nguyên nhân của nó như một nhà
xã hội học mà chỉ nhìn nhận nó ở trên góc độ là một giáo viên giảng dạy bộ mônNgữ Văn Trung học Phổ thông với những suy tư, trăn trở, lo lắng và tâm huyếtvới bộ môn để khắc phục phần nào tình trạng trên
Mặt khác, trong phân môn làm văn thì tiết Đề văn nghị luận thuộc chương
trình ngữ văn 10 giữ vị trí đặc biệt, nó giúp học sinh nắm được những kiến thức
cơ bản nhất về đề văn nghị luận, một dạng đề sẽ theo các em cho đến tận kỳ thiđại học Đặc biệt, từ đề văn nghị luận đến bài văn là cả một quá trình, khi các
em không nắm vững vàng kiến thức về đề văn nghị luận thì kết quả bài làm củacác em không cao Thực tế có rất nhiều em, trong đó có cả những em học sinhgiỏi nhưng khi làm bài kết quả bài làm không cao do nhận thức đề văn chưađúng
Trang 4Từ những lí do trên, tôi đã suy nghĩ và cố gắng tìm ra cho mình một
phương pháp tối ưu nhất để dạy các tiết học làm văn nói chung và tiết Đề văn
nghị luận nói riêng thực sự hiệu quả, học sinh vẫn hứng thú và làm việc tích cực
trong mỗi tiết học giống như khi các em được tiếp cận một tiết khám phá tácphẩm văn học, tránh tình trạng mỗi khi đến tiết làm văn các em lại mặc địnhngay một suy nghĩ là đọc sách giáo khoa Qua rất nhiều các tiết dạy ở những
năm học khác nhau tôi đã lựa chọn cho mình phương pháp “Áp dụng thực hành
để rút ra lý thuyết”- học sinh tự rút ra, chiếm lĩnh kiến thức chứ không tiếp
nhận kiến thức một cách máy móc, hay tái hiện lại theo sách giáo khoa, giúp các
em thật sự hào hứng và sôi nổi trong mỗi tiết học Và, điều quan trọng hơn cả là
nó sẽ giúp cho mỗi tiết học làm văn thực sự có hiệu quả, có chất lượng cao
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Cơ sở lí luận:
Lý luận dạy học đã chỉ ra rằng: trong quá trình học tập,người học sinh không ngừng lĩnh hội những kiến thức do giáoviên cung cấp, mà quan trọng hơn các em còn phải tự tìm ra trithức mới, kỹ năng mới từ những nguồn tài liệu khác nhau Tuynhiên, sự tìm kiếm cái mới của học sinh không giống như hoạtđộng hoàn toàn độc lập, sáng tạo của các nhà khoa học khi thựchiện một đề tài nghiên cứu khoa học Vì hoạt động của học sinhđược thực hiện với vai trò cố vấn, tổ chức, điều khiển thườngxuyên của người giáo viên Do vậy, trong nhiều năm trở lại đây việc cốgắng tìm ra một số giải pháp hữu hiệu để nhằm nâng cao chất lượng giáo dụcnói chung và tạo sự hứng thú cho các em học sinh nói riêng là một vấn đề đặt racho mỗi giáo viên cũng như toàn ngành giáo dục Đến nay có rất nhiều giảipháp hữu hiệu mà tôi cho rằng nó mang lại hiệu quả cao như việc cải cách sáchgiáo khoa đến việc thay đổi phương pháp giáo dục theo hướng tích cực, chủđộng của học sinh nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong xu thế mới hiệnnay
Trang 5Đối với môn ngữ văn nói chung và phân môn làm văn nóiriêng, để dạy và học có hiệu quả theo chương trình sách giáokhoa mới cũng cần phải đổi mới phương pháp dạy học Địnhhướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trongNghị quyết Trung Ương khóa VII và được cụ thể hóa ở luật giáodục “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tíchcực, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với từng đặcđiểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tựhọc, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tácđộng đến tư tưởng tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú chohọc tập cho học sinh”
Trong xu thế chung đó phương pháp áp dụng thực
hành để rút ra kiến thức cho tiết học làm văn Đề văn nghị luận mà tôi đã lựa chọn cũng là một hình thức phát huy tính
tích cực, chủ động cho học sinh Đồng thời với phương pháp nàytôi sẽ giúp học sinh có thể loại bỏ hoàn toàn thói quen học mộtcách tái hiện, qua loa đối với phân môn Các em sẽ được thựchành rất nhiều trong những tiết học này, đó cũng là yêu cầuquan trọng của tiết học vì trên thực tế tiết học làm văn chính làmột hình thức rèn luyện kĩ năng thực hành cho học sinh
Như vậy, phương pháp áp dụng thực hành tìm ra lí thuyết
trong tiết học làm văn Đề văn nghị luận một mặt vừa chú trọng
phát huy tính tích cực cao, tính chủ thể của người học; mặt kháclại chú trọng đến kĩ năng thực hành của học sinh Để sử dụng cóhiệu quả phương pháp này, giáo viên cần phải chú trọng xâydựng hệ thống bài tập có thể có trong sách giáo khoa, và có thể
