1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức và hoạt động của uỷ ban nhân dân tỉnh theo pháp luật hiện hành

59 507 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 298,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Thực hiện chủ trương đổi mới toàn diện đất nước trong đó có bộ máy nhà nước do đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đặt ra, nhất là từ sau Đại hội Đảng lần thứ VII thực hiện triển khai nghị quyết ban chấp hành trung ương 8 khóa VII và Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 2010 của Chính phủ. Tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong hệ thống hành chính từ Chính phủ, các bộ đến UBND các cấp đã có nhiều thay đổi, từng bước được hoàn thiện. Là cấp trung gian giữa trung ương và địa phương, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có vai trò quan trọng trong hoạt động của bộ máy nhà nước, góp phần đảm bảo hoạt động được thống nhất. Trong những năm qua cùng với những thay đổi của nền kinh tế xã hội, hệ thống văn bản pháp luật quy định về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân cấp tỉnh cũng không ngừng được hoàn thiện. Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới khi nước ta đang chuyển dần sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đang hội nhập khu vực và quốc tế đặc biệt khi nước ta đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới, …thì tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đã bộc lộ nhiều hạn chế cần được khắc phục bởi vậy đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương trong đó có Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh là một trong những nhiệm vụ nằm trong chương trình tổng thể cải cách hành chính. Vì thế em đã chọn đề tài “ Tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân tỉnh theo pháp luật hiện hành ”. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X Ban chấp hành Trung ương Đảng xác định một trong những đặc trưng cơ bản của xã hội XHCN hiện nay là “ Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản”. Bởi vậy, trong những năm Khóa luận tốt nghiệp – 2010 qua tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân nói chung, Uỷ ban nhân dân tỉnh nói riêng đang từng bước được đổi mới.Và đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về UBND như: Sự cần thiết phải tăng cường hiệu quả hoạt động của UBND, đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND,… MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những quy định của pháp luật hiện hành về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân cấp tỉnh. Đề tài được thực hiện dựa trên các quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Qua việc tìm hiểu, để thấy được những kết quả cũng như những hạn chế, bất cập cần được khắc phục trong tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh qua đó đưa ra các giải pháp để góp phần hoàn thiện tổ chức và hoạt động của UBND cấp tỉnh. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn được dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, phương pháp duy vật biện chứng kết hợp với phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, đánh giá,… KẾT CẤU CỦA KHÓA LUẬN: Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo thì kết cấu của khóa luận gồm ba chương: Chương I. . Uỷ ban nhân dân trong cơ cấu, tổ chức bộ máy nhà nước ở nước ta. Chương II. Thực trạng về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh theo pháp luật hiện hành. Chương III. Giải pháp hoàn thiện về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân cấp tỉnh.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Thực hiện chủ trương đổi mới toàn diện đất nước trong đó có bộ máy nhà nước do đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đặt ra, nhất là từ sau Đại hội Đảng lần thứ VII thực hiện triển khai nghị quyết ban chấp hành trung ương 8 khóa VII

và Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001- 2010 của Chính phủ Tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong hệ thống hành chính từ Chính phủ, các bộ đến UBND các cấp đã có nhiều thay đổi, từng bước được hoàn thiện

Là cấp trung gian giữa trung ương và địa phương, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh

có vai trò quan trọng trong hoạt động của bộ máy nhà nước, góp phần đảm bảo hoạt động được thống nhất Trong những năm qua cùng với những thay đổi của nền kinh tế - xã hội, hệ thống văn bản pháp luật quy định về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân cấp tỉnh cũng không ngừng được hoàn thiện

Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới khi nước ta đang chuyển dần sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đang hội nhập khu vực và quốc

tế đặc biệt khi nước ta đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới,

…thì tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đã bộc lộ nhiều hạn chế cần được khắc phục bởi vậy đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương trong đó có Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh là một trong những nhiệm vụ nằm trong chương trình tổng thể cải cách hành chính Vì thế em đã chọn đề tài “ Tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân tỉnh theo pháp luật hiện hành ”

TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X Ban chấp hành Trung ương Đảng xác định một trong những đặc trưng cơ bản của xã hội XHCN hiện nay là

“ Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân,

vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản” Bởi vậy, trong những năm

Trang 2

qua tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân nói chung, Uỷ ban nhân dân tỉnh nói riêng đang từng bước được đổi mới.Và đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về UBND như: Sự cần thiết phải tăng cường hiệu quả hoạt động của UBND, đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND,…

MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những quy định của pháp luật hiện hành về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân cấp tỉnh Đề tài được thực hiện dựa trên các quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Qua việc tìm hiểu, để thấy được những kết quả cũng như những hạn chế, bất cập cần được khắc phục trong tổ chức và hoạt động của

Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh qua đó đưa ra các giải pháp để góp phần hoàn thiện

tổ chức và hoạt động của UBND cấp tỉnh

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn được dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, phương pháp duy vật biện chứng kết hợp với phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, đánh giá,…

KẾT CẤU CỦA KHÓA LUẬN:

Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo thì kết cấu của khóa luận gồm ba chương:

Chương I Uỷ ban nhân dân trong cơ cấu, tổ chức bộ máy nhà nước ở nước ta

Chương II Thực trạng về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh theo pháp luật hiện hành

Chương III Giải pháp hoàn thiện về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân cấp tỉnh

Trang 3

Chương I

UỶ BAN NHÂN DÂN TRONG CƠ CẤU, TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ

NƯỚC Ở NƯỚC TA

1.1.Vị trí, tính chất, chức năng của Uỷ ban nhân dân.

Bộ máy nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương được tổ chức theo những nguyên tắc chung thống nhất như: nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nguyên tắc Đảng lãnh đạo đối với nhà nước, nguyên tắc tập trung dân chủ,

… tạo thành một thể thống nhất để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước Trong đó Uỷ ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh là một mắt xích quan trọng trong cơ cấu, tổ chức bộ máy nhà nước(BMNN)

Ở nước ta, ngay từ thời Văn Lang – Âu Lạc đơn vị hành chính cấp tỉnh đã bắt đầu được manh nha với hình thức các bộ Đơn vị hành chính tỉnh thực sự ra đời cùng với nền hành chính nhà nước ở địa phương bắt đầu được triển khai sau khi nước ta giành được quyền tự chủ Thời nhà Khúc (đầu TK 10), đó là lộ, dưới

đó là phủ, châu, giáp, xã Thời nhà Đinh (từ năm 944), đó là đạo… Trải qua thời gian đơn vị hành chính cấp tính đã có nhiều thay đổi để phù hợp với mỗi giai đoạn lịch sử

Nhà nước Việt Nam là một quốc gia có cấu trúc lãnh thổ theo mô hình nhà nước đơn nhất Lãnh thổ được phân chia thành các đơn vị hành chính Việc phân chia giúp cho việc quản lý được thống nhất, cũng như để nắm bắt tình hình ở mỗi địa phương

Điều 118 Hiến pháp 1992 quy định: “Các đơn vị hành chính của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau:

- Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

- Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện và thị xã

Trang 4

- Huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và xã; quân chia thành phường”.

Bộ máy chính quyền của nước ta gồm bốn cấp: Trung ương; tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương; huyện, quận và tương đương; xã, phường và tương đương Bộ máy chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân (HĐND) là

cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương và Ủy ban nhân dân do HĐND bầu

ra, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

Như vậy, UBND cấp tỉnh là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, là một bộ phận trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước, là cấp trung gian giữa trung ương với địa phương Đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chủ trương, chính sách của nhà nước, thực hiện, triển khai quyền lực của trung ương xuống lãnh thổ Điều 123 Hiến pháp 1992 và Điều 2 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 quy định: “UBND do HĐND bầu

là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND”

Với quy định này, Uỷ ban nhân dân nói chung, UBND cấp tỉnh nói riêng được xác định là cơ quan chấp hành của HĐND đồng thời là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

Theo Hiến pháp 1946, Uỷ ban hành chính (UBHC) mặc dù do HĐND bầu

ra và có trách nhiệm thi hành các nghị quyết của HĐND địa phương mình sau khi được cấp trên chuẩn y, tuy nhiên lại chưa quy định một cách rõ ràng là cơ quan chấp hành của HĐND Từ Hiến pháp 1959 UBHC (nay là UBND) được quy định rõ là cơ quan chấp hành của HĐND tại Điều 87, Điều 121 Hiến pháp

1980, Điều 123 Hiến pháp 1992 Qua đây có thể thấy, về cơ bản vị trí, tính chất, chức năng của UBND qua các bản Hiến pháp không có sự thay đổi lớn mà đang dần được hoàn thiện để phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội mới nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của UBND

