SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 2 Lớp: 08SHH MỞ ĐẦU I. Lý do chọn đề tài Chúng ta đang sống trong một đất nước có nền kinh tế đang phát triển và ngày càng phát triển nhanh chóng. Vì vậy, giáo dục cũng phải từng bước thay đổi để ngày càng hiện đại hơn, phù hợp hơn và đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Đó là đào tạo ra những con người năng động, sáng tạo, có khả năng thích ứng cao, có năng lực giải quyết vấn đề đặt ra từ cuộc sống. Để đáp ứng được những yêu cầu đó giáo dục môn Hoá học THPT cần hướng tới mục tiêu: cung cấp cho HS hệ thống kiến thức, kĩ năng phổ thông, cơ bản, hiện đại, thiết thực và gắn với đời sống. Hóa học là một bộ môn thực nghiệm, có nhiều kiến thức liên quan đến thực tiễn. Vì vậy, mục tiêu trên được định hướng như sau: Nội dung phải gắn bó thực tiễn đời sống, xã hội. Nội dung phải gắn liền với thực hành, TN. BT Hóa học phải có nội dung thiết thực. Hệ thống câu hỏi và BT thực tiễn là mục đích, là nội dung và cũng là phương pháp dạy học hiệu quả. Bằng cách này, bài giảng Hóa học sẽ dễ dàng đạt yêu cầu vì có liên hệ thực tiễn; giúp HS giải thích những hiện tượng trong tự nhiên, tránh việc mê tín dị đoan; kích thích được lòng say mê học hỏi, phát triển tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề của HS. Tăng cường sử dụng câu hỏi và BT thực tiễn trong dạy học Hoá học sẽ góp phần thực hiện nguyên lí giáo dục: học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lí luận gắn với thực tiễn. Bằng những kiến thức Hoá học, HS có thể trả lời được những câu hỏi “Tại sao?” nảy sinh từ thực tiễn và hơn nữa có thể đưa ra giải pháp tối ưu cho tình huống từ chính thực tiễn đó. Môn Hoá học là môn học khó, nếu không có những bài giảng và phương pháp hợp lý phù hợp với thế hệ học trò dễ làm cho HS thụ động trong việc tiếp thu, cảm nhận. Đã có hiện tượng một bộ phận HS không muốn học Hoá học, ngày càng lạnh nhạt với giá trị thực tiễn của Hoá học; nhiều GV dùng đồng loạt cùng một cách dạy, một bài giảng cho nhiều lớp, nhiều thế hệ học trò là không ít. Do phương pháp Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Lan Anh SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 3 Lớp: 08SHH ít có tiến bộ mà người GV đã trở thành người cảm nhận, truyền thụ tri thức một chiều. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “ Nâng cao hiệu quả dạy học môn Hóa học ở trƣờng THPT bằng hệ thống câu hỏi và BT thực tiễn” để nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp. II. Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu II.1. Mục đích nghiên cứu Lựa chọn và xây dựng hệ thống câu hỏi và BT thực tiễn môn Hóa học THPT nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học. II.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu cơ sở lý luận để lựa chọn, xây dựng câu hỏi và BT thực tiễn trong dạy Hóa học THPT. Lựa chọn, xây dựng hệ thống câu hỏi và BT thực tiễn Hóa học THPT. III. Khách thể đối tƣợng nghiên cứu III.1. Khách thể nghiên cứu Quá trình học tập môn Hoá học ở trường THPT. III.2. Đối tƣợng nghiên cứu Hệ thống câu hỏi và BT thực tiễn Hóa học THPT. IV. Phƣơng pháp nghiên cứu Nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các tài liệu liên quan về lý luận dạy học, giáo dục học và các tài liệu khoa học có liên quan đến đề tài. Nghiên cứu thực tiễn: sưu tầm các câu hỏi và BT thực tiễn.
Trang 1SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 1 Lớp: 08SHH
Trang 2Hóa học là một bộ môn thực nghiệm, có nhiều kiến thức liên quan đến thực tiễn Vì vậy, mục tiêu trên được định hướng như sau:
- Nội dung phải gắn bó thực tiễn đời sống, xã hội
- Nội dung phải gắn liền với thực hành, TN
- BT Hóa học phải có nội dung thiết thực
Hệ thống câu hỏi và BT thực tiễn là mục đích, là nội dung và cũng là phương pháp dạy học hiệu quả Bằng cách này, bài giảng Hóa học sẽ dễ dàng đạt yêu cầu vì có liên hệ thực tiễn; giúp HS giải thích những hiện tượng trong tự nhiên, tránh việc mê tín dị đoan; kích thích được lòng say mê học hỏi, phát triển tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề của HS Tăng cường sử dụng câu hỏi và BT thực tiễn trong dạy học Hoá học sẽ góp phần thực hiện nguyên lí giáo dục: học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lí luận gắn với thực tiễn Bằng những kiến thức Hoá học, HS có thể trả lời được những câu hỏi “Tại sao?” nảy sinh từ thực tiễn và hơn nữa có thể đưa ra giải pháp tối ưu cho tình huống từ chính thực tiễn đó
Môn Hoá học là môn học khó, nếu không có những bài giảng và phương pháp hợp lý phù hợp với thế hệ học trò dễ làm cho HS thụ động trong việc tiếp thu, cảm nhận Đã có hiện tượng một bộ phận HS không muốn học Hoá học, ngày càng lạnh nhạt với giá trị thực tiễn của Hoá học; nhiều GV dùng đồng loạt cùng một cách dạy, một bài giảng cho nhiều lớp, nhiều thế hệ học trò là không ít Do phương pháp
Trang 3để nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp
II Mục đích - nhiệm vụ nghiên cứu
II.1 Mục đích nghiên cứu
- Lựa chọn và xây dựng hệ thống câu hỏi và BT thực tiễn môn Hóa học THPT nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học
II.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận để lựa chọn, xây dựng câu hỏi và BT thực tiễn trong dạy Hóa học THPT
- Lựa chọn, xây dựng hệ thống câu hỏi và BT thực tiễn Hóa học THPT
III Khách thể - đối tượng nghiên cứu
III.1 Khách thể nghiên cứu
- Quá trình học tập môn Hoá học ở trường THPT
III.2 Đối tượng nghiên cứu
- Hệ thống câu hỏi và BT thực tiễn Hóa học THPT
IV Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các tài liệu liên quan về lý luận dạy học, giáo dục học và các tài liệu khoa học có liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu thực tiễn: sưu tầm các câu hỏi và BT thực tiễn
Trang 4
SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 4 Lớp: 08SHH
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Mục tiêu, nguyên lý, phương pháp giáo dục THPT [11], [12]
Theo Luật giáo dục ban hành năm 1998:
- Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động
- Hoạt động giáo dục phải đuợc hoạt động theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và xã hội
- Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh
Như vậy giáo dục phổ thông không phải là truyền thụ kiến thức đơn thuần
1.2 Mục tiêu – nhiệm vụ giảng dạy môn Hóa học THPT [2]
Trang 5HS vận dụng để xem xét các đối tượng Hóa học cụ thể
- Hóa vô cơ: Vận dụng lý thuyết chủ đạo nghiên cứu các đối tượng cụ thể như nhóm nguyên tố, những nguyên tố điển hình và các hợp chất có nhiều ứng dụng quan trọng, gần gũi trong đời sống, sản xuất Hóa học
- Hóa hữu cơ: Vận dụng lý thuyết chủ đạo nghiên cứu các hợp chất hữu cơ cụ thể, một số dãy đồng đẳng hoặc loại hợp chất hữu cơ tiêu biểu, có nhiều ứng dụng, gần gũi trong đời sống và sản xuất
- Một số vấn đề về phân tích Hóa học, Hóa học và các vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường
+ Hóa học và vấn đề phát triển kinh tế: Vai trò của sản xuất Hóa học trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống (các vật liệu mới, chất mới, sản phẩm mới, năng lượng mới…)
+ Hóa học và vấn đề xã hội: Vai trò của Hóa học đối với sự phát triển của
xã hội
+ Hóa học và vấn đề môi trường: Mối liên quan giữa các hoạt động của con người, giữa sản xuất Hóa học với sự ô nhiễm môi trường, phương pháp xử lí chất thải
Những vấn đề trên vừa được lồng ghép trong khi học về các chất cụ thể vừa được tách ra thành chương trình riêng nhằm tăng thêm tính thiết thực của chương trình
b Kỹ năng
Trang 6SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 6 Lớp: 08SHH
Phát triển các kỹ năng giải quyết vấn đề nhằm phát triển năng lực nhận thức
và năng lực hành động cho HS như:
- Quan sát TN, dự đoán, phân tích, kết luận và kiểm tra kết quả…
- Làm việc với tài liệu giáo khoa và các tài liệu tham khảo: tóm tắt nội dung chính, thu thập tài liệu, phân tích và kết luận…
- Thực hiện một số TN Hóa học độc lập và theo nhóm
- Cách làm việc hợp tác với các HS khác trong nhóm nhỏ để hoàn thành một nhiệm vụ nghiên cứu
- Vận dụng kiến thức để giải quyết một số vấn đề đơn giản của cuộc sống hằng ngày có liên quan đến Hóa học
- Lập kế hoạch giải một BT Hóa học, thực hiện một vấn đề thực tế, một TN, một đề tài nhỏ có liên quan đến Hóa học
- Đảm bảo tính phổ thông, cơ bản, hệ thống, tính khoa học, hiện đại, thực tiễn
và tính đặc thù của bộ môn Hóa học
- Hình thành những kỹ năng Hóa học cho HS: kỹ năng sử dụng hóa chất, dụng
cụ, tiến hành TN Hóa học đơn giản, tư duy Hóa học và kỹ năng vận dụng kiến thức
Hóa học vào thực tiễn
- Tăng cường nội dung gắn kiến thức Hóa học vào thực tiễn để giúp cho việc học Hóa học trở nên có ý nghĩa hơn
Trang 7SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 7 Lớp: 08SHH
- Quan điểm thực tiễn và đặc thù bộ môn Hóa học cần được hiểu dưới ba góc
độ sau đây:
Nội dung phải gắn bó thực tiễn đời sống, xã hội
Nội dung phải gắn liền với thực hành, TN
Bài tập Hóa học phải có nội dung thiết thực
- Nội dung có sự chọn lọc từ chương trình Hóa học của các nước tiên tiến trên thế giới
- Kế thừa và phát huy những kinh nghiệm quý báu của Việt Nam
- Đảm bảo tính phân hóa ở cấp THPT
- Đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực
- Coi trọng thực hành và TN Hóa học
- Đổi mới cách đánh giá kết quả học tập của HS:
+ Chú ý hơn việc đánh giá trình độ tư duy, năng lực và kỹ năng vận dụng kiến thức Hóa học để giải quyết vấn đề
+ Đa dạng hóa nội dung, hình thức câu hỏi và BT nhằm đánh giá được những mục tiêu đã đặt ra cho môn Hóa học
+ Tạo điều kiện và bồi dưỡng để HS biết đánh giá và tự đánh giá kết quả học tập Hóa học
+ Loại bỏ những câu hỏi có nội dung lắt léo, quá khó, mang tính chất đánh
đố HS hoặc xa rời với thực tiễn Hóa học
1.4 Giáo dục kỹ thuật tổng hợp trong môn Hóa học [2], [8]
Thông qua quá trình đào tạo nhà giáo dục giúp HS lĩnh hội về cả lý thuyết lẫn thực hành, những cơ sở khoa học của nền sản xuất hiện đại, nền công nghệ tiên tiến và nền kinh tế quốc dân đang đổi mới, chuẩn bị tốt cho HS tự giác, tích cực, tự lực bước vào thế giới lao động
Thông qua việc học môn Hóa học HS sẽ được:
- Tìm hiểu về sản xuất Hóa học, công nghệ Hóa học (tham quan, tìm hiểu các công nghệ, dây chuyền sản xuất, nhà máy sản xuất)
- Biết được vai trò của Hóa học và cách vận dụng khoa học Hóa học vào sản xuất nhằm nâng cao hiệu suất, chất lượng sản phẩm, giảm chi phí, hạ giá thành sản
Trang 8SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 8 Lớp: 08SHH
phẩm: sử dụng các nguyên vật liệu rẻ tiền, dễ kiếm, tận dụng chất thải của dây chuyền sản xuất này để làm nguyên liệu cho các dây chuyền sản xuất khác, áp dụng nguyên lý chuyển dịch cân bằng
- Trang bị những kỹ năng lao động theo phong cách công nghiệp hiện đại, mang tính tổng hợp, khái quát và tính đặc thù của ngành nghề Hóa học
- Hình thành và phát triển ở HS tư duy khoa học kỹ thuật
- Rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào trong hoạt động sản xuất, đời sống
và bảo vệ môi trường: cách sử dụng và bảo quản phân bón, thuốc chữa bệnh, cách
xử lý tai nạn hóa chất, xử lý chất thải…
Thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục kỹ thuật tổng hợp trong dạy - học Hóa học
sẽ giúp HS thấy được lợi ích của việc học Hóa học, thêm yêu và hứng thú với việc học Hóa học từ đó càng kích thích sự quan sát thực tiễn để giải đáp thắc mắc nảy sinh và cải tạo thực tiễn ngày càng tốt đẹp hơn cho bản thân và xã hội
1.5 Cơ sở lý luận về câu hỏi và BT Hóa học [8]
1.5.1 Tầm quan trọng của câu hỏi và BT Hóa học
- Trong dạy học Hóa học, câu hỏi và BT Hóa học vừa là nội dung vừa là
phương pháp dạy học tích cực được sử dụng ở tất cả các khâu của quá trình dạy học như: nghiên cứu tài liệu mới, củng cố, vận dụng, khái quát hóa – hệ thống hóa và kiểm tra đánh giá kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của HS
- BT Hóa học không những cung cấp cho HS cả kiến thức, cả con đường giành
lấy kiến thức mà còn mang lại niềm vui sướng của sự phát hiện, tìm ra đáp án; đem lại hiệu quả sâu sắc trong việc hình thành phương pháp chung của việc tự học, rèn luyện kỹ năng tự lực, sáng tạo
- BT Hóa học là phương tiện cơ bản để rèn luyện các thao tác tư duy đồng thời
