1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu chiết tách chất abrin từ hạt cây cam thảo dây ở đà nẵng

56 1,1K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu chiết tách chất abrin từ hạt cây cam thảo dây ở Đà Nẵng
Tác giả Mạc Thị Phước Hải
Người hướng dẫn TS. Trần Mạnh Lục
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng
Chuyên ngành Hóa học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sức khỏe là vốn quý giá nhất của con người, là tài sản vô hình nhưng có sức mạnh hữu hình, là cái đánh giá thể chất của bạn so với những người khác. Có lẽ cũng chính sự nhận thức về tầm quan trọng của sức khỏe mà ngay từ thời cổ đại ông cha ta đã nghĩ việc chăm lo và bảo vệ sức khỏe, sử dụng các loại cây thảo mộc có sẵn trong tự nhiên để bồi bổ cũng như chữa trị bệnh. Tiếp nối truyền thống tốt đẹp của cha ông ta, cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học và kĩ thuật, chúng ngày càng có nhiều cơ hội để có thể khám phá, tiếp cận và tìm ra nhiều hơn nữa công dụng của cây cỏ trong y học một cách nghiêm túc chi tiết và rõ ràng. Cũng như các loại dược thảo khác, loài cây cam thảo dây đã được biết đến từ lâu. Nó có trong các bài thuốc dân gian Việt Nam với khả năng điều trị hữu hiệu một số bệnh như viêm răng, táo bón, bệnh lậu, thấp khớp…Tên khoa học là Abrus precatorius L. thuộc họ Đậu (Fabaceae). Loài cây này lại có khả năng sinh trưởng và phát triển dễ dàng ở miền Trung nước ta. Tuy vậy các công trình nghiên cứu về cây cam thảo dây cũng như hạt của nó ở nước ta vẫn còn rất hạn chế, nên ta chưa khai thác hết tiềm năng và tác dụng hữu ích của loài cây này. Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã chọn đề tài khóa luận là: “ Nghiên cứu chiết tách chất Abrin từ hạt cây cam thảo dây ở Đà Nẵng”. Hi vọng rằng với những kết quả nghiên cứu được của đề tài cùng với những công trình nghiên cứu trước đây sẽ làm bằng chứng khoa học cho việc sử dụng loại tài nguyên này vào các lĩnh vực sản xuất dược liệu, hương liệu, mỹ phẩm…và từ đó có hướng quy hoạch, canh tác, khai thác và sử dụng loại thực vật này trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng và cả nước nói chung. 2. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu chiết tách chất Abrin trong hạt cam thảo dây 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Hạt cam thảo dây

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA HÓA

NGHIÊN CỨU CHIẾT TÁCH CHẤT ABRIN

TỪ HẠT CAM THẢO DÂY Ở ĐÀ NẴNG

Trang 2

MỞ ĐẦU

Sức khỏe là vốn quý giá nhất của con người, là tài sản vô hình nhưng có sức mạnh hữu hình, là cái đánh giá thể chất của bạn so với những người khác Có lẽ cũng chính sự nhận thức về tầm quan trọng của sức khỏe mà ngay từ thời cổ đại ông cha ta

đã nghĩ việc chăm lo và bảo vệ sức khỏe, sử dụng các loại cây thảo mộc có sẵn trong

tự nhiên để bồi bổ cũng như chữa trị bệnh

Tiếp nối truyền thống tốt đẹp của cha ông ta, cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học và kĩ thuật, chúng ngày càng có nhiều cơ hội để có thể khám phá, tiếp cận và tìm ra nhiều hơn nữa công dụng của cây cỏ trong y học một cách nghiêm túc chi tiết và rõ ràng Cũng như các loại dược thảo khác, loài cây cam thảo dây đã được biết đến từ lâu Nó có trong các bài thuốc dân gian Việt Nam với khả năng điều trị hữu hiệu một số bệnh như viêm răng, táo bón, bệnh lậu, thấp khớp…Tên khoa học

là Abrus precatorius L thuộc họ Đậu (Fabaceae) Loài cây này lại có khả năng sinh trưởng và phát triển dễ dàng ở miền Trung nước ta

Tuy vậy các công trình nghiên cứu về cây cam thảo dây cũng như hạt của nó ở nước ta vẫn còn rất hạn chế, nên ta chưa khai thác hết tiềm năng và tác dụng hữu ích

của loài cây này Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã chọn đề tài khóa luận là: “ Nghiên cứu

chiết tách chất Abrin từ hạt cây cam thảo dây ở Đà Nẵng”

Hi vọng rằng với những kết quả nghiên cứu được của đề tài cùng với những công trình nghiên cứu trước đây sẽ làm bằng chứng khoa học cho việc sử dụng loại tài nguyên này vào các lĩnh vực sản xuất dược liệu, hương liệu, mỹ phẩm…và từ đó có hướng quy hoạch, canh tác, khai thác và sử dụng loại thực vật này trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng và cả nước nói chung

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu chiết tách chất Abrin trong hạt cam thảo dây

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Hạt cam thảo dây

Trang 3

- Nghiên cứu các chỉ số vật lý của hạt cam thảo, các thành phần hữu cơ và chất độc abrin trong hạt cam thảo

4 Phương pháp nghiên cứu

* Nghiên cứu lý thuyết

Thu nhập, tổng hợp các tài liệu, tư liệu, sách báo trong và ngoài nước có lien quan đến đề tài

Nghiên cứu lý thuyết: Phương pháp nghiên cứu các hợp chất tự nhiên; tổng quan các tài liệu về đặc điểm hình thái thực vật, thành phần hóa học của một số cây cam thảo nói chung và cây Abrus precatorius L nói riêng

* Phương pháp thực nghiệm

Phương pháp ngâm chiết bằng dung môi hữu cơ

Phương pháp xác định các hằng số vật lý và hóa học

Phương pháp tách dịch chiết bằng chiết Soxhlet

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Từ nghiên cứu trên, luận văn đã thu được một số kết quả với những đóng góp thiết thực sau:

- Xác định hàm lượng, các chỉ số vật lý, hóa học của hạt cam thảo dây ở Đà Nẵng nhằm định hướng cho việc quy hoạch và khai thác

- Xác định các thành phần chất hữu cơ có trong hạt cam thảo dây

Cấu trúc khóa luận gồm các phần

Chương 1 TỔNG QUAN 25 trang ( Từ trang 3 ÷ 28)

Chương 2 THỰC NGHIỆM 11 trang ( Từ trang 29 ÷ 40) Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 8 trang ( Từ trang 41 ÷ 49)

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 01 trang (Trang 51)

Trang 4

CHƯƠNG I TỔNG QUAN 1.1 Thực vật học về cây cam thảo [1, 6, 16, 20]

Phân loại khoa học

- Giới (regnum) : Plantae

- Tông (tribus) : Abreae

- Bộ (ordo) : Fabales

- Họ (familia) : Fabaceae

Sau đây là một số loài cam thảo quan trọng có nhiều ứng dụng:

1.2 Cam thảo bắc Glycyrrhiza [1, 5, 7, 23, 24, 25]

Hình 1.1 Cam thảo bắc Glycyrrhiza uralensis

Cây cam thảo Glycyrrhiza uralensis Fisch thân dài 2-5,5cm, rộng 1,5-3cm Vào

mùa hạ và mùa thu nở hoa màu tím nhạt hình cánh bướm dài 14-22mm (cây trồng ở Việt Nam sau 3 năm chưa ra hoa) Qủa giáp cong hình lưỡi liềm dài 3-4cm, rộng 6-8cm, màu nâu đen, mặt quả có nhiều lông, trong quả có 2-8 hạt nhỏ dẹt, đường kính 1.5-2mm màu xám nâu, hoặc màu xanh đen nhạt, mặt bong

Cây cam thảo Glycyrrhiza glabra rất giống loài cam thảo G Uralensis, nhưng

khác nhau ở chỗ lá chét thuôn dài hơn, dài 1,5–4cm, rộng 0,8-2,3mm, quả giáp thẳng

Trang 5

hoặc hơi cong, dài 2-3cm, rộng 4mm, mặt quả gần như bóng hoặc có lông ngắn, số hạt

ít hơn loài trên Mùa hoa tháng 6-8, mùa quả tháng 7-9

Loài cam thảo bắc được trồng bằng hạt hoặc thân rễ Sau 4-5 năm trở lên có thể thu hoạch Đào rễ và thân rễ vào mùa xuân hoặc thu đông Nhưng mùa thu đông cam thảo sẽ tốt hơn Mỗi hecta có thể thu hoạch 8-10 tấn Vì là một cây lâu năm mới thu hoạch cho nên trong 2-3 năm đầu người ta trồng xen các cây thực phẩm Khi đào người

ta thường chỉ lấy rễ, nhưng nhiều khi lấy cả thân rễ Thân rễ rất dài, có khi tới 7-8m Sau khi đào rễ, người ta xếp thành đống để cho hơi lên men, làm cho rễ có màu vàng sẫm hơn, (màu người tiêu dùng ưa chuộng hơn)

Kết quả phân tích cho thấy thành phần hóa học chính trong cam thảo bắc có 3 ÷ 8% là glucoza, 2,4 ÷ 6,5% sacaroza, 25 ÷ 30% tinh bột, 0,3 ÷ 0,35% tinh dầu, 2 ÷ 4% asparagin, 11 ÷ 30 mg% vitamin C, các chất anbuyminoit, gôm, nhựa…Nhưng hoạt chất trong cam thảo là glyxydin (glyxyrrhizin) với tỉ lệ 6 ÷ 14%, có khi tới 23%

Glyxyridin là muối canxi và kali của axit glyxyrizic Công thức thô của axit glyxyrizic là C42H62O16 Axit glyxyrizic là một saponin tritecpenic, có độ chảy là 2050

C, α20D = +58,50 , hơi tan trong cồn và nước, không tan trong ete Thủy phân sẽ cho một phân tử axit glyxyretic còn gọi là glyxyritin và 2 phân tử axit glycuronic

CH3HOOC

CH3O

Axit glyxyrizic

Trang 6

Chất glyccyrrhizin được nhà bác học Đức Dobreyner được nghiên cứu và chiết suất từ năm 1819 Nhưng mãi đến năm 1843 người ta mới bắt đầu nghiên cứu cấu tạo hóa học của nó và gần đây mới xác định được chính xác

Axit glyxyretic không có vị ngọt, nhưng glyxyrizin và nhất là glyxyrizin phối hợp với amoniac hay là thổ kiềm lại càng ngọt hơn Pha loãng 1/20000 vẫn còn vị ngọt

Mới đây các nhà nghiên cứu Nhật Bản, còn được chiết xuất từ cam thảo một sắc

tố màu vàng dẫn xuất flovon gọi là liquiritin C21H22O9

CO C6H11O6

CO

O O

H

Liquiritin

Tại Liên Xô cũ, Trung Quốc và nhiều nước khác cây cam thảo mọc hoang và trở thành một thứ cỏ khó diệt trừ, chỉ một mẫu thân rễ có thể trở thành bụi cam thảo và cứ như vậy lan rộng mãi ra Những khu vực cam thảo mọc hoang là những nơi có đất khô, đất có canxi, đất cát, đất cát vàng Những nơi có đất đen cứng chắc, kiềm tính và ẩm thấp thì chất lượng cam thảo kém hơn, nhiều xơ, ít bột, ít ngọt, rễ mọc cong queo

Ở Việt Nam không có Cam thảo bắc mọc tự nhiên mà chỉ có Cam thảo nam và Cam thảo dây (cây Sóng rắn ở miền Nam cũng được nhân dân gọi là cây Cam thảo)

Từ năm 1958, ở vườn Trường đại học dược Hà Nội đã trồng thử một số cây Cam thảo

bắc bằng những hạt giống của loài Glycyrrhiza uralensis do Liên Xô cũ cung cấp Cây

mọc khỏe vào xuân hạ và thu Đến mùa đông thì lụi đi hoặc kém phát triển Sang năm sau cây lại mọc tốt Lượng hoạt chất trong rễ mỗi năm mỗi tăng Tuy nhiên sau 3 năm cây vẫn chưa ra hoa Có tài liệu nói rằng cây trồng thường không có hoa Nghiên cứu loại cây thảo G uralensis trồng cho thấy sau một năm rễ cam thảo có tỷ lệ 1% glyxyrizin và sau 2 năm tỷ lệ lên 2%

Trang 7

Tác dụng dƣợc lý của cam thảo bắc:

Trước đây tây y chỉ coi cam thảo như một vị thuốc phụ có tác dụng hỗ trợ, làm cho đơn thuốc dễ uống, trái lại đông y coi vị cam thảo có khả năng chữa rất nhiều bệnh

và dùng trong hầu hết các đơn thuốc Các kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

và trên lâm sàng đã chứng minh kinh nghiệm cổ truyền của nhân dân ta về vai trò cam thảo trong các đơn thuốc chữa bệnh Có thể kể ra một số kết quả nghiên cứu tiêu biểu như sau:

Tác dụng giải độc:

a Hậu Đằng Chinh, Trung Đảo Sinh Nam và Đại Một Nhất Hùng (1950) dùng muối natri của axit glyxyrizic thí nghiệm trên tim cô lập của ếch theo phương pháp Clark thấy natri glyxirizat có tác dụng chống lại với tác động của cloral hydrat, physistigmin, axetyl-cholin, pilocacspin và yohimbin, với histamin và cocain Natri glyxyrizat có tác dụng làm mạnh tim tương tự như chất adrenalin

b Trong nhật tân y học (1952) Tam Hảo Anh Phu viết như sau: Muối kali và

canxi của axit glyxyrizic có tác dụng giải độc rất mạnh đối với độc tố của bạch cầu, chất độc của cá lợn, của rắn, hiện tượng choáng

c Cửu Bảo Mộc Hiến và Tinh Kỳ Hòa Tử (Nhật Bản, 1954) đã báo cáo rằng chất glyxyrizin có khả năng giải độc do strincin: Các tác giả đã tiêm stricin nitrat cho chuột nhắt cân nặng 15g cho đến hiện tượng trúng độc, đồng thời đối với một lô chuột khác thì tiêm kali nitrat và glyxyrizin, kết quả là với liều 0,1mg stricnin nitrat, toàn bộ chuột chết trong vòng 10 phút còn lô chuột có tiêm cả glyxyrizin với liều 12,5mg thì chỉ có 58% chuột chết, nếu dùng nửa số liều gây chết (DL.50) của stricnin nitrat là 0,02mg/10g thì tỷ lệ tử vong của chuột là 58,3%, trong khi đó lô có tiêm stricnin nitrat đồng thời tiêm cả glyxyrizin thì không một con chuột nào bị chết cả Các tác giả cho rằng khả năng giải độc của cam thảo liên quan đến sự thủy phân glyxyrizin ra axit glycuronic

d Otto Gesner (1953) còn cho biết cam thảo có khả năng giải chất độc của độc

tố uốn ván

Trang 8

e Năm 1956, Từ Tá Hạ, Diệm Ứng Cử và Bì Tây Bình đã báo cáo trong Trung Hoa y học tạp chí (8: 755-766) rằng: Cam thảo có tác dụng giải độc đối với độc tố uốn ván

g Cũng trong năm 1956, Diệm Ứng Cử và Trương Tín Chi đã thí nghiệm cho thỏ và chuột nhắt uống dung dịch cam thảo 25-50% cũng với mocphin clohydrat, cocain clohydrat, stricnin nitrat, atropin sunfat, chloralhydrat, để xem khả năng giải độc thì thấy uống 4ml dung dịch cam thảo 25%/1kg thể trọng có thể giải độc của cocain clohydrat (5mg/kg tiêm dưới da) và cloral hydrat (0,2g/kg)

Tác dụng như coctison:

a Theo J A Molhuysen (1950) cam thỏa có tác dụng gần như coctison tăng sự tích nước và muối NaCl trong cơ thể gây ra thủy thũng đồng thời trị các vết loét trong

bộ máy tiêu hóa

b Năm 1986 Reaver đã dựa vào đơn một biệt dược chữa đau dạ dày lưu hành tại một tỉnh nhỏ tên là Netherland gồm có cam thảo, quả tiểu hồi và muối sắt ferơ, đã chỉ dùng cam thảo điều trị các bệnh loét đường tiêu hóa, kết quả sau vài ngày uống thuốc, các triệu chứng trường diễn của loét đều mất hết và sau 3 tuần lễ kiểm tra bằng X-quang thấy vết loét hoàn toàn bình phục, nhưng 1/5 những người được điều trị bằng cao cam thảo có hiện tượng thủy thũng, lúc đầu xuất hiện ở mặt, sau toàn thân, một vài bệnh nhân thấy hơi nhức đầu, lao động chân tay thì thấy thở khó khăn và bị đau ở phía trên bụng

c Năm 1953, Card căn cứ vào một số thí nghiệm trên chuột bạch, lại kết luận rằng tác dụng của cam thảo không giống tác dụng của desoxycocticosteron

Tác dụng đối với vị toan (nước chua của dạ dày):

Năm 1951, Chu Nhan và Chu Kim Hoàng ( Trung Quốc) đã dựa vào kết quả thực tế cam thảo chữa bệnh đau dạ dày thí nghiệm xem ảnh hưởng đối với vị toan Kết quả thấy khi thụt 50-60ml dung dịch cam thảo 1% vào dạ dày của chó đã gây mê thì có thể hạn chế sự tăng bài tiết vị toan do tiêm dưới da 0.5-1 mg chất histamin Nhưng nếu cho chó có dạ dày nhỏ theo phương pháp Pavlov uốn liên tục từ 14-24 ngày với liều

Trang 9

0.2-1 g/kg thể trọng, sau khi đã tiêm dưới da 0.2-0.4 histamin để gây tăng vị toan thì kết quả không rõ rệt Tác dụng giảm vị toan do tác dụng trực tiếp chứ không phải do phản xạ

Tác dụng tiêu giật (spasmolytique) đối với cơ trơn ống tiêu hóa

Năm 1956, H Barerger và H Hollel đã thí nghiệm so sánh tác dụng của nước cam thảo với papaverin clohydrat thì thấy kết quả là 1/450 và 1/3100

Tác dụng của nội tiết tố dục tính

Năm 1950, Christophr H Costello (J.Amer.Pharmaceut Ass.) đã báo cáo rằng trong cam thảo có chất tác dụng như nội tiết tố dục tính với âm đạo với âm đạo chuột bạch

Ngoài ra, một số tác giả khác còn cho rằng cam thảo bắc còn có tác dụng lợi tiểu, tiêu viêm, chữa táo bón

Công dụng và liều dùng

Cam thảo là một vị thuốc rất thông dụng trong đông y và tây y Theo tài liệu cổ, cam thảo có vị ngọt, tính bình (sau khi nướng thì tính hơi ôn), vào 12 đường kinh Cam thảo bắc có tác dụng bổ trung ích khí, nhuận phế chỉ khát, hoãn cấp chỉ thống, thanh nhiệt giải độc Chủ trị các chứng tỳ vị hư nhược, tâm khí hư mạch kết, mạch đại, ho suyễn, đau cấp hoãn, hầu họng sưng đau, giải độc thuốc, thức ăn, điều hòa tính vị và tác dụng của thuốc

Trong y học, ngoài công dụng làm cho thuốc ngọt dễ uống, làm tá dược chế thuốc viên, thuốc ho, thuốc giải độc, hiện nay cam thảo có hai công dụng chữa bệnh chủ yếu sau:

1 Chữa loét dạ dày và ruột: Ngày uống 3-4g, chia làm 3 lần uống trong ngày Uống luôn 7-14 ngày Sau đó nghỉ vài ngày để tránh hiện tượng phù nề, nặng mặt

2 Chữa bệnh Adidon vì trong cam thảo có axit glyxyretic cấu tạo như costison, nên có tác dụng tới sự chuyển hóa các chất điện giải cơ thể giữ lại natri và clorua trong

cơ thể giúp sự bài tiết kali và có thể dùng điều trị bệnh Adidon Năm 1956, ba tác giả Trung Quốc có báo cáo trong Trung Hoa y học tạp chí đã dùng cao lỏng cam thảo với

Trang 10

liều 15ml/ngày, có thể tăng tới 45-60ml để điều trị 4 trường hợp bệnh nhân bị bệnh Adidon thì thấy thể lực tăng cường, natri trong huyết thanh tăng lên, huyết áp tăng lên, dùng phối hợp với costison thì có thể giảm được lượng costison

Ai cũng biết đường saccaroza, chất ngọt được tiêu thụ nhiều nhất trong khẩu phần dinh dưỡng, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp nước ngọt nhưng ai cũng biết là