Trang 5

Thứ nhất, UBND với tư cách là cơ quan chấp hành của HĐND (cơ quan

quyền lực của nhà nước ở địa phương)

+ UBND do HĐND cùng cấp bầu ra gồm có Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các

ủy viên dưới hình thức bỏ phiếu kín Pháp luật hiện hành quy định Chủ tịch UBND là đại biểu HĐND Còn các thành viên khác của UBND không nhất thiết phải là đại biểu HĐND Đây là một quy định mới so với các văn bản luật trước Bởi trước đây “thành viên của UBND phải là đại biểu HĐND” Quy định này góp phần đáp ứng nguồn nhân sự khi Uỷ ban nhân dân có sự thay đổi về thành viên, cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước trong phạm vi lãnh thổ mỗi địa phương Trong nhiệm kỳ nếu khuyết Chủ tịch UBND thì Chủ tịch HĐND cùng cấp giới thiệu người ứng cử Chủ tịch UBND để HĐND bầu.+ Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm chủ yếu trong việc tổ chức, triển khai

và thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, đưa những quy định trong các nghị quyết vào đời sống, biến các nghị quyết đó thành hiện thực Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND cùng cấp và UBND cấp trên trực tiếp, Uỷ ban nhân dân tỉnh chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và Chính phủ

+ Uỷ ban nhân dân chịu sự giám sát của HĐND trong việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, giám sát việc tuân theo pháp luật của các thành viên UBND, các cơ quan chuyên môn của UBND, của cán bộ, công chức Hội đồng nhân dân có quyền miễn nhiệm, bãi nhiệm các thành viên của UBND,

có quyền bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu Đồng thời có quyền bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định, chỉ thị trái pháp luật của UBND cùng cấp Vì thế văn bản do Uỷ ban nhân dân ban hành không được trái với nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp

+ Nhiệm kỳ của UBND theo nhiệm kỳ của HĐND cùng cấp Theo quy định hiện hành là 5 năm Khi Hội đồng nhân dân hết nhiệm kỳ, UBND tiếp tục làm việc cho đến khi HĐND khóa mới bầu ra Uỷ ban nhân dân khóa mới Chủ tịch

Trang 6

Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân ở mỗi đơn vị hành chính không giữ chức vụ đó quá hai nhiệm kỳ liên tục.

Trước đây, nhiệm vụ, quyền hạn của UBHC (nay là UBND) không chỉ có thi hành các mệnh lệnh của cấp trên, các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, kiểm soát các HĐND và UBHC cấp dưới… mà Uỷ ban hành chính còn có quyền triệu tập Hội đồng nhân dân như là cơ quan thường trực của HĐND Quy định này làm giảm tính quyền lực của Hội đồng nhân dân Tuy nhiên kể từ khi Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 1989 quy định việc thành lập thường trực HĐND thì vị trí, tính chất của Uỷ ban nhân dân trong mối quan hệ với Hội đồng nhân dân được xác định một cách phù hợp hơn

Thứ hai, Uỷ ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

Uỷ ban nhân dân là cơ quan trực thuộc hai chiều Đối với cơ quan này, quan hệ trực thuộc theo chiều dọc của nó cũng có “sức nặng” không kém gì quan hệ theo chiều ngang với HĐND cùng cấp, nếu không nói là hơn trong một số trường hợp

+ Uỷ ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất bộ máy hành chính nhà nước

từ trung ương tới cơ sở Chức năng của UBND có những đặc trưng riêng so với chức năng của các cơ quan nhà nước khác như: Tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân (VKSND),…

- Nếu như chức năng cơ bản của Tòa án là xét xử, của VKSND là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp thì quản lý hành chính được coi là chức năng cơ bản của UBND, là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của UBND Các cơ quan nhà nước khác như Tòa án, VKSND trong hoạt động của mình cũng phải thực hiện quản lý hành chính nhưng chỉ mang tính nội bộ và cũng không phải là hoạt động chủ yếu

- Hoạt động quản lý của UBND mang tính toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống: kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh, quốc phòng… Và mang tính thống nhất, bởi hoạt động quản lý của UBND được thực hiện trên cơ sở chấp

Trang 7

hành những quyết định của các cơ quan hành chính nhà nước cấp trên, dưới sự quản lý thống nhất của Chính phủ.

- Là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương UBND thực hiện hoạt động quản lý trong phạm vi địa phương mình Cùng phối hợp với các cơ quan nhà nước, các tổ chức khác để thực hiện chức năng, nhiệm vụ một cách có hiệu quả

+ Theo quy định của pháp luật hiện hành kết quả bầu cử thành viên UBND cấp dưới trực tiếp phải được nguời đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước cấp trên phê chuẩn, kết quả bầu các thành viên của UBND cấp tỉnh phải được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn Chủ tịch UBND cấp trên có quyền điều động, đình chỉ công tác, miễn nhiệm, cách chức Chủ tịch, Phó chủ tịch UBND cấp dưới trực tiếp, phê chuẩn việc miễn nhiệm, bãi nhiệm các thành viên của Uỷ ban nhân dân cấp dưới trực tiếp

+ Đối với các văn bản trái pháp luật của UBND, người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước cấp trên trực tiếp có quyền đình chỉ việc thi hành hoặc bãi

bỏ Theo Hiến pháp 1959 và Hiến pháp 1980 UBHC (UBND) cấp trên còn có quyền sửa đổi đối với quyết định của UBND cấp dưới trực tiếp

+ Uỷ ban nhân dân chịu sự chỉ đạo của UBND cấp trên, UBND cấp tỉnh chịu sự chỉ đạo của Chính phủ Quy định này nhằm bảo đảm tính thống nhất của quản lý hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở UBND chịu trách nhiệm

và báo cáo công tác trước UBND cấp trên trực tiếp, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình UBND ra quyết định, chỉ thị đồng thời tổ chức thực hiện, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó

UBND là cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung ở địa phương, chức năng của UBND cơ bản là giống chức năng của Chính phủ chỉ khác nhau ở vị trí, thẩm quyền, cũng như về phạm vi lãnh thổ UBND nói chung, UBND tỉnh nói riêng có vị trí, vai trò quan trọng trong cơ cấu, tổ chức BMNN ở Việt Nam

Trang 8

Qua hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới kể từ Đại hội Đảng VI năm

1986, đất nước đã đạt được nhiều thành tựu Bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang từng bước được hoàn thiện, tuy nhiên trong giai đoạn cách mạng mới đòi hỏi cần phải củng cố, kiện toàn hơn nữa BMNN trong đó có

hệ thống các cơ quan hành chính Vì thế đổi mới tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh là một điều cần thiết, nó cũng phù hợp Nghị quyết của Đại hội Đảng IX đã đề ra

1.2 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của Uỷ ban nhân dân trong lịch sử lập hiến Việt Nam.

Sự hình thành và phát triển của UBND gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của BMNN qua mỗi giai đoạn Tùy theo từng thời kỳ phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội cũng như yêu cầu lịch sử mà tổ chức và hoạt động của UBND có sự thay đổi

1.2.1 Uỷ ban nhân dân theo Hiến pháp 1946.

Ngay từ thời xa xưa, để thuận tiện cho việc quản lý các đơn vị hành chính với nhiều tên gọi khác nhau đã được thành lập như: các bộ, các châu, lộ, phủ… Vào năm 1832 ở miền Nam và 1831 ở miền Bắc với cuộc cải cách hành chính Minh Mạng lần thứ hai cả nước chia thành 29 tỉnh, dưới tỉnh là phủ, huyện, tổng

và xã Dưới thời Pháp thuộc để thuận lợi cho chính sách cai trị nước ta bị chia làm 3 kỳ: Bắc Kỳ – Nam Kỳ - Trung Kỳ, mỗi Kỳ với một chế độ khác nhau Ngày 22/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh 63 – SL về tổ chức HĐND và UBHC các cấp ở nông thôn UBND thời kỳ này có tên gọi là UBHC được thành lập ở các cấp kỳ, tỉnh, huyện, xã Tuy nhiên HĐND chỉ được thành lập ở cấp xã và cấp tỉnh, còn cấp huyện và kỳ không thành lập Ngày 22/12/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành Sắc lệnh số 77/SL về tổ chức chính quyền ở thị xã, thành phố Theo đó UBHC do các HĐND bầu ra là cơ quan hành chính vừa thay mặt cho dân vừa đại diện cho chính phủ Đối với cấp huyện và kỳ không có HĐND thì: UBHC cấp huyện do hội viên các HĐND xã trong huyện bầu ra, UBHC kỳ do hội viên các HĐND tỉnh trong kỳ bầu ra Thể

Trang 9

lệ bầu cử HĐND và UBHC được quy định tại Nghị định số 164 ngày 29/12/1945 của Bộ trưởng Bộ nội vụ và Nghị định số 31 ngày 28/1/1946 của Bộ trưởng Bộ nội vụ.