giúp HS hiểu kiến thức một cách sâu sắc, biết vận dụng kiến thức một cách linh hoạt và hiệu quả từ đó phát triển năng lực nhận thức cho HS Đồng thời giúp HS vận dụng kiến thức Hóa học vào thực tế cuộc sống, sản xuất và nghiên cứu khoa học
- Phương pháp luyện tập thông qua việc sử dụng câu hỏi và BT Hóa học là một
trong các phương pháp quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học Hóa học
Trang 9SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 9 Lớp: 08SHH
1.5.2 Tác dụng của câu hỏi và BT Hóa học
- Rèn luyện cho HS kỹ năng vận dụng được kiến thức đã học, biến những kiến thức tiếp thu được qua các bài giảng của thầy thành kiến thức của mình
- Đào sâu mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú giúp HS nắm vững kiến thức một cách sâu sắc mà không làm nặng khối lượng kiến thức HS
- Kiến thức cũ nếu chỉ đơn thuần nhắc lại sẽ làm cho HS nhàm chán vì không
có gì mới và hấp dẫn Câu hỏi và BT Hóa học sẽ ôn tập, củng cố và hệ thống hóa các kiến thức đã học một cách thuận lợi nhất Đồng thời cũng đòi hỏi HS phải vận dụng kiến thức của nhiều chương, nhiều bài khác nhau và qua việc giải các BT Hóa học HS sẽ tìm ra mối liên hệ giữa các nội dung từ đó sẽ hệ thống được kiến thức đã học
- Rèn luyện được những kỹ năng cần thiết về Hóa học như kỹ năng cân bằng phản ứng, kỹ năng tính toán theo công thức Hóa học và phương trình Hóa học, kỹ năng thực hành…góp phần vào việc giáo dục kỹ năng tổng hợp đồng thời phát triển trí thông minh ở HS
Trang 10
SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 10 Lớp: 08SHH
Chương 2 NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC MÔN HÓA HỌC Ở TRƯỜNG THPT BẰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP THỰC TIỄN 2.1 Khái niệm về câu hỏi và BT Hóa học thực tiễn
Câu hỏi và BT thực tiễn là câu hỏi và BT có những nội dung xuất phát từ thực
tiễn Đó là những câu hỏi và BT vận dụng kiến thức vào cuộc sống và sản xuất, góp
phần giải quyết vấn đề đặt ra từ thực tiễn
2.2 Vai trò của câu hỏi và BT Hóa học thực tiễn
- Giúp HS bước đầu biết vận dụng kiến thức để lý giải và cải tạo thực tiễn nhằm
nâng cao chất lượng cuộc sống
- Giúp HS thấy rõ lợi ích của việc học Hóa học, từ đó tạo động cơ học tập tích
cực, kích thích trí tò mò, óc quan sát, sự ham hiểu biết, làm tăng hứng thú học môn Hóa học và từ đó có thể làm cho HS say mê nghiên cứu khoa học và công nghệ giúp cho HS có những định hướng nghề nghiệp trong tương lai
- Vì các BT Hóa học thực tiễn gắn liền với đời sống của chính bản thân HS, của gia đình, của địa phương và với môi trường xung quanh nên càng góp phần phát triển động cơ học tập của HS: học tập để nâng cao chất lượng cuộc sống của bản
Trang 11SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 11 Lớp: 08SHH
thân và cộng đồng Với những kết quả ban đầu của việc vận dụng kiến thức Hóa học phổ thông để giải quyết các vấn đề thực tiễn HS thêm tự tin vào bản thân mình
để tiếp tục học hỏi, phấn đấu và phát triển
2.3 Các giải pháp để sử dụng câu hỏi và bài tập Hóa học thực tiễn vào bài giảng
2.3.1 Sử dụng sau khi đã kết thúc bài học
- Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho HS căn cứ vào những kiến thức đã học tìm cách giải thích hiện tượng ở nhà hay những lúc bắt gặp hiện tượng đó, HS sẽ suy nghĩ, ấp ủ câu hỏi vì sao lại có hiện tượng đó? Tạo tiền đề thuận lợi khi học bài học mới tiếp theo
Ví dụ 01: Vì sao hiện nay người ta khuyến cáo hạn chế dùng bao bì bằng chất dẻo để đựng thực phẩm? Nêu biện pháp thay thế
Hình 2.1: Bao bì bằng chất dẻo Hình 2.2: Bao bì bằng các vật liệu khác
Các bao bì bằng chất dẻo sau khi sử dụng thường rất khó tiêu hủy do đó gây
ô nhiễm cho môi trường Có thể thay thế chúng bằng các bao bì truyền thống từ các vật liệu thiên nhiên dễ bị phân hủy như tre, gỗ, lá, xenlulozơ,
Áp dụng: GV có thể vận dụng vấn đề này khi dạy bài vật liệu polime
Ví dụ 02: Vì sao có thể đánh cảm bằng dây bạc và khi đó dây bạc bị hóa đen? Để dây bạc trắng sáng trở lại, người ta sẽ ngâm vào nước tiểu?
Người bị cảm trong cơ thể thường sinh ra những hợp chất dạng sunfua (S2−)
vô cơ hay hữu cơ đều có tính độc Khi đánh cảm bằng bạc, do S có ái lực mạnh với
Ag nên xảy ra phản ứng tạo Bạc sunfua (Ag2S) kết tủa màu đen Do đó loại được chất độc ra khỏi cơ thể và cũng làm cho dây bạc chuyển thành màu đen
2
Ag S Ag STrong nước tiểu có NH3, khi ngâm dây bạc vào thì sẽ xảy ra phản ứng:
Trang 12SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 12 Lớp: 08SHH
Ag S NH Ag NH S
Nên Ag2S bị hoà tan, bề mặt dây bạc lại trở nên sáng bóng
Áp dụng: Đây là những ứng dụng rất hay của bạc GV có thể đưa vấn đề này vào bài
đại cương về kim loại
2.3.2 Sử dụng qua các phương trình phản ứng Hóa học cụ thể trong bài học
- Cách nêu vấn đề này có thể sẽ mang tính cập nhật, làm cho HS hiểu và thấy được ý nghĩa thực tiễn bài học GV có thể giải thích để giải toả tính tò mò của HS mặc dù vấn đề được giải thích có tính chất rất phổ thông
Ví dụ 03: Trong cuốn sách "800 mẹo vặt trong đời sống" có viết rằng: nồi nhôm
chỉ nên dùng để nấu cơm, nấu nước; không nên dùng để nấu canh chua, không nên để canh chua quá lâu trong nồi nhôm Em hãy giải thích vì sao?
Áp dụng: GV có thể vận dụng vấn đề này vào bài nhôm
Ví dụ 04: Vì sao ban đêm không nên để nhiều cây xanh trong nhà?
Ban ngày, do có ánh sáng mặt trời nên cây xanh tiến hành quá trình quang hợp, hấp thụ CO2 và giải phóng khí O2
6nCO 5nH Oclorophin as (C H O )n 6nO
Nhưng ban đêm, do không có ánh sáng mặt trời, cây xanh không quang hợp, chỉ có quá trình hô hấp nên cây hấp thụ khí O2 và thải ra khí CO2 làm cho phòng thiếu khí O2 và quá nhiều khí CO2
Áp dụng: GV có thể vận dụng vấn đề này vào bài tinh bột
2.3.3 Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thay cho lời giới thiệu bài giảng mới
Trang 13SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 13 Lớp: 08SHH
-.Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho HS bất ngờ, có thể là một câu hỏi rất khôi hài hay một vấn đề rất bình thường mà hàng ngày HS vẫn gặp nhưng lại tạo sự chú ý quan tâm của HS trong quá trình học tập
Ví dụ 05: Ấm đun nước dùng lâu thường có một lớp cặn ở đáy Lớp cặn đó là chất gì? Nêu cách loại bỏ lớp cặn đó?