ăn đường nhiều dễ mập, dễ hư răng, nguy hiểm đối với người mắc bệnh tiểu đường Cho nên một hướng tìm tòi là thay vì ăn đường saccaroza, tìm một chất ngọt khác mà

cơ thể không thể biến đường được Trên hướng đó người ta dùng đường hóa học, saccarin, ngọt gấp 300-400 lần saccaroza, glyxyrrhizin của cam thảo ngọt gấp 50 lần đường, steviosit lấy từ trái cây Stevia rebaudiana ngọt gấp 300 lần, nhưng phần lớn các chất ngọt nói trên đều ít nhiều để lại một hậu vị đắng khó chịu, nhất là một số chất ngọt

kể trên lại bị nghi ngờ gây ra ung thư Gần đây nhất, thể giới đang lưu tâm nghiên cứu một chất dầu không màu, có vị ngọt chiết từ lá và hoa của một loại cỏ nguồn gốc ở Mehico, có tên khoa học là Lippia dulcis Trev thuộc họ cỏ roi ngựa (Verbenaceae) gọi theo tiếng địa phương ở Mehico là Tzonpelic Xihuiti có nghĩa là cỏ ngọt Cây này đang được một số cơ quan nghiên cứu ở nước ta (ở cả 2 miền) đang nghiên cứu trồng thử và chiết suất Chất ngọt lấy ra được đặt tên là hernandulcin để nhớ đến công ơn của Francisco Hernandez, một y sĩ Tây Ban Nha, người đầu tiên mô tả cây cỏ ngọt này giữa năm 1570-1576 Cấu tạo hóa học của chất này đã được xác định, kiểm tra bằng tổng hợp hóa học, khác với các chất ngọt đã được biết trước đó Hernandulcin thuộc nhóm sesquitecpen, có tính ổn định và dễ tổng hợp, giá thành không cao lắm Với cùng một số lượng phân tử như nhau, hernandulcin ngọt hơn đường saccaroza khoảng 1000 lần Đây là một chất ngọt tốt, qua nhiều trắc nghiệm sinh học, đã chứng tỏ có vẻ không sinh ra ung thư Cho vào bao tử chuột với liều 2g/1kg thể trọng,hernandulcin không gây hậu quả gì tai hại Tuy nhiên hernandulcin vẫn chưa đáp ứng hoàn toàn yêu cầu vì hương vị của hernandulcin không gây thích thú bằng đường saccaroza và hậu vị vẫn hơi đắng Người ta đang tìm cách tổng hợp các dẫn xuất của hernandulcin có thể không còn hậu vị khó chịu mà vị ngọt vẫn có hương vị dễ chịu của đường saccaroza

Trang 11

1.3 Cam thảo nam - Herba Scopariae dulcis [1, 5, 7, 22]

Hình 1.2 Cam thảo nam

Cam thảo nam có tên khoa học Scoparia dulcis L, họ Hoa mõm chó

(Scrophulariaceae), Chi Scoparia Một số tên gọi khác là: cam thảo đất, dã cam thảo, thổ cam thảo (Trung Quốc); giả cam thảo, dạ kham (Tày); t’rôm lạy(K’ho)

Cam thảo nam là cây thân cỏ nhỏ, mọc thẳng đứng, cao 30-80 cm Thân tròn, màu xanh, có 4-6 sọc lồi, nhẵn, mang thẹo cuống lá còn lại Lá đơn, mọc vòng 3 lá không bằng nhau hay mọc đối (những lá ở dưới), hình mác, đầu hơi nhọn, dài 2,5-4

cm, không có lá kèm Bìa lá có răng ở 2/3 phía trên, răng cưa tù, không đều, sâu 1-2

mm Phiến lá kéo dài men dọc theo 2 bên cuống lá, mặt trên sẫm, mặt dưới nhạt Không có lá kèm Gân lá hình lông chim lồi ở mặt dưới; 4-5 cặp gân phụ hơi lồi ở mặt dưới Cuống lá dài 5-7 mm Cụm hoa mọc riêng rẻ hay thành đôi ở nách lá Hoa gần đều, lưỡng tính, mẫu 4 đôi khi gặp mẫu 5, màu trắng Cuống hoa mảnh, dài 4-6 mm, màu xanh Lá đài 4, rời, đôi khi gặp 5 lá đài, màu xanh, hình bầu dục, dài khoảng 2,5

mm, có 3 gân nổi ở mặt ngoài, mép có lông, tồn tại và đồng trưởng với quả Cánh hoa

4, dính nhau ở dưới (đôi khi gặp 5) thành ống rất ngắn, màu trắng phớt tím; trên chia thành 4 phiến hình bầu dục, gần như đều nhau, dài khoảng 2 mm, uốn cong ngược ra

Trang 12

bên ngoài khi hoa nở, nhiều lông màu trắng, dạng sợi, dài gần bằng nhị đính ở miệng ống tràng Tiền khai: 1 cánh hoa ở ngoài cùng, 1 cánh ở trong cùng, 2 cánh hoa còn lại xen kẽ nhau Nhị 4, rời, đính trên miệng ống tràng, xen kẽ cánh hoa; chỉ nhị hình sợi màu trắng, đỉnh hơi tím, dài khoảng 1,5 mm Bao phấn hình mũi tên, 2ô, đính giữa, hướng trong, khai dọc Hạt phấn hình bầu dục, có rãnh 2 lá noãn ở vị trí trước-sau, dính liền thành bầu trên 2 ô, mỗi ô đựng nhiều noãn, đính noãn trung trụ 1 vòi nhụy dài khoảng 1,5 mm đính ở đỉnh bầu Đầu nhụy màu xanh, dành điểm có 2 thùy, có chất dính Quả nang hủy vách, hình cầu, trong chứa nhiều hạt nhỏ màu đen

Cam thảo nam là cây nhiệt đới có nguồn gốc từ Châu Mỹ, được thuần hóa trong tất cả các vùng nhiệt đới của thế giới như Việt Nam, Ấn Độ, Malaixia, Thái Lan, châu vùng Quảng Tây - phía Nam Trung Quốc… Ở nước ta, cây mọc hoang khắp nơi từ Bắc vào Nam Thường gặp trên đất hoang, dọc bờ đường, trên các dải cát của các sông

và trong các ruộng khô, ở vùng thấp Có thể thu hái quanh năm, nhưng chủ yếu vào mùa xuân hè Đào toàn cây cả rễ, rửa sạch đất cát, thái nhỏ dùng tươi hoặc phơi hay sấy khô để dùng dần

Theo Heyme, thành phần hóa học chính của cây chứa alkaloid và axit mật; còn

có chứa nhiều acid silicic và một hoạt chất gọi là amellin Phần trên mặt đất có chứa một chất dầu sền sệt mà trong thành phần có dulciol, scopariol, (+)manitol, glucose Rễ chứa (+)manitol, tannin, alkaloid, triterpenoids: friedelin, glutinol-a-amarin, acid betulinic, acid dulcinic, acid iflaionic, scoparic A, B, C, D scopadulcic (A: R = COOH, R’ = CH2OH; B: R = Me, R’ = COOH)