UBHC gồm có 5 ủy viên: 3 ủy viên chính thức (1 Chủ tịch, 1 phó Chủ tịch,

1 thư ký) và 2 ủy viên dự khuyết UBHC thời kỳ này được xác định là cơ quan hoạt động thường xuyên của HĐND Mặc dù UBHC do HĐND cùng cấp bầu ra

có trách nhiệm thi hành các nghị quyết của HĐND nhưng chưa được xác định rõ

là cơ quan chấp hành của HĐND Nhiệm kỳ của UBHC các cấp theo nhiệm kỳ của HĐND là hai năm

Tùy thuộc vào UBHC mỗi cấp mà nhiệm vụ, quyền hạn có điểm riêng nhưng nhìn chung thì UBHC có quyền hạn: thi hành các mệnh lệnh của các cấp trên, nghị quyết của HĐND cùng cấp, triệu tập HĐND cùng cấp, cũng như kiểm soát các cơ quan chuyên môn

Cách mạng tháng tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Chính phủ lâm thời đã tiến hành ban bố các văn bản pháp luật làm cơ sở cho việc xây dựng BMNN kiểu mới Vì thế, ngày 09/11/1946, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta

Theo Hiến pháp 1946, Bộ máy nhà nước được phân thành năm cấp: trung ương; cấp bộ; cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương; cấp huyện; cấp xã và cấp tương đương Bộ máy chính quyền địa phương gồm có HĐND và UBHC UBHC được thành lập ở tất cả các cấp, là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương

UBHC do HĐND cùng cấp bầu ra, ở bộ và huyện không có HĐND chỉ có UBHC UBHC bộ do Hội đồng các tỉnh và thành phố bầu ra, UBHC huyện do Hội đồng các xã bầu ra UBHC chịu trách nhiệm đối với cấp trên và đối với HĐND địa phương mình, có trách nhiệm thi hành các mệnh lệnh của cấp trên, các nghị quyết của HĐND địa phương mình sau khi được cấp trên chuẩn y

Đến 1958 khi miền Bắc đang trong công cuộc xây dựng CNXH, miền Nam vẫn còn nằm dưới ách thống trị của đế quốc và tay sai, tình hình có nhiều thay

Trang 10

đổi, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng chính quyền nhân dân Quốc hội khóa I

đã thông qua Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 29/4/1958 Theo đó hệ thống tổ chức chính quyền địa phương gồm có: các khu tự trị, các thành phố trực thuộc trung ương, tỉnh, châu, thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã, xã, thị trấn có HĐND và UBHC; các huyện có UBHC Như vậy, UBHC theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương được thành lập ở các cấp Riêng ở huyện là không có HĐND Nhiệm vụ của UBHC cũng được quy định rõ ràng hơn Các cơ quan chuyên môn ở địa phương và quan hệ giữa UBHC với các cơ quan đó được quy định một cách cụ thể UBHC được xác định là cơ quan chấp hành của HĐND cùng cấp, là cơ quan hành chính của nhà nước ở cấp ấy

Như vậy, Hiến pháp 1946 đặt nền tảng cho việc xây dựng BMNN, trong đó

có hệ thống các UBHC

1.2.2 Uỷ ban nhân dân theo Hiến pháp 1959.

Ở miền Bắc, sau khi kháng chiến chống Pháp kết thúc cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân căn bản đã hoàn thành và chuyển sang làm cách mạng XHCN Trong khi đó ở miền Nam vẫn dưới ách thống trị của đế quốc và tay sai

vì thế trong giai đoạn mới, đứng trước nhiệm vụ lịch sử mới Ngày 31/12/1959 Quốc hội đã nhất trí thông qua bản Hiến pháp mới Ngày 01/01/1960 Chủ tịch

Hồ Chí Minh ký sắc lệnh công bố Hiến pháp

So với Hiến pháp 1946, BMNN Việt Nam dân chủ cộng hòa đã có nhiều thay đổi: hệ thống các cơ quan đại diện được thành lập ở các cấp; Nghị viện nhân dân được đổi tên thành Quốc Hội; Chính phủ được đổi tên thành Hội đồng Chính phủ,… Các đơn vị hành chính địa phương được chia thành 3 cấp: Tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương; tỉnh chia thành huyện, thành phố, thị xã; xã, thị trấn Cấp bộ đã bị xóa bỏ UBHC được thành lập ở các cấp, do HĐND cùng cấp bầu ra, là cơ quan chấp hành của HĐND địa phương và là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

UBHC chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND cấp mình và trước cơ quan hành chính nhà nước cấp trên trực tiếp Nhiệm vụ, quyền hạn của UBHC các cấp được bổ sung UBHC các cấp lãnh đạo công tác của các ngành thuộc quyền mình và của UBHC cấp dưới; có quyền sửa đổi hoặc bãi bỏ những

Trang 11

quyết định không thích đáng của các ngành công tác, có quyền đình chỉ việc thi hành những nghị quyết sai trái của HĐND cấp dưới trực tiếp và đề nghị HĐND cấp mình sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết ấy.

Uỷ ban hành chính gồm có Chủ tịch, một hoặc nhiều Phó chủ tịch, ủy viên thư ký và các ủy viên Theo Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 1962 thì UBHC cấp tỉnh có từ 9 đến 15 người, còn khu tự trị có từ 7 đến 9 người Nhiệm kỳ của UBHC theo nhiệm kỳ của HĐND đã bầu ra mình

1.2.3 Uỷ ban nhân dân theo Hiến pháp 1980.

Đại thắng mùa Xuân 1975, cùng với việc khắc phục hậu quả sau chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, ổn định tình hình chính trị miền Nam thì nhiệm vụ quan trọng là hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước Kỳ họp thứ I Quốc hội khóa VI đã hoàn thành công việc thống nhất đất nước về mặt nhà nước Ngày 18/12/1980 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua Đây là bản Hiến pháp đầu tiên của thời kỳ quá

độ lên chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước

Hiến pháp 1980 đã kế thừa và phát triển Hiến pháp 1946 và 1959 Đồng thời có nhiều điểm mới Về phương diện hành chính Bộ máy nhà nước ta vẫn gồm bốn cấp: Trung ương; tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính tương đương, khu tự trị theo hiến pháp 1959 đã xóa bỏ; cấp huyện, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; cấp xã, thị trấn và tương đương

Hệ thống các cơ quan chấp hành có sự thay đổi: Hội đồng Chính phủ được đổi tên thành Hội đồng bộ trưởng, UBHC trước đây được đổi tên thành UBND nhằm nhấn mạnh tính dân chủ

Trên cơ sở Hiến pháp 1980, tổ chức và hoạt động của UBND trong thời kỳ này còn dựa trên Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 1983, sau

đó là Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 1989 Vị trí, tính chất của UBND không có gì thay đổi Uỷ ban nhân dân vẫn được xác định là cơ quan chấp hành của HĐND, là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương UBND chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND cùng cấp và trước UBND cấp trên trực tiếp Mỗi thành viên UBND chịu trách nhiệm cá nhân về phần công tác của mình trước HĐND, UBND và cùng chịu trách nhiệm tập thể về hoạt

Trang 12

động của UBND trước HĐND Chính chế độ làm việc tập trung và tập thể chịu trách nhiệm nên vai trò và trách nhiệm cá nhân của Chủ tịch UBND các cấp bị hạn chế, hoạt động của UBND kém hiệu quả.