tự lấy từ bên các tài liệu khác có liên quan đến bài học
2 Thực trạng trước khi thực hiện giải pháp của đề tài.
Trang 6a Thuận lợi.
*Về phía giáo viên:
- Hiện nay phương pháp dạy học phát huy vai trò chủ động, tích cực của
học sinh là một phương pháp dạy học mới phù hợp với xu hướng của thời đại,được sự ủng hộ cao của xã hội, sự nhiệt tình ủng hộ của phụ huynh và học sinh
Và áp dụng thực hành để rút ra lý thuyết là một hình thức giúp học sinh thông
qua làm bài tập tự rút ra những kết luận then chốt là một hình thức đề cao vai tròcủa người học, gây hứng thú cho người học cho nên tôi nhận được sự ủng hộ,hưởng ứng nhiệt tình của học sinh
- Cơ sở vật chất của nhà trường đã được đầu tư đầy đủ hơn, với trang bịmáy chiếu đa năng và trình độ công nghệ thông tin của bản thân tôi có thể thuậntiện áp dụng phương pháp dạy học này vì không sợ mất thời gian với công đoạnchép hệ thống bài tập lên bảng
*Về phía học sinh:
- Khi áp dụng phương pháp từ thực hành rút ra lí thuyết học sinh có cơ hội
để thể hiện sự hiểu biết của mình, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi Do vậy các em
sẽ hào hứng, nhiệt tình hơn trong khi học, khắc phục được lối truyền thụ tri thứcthụ động, một chiều trước kia
Đa phần học sinh của trường THPT Triệu Sơn1 đều theo khối A, các emkhá thông minh năng động và đặc thù khối học tạo cho các em thói quen phảiđược làm việc trong mỗi tiết học, vì vậy làm bài tập để tự rút ra lý thuyết khiếncác em tham gia giờ học sôi nổi hơn rất nhiều, không còn mang suy nghĩ họcvăn là chỉ ngồi nghe và chép không cần tư duy, không cần làm việc
b.Khó khăn
*Về phía giáo viên:
- Đây là phương pháp dạy học đòi hỏi giáo viên phải tạo được hệ thốngbài tập thật sự phù hợp và có sức thuyết phục, bài tập phải vừa quen thuộc lạivừa mới với học sinh để các em thấy dễ có thể tìm hiểu, lại thấy khó cần phải
Trang 7chinh phục Điều đáng nói là hệ thống bài tập này không có sẵn đòi hỏi ngườigiáo viên phải tư duy, tìm tòi mất nhiều thời gian.