Trang 13

Bảng 1.1 Một số chất hữu cơ trong cam thảo nam

Trang 14

Cây cam thảo nam thường dùng trị: cảm cúm, sốt, nóng nhiều, ho khan, ho có đàm Lỵ trực trùng Tê phù, phù thủng, giảm niệu Dùng ngoài, ép lấy dịch từ cây tươi trị mụn nhọt, lở ngứa, eczema Hoạt chất amellin dùng điều trị bệnh đái đường, thiếu máu, albumin niệu, ceton niệu, viêm võng mạc, những biến chứng kèm theo đái đường

và làm các vết thương mau lành Rễ trị đau bụng, kiết, lợi tiểu; thân trị ho, sốt, giải độc, trị kinh nguyệt nhiều hay đau, giúp sinh dễ; lá bổ, làm cường tráng dục tính, trị sạn, trị viêm phế quản

Tại đảo Angti, rễ cam thảo nam được dùng làm thuốc thu sáp, thuốc nhầy để chữa bệnh lậu, kinh nguyệt quá nhiều Tại Baraxin, lấy nước ép cam thảo nam thụt chữa bệnh đi ỉa lỏng và uống chữa ho Tại Ấn Độ, cam thảo nam được dùng chữa triệu chứng axit (acidose) trong bệnh đái đường vì theo các tài liệu nghiên cứu cho thấy trong cây này có một hoạt chất gọi là amelin Tuy nhiên, Whittaker H., Brit Med.J (1918), theo dõi áp dụng chất amelin trong 2 trường hợp thì cho rằng amelin không công hiệu với bệnh đái đường Vì vậy cần có các nghiên cứu thêm về tác dụng này

Cách dùng với các loại thuốc khác trong chữa trị một số bệnh thông thường:

Lỵ trực trùng: Cam thảo đất, rau má, lá rau muống, địa liền, mỗi vị 30g, sắc uống Cảm cúm, nóng ho: Cam thảo đất tươi 30g, Diếp cá 15g, Bạc hà 9g, sắc uống Có

thể phối hợp với Rau má, Cỏ tranh, Sài hồ nam, Mạn kinh, Kim ngân, Kinh giới

Mụn nhọt: Cam thảo đất 20 g, kim ngân hoa 20 g, sài đất 20 g Sắc uống ngày một

thang

Dị ứng, mề đay: Cam thảo đất 15 g, ké đầu ngựa 20 g, kim ngân hoa 20 g, lá mã

đề 10 g Sắc uống ngày một thang

Sốt phát ban: Cam thảo đất 15 g, cỏ nhọ nồi 15 g, sài đất 15 g, củ sắn dây 20 g, lá

trắc bá 12 g Sắc uống ngày một thang

Tiểu tiện không lợi: Cam thảo đất 15 g, hạt mã đề 12 g, râu ngô 12 g Sắc uống

ngày một thang

Ho: Cam thảo đất 15 g, lá bồng bồng 10 g, vỏ rễ cây dâu 15 g Sắc uống ngày một

thang

Trang 15

1.4 Albizia myriophylla Benth – Cây sóng rắn (cam thảo cây) [1, 5, 7, 21]

Hình 1.3 Cây sóng rắn

Sóng rắn, còn gọi là Cam thảo cây, sóng rận, sóng rắn nhiều lá, tên khoa học là

Albizzia myriophylla Benth Thuộc họ Trinh nữ (Mimosaceae)

Từ sau ngày Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, ở nhiều tỉnh phía Nam người ta dùng cây này thay vị cam thảo Chúng tôi giới thiệu ở đây để tránh nhầm lẫn

Trước đây, cây này trước đây không có công dụng làm thuốc nhưng gần đây nó

được dùng khá rộng rãi thay thế cho Cam thảo (Glycyrrhiza spp.) vì có vị ngọt Tuy

nhiên, vị ngọt của Sóng rắn khác với Cam thảo, cho cảm giác lợm giọng và hơi tê lưỡi sau khi nếm Có thể phát hiện sự giả mạo này bằng cách soi bột vào và vi phẫu, hình dạng, mùi vị: Rễ cây cam thảo có đường kính đều 5-20mm, màu đỏ nâu, nơi vỏ nứt lộ ruột màu vàng, còn song rắn cố đường kính to nhỏ không đều 50-70mm, vỏ rễ xám vàng nhạt, vỏ rễ có lốm đốm trắng Rễ cam thảo có vị ngọt thấm lâu và dịu, còn vỏ sóng rắn có vị gắt làm hắt hơi, ngọt ít hơn sau đó làm tê lưỡi và mất vị giác Vi phẫu sóng rắn có vòng cương mô liên tục ở miền vỏ rễ,tia hủy nhỏ nên các chùy libe không

Trang 16

rõ,còn cam thảo không có vòng cương mô liên tục, tia hủy lớn nên các chùy libe phân cách rõ ràng( Hồ Đắc Ân, Lưu Trọng Hồ và Đỗ Thị Bảo Hạnh-dược học 6.1978,6-9)

Cây bụi mọc cao 2-4m ,tựa thân leo,thân có vỏ màu nâu, cành non có lông màu hung Thân cành màu nâu, có cạnh, sau tròn, khi chặt có nước chảy ra Lá kép có cuống chung dài 9cm,với 9-16 cặp lá chét, mỗi lá chét lại có từ 20-40 cặp lá chét thứ cấp, dài 5-8mm, rộng 1mm, có lông ở dưới và ở dìa Cụm hoa hình tán, màu trắng mọc thành chùm ở đầu cành mang hoa hình bán cầu, dai 1mm, vành 4mm, có lông vàng, 15 tiểu nhụy, quả giáp dài 12cm, rộng 2cm chứa 4-9 hạt dài 6mm, màu nâu Lá kép hai lần lông chim chẵn gồm rất nhiều lá chét nhỏ, có 2 tuyến ở cuống lá Mùa hoa quả tháng 4-

11

Trong rễ sóng rắn có 0,035% ancaloit, màu trắng ngà, vị rất đắng,6% saponin thô màu vàng nâu nhạt, vị gắt cây, hút ẩm ở ngoài không khí Ngoài ra còn có cho phản ứng flavonoit và steroid

Cho chuột nhắt (trọng lượng 20g) uống dung dịch nước với liều 18g/kg thể trọng đến 20g/kg chuột chết sau 2 đến 3 ngày Tỷ lệ tử vong 10%(với liều 18g/kg) đến 25% (với liều 20g/kg) (Hồ Đắc Ân và cộng sự, tài liệu đã dẫn)

Trong quá trình tìm kiếm các chất có vị ngọt từ cây Sóng rắn, đã phân lập được

4 lignan glycosid từ vỏ thân, tuy cả 4 chất này đều không có vị ngọt Ngoài một chất có

cấu trúc đã biết là (-)-syringaresinol 4-O-b-D-apiofuranosyl-(1- 2)-b-D-glucopyranosid

, ba hợp chất lignan có cấu trúc mới gồm: albizziosid A, albizziosid B và albizziosid C