Theo Hiến pháp 1980, thì UBND có quyền triệu tập hội nghị HĐND cùng cấp Bên cạnh đó “giữa hai kỳ họp HĐND, UBND được xét và giải quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cùng cấp” (Điều 47 Luật tổ chức HĐND và UBND 1983) Có thể thấy hoạt động của Uỷ ban nhân dân thời kỳ này đã vượt ra ngoài phạm vi với tính chất là cơ quan chấp hành của HĐND Điều đó đã làm giảm tính “quyền lực” của HĐND Vì thế đến Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 1989 Thường trực HĐND đã được thành lập, một số nhiệm vụ, quyền hạn của UBND được chuyển giao cho thường trực Hội đồng nhân dân

Một quy định mới trong Luật tổ chức HĐND và UBND 1989 là về thành viên UBND gồm có Chủ tịch, một hoặc nhiều Phó chủ tịch và các ủy viên khác Trong đó Chủ tịch UBND là đại biểu HĐND, còn các thành viên khác không nhất thiết phải là đại biểu HĐND cùng cấp Số lượng thành viên UBND tùy theo từng cấp: UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương có

từ 11 đến 17 người; UBND huyện và tương đương có từ 9 đến 13 người; UBND

xã, phương, thị trấn có từ 7 đến 9 người

Những quy định về tổ chức và hoạt động của UBND ngày càng được hoàn thiện hơn, góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới toàn diện đất nước

1.2.4 Uỷ ban nhân dân theo Hiến pháp1992 đến nay.

Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng họp từ 15 – 18/12/1986 tại Hà Nội

là mốc quan trọng đánh dấu bước chuyển sang thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp cách mạng XHCN tiến lên Nhiệm vụ chiến lược mà Đảng và Nhà nước đưa ra không thay đổi nhưng trong điều kiện đất nước có nhiều thay đổi, trên thế giới hội nhập đang là một xu thế tất yếu Chúng ta cần có những bước đi phù hợp, một trong đó là thực hiện cải cách bộ máy nhà nước Hiến pháp 1980 ra đời trước đó một thập kỷ đã không còn phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước Cần phải có một bản Hiến pháp mới, ngày 15/4/1992 Quốc hội đã nhất trí thông qua Hiến pháp 1992, trên cơ sở đó tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XI

Trang 13

ngày 21/6/1994 đã thông qua Luật tổ chức HĐND và UBND 1994, tiếp đó là Pháp lệnh về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của HĐND và UBND 1996 đã được

Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 25/6/1996 và Luật tổ chức HĐND

và UBND năm 2003 được thông qua tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XI ngày 26/11/2003 Đây là những văn bản pháp luật quan trọng để hoàn thiện tổ chức

và hoạt động của UBND

Theo Hiến pháp 1992, các đơn vị hành chính được tổ chức thành bốn cấp như Hiến pháp 1980 Tuy nhiên hệ thống các cơ quan trong BMNN có sự thay đổi: Uỷ ban thường vụ quốc hội được thành lập, là cơ quan hoạt động thường xuyên của Quốc hội; Hội đồng bộ trưởng đổi tên thành Chính phủ,… Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương cũng trong xu thế đó theo hướng: nhiệm vụ, quyền hạn của UBND và Chủ tịch UBND được phân định rõ ràng hơn trước, vai trò của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân được đề cao hơn thông qua việc bổ sung nhiều quyền hạn như Chủ tịch UBND có quyền điều động, miễn nhiệm, cách chức đối với Chủ tịch, Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp dưới trực tiếp,… cùng với đó trách nhiệm cũng được quy định cụ thể hơn, tổ chức Uỷ ban nhân dân cũng gọn nhẹ hơn Vị trí, tính chất, chức năng của UBND về cơ bản không có sự thay đổi mà đang dần được hoàn thiện về tổ chức và hoạt động.Như vậy, kể từ khi sắc lệnh đầu tiên thiết lập bộ máy chính quyền địa phương-Sắc lệnh số 63-SL ngày 23/11/1945 và Sắc lệnh số 77-SL ngày 21/12/1945, tiếp đó là một hệ thống các văn bản pháp luật quy định về tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương, gần đây nhất là Luật tổ chức HĐND và UBND 2003, trải qua hơn 65 năm hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong đó có UBND cấp tỉnh đang có nhửng thay đổi góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước

Trang 14

Chương II THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA UỶ BAN NHÂN

DÂN TỈNH THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

2.1 Thực trạng về tổ chức của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.

2.1.1 Cơ cấu tổ chức của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.

Bất kì một cơ quan nào cũng đều thực hiện việc sắp xếp, bố trí nhân sự Tùy thuộc vị trí, chức năng, nhiệm vụ mà mỗi cơ quan có cách thức tổ chức sao cho phù hợp

Cơ cấu, tổ chức của UBND do Quốc hội quy định trong Hiến pháp, Luật tổ chức HĐND và UBND và văn bản hướng dẫn khác Và cũng tùy thuộc vào mỗi giai đoạn mà cơ cấu, tổ chức của UBND có sự thay đổi Hiện nay cơ cấu tổ chức của UBND tỉnh được thực hiện theo Luật tổ chức HĐND và UBND 2003, Nghị định 107/NĐ-CP ngày 1/4/2004 quy định số lượng Phó Chủ tịch và cơ cấu UBND các cấp; Nghị định 82/2008 ngày 30/7/2008, Nghị định 27 ngày 19/3/2009 sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định 107 ngày 1/4/2004, Nghị định

13 ngày 04/2/2008 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh.Theo quy định của Luật tổ chức HĐND và UBND hiện hành, UBND gồm: có Chủ tịch, Phó Chủ tịch và ủy viên Nước ta với 63 tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương, mỗi địa phương với những đặc điểm riêng vì thế mà số lượng Phó chủ tịch, các thành viên khác của UBND tỉnh là không giống nhau

Điều 119 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định: “ UBND do HĐND cùng cấp bầu ra gồm có Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các ủy viên” kết quả bầu các thành viên của UBND phải được Chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp phê chuẩn; kết quả bầu các thành viên của UBND cấp tỉnh phải được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn.Thủ tướng chính phủ miễn nhiệm, điều động, cách chức Chủ tịch, các Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; phê chuẩn việc miễn nhiệm, bãi nhiệm các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Điều 122 Luật tổ chức HĐND

Trang 15

và UBND năm 2003 quy định số lượng thành viên UBND các cấp trong đó UBND cấp tỉnh có từ 9 đến 11 thành viên quy định này không có gì thay đổi so với Luật tổ chức HĐND và UBND 1994 Đối với UBND thành phố Hà Nội và UBND thành phố Hồ Chí Minh không quá 13 thành viên Như vậy số lượng thành viên UBND cấp tỉnh hiện nay đã giảm so với số lượng thành viên UBND tỉnh theo Luật tổ chức HĐND và UBND 1983, Luật tổ chức HĐND và UBND

1989 trước đây có từ 11 đến 17 người Đây là một sự tinh giản cần thiết qua đó

cơ cấu UBND tỉnh gọn nhẹ hơn

Nghị định 107 ngày 01/4/2004 của Chính phủ quy định cụ thể về số Phó Chủ tịch và cơ cấu thành viên UBND các cấp Theo đó:

- UBND thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có 13 thành viên gồm 1 Chủ tịch, 5 Phó Chủ tịch và 7 ủy viên

Tuy nhiên đối với thành phố Hà Nội có một sự thay đổi Do năm 2008 tỉnh Hà Tây sáp nhập vào Thành phố Hà Nội nên tạm thời số lượng thành viên UBND thành phố Hà Nội theo Nghị định 82 ngày 30/7/2008 gồm: 01 Chủ tịch, không quá 08 Phó Chủ tịch và các ủy viên ( UBND thành phố Hà Nội có 13 thành viên)

Sự gia tăng số Phó Chủ tịch nhằm đáp ứng yêu cầu giải quyết công việc trong giai đoạn thành phố mở rộng

- UBND các tỉnh có dân số từ 2.000.000 trở lên hoặc có diện tích từ 10.000km2 trở lên và thành phố trực thuộc trung ương là đô thị loại I( trừ Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh) có 11 thành viên gồm có 1 Chủ tịch, 4 Phó Chủ tịch và 6 ủy viên

- Đối với UBND tỉnh, thành phố thuộc trung ương không thuộc trường hợp trên có 9 thành viên gồm 1 Chủ tịch, 3 Phó Chủ tịch và 5 ủy viên

Như vậy tùy vào đặc điểm dân cư, diện tích, vị trí mà số lượng thành viên UBND tỉnh là khác nhau Đối với thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh còn xuất phát từ vị trí của hai thành phố lớn này đối cả nước

Trang 16

Bên cạnh đó trong nhiệm kỳ HĐND cấp tỉnh có thể ấn định thêm số lượng thành viên UBND cấp mình, nhưng tổng số không quá 11 thành viên và phải được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn Quy định này có thể giúp UBND bổ sung thêm thành viên xuất phát yêu cầu của hoạt động quản lý, tuy nhiên có thể làm cho bộ máy UBND thêm cồng kềnh.