* Về phía học sinh:
- Kiến thức tiết làm văn thường khô khan, khác hẳn với những tiết đọchiểu văn bản, nhiều học sinh chưa học đã có tâm lí chán, ngại học Hơn nữa nhìn
vào nhan đề tiết học là Đề văn nghị luận học sinh dễ phát sinh tâm lí đó là một
bài học không có gì mới vì đề văn nghị luận các em đã làm rất nhiều
- Hầu hết học sinh trong trường đều theo khối A vì vậy niềm đam mê tìmhiểu của các em trước các bài tập là rất ít
3 Giải pháp áp dụng thực hành để rút ra lí thuyết trong tiết làm văn Đề văn
nghị luận
Để giúp học sinh có sự hứng thú và tích cực chủ động trong các tiết học
làm văn nói chung và tiết Đề văn nghị luận nói riêng trong quá trình giảng dạy
tại trường, tôi đã không ngừng tìm tòi, nghiên cứu và qua quá trình thực tế
giảng dạy tôi đã rút ra giải pháp “Áp dụng thực hành để rút ra lí thuyết trong
tiết Đề văn nghị luận” : Tạo một hệ thống bài tập; hướng dẫn học sinh thực
hành; và cuối cùng là đưa ra những câu hỏi mang tỉnh tổng kết Giải pháp đượctôi thực hiện cụ thể trong tiết học như sau:
3.1 Nhận thức về nhan đề của tiết học :
- Trước bất kỳ một tiết học nào tôi cũng có thói quen giúp học sinh tìm hiểu
về nhan đề của nó, một mặt các em sẽ có ngay định hướng về nội dung toàn tiếthọc, mặt khác nó cũng sẽ giúp các em có ngay ý thức về vị trí, vai trò của tiết
học Để thực hiện nội dung này tôi đã lồng ghép với phần kiểm tra bài cũ, và tôi
đã thực hiện nó bằng một câu hỏi mang tính tái hiện như :
- Em hãy giải thích về nhan đề của bài học hôm nay?
Hỏi như vậy học sinh sẽ trả lời ngay: Nhan đề này là Đề văn nghị luận, tiết học này sẽ học về Đề văn nghị luận Như vậy nghĩa là các em không phải suy
nghĩ gì chỉ nhìn vào sách giáo khoa là có thể trả lời, và trong nhận thức của các
Trang 8em sẽ không có gì để khắc sâu Tôi đã khắc phục điều này bằng cách tạo ra mộtbài tập cho học sinh làm, bài tập đó như sau:
- Bài tập : Em hãy xác định các đề văn nghị luận trong các đề văn sau đây :+ Đề 1: Phát biểu cảm nghĩ của em về nhân vật cô Tấm trong truyện cổ tích
Tấm Cám
+ Đề 2: Từ truyện Tấm Cám hãy viết 3 đoạn văn miêu tả cô Tấm trong ba
hoàn cảnh : Lúc bị dì ghẻ bắt nhặt thóc; Khi cưỡi ngựa đi xem hội và lúc là côgái từ quả thị bước ra giúp bà cụ bán hàng nước dọn dẹp nhà cửa
+ Đề 3: Giới thiệu tác phẩm Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của
Nguyễn Dữ
+ Đề 4: Kể lại chuyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thuỷ, tưởng
tượng một đoạn kết khác với cách kết thúc của tác giả dân gian
+ Đề 5: Từ một số bài ca dao than thân đã học, hãy phát biểu cảm nghĩ của
em về về số phận người phụ nữ trong xã hội cũ
+ Đề 6 : Vai trò của sách đối với đời sống nhân loại
+ Đề 7: Tiếng khóc của Nguyễn Du trong bài thơ Độc Tiểu Thanh Ký
Rõ ràng khi đứng trước bài tập này các em không thể không tư duy, suynghĩ, thậm chí còn phải có sự liên hệ đối chiếu để phân biệt xác định đâu là đềvăn nghị luận chứ không thể chỉ nhìn vào sách giáo khoa để trả lời Và trên thực
tế, trong quá trình giảng dạy, nhiều học sinh khi đứng trước bài tập này đãkhông có câu trả lời đúng, các em không xác định được chỉ có 2 đề 6, 7 là đềnghị luận, thường nhầm cả đề 3 và đề 5, dù đề 3 là đề văn thuyết minh và đề 5