đã được phân lập

Ngoài ra, Sóng rắn còn chứa một alcaloid có cấu trúc spermidin vòng lớn (macrocyclic spermidine alkaloid) Ðây là lần đầu tiên một alcaloid có cấu trúc loại này được tìm thấy ở một cây thuộc họ Leguminosae, vì các chất có cấu trúc tương tự chỉ được tìm thấy ở các họ khác xa họ này về mặt phân loại thực vật như Equisetaceae và Moraceae

Trang 17

Sống rắn có vị ngọt hơi lợm giọng, tính mát, không độc Lương y Nguyễn An

Cư cho biết: Sống rắn tả can nhiệt, thoái tâm hoả, lương huyết, giải độc, trừ ung nhọt, mày đay, tiêu cam sát trùng, giải khát trừ phiền, trẻ con nứt môi, đẹn đều chữa được Công dụng: Dân gian thường dùng nó làm thuốc giải nhiệt và chữa ho như Cam thảo Ngày dùng 10-20g sắc uống, thường phối hợp với các vị thuốc khác Ở Thái Lan,

rễ được dùng giải khát và nhuận tràng; gỗ và quả dùng làm thuốc trị ho

Chỉ mới thấy dùng với mục đích thay cam thảo do sự nhầm lẫn cố ý Cần có sự nguyên cứu sâu hơn để hoặc cho phép dùng hoặc cấm hẳn

1.5 Abrus precatorius L – Cam thảo dây [1, 5, 7]

Hiện chi Abrus có 18 loài phân bố ở các miền nhiệt đới là:

STT Tên khoa học Tên thường gặp Phân bố

9 Abrus longibracteatus cườm thảo lá bắc dài Lào, Việt Nam

Trang 18

11 Abrus mollis cườm thảo mềm

Hiện ở Việt Nam phổ biến 3 loài thuộc chi Abrus là:

Abrus fruticulosus (Cườm thảo chồi, Kê cốt thảo) Abrus mollis (Cườm thảo mềm, Mao tương tư tử) Abrus precatorius (Cam thảo dây, Dây chi chi)

1.5.1 Đặc điểm về lá, rễ và hoa của cam thảo dây (Abrus precatorius L.) [13, 15]

Cây cam thảo dây còn có tên gọi khác là dây cườm cườm, dây chi chi, tương tư

tử, tương tự đậu, tương tư đằng, Ang krang, Angkreng (Campuchia), thuộc họ Đậu Fabaceae Tên khoa học Abrus precatorius L (Abrus minor et pauciflorus, Glycine abrus L.), Chi Abrus.

Cam thảo dây là loài cây liên nhiệt đới, mọc hoang trong các rừng còi, rừng thưa vùng núi thấp đến trung du và đồng bằng Ở nước ta, thường gặp nhiều ở các tỉnh miền Trung từ Thừa Thiên - Huế đến Ninh Thuận Cam thảo dây là cây dây leo, sống nhiều năm với cành nhánh nhiều và mảnh, cành non có lông nhỏ Lá kép lông chim chẵn, cả cuống dài 15-24 cm, gồm 9-11 cặp lá chét thuôn, tù, màu lục sẫm, mọc so le;

Trang 19

cuống lá chét và cuống lá kép đều có đốt, phiến lá chét hơi hình chữ nhật dài 5-20 mm, rộng 3-8 mm

Cây trồng được 3 tháng đã có thể thu hoạch dây lá Cắt các đoạn dây mang lá, quấn lại thành bó rồi phơi khô Thu hái rễ vào mùa xuân-hè

Hình 1.4 Lá cam thảo dây

Hoa nhiều, nhỏ, màu hồng hay tím nhạt, có tràng hoa dạng bướm, xếp thành chuỳ ở nách lá

Hình 1.5 Hoa của cam thảo dây

Trang 20

Hình 1.6 Rễ cam thảo dây

Lá, rễ Cam thảo dây chứa một chất ngọt tương tự glycyrrhizin của Cam thảo, nhưng vị khó chịu và đắng Tỷ lệ chất này chỉ có 1-2%

Glycyrrhizin

Trang 21

Cam thảo dây có tên thuốc là tương tư đằng giống như cam thảo, dây cam thảo

vị ngọt, tính bình, quy vào 12 kinh lạc có tác dụng ích khí dưỡng huyết, bổ tỳ vị, nhuận phế, chỉ ho, thanh nhiệt, tả hỏa, giải độc, giảm đau, điều hòa các vị thuốc dùng chữa các bệnh đau dạ dày, đau bụng, gân mạch co rút, yếu dạ dày, kém ăn, viêm hầu họng,

ho nhiều đàm, mụn nhọt, đinh độc sưng đau, giúp gan giải độc, chống viêm nhiễm, giảm cholesterol trong máu Liều dùng 6-12g Có thể dùng thay Cam thảo bắc Thường phối hợp với các vị thuốc khác Người ta còn dùng lá Cam thảo dây nhai với muối và nuốt nước để chữa chứng đánh trống ngực

Ở Đông Phi, có nơi dùng lá trị rắn độc cắn Ở Inđônêxia, người ta dùng dây lá làm thuốc chữa đau bụng, trị bệnh spru (ỉa chảy vùng nhiệt đới) Ở Philippin, lá và rễ sắc chữa ho, chữa đau mắt hột mạn tính

1.5.2 Quả và hạt cam thảo dây [12, 14, 15, 17, 18, 19]

Mùa hoa quả tháng 3-6 trở đi đến tháng 9-10 Quả thon dài 5 cm, rộng 12-15

mm, dày 7-8 mm, mặt có lông ngắn, có 3-7 hạt Thu hoạch quả vào mùa thu rồi phơi khô, đập lấy hạt

Hình 1.7 Qủa và hạt của cam thảo dây

Trang 22

Hạt hình trứng, nhẵn bóng, to bằng hạt đậu gạo, màu đỏ chói, có một đốm đen rộng bao quanh tễ

Hình 1.8 Hạt cam thảo dây

Hạt của Abrus precatorius L có giá trị trong việc làm đồ trang sức của một số dân cư bản địa nhờ màu sắc rực rỡ của nó Một phần ba vỏ hạt (phần có rốn hạt) có màu đen, trong khi phần còn lại có màu đỏ tươi, giống như con bọ rùa

Hình 1.9 Vòng đeo tay làm bằng hạt cam thảo dây

Trang 23

Vỏ hạt chứa chất màu là abarnin (anthocyan monoglycosid) Việc làm đồ trang sức bằng hạt cam thảo dây là nguy hiểm, và đã có thông báo về các trường hợp tử vong

do bị đâm vào tay trong khi khoan lỗ trên hạt để xỏ dây

Ở Ấn Độ, người ta dùng hạt làm thuốc tẩy, gây nôn và kích dục, dùng trong những rối loạn thần kinh và ngộ độc của súc vật Người ta cũng dùng bột làm thuốc đạn gây sẩy thai Hạt chỉ dùng ngoài để sát trùng, tiêu viêm, làm mụn nhọt chóng vỡ

mủ (giã nhỏ đắp); tốt nhất là trị vú sưng đau do tắc tia sữa: người ta lấy một lượng vừa