UBND là cơ quan có thẩm quyền chung, thực hiện hoạt động quản lý một cách toàn diện, trên hầu hết các lĩnh vực làm việc theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách kết hợp với chế độ thủ trưởng

- Chủ tịch UBND do HĐND cùng cấp bầu ra theo sự giới thiệu của Chủ tịch HĐND, từ trong số các đại biểu HĐND bằng con đường bỏ phiếu kín

Tuy nhiên nếu trong nhiệm kỳ mà khuyết Chủ tịch UBND thì người được bầu giữ chức vụ Chủ tịch UBND đó không nhất thiết là đại biểu HĐND cùng cấp Theo quy định Chủ tịch UBND ở mỗi đơn vị hành chính không giữ chức vụ đó quá hai nhiệm kỳ

Chủ tịch UBND phụ trách chung, nội chính, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch, xây dựng Chủ tịch UBND là người lãnh đạo và điều hành công việc của UBND, chịu trách nhiệm điều hành công việc của UBND, chịu trách nhiệm cá nhân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cùng với tập thể UBND chịu trách nhiệm về hoạt động của UBND trước HĐND cùng cấp và trước cơ quan nhà nước cấp trên Chủ tịch UBND có vai trò quan trọng trong việc tổ chức, thực hiện nhiệm vụ cuả UBND

- Phó Chủ tịch UBND cấp tỉnh do HĐND cùng cấp bầu ra theo sự giới thiệu của Chủ tịch UBND, không nhất thiết phải là đại biểu HĐND Là người giúp việc cho Chủ tịch được Chủ tịch phân công phụ trách thực hiện những công việc nhất định và chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND về phần công việc được giao Thông qua các Phó Chủ tịch, Chủ tịch UBND có thể nắm được toàn bộ hoạt động của UBND Theo quy định hiện hành số lượng Phó Chủ tịch ở UBND cấp tỉnh là từ 3-4 người phụ trách các lĩnh vực:

Trang 17

+ Một Phó Chủ tịch phụ trách kinh tế, thương mại, du lịch, doanh nghiệp,kinh tế đối ngoại.

+ Một Phó Chủ tịch phụ trách nông nghiệp, phát triển nông thôn, lâm ngiệp, thủy sản và thủy lợi, nhà đất và tài nguyên-môi trường

+ Một Phó Chủ tịch phụ trách công nghiệp, giao thông, xây dựng bưu chính viễn thông, khoa học công nghê

+ Một Phó Chủ tịch phụ trách văn hóa-xã hội và các lĩnh vực khác như: y tế, giáo dục-đào tạo,…

Đây chỉ là những quy định chung mang tính chất định hướng còn tùy thuộc vào từng địa phương có cách triển khai riêng Như hiện tại tỉnh Bình Dương có

4 Phó chủ tịch trong đó: 1 Phó Chủ tịch phụ trách khối văn xã; 1 Phó chủ tịch phụ trách khối kinh tế; 1 Phó chủ tịch phụ trách khối xây dựng công thương; 1 Phó chủ tịch phụ trách khối sản xuất Trong nhiệm kỳ hoạt động của UBND tỉnh vẫn có thể bổ sung thêm thành viên như nhiệm kỳ 2004-2009 UBND tỉnh Đồng Nai đã bổ sung thành viên UBND, hiện tại UBND tỉnh Đồng Nai có 5 Phó Chủ tịch và 5 ủy viên

- Các ủy viên UBND tỉnh được Chủ tịch phân công phụ trách quản lý những ngành, lĩnh vực chuyên môn nhất định Các thành viên khác UBND tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do Chủ tịch giao và phải chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đó Các ủy viên UBND cấp tỉnh thường có từ 5-6 ủy viên được phân công phụ trách các lĩnh vực:

+ Một ủy viên phụ trách công an

+ Một ủy viên phụ trách quân sự

+ Một ủy viên phụ trách nội vụ

+ Một ủy viên phụ trách văn phòng

+ Một ủy viên phụ trách tài chính

+ Một ủy viên phụ trách kế hoạch

Hiện UBND tỉnh Thái Bình bên cạnh 3 Phó chủ tịch còn có 7 ủy viên, UBND thành phố Hà Nội có 8 phó chủ tịch và 4 ủy viên, UBND thành phố Hồ

Trang 18

Chí Minh có 5 phó chủ tịch và 7 ủy viên, UBND tỉnh Lào Cai có 3 phó chủ tịch

và 5 ủy viên,… Do xuất phát từ đặc thù mỗi địa phương mà cơ cấu số Phó Chủ tịch và UBND cấp tỉnh có sự khác nhau Số lượng thành viên UBND cấp tỉnh hiện nay được xác định dựa trên yêu cầu hoạt động, việc phân công nhiệm vụ đối với mỗi thành viên một cách rõ ràng qua đó nâng cao trách nhiệm của mỗi thành viên Bộ máy làm việc của UBND cấp tỉnh cũng đã giảm nhiều dựa trên những mục tiêu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn (2001-2010) Tuy nhiên, đứng trên quan điểm tăng cường trách nhiệm cá nhân và chế độ thủ trưởng với những đòi hỏi nhanh nhạy, hiệu quả mà chúng ta đang cố gắng xây dựng thì số lượng thành viên UBND hiện tại vẫn là đông, nếu không muốn nói là thừa Bên cạnh đó là sự tham gia của các ủy viên đồng thời là thủ trưởng các sở, ban, nghành chuyên môn còn ít hiệu quả, chưa phát huy được tính chủ động, sáng tạo trong tổ chức và thực hiện công việc Hiện tại, các ủy viên của UBND cấp tỉnh thường là người đứng đầu các sở, ban, ngành chuyên môn, điều này có thể dẫn tới:

+ Đối với lĩnh vực mà thủ trưởng các cơ quan chuyên môn đồng thời là thành viên UBND thì vấn đề kiểm tra của UBND thường bị buông lỏng hoặc giảm hiệu lực

+ Còn đối với những thành viên không phải là người là đứng đầu các sở, ban, ngành sẽ rất khó phối hợp với người đứng đầu trong các lĩnh vực mà mình được phân công phụ trách

Như vậy, để nâng cao hiệu quả hoạt động UBND cấp tỉnh hơn nữa, trên cơ sở Luật tổ chức HĐND và UBND cần phải hoàn thiện cơ cấu, tổ chức của UBND cấp tỉnh

2.1.2 Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh.

Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh là cơ quan tham mưu, giúp UBND cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương; thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND cùng cấp và theo quy

Trang 19

định của pháp luật, góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở.

Trước khi có Nghị định 13/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008, thì tổ chức các

cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được thực hiện theo nghị định 171/2004/NĐ-CP ngày 29/9/2004 Do sự sắp xếp lại của các bộ chủ quản (hiện nay tổng số bộ và cơ quan ngang bộ là 22, trong đó có

18 bộ và 04 cơ quan ngang bộ) mà các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cũng có thay đổi Theo Nghị định 13/2008 ngày 04/02/2008 các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh được tổ chức thống nhất bao gồm: Sở Nội vụ; Sở Tư pháp; Sở Tài chính; Sở Kế hoạch và Đầu tư; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Sở Công thương; Sở Xây dựng; Sở giao thông vận tải; Sở Tài nguyên và môi trường; Sở Thông tin và truyền thông; Sở Lao động thương binh và xã hội; Sở văn hóa- thể thao-du lịch;Sở Khoa học công nghệ; Sở Giáo dục và Đào tạo; Sở Y tế; Thanh tra tỉnh; Văn phòng Uỷ ban nhân dân

Bên cạnh đó các cơ quan chuyên môn còn được tổ chức theo đặc thù riêng của từng địa phương như: Sở Ngoại vụ, Ban dân tộc, Sở Quy hoạch kiến trúc( được thành lập ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh)

Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh gồm có sở và cơ quan tương đương ( gọi chung là sở) chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND cùng cấp, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn cấp trên Chủ tịch UBND tỉnh bổ nhiệm Giám đốc, Phó Giám đốc sở theo tiêu chuẩn chức danh do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quy định và thủ tục do pháp luật quy định, đồng thời Chủ tịch UBND tỉnh cũng quy định cho Giám đốc sở bổ nhiệm, miễn nhiệm trưởng, phó các cơ quan, đơn vị trực thuộc theo tiêu chuẩn, chức danh do UBND cấp tỉnh ban hành Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn vừa phải chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước UBND tỉnh, HĐND cùng cấp vừa phải chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước cơ quan chuyên môn cấp trên