Lớp cặn đó là CaCO3 Để loại bỏ lớp cặn đó ta dùng giấm pha với nước rồi
đổ vào ấm, sau vài giờ rồi súc sạch
CaCO 3 + CH 3 COOH → (CH 3 COO) 2 Ca + CO 2 + H 2 O
Áp dụng: GV có thể vận dụng vấn đề này khi dạy phần một số hợp chất của canxi
Ví dụ 06: Vì sao nước rau muống đang xanh, khi vắt chanh vào thì chuyển màu?
Có một số chất hoá học được gọi là chất chỉ thị màu, chúng làm cho màu của dung dịch thay đổi khi độ axit thay đổi
Trong rau muống (và vài loại rau khác) có chất chỉ thị này Trong chanh có 7% axit citric Vắt chanh vào nước rau làm thay đổi độ axit, do đó làm thay đổi màu nước rau Khi chưa vắt chanh, nước rau muống có màu xanh lét là chứa chất kiềm canxi
Hình 2.4: Nước luộc rau muống chuyển màu
Áp dụng: GV có thể đưa vấn đề thực tế này vào bài axit cacboxylic
2.3.4 Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thông qua
các BT tính toán
-.Cách nêu vấn đề này có thể giúp cho HS trong khi làm BT lại lĩnh hội được vấn đề cần truyền đạt, giải thích Vì muốn giải được BT hoá đó HS phải hiểu được nội dung kiến thức cần huy động, hiểu được bài toán yêu cầu gì? Và giải quyết như thế nào?
Trang 14n(NH 2 ) 2 C=O + nHCHO → (-NH-CO-NH-CH 2 -) n + nH 2 O
Khối lượng ure cần: ( 2 2)
Khối lượng HCHO cần: 472,2 kg
2.3.5 Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường
- Thông qua những câu chuyện ngắn có tính chất khôi hài, gây cười có thể xen vào bất cứ thời gian nào trong suốt tiết học Hướng này có thể góp phần tạo không khí học tập thoải mái Đó cũng là cách kích thích niềm đam mê học hoá
Ví dụ 09: Phát minh do ngủ quên
Một đêm Carothers - nhà hóa học Mĩ, sau nhiều ngày đêm làm việc căng thẳng, định chợp mắt ít phút Nhưng ông đã ngủ liền tới sáng Tỉnh dậy, ông hốt hoảng
Trang 15cơ thể anh ta?
Anh ta đã quyết định tặng người yêu một chiếc nhẫn bằng sắt, nhưng không phải bằng sắt thông thường mà bằng sắt lấy từ chính máu của mình! Cứ định kì lấy máu ra, chàng trai thu được một hợp chất mà từ đó tách sắt ra bằng phương pháp hóa học Nhưng chiếc nhẫn đã không bao giờ được đeo trên tay cô gái như một bằng chứng tình yêu bởi nó chưa được làm ra thì chàng trai đã chết vì bị mất máu, cho dù lượng sắt lấy ra khỏi cơ thể chàng chưa tới 3g!
Áp dụng: GV có thể vận dụng vấn đề này vào bài sắt
2.3.6 Tiến hành tự làm TN qua các hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống
ngày thường ở địa phương, gia đình … sau khi đã học bài giảng
-.Cách nêu vấn đề này có thể làm cho HS căn cứ vào những kiến thức đã học tìm cách giải thích hay tự tái tạo lại kiến thức qua các TN hay những lúc bắt gặp hiện tượng, tình huống đó trong cuộc sống Giúp HS phát huy khả năng ứng dụng Hoá học vào đời sống thực tiễn
Ví dụ 11: Khi nấu trứng thì lòng trắng trứng kết tủa lại?
a) Hóa chất: Lòng trắng trứng
b) Dụng cụ: Cốc thủy tinh, đèn cồn
c) Cách tiến hành:
Cho lòng trắng trứng vào cốc thủy tinh
Đun cốc thủy tinh trên ngọn lửa đèn cồn
Đợi 1 thời gian, khi phản ứng xảy ra hoàn toàn Quan sát hiện tượng
Trang 16Ví dụ 12: Vì sao phèn chua có thể làm trong nước?
a) Hóa chất: Nước đục, phèn nhôm
b) Dụng cụ: Cốc thủy tinh 1000ml
c) Cách tiến hành:
Hoà tan phèn nhôm
Cho nước đục vào cốc thủy tinh Cho tiếp phèn nhôm vào cốc
Đợi 1 thời gian, khi phản ứng xảy ra hoàn toàn Quan sát hiện tượng
d) Hiện tượng: Trong nước có xuất hiện kết tủa keo, các chất bẩn bám vào kết tủa keo đó và dần dần lắng xuống Sau một thời gian ta thấy nước trở nên trong hơn e) Kết quả: Thành công
Hình 2.6: Phèn chua làm trong nước
f) Giải thích:
Phèn chua là muối sunfat kép của nhôm và kali ở dạng tinh thể ngậm nước:
[K2SO4.Al2(SO4)3.24H2O]
Trang 17SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 17 Lớp: 08SHH
Phèn chua không độc, có vị chua chát, ít tan trong nước lạnh nhưng tan nhiều trong nước nóng Khi tan trong nước, phèn chua sẽ bị thủy phân và tạo thành Al(OH)3 ở dạng kết tủa keo lơ lững trong nước:
Al 2 (SO 4 ) 3 → 2Al 3+
+ 3SO 4 2-
Al 3+ + H 2 O → AlOH 2+
+ H + AlOH 2+ + H 2 O → Al(OH) 2
+ + H + Al(OH) 2 + + H 2 O → Al(OH) 3 ↓ + H +
Al 2 (SO 4 ) 3 + 3H 2 O → 2Al(OH) 3 ↓ + 3H 2 SO 4
Chính những hạt Al(OH)3 kết tủa dạng keo lơ lững ở trong nước này đã kết dính với các hạt bụi bẩn, các hạt đất nhỏ để trở thành hạt đất to hơn, nặng hơn và lắng xuống Vì vậy mà nước trở nên trong hơn
g) Áp dụng: Đây là vấn đề thực tế xảy ra trong đời sống HS có thể giải thích được hiện tượng sau khi học bài về hợp chất quan trọng của nhôm
2.3.7 Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường từ đó liên hệ với nội dung bài giảng để rút ra những kết luận mang tính quy luật
-.Làm cho HS không có cảm giác khó hiểu vì có nhiều vấn đề lý thuyết nếu
đề cập theo tính đặc thù của bộ môn thì khó tiếp thu được nhanh so với gắn nó với thực tiễn hàng ngày
Ví dụ 13: Vải khác nhau có giá trị khác nhau nên phân biệt như thế nào?