đủ, giã nát, nghiền thành bột, trộn với dầu mè bôi và đắp ngoài

Hạt cam thảo dây rất độc Chất độc đó là abrin, tan được trong nước Nếu đem hạt giã nhỏ, hòa với nước uống sẽ bị ngộ độc với triệu chứng biếng ăn, ăn mất ngon, mệt mỏi, đau đầu dữ dội, huyết áp hạ, mất thăng bằng cơ thể, chân tay run rẩy, nôn mửa, tiêu chảy Thời kỳ tiền ngộ độc kéo dài ít nhất vài giờ trước khi xuất hiện triệu chứng ngộ độc Nước ngâm hạt cam thảo dây bôi vào chỗ da bị xước sẽ gây loét tại chỗ, nhỏ vào mắt sẽ gây phù tấy kết mạc dẫn đến hỏng giác mạc Độ độc của hạt cam thảo dây được một số dân tộc vùng Tây Ấn Độ dùng đầu độc Tuy nhiên theo một số tác giả thì hạt cây không độc vì tại Ai Cập có người dùng hạt này để ăn hoặc trẻ con tại một số bến tàu ở châu Âu hay chơi hạt này, nhiều khi nhỡ ăn phải mà không chết

Trong hạt chứa một albumin độc (toxalbumin) là abrin có cấu trúc và tính chất gần với ricin trong hạt thầu dầu; Chỉ với 1/2mg abrin đã là liều tử cho người trưởng thành; Ngoài ra, trong thành phần của hạt còn có các chất khác như L abrin, abralin, precatorin, hemaglutinin, trigonellin N-dimethyl tryptophan methyl este, hypaphorin

và một số sterol như stigmasterol, brassicasterol, men ureaza

Trang 24

Bảng 1.2 Một số hợp chất hữu cơ có trong hạt cam thảo

CH3

L – abrin

N H

COOH

H3CHN

Hypaphorin

N H

COO(H3C)3N+

-Precatorin

N+

O O

CH3

COOOH

-Brassicasterol

O H

CH3

H

H H

Trang 25

N-dimethyl tryptophan

methyl este

Stigmasterol

O H

CH3

H

H H

H3

1.5.3 Hợp chất Abrin trong hạt cam thảo dây [14, 15, 18, 19, 26, 27]

Abrin là chất được tìm thấy trong hạt của cây cam thảo dây Ta có thể chiết chất abrin như sau: sắc hạt hoặc pha nước sôi với hạt, lọc lấy nước rồi cho vào cồn để kết tủa rồi đem sấy khô Abrin dạng bột có màu trắng vàng, công thức phân tử C12H14N2O2

và công thức cấu tạo như sau:

NH

NH

CH3

Abrin là một protein thuộc nhóm phytotoxin, là chất có độc tính cao Liều gây

tử vong ước tính của con người 0,1-1 microgram / kg - nghĩa là abrin có thể giết chết

Trang 26

người với số lượng lưu thông nhỏ hơn 3 μg (microgam) Mức độ nghiêm trọng của những ảnh hưởng của ngộ độc abrin khác nhau tùy thuộc vào cách thức tiếp xúc

Hít phải: Trong vòng một vài giờ hít phải một lượng đáng kể của abrin, các

triệu chứng có khả năng sẽ là suy hô hấp (khó thở), sốt, ho, buồn nôn, và đau thắt ngực, phù phổi Điều này sẽ làm cho hơi thở thậm chí còn khó khăn hơn, và da có thể chuyển sang màu xanh Cuối cùng, hạ huyết áp và suy hô hấp có thể xảy ra, dẫn đến tử vong

Nuốt phải: Nếu nuốt ai đó một số lượng đáng kể của abrin, họ sẽ nôn mửa và

tiêu chảy Mất nước nghiêm trọng có thể là kết quả, theo sau là huyết áp thấp Dấu hiệu hoặc triệu chứng khác có thể bao gồm ảo giác, co giật, và có máu trong nước tiểu Trong vòng vài ngày, người gan, lá lách và thận có thể ngừng làm việc, và dẫn đến nguy cơ có thể chết Da và mắt tiếp xúc: abrin ở dạng bột hoặc sương mù có thể gây mẩn đỏ và đau đớn ở vùng da và mắt

Tử vong từ ngộ độc abrin có thể diễn ra trong vòng 36 đến 72 giờ của tiếp xúc, tùy thuộc vào các tuyến đường tiếp xúc (qua đường hô hấp, tiêu hóa, hoặc tiêm) và liều nhận được Nếu trong 3-5 ngày không có hiện tượng gì thì nạn nhân thường hồi phục Cần chú ý rằng các biểu hiện lâm sàng thực tế khi tiếp xúc với chất ricin hoặc abrin có thể có nhiều biến đổi hơn so với hội chứng được mô tả ở trên

1.5.3.1 Cơ chế hoạt động

Các triệu chứng ngộ độc là y như ngộ độc ricin, ngoại trừ liều gây tử vong của ricin là khoảng 75 lần cao hơn của abrin Abrin là một chất nhị trùng bao gồm hai cấu trúc dưới phân tử protein, gọi là A và B (là abrin và L Abrin) Cả hai loại đều bao gồm hai chuỗi dây chuyền, một chuỗi A và chuỗi B Một liên kết trái ngược giữa Cys247 của chuỗi A và Cys8 của các liên kết chuỗi B-A và chuỗi B Một chuỗi xúc tác bất hoạt các tiểu đơn vị 60S ribosome bằng cách loại bỏ adenine từ vị trí 4 và 324

Trang 27

của 28S rRNA do đó ức chế tổng hợp protein Chuỗi B-là một lectin galactose cụ thể tạo điều kiện ràng buộc của abrin lên màng tế bào Chuỗi B của cả loại abrin bao gồm

268 amino acid và 256 lượng thành phần giống hệt nhau

Hình 1.10 Cấu trúcAbrin

Hình 1.11 Kohno,T Senda, T Narumi, H Kimura, S and Mitsui, Y

Three-dimensional structure of Abrin-a A-chain having ribosome inactivating activity Proc.Japan Acad 71B, 104-107

Trang 28

Chuỗi B có tác dụng "gắn" abrin vào tế bào: nó liên kết với các protein vận chuyển trong màng tế bào để sau đó vận chuyển chất độc vào trong tế bào Khi đã ở trong tế bào, chuỗi A ngăn cản việc tổng hợp bằng cách thụ động hóa cấu trúc dưới phân tử 26S của ribosom Một phân tử abrin sẽ làm cho khoảng 1.500 ribosom bị thụ động trên 1 giây

Hình 1.12 Kono, T Senda, T Narumi, H Kimura, S & Mitsui, Y (1995)