Trang 20

Phù hợp với đặc điểm riêng của địa phương, UBND cấp tỉnh có thể trình HĐND tỉnh quyết định thành lập mới hoặc sáp nhập một số cơ quan chuyên môn Việc tổ chức các cơ quan chuyên môn phải tính gọn, hợp lý, hiệu lực, hiệu quả, tổ chức quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, không nhất thiết ở trung ương có bộ,

cơ quan ngang bộ nào thì cấp tỉnh phải sở có tương ứng

Trong những năm qua thực hiện chủ trương cải cách hành chính bộ máy nhà nước, thì các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh cũng đang được sắp xếp, kiện toàn bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của UBND cấp tỉnh và sự thống nhất, thông suốt quản lý ngành, lĩnh vực công tác từ trung ương đến địa phương Tỉnh Quảng Ninh là một ví dụ: Căn cứ Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định tổ chức các

cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Sở Nội vụ đã tham mưu, trình Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành các Quyết định về sắp xếp, quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, trong đó hợp nhất, sáp nhập, thành lập mới, giải thể, đổi tên một số phòng, ban, Trung tâm, Chi cục trực thuộc các Sở, ban, ngành, đặc biệt là thành lập mới Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh Quảng Ninh, Chi cục Dân số- Kế hoạch hoá gia đình tỉnh Quảng Ninh Đến nay trực thuộc UBND tỉnh

có 19 cơ quan chuyên môn, như vậy sau khi thực hiện việc sắp xếp lại, các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh đã giảm được 6 cơ quan Các lĩnh vực công việc, chức năng, nhiệm vụ mới vừa được giao và bổ sung thêm được các cơ quan, tập trung giải quyết và kịp thời tham mưu, đề xuất với tỉnh, góp phần quan trọng vào việc ổn định, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị được giao của cơ quan nói riêng và của tỉnh Quảng Ninh nói chung

Trước năm 2001, một số cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh nơi ít nhất là 17 cơ quan ( tỉnh Bắn Kạn), nơi nhiều nhất là 27 cơ quan ( Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh), sau đó rà soát và theo chỉ đạo của Chính phủ, các tỉnh, thành phố điều chỉnh có giảm xuống tính ra trung bình là 23 cơ quan ( năm 2003) Theo Nghị định 171/2004/NĐ-CP ngày 29/9/2004 thì cơ quan chuyên môn

Trang 21

thuộc UBND cấp tỉnh được quy định có 19 sở và tương đương được quy định

“cứng” thống nhất trên toàn quốc và 8 đầu mối “ mềm” được thành lập tùy theo đặc thù của từng địa phương như Sở Du lịch, Sở Thủy sản, Sở Ngoại vụ, Tuy nhiên khung cơ cấu này cũng bị phá vỡ bởi Nghị định 122/2005/NĐ-CP ngày 04/10/2005 đã cho phép thành lập Ban thi đua khen thưởng là cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND cấp tỉnh [14, tr 60 ]

Còn theo Nghị định 13/2008 ngày 04/02/2008 có 17 sở và có ba cơ quan được thành lập theo đặc thù riêng của mỗi tỉnh là Sở Ngoại vụ; Ban dân tộc; Sở quy hoạch kiến trúc

Hiện nay, việc tổ chức số lượng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh là không giống nhau mà phù hợp với điều kiên tự nhiên, dân số, tình hình phát triển kinh tế-xã hội của từng địa phương và yêu cầu cải cách hành chính nhà nước Một số tỉnh, thành phố có số lượng cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh cao như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, UBND một số tỉnh như Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng có 23 cơ quan chuyên môn Bên cạnh đó một số tỉnh còn thành lập Ban quản lý các khu công nghiệp- khu chế xuất, Ban quản lý khu đô thị, Ban quản lý khu kinh tế là cơ quan có chức năng quản lý hành chính thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh tuy nhiên việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và có cơ cấu tổ chức theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ Theo thống kê năm 2001, số cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh của

61 tỉnh, thành phố là 1.374 cơ quan, đến tháng 8/2005 với 64 tỉnh, thành phố con

số này lên tới 1.536 cơ quan, tăng 162 cơ quan (tính trung bình mỗi tỉnh, thành phố tăng thêm 1,4 đầu mối cơ quan chuyên môn) [14, tr60 ]

Có thể thấy cơ cấu, tổ chức của các cơ quan vẫn mang nặng dấu ấn của cơ chế cũ tập trung, quan liêu, việc hình thành cơ cấu tổ chức vẫn theo kiểu cơ học theo kiểu chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc đến đâu thì thành lập cơ cấu tổ chức đến đó Đúng ra thay vì mở rộng quy mô cơ cấu, tổ chức bộ máy để đối phó với tính chất phức tạp và khối lượng công việc quản lý tăng lên thì phải

Trang 22

nâng cao chất lượng của tổ chức thông qua ứng dụng khoa học, đổi mới phương thức hoạt động, chế độ làm việc.

Cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh làm việc theo chế độ thủ trưởng, với người đứng đầu cơ quan chuyên môn là Giám đốc sở, Phó giám đốc sở là người giúp giám đốc sở chỉ đạo một số mặt công tác và chịu trách nhiệm trước Giám đốc sở và trước pháp luật về nhiệm vụ được phân công Số lượng phó giám đốc sở không quá ba người, riêng ở UBND thành phố Hà Nội; UBND thành phố Hồ Chí Minh không quá bốn người

Pháp luật hiện hành đã quy định một khuôn khổ thể chế thống nhất về tổ chức và hoạt động của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh theo hướng tinh gọn, hợp lý Cũng như xác định rõ nguyên tắc thành lập, tính chất, vị trí, chức năng, cơ cấu tổ chức, chế độ làm việc, mối quan hệ công tác của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND, đặc biệt là quy định về việc ủy quyền và đề cao trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan chuyên môn trong việc giúp UBND thực hiện quản lý nhà nước ở địa phương Tuy nhiên các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thường có số lượng sở, ngành giống nhau trong khi lại có đặc điểm, quy mô khác nhau Bên cạnh đó, sự thay đổi các bộ ở trung ương cũng dẫn tới sự thay đổi các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh Trong khi đó tổ chức cơ quan hành chính giữa nông thôn và đô thị chưa có sự phân biệt cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động của các cơ quan này

Với vị trí của mình trong những năm qua các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh đã tổ chức, cải tiến phương thức quản lý, lề lối làm việc, bộ máy gọn nhẹ hơn Nhưng bên cạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế: số lượng các sở và tương đương vẫn còn nhiều, cơ cấu tổ chức còn cồng kềnh, còn chồng chéo chức năng nhiệm vụ, quyền hạn với các tổ chức thuộc bộ, cơ quan ngang bộ đặt tại địa phương Vì thế một trong những mục tiêu của chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước là cải cách tổ chức bộ máy chính quyền địa phương trong đó có các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh

Trang 23

2.2 Thực trạng về hoạt động của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.

Theo quy định của pháp luật hiện hành hiệu quả hoạt động của UBND cấp tỉnh được đảm bảo bằng hiệu quả hoạt động của tập thể UBND, Chủ tịch UBND và các thành viên khác của UBND và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND UBND thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình thông qua các hình thức hoạt động chủ yếu sau

2.2.1 Phiên họp của Uỷ ban nhân dân.

Trong tổ chức và hoạt động của UBND từ trước đến nay luôn quán triệt nguyên tắc tập thể lãng đạo cá nhân phụ trách kết hợp với chế độ thủ trưởng Nguyên tắc này có sự vận động qua mỗi giai đoạn tuy nhiên vai trò tập thể của UBND luôn được đề cao

Các phiên họp của UBND là hình thức hoạt động tập thể, có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ hoạt động của UBND cấp tỉnh Theo quy định của pháp luật hiện hành UBND họp mỗi tháng ít nhất một lần ngoài ra còn có các cuộc họp bất thường để giải quyết các công việc cấp bách trên địa phương mình theo yêu cầu của Chủ tịch UBND hoặc theo đề nghị của ít nhất 1/3 tổng số thành viên UBND cấp tỉnh Chủ tịch UBND là người chủ tọa các phiên họp, trong một số trường gợp Chủ tịch có thể giao cho Phó Chủ tịch chủ tọa các cuộc họp Các thành viên UBND phải mặt đầy đủ trong trường hợp vắng mặt phải được sự đồng ý của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh

Phiên họp của UBND cấp tỉnh thể hiện trí tuệ của cả tập thể, thảo luận dân chủ, quyết định những vấn đề quan trọng đồng thời phiên họp còn thể hiện sự tham gia của người dân đối với các vấn đề ở địa phương thông qua việc: Chủ tịch ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu các đoàn thể nhân dân ở địa phương được mời tham dự các phiên họp của UBND tỉnh khi bàn các vấn đề có liên quan; trưởng ban, phó trưởng ban các ban của Hội đồng nhân dân; thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND nhưng không phải là thành viên của UBND tham dự các phiên họp khi bàn các vấn đề có liên quan Trong việc tham gia các phiên họp của UBND có thể thấy Chủ tịch ủy ban mặt trận tổ quốc

Trang 24

là người được mời tham các phiên họp thường kỳ của UBND Còn những người đứng đầu các đoàn thể nhân dân ở địa phương như: chủ tịch Hội nông dân, chủ tịch Hội cựu chiến binh, chủ tịch Công đoàn,…thì tùy thuộc nội dung của phiên họp mà được mời Những người được mời tham dự có thể được phát biểu ý kiến nhưng không có quyền được biểu quyết những vấn đề nằm trong chương trình cuộc họp, tuy vậy nó cũng giúp UBND nắm được tình hình thực tế để ra quyết định, chỉ thị phù hợp Như vậy chính sự tham gia của các đoạn thể nhân dân đã góp phần nâng cao chất lượng phiên họp của UBND cấp tỉnh.