Căn cứ vào bản chất của các chất liệu làm nên vải, ta có thể nhận biết cách đơn giản sau:
1/ Nếu vải làm bằng sợi bông: Khi đốt sợi vải cháy nhanh, ngọn lửa màu vàng,
có mùi như đốt giấy và tro có màu xám đậm
2/ Nếu vải làm bằng sợi tơ tằm: Khi đốt sợi vải cháy chậm hơn vải sợi bông,
có mùi khét như đốt tóc, sợi tơ co cục, màu nâu đen, lấy tay bóp thì tan
3/ Nếu vải làm bằng lông cừu (len lông cừu): Khi đốt bắt cháy không nhanh, bốc khói, có mùi khét như đốt tóc và tạo thành những bọt phồng, rồi vón cục có màu đen hơi óng ánh, giòn, bóp tan ngay
4/ Nếu vải làm bằng sợi viscozơ: Khi đốt sợi vải cháy nhanh, ngọn lửa màu vàng, có mùi như đốt giấy và tro có màu xám nhưng rất ít
Trang 18SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 18 Lớp: 08SHH
5/ Nếu vải làm bằng sợi axetat: Khi đốt sợi vải bắt cháy chậm ,thành giọt dẻo màu nâu đậm, có hoa lửa, không bốc cháy thành ngọn lửa, sau đó kết thành cục màu đen, dể bóp nát
6/ Nếu vải làm bằng sợi poliamit (nilon): Khi đốt sợi vải không cháy ngọn lửa
mà co vón lại và cháy thành từng giọt dẻo màu trắng, có mùi của rau cần, khi nguội thì biến thành cục cứng có màu nâu nhạt, bóp khó nát
Áp dụng: GV có thể đưa vào phần nhận biết của bài dạy liên quan, mặt khác cũng
có tác dụng cung cấp cho HS phương pháp trong đời sống nhận biết các chất liệu vải phục vụ cho mục đích sử dụng, điều này cũng rất thực tiễn
Ví dụ 14: Tại sao khi ăn cơm nhai kỹ sẽ thấy vị ngọt?
Cơm chứa một lượng lớn tinh bột, khi ăn cơm trong tuyến nước bọt của
ngư-ời có các enzim Khi nhai kỹ trộn đều, tuyến nước bọt làm tăng cơ hội chuyển hoá một lượng tinh bột theo phản ứng thuỷ phân thành mantozơ, glucozơ gây ngọt theo
sơ đồ:
Amilaza H O Mantaza H O n
Áp dụng: Vấn đề này có thể đề cập đến trong bài dạy về tinh bột, cung cấp cho HS
kiến thức cơ bản của sự chuyển hoá tinh bột trong khi ăn Đó cũng là một hiện
t-ượng tự nhiên đều cảm nhận được trong các bữa cơm của chúng ta
2.4 Phân loại câu hỏi và BT thực tiễn Hóa học
- Dựa vào hình thái hoạt động của HS khi giải: lý thuyết và thực nghiệm
- Dựa vào tính chất của câu hỏi và BT: định tính, định lượng, tổng hợp
- Dựa vào lĩnh vực thực tiễn được gắn với nội dung câu hỏi và BT:
Về sản xuất Hóa học: tính hiệu suất, tinh chế sản phẩm…
Về các vấn đề trong đời sống, học tập và lao động sản xuất: sử dụng và bảo quản hóa chất, sản phẩm Hóa học, giải quyết các tình huống có vấn đề trong thực hành, TN…
Liên quan đến môi trường và vấn đề bảo vệ môi trường: nguyên nhân và biện pháp chống ô nhiễm
Trang 19SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 19 Lớp: 08SHH
Trên đây là một số cách phân loại câu hỏi và BT thực tiễn, tuy nhiên có nhiều câu hỏi và BT thực tiễn là tổng hợp của nhiều loại bài
2.5 Nguyên tắc khi xây dựng câu hỏi và BT thực tiễn
- Nội dung phải đảm bảo tính chính xác, khoa học, hiện đại
- Câu hỏi và BT thực tiễn phải gần gũi với HS
- Dựa theo chương trình phổ thông
- Có tính hệ thống, logic
- Đảm bảo logic sư phạm
2.6 Quy trình xây dựng hệ thống câu hỏi và BT thực tiễn
Bước 1:
- Phân tích mục tiêu của chương, bài để thiết kế câu hỏi và BT
- Nghiên cứu nội dung và các ứng dụng thực tiễn liên quan đến bài học
- Nghiên cứu trình độ nhận thức, kinh nghiệm sống của HS để thiết kế câu hỏi và BT cho phù hợp
Bước 2:
- Thiết kế câu hỏi và BT theo những yêu cầu đưa ra ở trên
- Trả lời và kiểm tra lại câu hỏi, BT
Bước 3:
- Dự kiến thời điểm và phương pháp sử dụng sao cho hiệu quả nhất
Trang 20SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 20 Lớp: 08SHH
Chương 3
HỆ THỐNG CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP THỰC TIỄN
MÔN HÓA HỌC THPT 3.1 Hệ thống câu hỏi và bài tập thực tiễn phần đại cương
3.1.1 Lý thuyết phản ứng
Câu 01: Khí CO thông thường được hình thành từ đâu? Giải thích cơ chế gây độc
của CO Tại sao người bị ngộ độc CO người ta phải đưa ra chỗ thoáng khí hoặc thở không khí giàu oxi?
HbO 2 + CO HbCO + O 2 (Hb: Hemoglobin)
- Quá trình trên là 1 cân bằng, nhưng vì HbCO bền hơn nhiều so với HbO2 nên cân bằng sẽ bị lệch theo chiều thuận Khi bị ngộ độc CO, phải đưa ra chỗ thoáng khí hoặc thở không khí giàu oxi điều này giúp cách xa với nguồn gây ra CO, nồng độ
CO giảm, đồng thời nồng độ oxi tăng, do đó cân bằng sẽ chuyển dịch theo chiều nghịch
- Đây là một hiện tượng hay xảy ra, GV nên đưa vào bài giảng để nhắc nhở HS, cộng đồng …tránh những cái chết thương tâm Vấn đề này có thể xen vào bài dạy cacbon
Câu 02: Vì sao người ta lại quảng cáo: kem đánh răng P/S bảo vệ 2 lần cho răng
2-Trong kem P/S có các muối CaF2, NaF Các muối này phân ly cho Ca2+
và F- Theo nguyên lý Lơ Sa-Tơ-Li-ê, sự có mặt của Ca2+
làm cho cân bằng (1) chuyển dịch sang phải tạo men răng
Trang 21Do trong vôi có chứa Ca2+
và OH- nên cân bằng (1) chuyển dịch theo chiều thuận
Câu 03: Hãy cho biết người ta lợi dụng yếu tố nào để tăng tốc độ phản ứng trong
các trường hợp sau:
a Dùng không khí nén, nóng thổi vào lò cao để đốt cháy than cốc (trong sản xuất gang)
b Nung đá vôi ở nhiệt độ cao để sản xuất vôi sống
c Nghiền nguyên liệu trước khi đưa vào lò nung để sản xuất clanhke (trong sản xuất
xi măng)
Trả lời:
a Dùng yếu tố áp suất và nhiệt độ
b Dùng yếu tố nhiệt độ
c Dùng yếu tố diện tích tiếp xúc
Câu 04: Tại sao khi sản xuất vôi người ta phải đập nhỏ đá vôi tới một kích thước
nhất định tùy theo từng loại lò?