là đề phát biểu cảm nghĩ Khi các em trả lời sai cũng là lúc các em có ngay nhậnthức - xác định đúng đề văn nghị luận không phải là một vấn đề đơn giản cho dùcác em đã được tiếp xúc với dạng đề này từ những năm học cấp 2 Vậy làm thếnào để xác định chính xác đề văn nghị luận? Muốn xác định được phải căn cứvào đâu? Nếu không xác định chính xác bài làm của các em sẽ hoàn toàn lạc đề.Với câu hỏi đó, tất yếu các em sẽ muốn khám phá và háo hức với tiết học hơn –Nghĩa là ngay từ những giây phút đầu tiên tôi đã tạo cho các em thấy có vấn đềcần phải tìm hiểu, và vấn đề đó không hề đơn giản, tất cả các em đều phải tập
Trang 9trung vào guồng làm việc tích cực … Và đây chính là kết quả mà tôi muốn đạtđược, tôi không muốn giờ học của mình rơi vào tẻ nhạt, nhiều học sinh buồnngủ vì cảm giác đơn điệu, dễ dãi vì không cần động não hay tư duy
Có thể nói với phần bài tập trên đây, chỉ cần một khoảng thời gian là 5,hoặc 7 phút tôi đã có được sự kiểm tra đánh giá đối với học sinh phần kiến thứcbài cũ và kiến thức đó không chỉ nằm trong phạm vi bài học trước mà tích hợpvới cả những bài trước đó nữa Hơn thế tôi còn giới thiệu được bài mới, giớithiệu về nhan đề của tiết học một cách có hiệu quả
3.2 Phần I- Yêu cầu chung của đề văn nghị luận:
- Tiết học Đề văn nghị luận gồm có 3 phần : Phần I là Yêu cầu chung của
đề văn nghị luận, khi đọc sách giáo khoa học sinh sẽ có ngay câu trả lời như thếnào là một đề văn nghị luận, và những yêu cầu của đề văn nghị luận Như tôi đãtrình bày trong phần đặt vấn đề thì hầu hết kiến thức của tiết học được sách giáokhoa trình bày rất rõ ràng và cụ thể trong sách, học sinh chỉ cần đọc có thể nhậnbiết ngay, cho nên nếu không lựa chọn một phương pháp tối ưu nhất thì phần
kiến thức đó sẽ đến với các em như kiểu học vẹt, không khắc sâu Vì thế ở phần
I này tôi đã xây dựng ngay một hệ thống bài tập, nó sẽ được thể hiện trên máychiếu đa năng trong mỗi tiết học để học sinh làm và tự mình rút ra kiến thức củabài học
- Trước khi cho học sinh làm các bài tập để rút ra yêu cầu của đề văn nghịluận tôi sẽ cho học sinh trả lời câu hỏi ôn lại kiến thức cũ nhưng có liên quanđến bài học mới :
+ Câu hói đó là cho các em nhắc lại : Khái niệm văn nghị luận – Khái niệmnày học sinh hầu như nắm rất kĩ vì trong quá trình giảng dạy giáo viên thườngnhắc đi nhắc lại nhiều lần cho nên các em sẽ nhanh chóng có câu trả lời : Vănnghị luận là dạng văn trình bày tư tưởng, quan điểm của người viết về một vấn
đề nào đó thuộc lĩnh vực đời sống hoặc lĩnh vực văn học, nhằm thuyết phụcngười đọc hoặc người nghe đồng tình với quan điểm của mình Từ câu trả lờinày của học sinh giáo viên có thể định hướng luôn, muốn thuyết phục người
Trang 10đọc, người nghe đồng tình với qua điểm của mình buộc người viết phải thựchiện được một số yêu cầu nhất định, các yêu cầu đó sẽ được thể hiện cụ thể trênmỗi đề bài, vậy đó sẽ là những yêu cầu gì? Để trả lời được câu hỏi này tôi sẽ chohọc sinh làm bài tập sau :
Bài tập : Đọc các đề văn nghị luận sau và trả lời các câu hỏi :
+ Đề 1 : Phân tích vai trò của sách đối với đời sống con người
+ Đề 2 : Phân tích vẻ đẹp của bài thơ Tỏ lòng ( Phạm Ngũ Lão).
+ Đề 3: Quan niệm của em về một bài thơ hay
+ Đề 4 : Bình luận về tiếng khóc của tác giả Nguyễn Du trong bài thơ Độc
Tiểu Thanh Ký
Câu hỏi 1 : Em hãy xác định vấn đề cần nghị luận trong mỗi đề văn?
Câu hỏi 2: Vấn đề nghị luận của đề 1 có gì khác so với so với các vấn đềnghị luận trong đề 2,3, 4?
Câu hỏi 3 : Đọc các đề bài trên các em có xác định được những thao tácchính cho bài làm của mình không?