Theo điều 124 Luật tổ HĐND và UBND năm 2003 UBND thảo luận tập thể và quyết định theo đa số các vấn đề sau đây:

“ - Chương trình làm việc của Uỷ ban nhân dân;

- Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, dự toán ngân sách, quyết toán ngân sách hang năm và quỹ dự trữ của địa phương trình Hội đồng nhân dân quyết định;

- Kế hoạch đầu tư, xây dựng các công trình trọng điểm ở địa phương trình Hội đồng nhân dân quyết định;

- Kế hoạch huy động nhân lực, tài chính để giải quyết các vấn đề cấp bách của địa phương trình Hội đồng nhân dân quyết định;

- Các biện pháp thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân về kinh tế -xã hội; thông qua báo cáo của Uỷ ban nhân dân trước khi trình Hội đồng nhân dân;

- Đề án thành lập mới, sáp nhập, giải thể các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân và việc thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính ở địa phương”

Các quyết định của UBND phải được quá nửa tổng số thành viên của UBND biểu quyết tán thành nó biểu hiện tính đồng thuận của tập thể UBND cũng như đảm bảo quyết định có tính khả thi cao nhất khi đưa vào cuộc sống Có thể thấy phiên họp của UBND là hình thức hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất bởi:

Trang 25

+ Phiên họp với sự tham gia của tất cả các thành viên của UBND cấp tỉnh cũng như sự tham dự của các tổ chức chính trị xã hội, các đoàn thể.

+ Tại phiên họp phần lớn nhiệm vụ quyền hạn của UBND cấp tỉnh được thực hiện Theo Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 Nhiệm vụ quyền hạn của UBND cấp tỉnh được quy định từ Điều 82 đến Điều 96 bao trùm lên các lĩnh vực: xây dựng, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội; phát triển ngành, phát triển đô thị và nông thôn trong phạn vị quản lý; tham gia với các bộ ngành trung ương trong việc phân vùng kinh tế; lập dự toán thu ngân sách nhà nước trêng địa bàn; chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, kế hoạch sử dụng đất; xây dựng quy hoạch kế hoạch phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của tỉnh, xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới giao thông của tỉnh cũng như tổ chực quản lý công trình giao thông; thực hiện quản lý nhà nước ở địa phương đối với các lĩnh vực giáo dục đào tạo, văn hóa thông tinh, thể dục thể thao, y tế xã hội, khoa học và công nghệ, đảm bảo giữ vững quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội; thực hiện chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo đảm bảo thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc và thực hiện các nhiệm vụ quyền hạn của mình trong lĩnh vực thi hành pháp luật, xây dựng chính quyền và quản lý địa giới hành chính

Bên cạnh đó đối với các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ,… thì tại các phiên họp của UBND các vấn đề như giao thông đô thị, ô nhiễm môi trường, sử dụng đất đai, phát triển hạ tầng đô thị…là những vấn đề luôn được quan tâm thảo luận

Tuy nhiên trên thực tế hiện nay phiên họp của UBND vẫn còn mang tính hình thức, nhiều phiên họp chỉ mang tính chất báo cáo, hiệu quả phiên họp chưa cao Trước tình hình đó, ngày 25/5/2006 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định 114/2006/QĐ-TTg ban hành chế độ hội họp trong hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước với mục đích làm giảm bớt số lượng, nâng cao chất lượng các cuộc họp Có thể thấy rằng UBND là cơ quan chấp hành của HĐND là cơ quan

Trang 26

hằng ngày tiếp xúc với người dân, vừa trực thuộc chiều “ngang”, chiều “dọc” vì thế có một thực tế là khi thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước trong nhiều phiên họp của UBND cấp tỉnh chỉ chú trọng vào việc tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật, mệnh lệnh của cơ quan hành chính cấp trên mà chưa chú trọng đến việc thực hiện nghị quyết của HĐND cùng cấp Uỷ ban nhân dân các cấp khác cũng rơi vào tình trạng đó.

Trong phạm vi, nhiệm vụ của mình UBND cấp tỉnh ra quyết định, chỉ thị và tổ chức thực hiện chúng

Quyết định được dùng để ban hành các chủ trương, biện pháp cụ thể để thực hiện pháp luật, các chủ trương chính sách của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Nghị quyết của HĐND cùng cấp, quyết định về tổ chức và nhân sự thuộc thẩm quyền của UBND, để tổ chức thực hiện và kiểm tra, thanh tra đối với các cơ quan tổ chức trong việc chấp hành pháp luật của nhà nước và những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của UBND

Chỉ thị để truyền đạt và chỉ đạo thực hiện các chủ trương chính sách của cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân, giao nhiệm vụ cho cơ quan hành chính cấp dưới,

Là cơ quan quản lý có thẩm quyền chung, UBND cấp tỉnh có thẩm quyền ban hành các quyết định tuy nhiên có thể thấy thời gian qua một số quyết định của UBND cấp tỉnh đã không đem lại hiệu quả, ngay từ khâu đầu tiên của quá trình áp dụng đã bộc lộ nhiều bất cập, không phù hợp với thực tế; một số nơi UBND tỉnh ban hành quyết định vượt quá thẩm quyền Qua đợt kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) trong công tác tổ chức nhà nước tại một số tỉnh phía Nam ( Đắc Lắc, Khánh Hòa, Trà Vinh, An Giang, Tây Ninh) khi xem xét

252 văn bản có nội dung thuộc lĩnh vực tổ chức nhà nước do HĐND, UBND tỉnh ban hành trong đó có 133 văn bản QPPL gồm: 31 Nghị quyết của HĐND,

91 Quyết định của UBND, 11 Chỉ thị của UBND thì thấy mắc phải một số hạn chế như: việc ban hành văn bản QPPL còn có nội dung không đúng với quy định

Trang 27

hiện hành (34/133 văn bản), 42/133 văn bản ban hành thiếu căn cứ, sử dụng căn

cứ ban hành văn bản QPPL không phải là căn cứ pháp lý [19, tr 29]

Trong thời gian qua chúng ta đang dần thực hiện việc phân cấp quản lý cho địa phương tuy nhiên đã thấy thấp thoáng những ý định quyết định không phù hợp của một số địa phương với những quy định pháp luật chung và với lợi ích

và sự phát triển của các địa phương lân cận, liên quan như: việc đóng cửa rừng

và cấm xuất gỗ ra ngoại tỉnh của Tuyên Quang, ý định cấm xe máy ngoại tỉnh vào thành phố của Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh,….Như vậy bên cạnh việc cho phép các địa phương chủ động linh hoạt trong điều hành, chỉ đạo thì cũng cần bảo đảm cho việc điều hành quản lý hành chính trong cả nước thống nhất, thông suốt, nhất là khi có những hiện tượng bất thường thì có thể kịp thời xử lý.Vì vậy có thể nói phiên họp của UBND tỉnh có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đưa ra các quyết định Một quyết định phù hợp sẽ có tác định tích cực đối với hoạt động quản lý và ngược lại Sau mỗi phiên họp thường có nhiều quyết định quản lý quan trọng được ban hành Vì thế để phiên họp của Uỷ ban nhân dân tỉnh thực sự hiệu quả thì cần thiết phải nâng cao chất lượng của các quyết định được ban hành

2.2.2 Hoạt động của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân.

Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003 đã có những thay đổi căn bản, tương đối toàn diện và mạnh mẽ với nhiều nội dung mới, tạo thành hành lang pháp lý cho việc đổi mới và tổ chức hoạt động của UBND nói chung, UBND cấp tỉnh nói riêng đó là việc thực hiện chủ trương từng bước phân cấp mạnh hơn cho các cấp chính quyền địa phương, đặc biệt là việc phân định khá cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn cũng như trách nhiệm giữa UBND và cá nhân Chủ tịch UBND