Trả lời:
Phản ứng nung vôi: CaCO 3 → CaO + CO 2
Do phản ứng trên là thuận nghịch nên để tăng hiệu suất của phản ứng ta phải đập nhỏ đá vôi nhằm tăng diện tích bề mặt được cung cấp nhiệt trực tiếp Đồng thời cũng tạo ra những lỗ hở để thoát CO2 ra ngoài giúp hạn chế phản ứng xảy ra theo chiều nghịch
Tuy nhiên không được đập đá vôi tới một kích thước quá nhỏ vì như thế khi nung
đá vôi dễ bị tơi nhỏ ra và bít kín lò, CO2 không lưu thông được với bên ngoài,dẫn đến cân bằng chuyển dịch theo chiều nghịch
Trang 22SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 22 Lớp: 08SHH
=> Dựa vào kiến thức đã học ở chương “ Tốc độ phản ứng và cân bằng hóa học” lớp 10, HS có thể giải quyết được ví dụ trên Từ đó các em sẽ thấy việc học của mình có ý nghĩa và yêu thích bộ môn hơn
3.1.2 Sự điện ly
Câu 05: Một mẫu nước thải của nhà máy sản xuất dây lưới thép có pH= 4
Để thải được ra môi trường cần phải tăng độ pH trong nước thải lên khoảng 5,8→8,6 (theo tiêu chuẩn quy định)
a Hãy dùng một loại hóa chất nào đó để làm tăng pH của nước thải?
b Giả sử muốn tăng pH trong 100m3 nước thải từ 4 lên 7 thì lượng hóa chất cần dùng là bao nhiêu? Xem thể tích nước thay đổi không đáng kể
dưới dạng canxi oxalat (CaC2O4) rồi cho chất này tác dụng với dd KMnO4 trong môi trường axit
KMnO4 + CaC2O4 + H2SO4 → ? + ? + ? + CO2 + H2O
a Hoàn thành PTPƯ Viết phương trình ion thu gọn
Trang 23SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 23 Lớp: 08SHH
b Giả sử canxi oxalat kết tủa từ 1,00ml máu của một người tác dụng vừa hết với 2,05ml dd KMnO4 4,48.10-4 M Hãy biểu diễn nồng độ ion canxi trong máu người đó ra đơn vị mg Ca2+
Khối lượng Ca2+ trong 1ml máu là 22,96.10-7.40 = 9,2.10-5g = 0,092mg
Khối lượng Ca2+ trong 100 ml máu là 9,2mg
Vậy nồng độ ion Ca2+
trong máu người đó là: 9,2mg /100ml
Câu 07: Viên nén canxinol của Pháp có thành phần gồm canxi cacbonat và axit
citric C3H4OH(COOH)3 Khi thả vào nước thấy viên nén tan nhanh và sủi bọt
a Giải thích hiện tượng trên
b Nước ở đây có vai trò gì? Từ đó suy ra cách bảo quản viên thuốc trên?
Trả lời: Viên nén tan nhanh và sủi bọt là do CaCO3 phản ứng với H+ của axit citric tạo ra khí CO2:
CaCO 3 + 2H + → Ca 2+ + CO 2 + H 2 O
Nước ở đây đóng vai trò là dung môi Do đó cần bảo quản thuốc ở chỗ khô, tránh để thuốc bị ẩm
Câu 08: Vì sao khả năng dẫn điện của nước vôi trong để trong không khí giảm dần
theo thời gian?
Trả lời: Vì Ca(OH)2 hấp thụ CO2 trong không khí tạo ra kết tủa CaCO3 và H2O làm giảm nồng độ các ion trong dung dịch nên khả năng dẫn điện giảm dần
Câu 09: Muối ăn khi khai thác từ nước biển, mỏ muối, hồ muối thường có lẫn nhiều
tạp chất như MgCl2 , CaCl2, CaSO4 làm cho muối có vị đắng chát và dễ bị chảy nước gây ảnh hưởng xấu tới chất lượng muối Để loại bỏ tạp chất của muối người ta
Trang 24Ba 2+ + SO 4 2- → BaSO 4 ↓
Câu 10: Trong nước biển magie là kim loại có hàm lượng lớn thứ hai sau natri Mỗi
kg nước biển chứa khoảng 1,3 g magie dưới dạng các ion Mg2+ Ở nhiều nước magie được khai thác từ nước biển Quá trình sản xuất magie từ nước biển gồm các công đoạn sau:
Nung đá vôi thành vôi sống
Hòa tan vôi sống trong nước biển tạo kết tủa Mg(OH)2
Hòa tan kết tủa Mg(OH)2 trong dung dịch HCl
Điện phân nóng chảy MgCl2
Viết PTHH của các phản ứng xảy ra trong quá trình sản xuất trên dưới dạng phân tử và ion rút gọn
Câu 11: Thành phần chính của dịch vị dạ dày là nước, enzim và axit clohidric Sự
có mặt của axit clohidric làm cho pH của dịch vị trong khoảng từ 2 đến 3 Khi độ axit trong dịch vị dạ dày tăng thì dễ bị ợ chua, ợ hơi, buồn nôn, loét dạ dày, tá tràng
Để làm giảm bớt lượng axit dư trong dịch vị dạ dày người ta thường uống “thuốc muối dạ dày” (bột NaHCO3) từng lượng nhỏ và cách quãng để:
a pH của dịch vị tăng từ từ
Hình 3.1: Ruộng muối
t o
Trang 25Câu 12: Để kiểm tra tình trạng gây ô nhiễm môi trường của một nhà máy sản xuất
supephotphat người ta đã lấy mẫu đất xung quanh nhà máy để phân tích Kết quả phân tích cho thấy đất có pH = 2,5
a Nguyên nhân nào đã làm cho đất bị chua?
b Để giảm bớt độ chua ta phải xử lý bằng cách nào?
Trả lời: Để sản xuất supephotphat người ta dùng H2SO4 đậm đặc vì vậy đã thải ra môi trường khí SO2 và H2SO4 dư làm đất bị chua Để xử lý đất chua có thể dùng vôi
Câu 13: Tại sao nước cất để ngoài không khí hoặc nước mưa lại có pH < 7?
Trả lời: Vì nước ngoài không khí hay nước mưa có hòa tan một lượng CO2 và trong
dd có các cân bằng sau:
CO 2 + 2H 2 O HCO 3 - + H 3 O +
CO 2 + 3H 2 O CO 3
+ 2H 3 O +
2-CO2 đóng vai trò là axit, phân ly tạo ra ion H3O+ làm cho pH < 7
3.2 Hệ thống bài tập thực tiễn phần vô cơ
3.2.1 Kim loại
Câu 01: Nổi, chìm những viên long não
a) Hóa chất: Viên long não, dung dịch CH3COOH, Na2CO3 (rắn)
b) Dụng cụ: Cốc thủy tinh
c) Cách tiến hành:
Cho vào cốc thủy tinh một lượng CH3COOH Thả mấy viên long não vào cốc
Thêm vào một lượng Na2CO3
Quan sát hiện tượng
d) Hiện tượng:
Trang 26SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 26 Lớp: 08SHH
Khi cho lượng Na2CO3 vào cốc thì thấy có bọt khí xuất mạnh
Sau một thời gian, các viên long não bắt đầu nổi lên mặt nước Sau khi nổi lên mặt nước một thời gian, các viên long não lại chìm xuống
Quá trình đó cứ lặp đi lặp lại đến khi hết bọt khí thoát ra
g) Áp dụng: Đây là TN Hóa học vui giúp HS củng cố kiến thức hơn trong bài một
số hợp chất quan trọng của kim loại kiềm
Câu 02: Tại sao khi nấu nước giếng ở một số vùng lại có lớp cặn ở dưới đáy ấm? Cách tẩy lớp cặn này?
Trong tự nhiên nước ở một số vùng là nước cứng tạm thời, là nước có chứa muối Ca(HCO3)2, Mg(HCO3)2 Khi nấu sôi sẽ xảy ra phản ứng hoá học :
Trang 27SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 27 Lớp: 08SHH
Cách tẩy cặn ở ấm: Cho vào ấm 1 lượng dấm (CH3COOH 5%) và rượu, đun sôi rồi để nguội qua đêm thì tạo thành 1 lớp cháo đặc chỉ hớt ra và lau mạnh là sạch
Áp dụng: GV có thể xen vào trong bài giảng về nước cứng Mục đích cung cấp mẹo
vặt trong đời sống cũng góp phần cho HS hiểu bản chất của vấn đề có trong đời sống hàng ngày, HS có thể ứng dụng trong đời gia đình mình, tạo sự hưng phấn trong học tập Đó là một TN tự làm được
Câu 03: Giải thích sự hình thành thạch nhũ trong các hang động? Tại sao càng
đi sâu vào trong hang động ta càng thấy khó thở?