Câu hỏi 4: Theo các em có thể xác định được pham vi tư liệu cho bài viếtkhi các em đọc các đề bài trên không?
- Sau khi cho học sinh đọc và nhận thức yêu cầu của bài tập, tôi sẽ để các
em thảo luận nhanh với nhau theo bàn và cử đại diện trình bày, các bàn sẽ nhậnxét cho nhau để rút ra kết quả sau:
+ Vấn đề nghị luận của các đề là : đề 1- Vai trò, tác dụng của sách; đề 2- vẻ
đẹp của bài thơ Tỏ lòng, giá trị về nội dung, nghệ thuật; đề 3- quan niệm về bài
thơ hay, giá trị đích thực của một bài thơ; đề 4 – giá trị nhân đạo, tình thương
yêu con người của tác giả Nguyễn Du thể hiện trong bài thơ Độc Tiểu Thanh
Ký.
+ Vấn đề nghị luận trong đề 1 khác với vấn đề nghị luận trong các đề 2,3,4
là : Đề 1 vấn đề nghị luận thuộc lĩnh vực xã hội, các vấn đề của đề 2,3,4 thuộclĩnh vực văn học – Như vậy đề 1 là dạng đề nghị luận xã hội; đề 2,3,4 là dạngnghị luận văn học
Trang 11+ Thao tác chính của mỗi đề : Đề 1, 2 : Thao tác phân tích; Đề 3 : Phântích, giải thích; Đề 4 : Thao tác bình luận.
+ Phạm vi tư liệu : Đề 1 – Trong đời sống; Đề 2: Bài thơ Tỏ lòng (Phạm Ngũ Lão), các tác phẩm văn học cùng thời khác như Nỗi lòng (Đặng Dung) ; Đề
3: Một số tác phẩm thơ có giá trị trong các thời kỳ văn học khác nhau, và có thểlấy một số tác phẩm thơ nổi tiếng của các tác giả văn học nước ngoài; Đề 4 : Bài
thơ Độc Tiểu Thanh Ký, và một số tác phẩm khác của chính tác giả Nguyễn Du như Truyện Kiều , hoặc tác phẩm của Hồ Xuân Hương
- Ngay sau khi làm xong bài tập này học sinh đã có thể nhìn thấy ngaynhững yêu cầu của một đề văn nghị luận, và nếu nhanh ý các em có thể thấy bốnyêu cầu mà tôi yêu cầu các em thực hiện trong bài tập trên sẽ tương đương với 4yêu cầu trong mỗi đề văn nghị luận vì vậy khi tôi nêu ra một câu hỏi mang tínhtổng kết về kiến thức lí thuyết như sau : Vậy sau khi làm xong bài tập này các
em có thể xác định được những yêu cầu của đề văn nghị luận chưa? Lúc đó họcsinh sẽ có ngay câu trả lời – Yêu cầu của một đề văn nghị luận là :
+ Yêu cầu về vấn đề nghị luận (Luận đề) – Thường được nêu dưới dạngmột nhận xét hoặc một câu hỏi
+ Yêu cầu về loại văn nghị luận : Nghị luận xã hội, hoặc nghị luận văn học.+ Yêu cầu về các thao tác nghị luận chính
+ Yêu cầu về phạm vi tư liệu
- Từ câu trả lời của các em tôi sẽ có kết luận về lí thuyết cho phần I của tiếthọc và tôi cũng đã giúp các em được thực hành
Như vậy, với bài tập này tôi đã tạo cho các em một hứng thú là tự mình rút
ra được kiến thức sau khi làm bài tập, các em sẽ có cảm giác rất dễ chịu vì hiểu
ra vấn đề một cách cụ thể chứ không phải đọc trên sách giáo khoa, khắc phụchoàn toàn với việc chiếm lĩnh kiến thức một cách tái hiện, dễ dãi Thực tế làtrong sách giáo khoa ở mục này trình bày như sau , giới thiệu một số đề vănnghị luận, sau đó sẽ trình bày cụ thể về yêu cầu của đề văn nghị luận là : Yêucầu về vấn đề nghị luận, yêu cầu về thao tác nghị luận, và yêu cầu về phạm vi tư