Hoạt động của Chủ tịch UBND tỉnh được xác định là hình thức hoạt động thường xuyên Đây là một hình thức hoạt động mới của UBND so với quy định trong Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 1989 Chủ tịch UBND đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của UBND cấp tỉnh, là người

Trang 28

lãnh đạo và điều hành công việc của Uỷ ban nhân dân, chịu trách nhiệm cá nhân

về việc thực hiện nhiệm vụ của mình, cùng với tập thể UBND chịu trách nhiệm

về hoạt động của UBND trước HĐND cùng cấp và trước cơ quan nhà nước cấp trên So với trước đây nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch được bổ sung thêm và được quy định tại Điều 127 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003:

- Với vai trò là người đứng đầu, Chủ tịch UBND lãnh đạo công tác của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, các thành viên của Uỷ ban nhân dân, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thông qua việc đôn đốc, kiểm tra công tác của các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp mình và UBND cấp dưới trong việc thực hiện Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của HĐND và quyết định, chỉ thị của UBND cùng cấp;

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thực hiện các biện pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động: áp dụng các biện pháp nhằm cải tiến lề lối làm việc, quản lý và điều hành bộ máy hành chính hoạt động có hiệu quả; ngăn ngừa và đấu tranh các biểu hiện quan liêu, thiếu trách nhiệm, cửa quyền, tham nhũng,… của cán bộ, công chức và trong bộ máy chính quyền địa phương

- Triệu tập và chủ tọa các phiên họp của UBND Trong phiên họp Chủ tịch UBND cấp tỉnh trực tiếp điều hành để giải quyết, tháo gỡ công việc quản lý trên địa bàn tỉnh Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào năng lực cán bộ và thực tế ở địa phương mà quyết định phân công công tác cụ thể cho từng phó chủ tịch UBND tỉnh

- Với vị trí là người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước cấp trên, Chủ tịch UBND tỉnh: phê chuẩn kết quả bầu cử các thành viên UBND cấp dưới trực tiếp, điều động, đình chỉ công tác, miễn nhiệm, cách chức chủ tịch, phó chủ tịch UBND cấp dưới trực tiếp; phê chuẩn việc miễn nhiệm, bãi nhiệm các thành viên UBND cấp dưới trực tiếp; bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, cách chức, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức nhà nước theo sự phân cấp quản lý

Trang 29

- Để tạo sự chủ động của Chủ tịch UBND trong điều hành công việc, đảm bảo các quy định pháp luật được thực hiện một cách đúng đắn, Chủ tịch UBND cấp tỉnh có quyền đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những văn bản trái pháp luật của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp mình, văn bản trái pháp luật của UBND, Chủ tịch UBND cấp dưới trực tiếp; đình chỉ thi hành nghị quyết trái pháp luật của HĐND cấp dưới trực tiếp và đề nghị HĐND cấp mình bãi bỏ.

- Chủ tịch UBND chỉ đạo và áp dụng các biện pháp để giải quyết công việc đột xuất, khẩn cấp trong phòng chống thiên tai, cháy nổ, dịch bệnh, an ninh trật

tự và báo cáo Uỷ ban nhân dân trong phiên họp gần nhất Đây là một quy định mới so với Luật tổ chức Hộ đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 1994 Bên cạnh

đó Chủ tịch UBND tỉnh có thể được mời tham dự phiên họp của chính phủ khi bàn vấn đề có liên quan

Theo quy định của pháp luật hiện hành, Chủ tịch UBND ra quyết định, chỉ thị để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình

Như vậy có thể thấy vai trò thủ trưởng của Chủ tịch UBND cấp tỉnh được Hiến pháp 1992 và Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định khá nổi bật với tư cách là người lãnh đạo, điều hành hoạt động của UBND Chính việc làm rõ vai trò, trách nhiệm cá nhân không chỉ tạo cho người được giao nhiệm vụ linh hoạt, chủ động trong công việc mà còn làm cho họ có trách nhiệm hơn trong việc thực hiện các quyết định, hoạt động của mình, cũng có nghĩa là làm cho hoạt động của tổ chức, cơ quan tự chủ hơn, sáng tạo hơn Việc xác định rõ ràng trách nhiệm tập thể và trách nhiệm cá nhân người đứng đầu, đảm bảo để những công việc quan trọng vẫn phải được tập thể xem xét quyết định đồng thời làm cho người đứng đầu UBND tỉnh phát huy tính năng động

2.2.3 Hoạt động của các phó chủ tịch, các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân, thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh

Hoạt động của các phó chủ tịch, các thành viên khác của UBND, thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh là hình thức hoạt động thường xuyên và hàng ngày trực tiếp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao để giải

Ngày đăng: 19/07/2014, 01:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. ThS Nguyễn Phước Thọ, “ Điều chỉnh cơ cấu tổ chức bộ máy các cơ quan của Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 3/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều chỉnh cơ cấu tổ chức bộ máy các cơ quan của Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp
15. Nguyễn Đăng Dung, “ Bàn về cải cách chính quyền nhà nước ở địa phương” Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 9/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về cải cách chính quyền nhà nước ở địa phương
16. PGS. TS Bùi Xuân Đức, “ Mô hình tổ chức chính quyền cấp tỉnh trong lịch sử và phương hướng đổi mới”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 3/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình tổ chức chính quyền cấp tỉnh trong lịch sử và phương hướng đổi mới
17. TS Vũ Thị Nhài, “ Bàn về các giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả của tổ chức bộ máy hành chính nhà nước”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước số 4/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về các giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả của tổ chức bộ máy hành chính nhà nước
Tác giả: TS Vũ Thị Nhài
Nhà XB: Tạp chí Tổ chức Nhà nước
Năm: 2008
18.TS Hà Quang Ngọc, “ Đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương cấp tỉnh, huyện đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 1/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương cấp tỉnh, huyện đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
19. Nguyễn Quang Ngọc, “ Một số vấn đề rút ra qua việc kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trong công tác tổ chức nhà nước tại một số tỉnh phía Nam”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước số 11/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề rút ra qua việc kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trong công tác tổ chức nhà nước tại một số tỉnh phía Nam
20. TS Nguyễn Thị Việt Hương, “ Kinh nghiệm xây dựng và sử dụng đội ngũ quan lại trong nền hành chính Việt Nam thời kì phong kiến”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 11/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm xây dựng và sử dụng đội ngũ quan lại trong nền hành chính Việt Nam thời kì phong kiến
21. Đoàn Trọng Truyến, Cải cách hành chình và công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam –Nxb Tư pháp năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách hành chình và công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
Tác giả: Đoàn Trọng Truyến
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2006
22. TS Bùi Thị Nguyệt, “ Đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND qua kinh nghiệm của UBND tỉnh Nam Định” , năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND qua kinh nghiệm của UBND tỉnh Nam Định
Tác giả: TS Bùi Thị Nguyệt
Năm: 2002
23. PGS, TS Bùi Xuân Đức, “ Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay” – Nxb Tư pháp năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: TS Bùi Xuân Đức
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2004
24. ThS Nguyễn Thị Thu Hà, “ Nâng cao hiệu quả quyết định quản lý hành chính của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước số 5/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả quyết định quản lý hành chính của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
Tác giả: ThS Nguyễn Thị Thu Hà
Nhà XB: Tạp chí Tổ chức Nhà nước
Năm: 2007
25. ThS Nguyễn Hồng Diên, “ Giảỉ pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền tỉnh đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam”, Tạp chí quản lý Nhà nước số 156/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảỉ pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền tỉnh đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam
26. TS Văn Tất Thu, “ Thực trạng và nguyên nhân của việc chia tách đơn vị hành chính ở Việt Nam trong thời gian qua”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước số 3/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và nguyên nhân của việc chia tách đơn vị hành chính ở Việt Nam trong thời gian qua
27. ThS Bùi Huy Khiên, “ Tuyển chọn, kiểm tra, giám sát công chức dưới triều Lê Thánh Tông”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 3/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển chọn, kiểm tra, giám sát công chức dưới triều Lê Thánh Tông
1. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VI – Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam Khác
2. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VII – Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam Khác
3. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VIII – Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam Khác
4. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ IX – Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam Khác
5. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ X – Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam Khác
6. Hiến pháp Việt Nam qua các năm ( năm 1946, 1959, 1980, 1992, và Hiến pháp 1992 sửa đổi)- Nxb Chính trị Quốc gia Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w