Khi đi sâu vào trong hang thì sự lưu thông khí kém, do có các phản ứng làm hàm lượng CO2 lớn nên càng làm giảm sự lưu thông O2, hơn nữa CO2 lại là khí
Trang 28SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 28 Lớp: 08SHH
nặng hơn không khí cho nên ta cảm thấy khó thở
Áp dụng: Hiện tượng này thường thấy trong các hang động núi đá GV có thể xen
vấn đề này trong khi dạy đến phần hợp chất của canxi
Câu 04: Tại sao khi đánh rơi nhiệt kế thủy ngân thì không được dùng chổi quét
mà nên rắc bột S lên trên?
Thủy ngân (Hg) là kim loại ở dạng lỏng, dễ bay hơi và hơi thủy ngân là một chất độc Vì vậy khi làm rơi nhiệt kế thủy ngân nếu như ta dùng chổi quét thì thủy ngân sẽ bị phân tán nhỏ, làm tăng quá trình bay hơi và làm cho quá trình thu gom khó khăn hơn Ta phải dùng bột S rắc lên những chỗ có thủy ngân, vì S có thể tác dụng với thủy ngân tạo thành HgS dạng rắn và không bay hơi
Hg S HgSQuá trình thu gom thủy ngân cũng đơn giản hơn
Áp dụng: GV có thể vận dụng vấn đề này vào bài tính chất hóa học của kim loại
Câu 05: Vì sao không thể dập tắt đám cháy của các kim loại K, Na, Mg bằng khí
Trang 29SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 29 Lớp: 08SHH
Có thể giải thích bổ sung thêm nguyên nhân khác: Vì trong nước có lẫn khí
CO2 nên sẽ xảy ra phản ứng: CaCO3 CO2 H O2 Ca HCO 3 2 Khi nước chảy
sẽ cuốn Ca(HCO3)2 trôi theo, qua thời gian đá sẽ bị mòn dần
Áp dụng: Hiện tượng này thường thấy ở những phiến đá ở những dòng chảy đi qua
Nếu không để ý, trong xây dựng sẽ có ảnh hưởng không ít Góp phần hiểu được dụng ý của khoa học của câu tục ngữ, làm cho Hoá học trở nên gần gủi, có hồn văn hơn GV có thể xen vấn đề này trong khi dạy đến phần về muối CaCO3
Câu 07: Vì sao để bảo vệ vỏ tàu biển bằng thép, người ta gắn các tấm kẽm vào phía ngoài vỏ tàu ở phần chìm trong nước biển?
Khi nhúng thanh kẽm và thanh thép vào dung dịch nước muối, cho 2 thanh kẽm
và thanh thép tiếp xúc với nhau (trực tiếp hoặc gián tiếp) thì cặp pin điện hóa (Zn – Fe) sẽ hoạt động Với thanh kẽm là cực âm, thanh thép là cực dương và nước biển là dung dịch điện li
Tại cực (-): Xảy ra quá trình oxy hóa
Zn → Zn2+ + 2e
Các e sẽ di chuyển từ cực âm qua cực dương nên xuất hiện dòng điện
Tại cực (+): Xảy ra quá trình khử, các ion H+
trong dung dịch sẽ đến cực (+) 2H+ + 2e → H2
Do đó, tại cực (+) có khí H2 thoát ra, có xuất hiện dòng điện nên kim Ampe kế
bị lệch và tại cực (-) thì thanh kẽm bị ăn mòn dần
Hình 3.4: Ăn mòn điện hóa
Áp dụng: Đây là vấn đề có thể giải thích được sau khi học bài sự ăn mòn kim loại
Ngoài ra, HS cũng có thể tự mình giải thích được vì sao lại có hiện tượng “gỉ” của thép khi để trong không khí ẩm
Trang 30SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 30 Lớp: 08SHH
Câu 08: Vì sao khi luộc rau muống nên cho vào trước một ít muối ăn (NaCl)?
Nhiệt độ sôi của nước là 100o
C và nhiệt độ sôi của nước muối lớn hơn 100o
C
Do nhiệt độ sôi của nước muối cao hơn của nước nên rau sẽ chính nhanh hơn; thời gian luộc rau không lâu nên rau mất ít vitamin, rau muống sẽ mềm và xanh hơn
Hình 3.5: Luộc rau thì nên bỏ một ít muối
Áp dụng: Vấn đề này có thể có HS biết nhưng có HS không để ý và nếu được biết
đến thì các em có thể tiến hành TN ngay trong mỗi buổi nấu ăn, góp phần tạo thêm kinh nghiệm cho HS, rất thiết thực Có thể đưa hiện tượng này vào trong bài hợp chất muối clorua ở lớp 10 và hợp chất quan trọng của natri ở lớp 12
Câu 09: Hàn the là chất gì?
Hàn the có thành phần chính là chất Natri tetraborat (hay là Borac), ở dạng tinh thể ngậm nước Tinh thể trong suốt, tan nhiều trong nước nóng, không tan trong cồn 90o
Trước đây, người ta thường dùng hàn the làm chất phụ gia cho vào giò lụa, bánh phở, bánh cuốn, … để cho những thứ này khi ăn sẽ cảm thấy dai và giòn Ngay từ năm 1985, Tổ chức Y tế thế giới đã cấm dùng hàn the làm chất phụ gia cho thực phẩm vì nó độc, có thể gây sốc, trụy tim, co giật và hôn mê
Áp dụng: Hàn the là chất được dùng trong buôn bán nhưng đã bị cấm sử dụng từ
lâu GV có thể nêu vấn đề này trong bài dạy về một số hợp chất quan trọng của natri
Câu 10: Vài kỷ lục trong thế giới kim loại
Kim loại có khối lượng riêng lớn nhất: Osmi (Os) với d = 22,7g/cm3
Kim loại có nhiệt độ nóng chảy cao nhất: Vonfram (W) với tnc = 34100C
Kim loại nhẹ nhất: Liti với d = 0,53g/cm3
Kim loại dẻo nhất: Vàng
Kim loại có nhiệt độ nóng chảy thấp nhất: thủy ngân với tnc = −390C
Trang 31SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 31 Lớp: 08SHH
Kim loại dẫn điện, dẫn nhiệt tốt nhất: Bạc
Kim loại được con người sử dụng làm công cụ sớm nhất: Đồng
Kim loại có trữ lượng lớn nhất: Nhôm, chiếm 7% về khối lượng vỏ trái đất
Áp dụng: GV có thể vận dụng vào bài đại cương về kim loại
Câu 11: Nhôm lại được dùng làm dây dẫn điện cao thế? Còn dây đồng lại được dùng làm dây dẫn điện trong nhà?
Tuy đồng dẫn điện tốt hơn nhôm nhưng nhôm (khối lượng riêng của nhôm là 2,70g/cm3) nhẹ hơn đồng Do đó, nếu như dùng đồng làm dây dẫn điện cao thế thì phải tính đến việc xây các cột điện sao cho chịu được trọng lực của dây điện Việc làm đó không có lợi về mặt kinh tế Còn trong nhà thì việc chịu trọng lực của dây dẫn điện không ảnh hưởng lớn lắm Vì vậy ở trong nhà thì ta dùng dây đẫn điện bằng đồng
Áp dụng: GV có thể vận dụng vấn đề này vào bài tính chất vật lý của kim loại
Câu 12: Đốt cháy bằng nước – Hoặc tạo khói màu bằng nước
a) Hóa chất: Al bột, I2 bột, nước
b) Dụng cụ: Đũa thủy tinh, lưới amiang,
c) Cách tiến hành:
Trộn đều hỗn hợp Al và I2 ở dạng bột với nhau trên lưới amiang
Cho một ít nước vào hỗn hợp
Đợi 1 thời gian, khi phản ứng xảy ra hoàn toàn Quan sát hiện tượng
* Chú ý: Trong khi chuẩn bị thí nghiệm, nên lấy lượng I2 bột ít hơn lượng Al bột và trộn cẩn thận hỗn hợp để cho I2 (h) được tạo ít chừng nào thì tốt chừng ấy
d) Hiện tượng: Xuất hiện khói màu tím
Hình 3.6: Làm xuất hiện khói nhiều màu
e) Kết quả: Thành công
f) Giải thích:
Trang 32SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 32 Lớp: 08SHH
Ở điều kiện thường, bột nhôm và iod vẫn phản ứng với nhau Tuy nhiên, do bột nhôm và iod đều là chất rắn nên diện tích tiếp xúc ít làm cho tốc độ phản ứng xảy ra chậm
Khi nhỏ vài giọt nước vào Nước đóng vai trò là chất xúc tác, giúp phân tán các phân tử iod tạo điều kiện tốt hơn cho sự tiếp xúc gữa nhôm và iod
Câu 13: Mưa sao
a) Hóa chất: KMnO4, C bột, Fe bột
b) Dụng cụ: Đèn cồn, đũa thủy tinh, chén nung, bộ giá đỡ
c) Cách tiến hành:
Cho vào chén sứ một ít lượng như nhau các chất: KMnO4, C, Fe
Lấy đũa thủy tinh trộn đều hỗn hợp
Cho hỗn hợp vào chén nung
Đặt chén nung lên bộ giá đỡ và đun bằng ngọn lửa đèn cồn Quan sát hiện
Trang 33SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 33 Lớp: 08SHH
f) Giải thích:
Khi nung nóng, Kali pemanganat sẽ xảy ra phản ứng:
Oxi được tạo thành làm cho hỗn hợp bột than và sắt cùng cháy:
Câu 14: Vì sao muối NaHCO 3 được dùng để chế thuốc đau dạ dày?
Trong dạ dày, có chứa dung dịch HCl Người bị đau dạ dày là người có nồng
độ dung dịch HCl cao làm dạ dày bị bào mòn NaHCO3 dùng để chế thuốc đau dạ dày vì nó làm giảm hàm lượng dung dịch HCl có trong dạ dày nhờ phản ứng:
NaHCO HClNaClCO H O
Áp dụng: GV có thể vận dụng kiến thức này vào bài HCl ở lớp 10, bài một số hợp
chất quan trọng của natri ở lớp 12
Câu 15: Vì sao bôi vôi vào chỗ ong, kiến đốt sẽ đỡ đau?
Do trong nọc ong, kiến, nhện có axit hữu cơ tên là axit fomic (HCOOH) Vôi
là chất bazơ nên trung hòa axit làm ta đỡ đau
2HCOOHCa OH( ) HCOO Ca2H O
Áp dụng: GV có thể vận dụng vấn đề này vào bài axit cacboxylic ở lớp 11 hoặc bài
một số hợp chất quan trọng của canxi ở lớp 12
và NH3
Trang 34Áp dụng: GV có thể đưa vấn đề này vào bài amoniac ở lớp 11 hoặc bài cân bằng
Càng nhiều nước đưa vào cơ thể chuột → PH3 thoát ra càng nhiều → chuột càng nhanh chết Nếu không có nước, chuột càng lâu chết hơn
Áp dụng: GV có thể vận dụng ứng dụng này trong bài photpho
Câu 03: Vì sao than đá chất thành đống lớn có thể tự bốc cháy?
Do than đá tác dụng với khí O2 trong không khí tạo ra khí CO2, phản ứng tỏa nhiệt
CO CO H
Nhiệt tỏa ra được tích góp dần dần, khi đạt đến nhiệt độ cháy của than thì than tự bốc cháy
Áp dụng: GV có thể đưa vấn đề này vào bài cacbon ở lớp 11 hoặc bài oxi ở lớp 10
Câu 04: Tại sao nước máy lại có mùi clo?
Khi sục vào nước một lượng nhỏ Clo vào nước có tác dụng sát trùng do clo tan 1 phần (gây mùi) và phản ứng 1 phần với nước:
Trang 35SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 35 Lớp: 08SHH
H 2 O + Cl 2 → HCl + HClO
Ion ClO- trong HClO có tính oxi hoá mạnh và có khả năng diệt khuẩn
Áp dụng: Vấn đề này đang được sử dụng làm sạch nước hiện nay trong các nhà
máy nước cung cấp nước trong thành phố, thị xã, thị trấn… Giúp HS hiểu và giải toả thắc mắc, hiểu được vai trò của Hoá học và HS có thể kiểm nghiệm qua thực tế
GV có thể xen vào bài giảng về clo
Câu 05: Vì sao nước biển lại mặn?
Các con sông, suối, … Các dòng nước trên lục địa đều chảy về biển, đại ương và hoà tan mọi vật thể có thể hoà tan Do quá trình bay hơi, các nguyên tố, hợp chất tụ tập trong nước biển ngày càng nhiều theo thời gian, vị mặn của nước biển chủ yếu do NaCl gây nên Trong nước biển có khoảng hơn 80 nguyên tố, các halogen có nhiều trong nước biển, nguyên tố Br có trong nước biển tới 99% tổng l-
d-ượng tồn tại và chiếm 0,065% trong nước biển
Áp dụng: Điều này là hiển nhiên thấy trong đời sống, bất kể ai cũng có thể biết hiện
tượng này, vấn đề này có thể đưa vào trong trong khi dạy về bài halogen, với mục
đích giải thích nước biển lại mặn? Có thể đặt ra câu hỏi: Vì sao nước biển lại mặn?
Căn cứ vào sự trả lời của HS, GV thông báo lại chính xác hơn
Câu 06: Tại sao sau những cơn mưa có sấm chớp, đường xá, khu phố, rừng cây
… bầu trời xanh cũng như sạch quang, mát mẻ, trong lành hơn?
Do trong không khí có 20% O2 nên khi có sấm chớp tạo điều kiện:
3O 2 → 2O 3
Tạo ra một lượng nhỏ O3, O3 có khả năng sát trùng:
O 3 → O 2 + O (sát trùng)Nên ngoài những hạt mưa cuốn theo bụi thì O3 là tác nhân làm môi trường sạch sẽ và cảm giác tươi, mát
Áp dụng: Vấn đề này GV nên đề cập trong bài giảng về ozon, giúp HS kiểm nghiệm
trong cuộc sống mà đôi khi có nhiều HS không chú ý đến Đây là một hiện tượng tự nhiên không xa lạ với HS
Câu 07: Ma trơi là gì? Ma trơi thường gặp ở đâu?
“Ma trơi” chỉ là cái tên gọi mê tín mà thực chất, trong cơ thể (xương động