Crystallization and preliminary crystallographic analysis of recombinant Abrin-a

A-chain with ribosome inactivating activity PROTEINS 23, 126-127

Như vậy, abrin hoạt động bằng cách xâm nhập các tế bào của cơ thể và tế bào

ức chế tổng hợp protein Bằng cách gắn một chuỗi carbohydrate trên bề mặt tế bào, phân tử abrin neo chính nó vào tế bào, sau đó chuyển hóa và đi vào các bộ phận bên trong của tế bào Tại đây, nó phản ứng với một tiểu đơn vị ribosome và cản trở quá trình tổng hợp protein của tế bào bình thường Nếu không có các protein này, các tế bào không thể tồn tại Điều này là có hại cho cơ thể con người và có thể dẫn đến tử vong Với LD50 ước tính cho con người > 300 mg làm cho nó cực kỳ độc hại [4]

Ngày đăng: 19/07/2014, 00:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Võ Văn Chi (1999), Từ điển cây thuốc Việt Nam, NXB Y học Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển cây thuốc Việt Nam
Tác giả: Võ Văn Chi
Nhà XB: NXB Y học Hồ Chí Minh
Năm: 1999
[2]. GS. Nguyễn Văn Đàn, DS.Nguyễn Viết Tựu (1985), Phương pháp nghiên cứu hóa học cây thuốc, NXB Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu hóa học cây thuốc
Tác giả: GS. Nguyễn Văn Đàn, DS.Nguyễn Viết Tựu
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 1985
[3]. Nguyễn Đức Huệ (2005), Các phương pháp phân tích hữu cơ, NXB Y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp phân tích hữu cơ
Tác giả: Nguyễn Đức Huệ
Nhà XB: NXB Y học Hà Nội
Năm: 2005
[4]. Trần Tứ Hiếu (2001), Hóa Học phân tích, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hóa Học phân tích
Tác giả: Trần Tứ Hiếu
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
[5]. Đỗ Tất Lợi (2003), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, NXB KHKT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam
Tác giả: Đỗ Tất Lợi
Nhà XB: NXB KHKT Hà Nội
Năm: 2003
[6]. Nguyễn Kim Phi Phụng, Phương pháp cô lập hợp chất hữu cơ, NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp cô lập hợp chất hữu cơ
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
[7]. Ngô Văn Thu, Bài Giảng Dược Liệu, Tập 1 (2004), Bộ Môn Dược Liệu Trường Đại Học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài Giảng Dược Liệu, Tập 1
Tác giả: Ngô Văn Thu, Bài Giảng Dược Liệu, Tập 1
Năm: 2004
[8]. Nguyễn Văn Tòng, Thực hành hóa học hữu cơ, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành hóa học hữu cơ
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
[9]. Võ Thị Chăm Pa (2011), Luận văn tốt nghiệp, Nghiên cứu chiết tách và xác định thành phần một số hợp chất hữu cơ có trong vỏ thân cây đại, Đại học Sư phạm Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chiết tách và xác định thành phần một số hợp chất hữu cơ có trong vỏ thân cây đại
Tác giả: Võ Thị Chăm Pa
Năm: 2011
[10]. Nguyễn Đình Triệu (2001), Các phương pháp phân tích vật lý hóa lý, NXB Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp phân tích vật lý hóa lý
Tác giả: Nguyễn Đình Triệu
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2001
[11]. Bùi Xuân Vững, Phương pháp phân tích công cụ. Tài liệu chuyên ngành Hóa Đại học Đà Nẵng.Trang Web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp phân tích công cụ

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Cam thảo bắc Glycyrrhiza uralensis - Nghiên cứu chiết tách chất abrin từ hạt cây cam thảo dây ở đà nẵng
Hình 1.1. Cam thảo bắc Glycyrrhiza uralensis (Trang 4)
Hình 1.2. Cam thảo nam - Nghiên cứu chiết tách chất abrin từ hạt cây cam thảo dây ở đà nẵng
Hình 1.2. Cam thảo nam (Trang 11)
Bảng 1.1. Một số chất hữu cơ trong cam thảo nam - Nghiên cứu chiết tách chất abrin từ hạt cây cam thảo dây ở đà nẵng
Bảng 1.1. Một số chất hữu cơ trong cam thảo nam (Trang 13)
Hình 1.3. Cây sóng rắn - Nghiên cứu chiết tách chất abrin từ hạt cây cam thảo dây ở đà nẵng
Hình 1.3. Cây sóng rắn (Trang 15)
Hình 1.5. Hoa của cam thảo dây - Nghiên cứu chiết tách chất abrin từ hạt cây cam thảo dây ở đà nẵng
Hình 1.5. Hoa của cam thảo dây (Trang 19)
Hình 1.4. Lá cam thảo dây - Nghiên cứu chiết tách chất abrin từ hạt cây cam thảo dây ở đà nẵng
Hình 1.4. Lá cam thảo dây (Trang 19)
Hình 1.6. Rễ cam thảo dây - Nghiên cứu chiết tách chất abrin từ hạt cây cam thảo dây ở đà nẵng
Hình 1.6. Rễ cam thảo dây (Trang 20)
Hình 1.7. Qủa và hạt của cam thảo dây - Nghiên cứu chiết tách chất abrin từ hạt cây cam thảo dây ở đà nẵng
Hình 1.7. Qủa và hạt của cam thảo dây (Trang 21)
Hình 1.8. Hạt cam thảo dây - Nghiên cứu chiết tách chất abrin từ hạt cây cam thảo dây ở đà nẵng
Hình 1.8. Hạt cam thảo dây (Trang 22)
Hình 1.9. Vòng đeo tay làm bằng hạt cam thảo dây - Nghiên cứu chiết tách chất abrin từ hạt cây cam thảo dây ở đà nẵng
Hình 1.9. Vòng đeo tay làm bằng hạt cam thảo dây (Trang 22)
Bảng 1.2. Một số hợp chất hữu cơ có trong hạt cam thảo - Nghiên cứu chiết tách chất abrin từ hạt cây cam thảo dây ở đà nẵng
Bảng 1.2. Một số hợp chất hữu cơ có trong hạt cam thảo (Trang 24)
Hình 1.10 .Cấu trúcAbrin - Nghiên cứu chiết tách chất abrin từ hạt cây cam thảo dây ở đà nẵng
Hình 1.10 Cấu trúcAbrin (Trang 27)
Hình 2.1. Mô hình biểu diễn quá trình chiết ngâm dầm - Nghiên cứu chiết tách chất abrin từ hạt cây cam thảo dây ở đà nẵng
Hình 2.1. Mô hình biểu diễn quá trình chiết ngâm dầm (Trang 33)
Hình 2.2. Mô hình biểu diễn chiết ngấm kiệt - Nghiên cứu chiết tách chất abrin từ hạt cây cam thảo dây ở đà nẵng
Hình 2.2. Mô hình biểu diễn chiết ngấm kiệt (Trang 34)
Hình 2.3. Mô hình hệ thống chiết shoxhlet  a. Cấu tạo của hệ thống chiết shoxhlet - Nghiên cứu chiết tách chất abrin từ hạt cây cam thảo dây ở đà nẵng
Hình 2.3. Mô hình hệ thống chiết shoxhlet a. Cấu tạo của hệ thống chiết shoxhlet (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm