Việt Nam có một vị trí tự nhiên hiếm có, một mặt gắn liền với lục địa, mặt khác lại thông với đại dƣơng và nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa, khí hậu có nhiều nét độc đáo và đa dạng, thay đổi từ điều kiện khí hậu nhiệt đới điển hình ở vùng núi thấp phía Nam, đến khí hậu mang tính chất Á nhiệt đới vùng núi cao ở các tỉnh phía Bắc. Điều kiện tự nhiên đó đã thực sự ƣu đãi cho đất nƣớc và con ngƣời Việt Nam một hệ sinh thái phong phú và đa dạng một tiềm năng to lớn về tài nguyên cây thuốc và tài nguyên dƣợc liệu nói riêng. Theo khảo sát, nƣớc ta có sự đa dạng sinh học với khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao có mạch đã xác định tên của 8.000 loài, 600 loài nấm và 800 loài rêu… Trong đó, có gần 4.000 loài thực vật bậc cao và bậc thấp đƣợc dùng làm thuốc, chúng đƣợc phân bố rộng khắp cả nƣớc. Mặt khác, nƣớc ta có nền y học dân tộc lâu đời với tri thức sử dụng các loại dƣợc liệu với các bài thuốc có giá trị chữa bệnh. Hơn nữa, trong xu hƣớng của thế giới về sự “ Trở về với thiên nhiên ” thì việc sử dụng dƣợc liệu làm thuốc ngày càng đƣợc nâng cao. Cây sống đời ( tên khoa học là Kalanchoe pinnata( Lamk.) Pers, họ Crassulaceae), còn có các tên gọi khác nhƣ là trƣờng sinh, thuốc bỏng... vừa là một cây cảnh, vừa là một cây thuốc đƣợc sử dụng từ lâu đời trong nền y học cổ truyền ở nƣớc ta. Nó là cây mọc hoang dã, rất dễ trồng nhƣng có nhiều tác dụng nhƣ: Kháng khuẩn, tiêu viêm, chữa bỏng, làm lành các vết thƣơng, lở loét, viêm tấy,cầm máu, ức chế hệ miễn dịch, bảo vệ gan mật, an thần, chống co giật, chống đột biến 21... Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về thành phần và tác dụng của cây sống đời, nhƣng ở nƣớc ta chƣa có nhiều nghiên cứu có tính hệ thống về cây sống đời. Với mong muốn tìm hiểu và góp phần nghiên cứu chiết tách và xác định thành phần hóa học của cây sống đời nên chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “N (Kalanchoe pinnata( Lamk.) P )”. 2. Mục đích nghiên cứu
Trang 1
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA HÓA
Nghiên cứu chiết tách và xác định thành phần hóa học trong lá cây sống đời (Kalanchoe pinnata( Lamk.) Pers)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN SU PHẠM
Giáo viên hướng dẫn: GS.TS Đào Hùng Cường
Sinh viên: Lê Thị Hồng Kiều Lớp: 08-CHD
Đà Nẵng - Năm 2012
Trang 2NHIỆM VỤ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Họ và tên sinh viên: Lê Thị Hồng Kiều Lớp: 08-CHD
1 Tên đề tài: Nghiên cứu chiết tách và xác định thành phần hóa học trong lá cây
sống đời (Kalanchoe pinnata( Lamk.) Pers)
2 Nguyên liệu, dụng cụ và thiết bị:
3 Nội dung nghiên cứu:
- Xác định các đại lượng vật lý như độ ẩm, hàm lượng tro và hàm lượng một số kim loại nặng
- Nghiên cứu chiết tách thành phần hóa học trong lá cây sống đời bằng phương pháp chưng ninh và chiết soxhlet
- Khảo sát một số điều kiện tối ưu của quá trình chiết tách
- Định danh thành phần hóa học trong lá cây sống đời
4 Giáo viên hướng dẫn: GS.TS Đào Hùng Cường
5 Ngày giao đề tài: 11/2011
6 Ngày hoàn thành: 05/2012
Trang 3
PGS.TS Lê Tự Hải GS.TS Đào Hùng Cường
Trang 4Sinh viên đã hoàn thành và nộp báo cáo cho Khoa Hóa ngày…tháng…năm…
Kết quả điểm đánh giá
Ngày… tháng…năm…
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Q
N ữ ô ô ữ
,
ô
y ô ô ,
ỉ ả ỡ
ô ỡ ữ
ả ỡ ữ
ả ô
Nẵ 10 5 ă 2012
L T ồ
Trang 6MỤC LỤC
Trang
NHIỆM VỤ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP i
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 01
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 04
1.1 GIỚI THIỆU CÂY SỐNG ĐỜI 04
1.1.1 Tên gọi, phân loại khoa học 04
1.1.1.1 Tên gọi 04
1.1.1.2 Phân loại khoa học 04
1.1.2 Nguồn gốc và phân bố 04
1.1.3 Đặc điểm thực vật 04
1.1.4 Thành phần hóa học 05
1.1.5 Công dụng của cây sống đời 06
1.1.6 Tác dụng dược lý 09
1.1.6.1 Kháng khuẩn 09
1.1.6.2 Chống ung thư 09
1.1.6.3 Chống loét 10
1.1.6.4 Chống côn trùng 10
1.1.6.5 Chống dị ứng 10
1.1.6.6 Chống viêm, giảm đau 10
1.1.6.7 An thần 10
1.1.6.8 Chất chống oxi hóa 10
1.2 TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC TRONG LÁ CÂY SỐNG
ĐỜI 10
Trang 71.2.1 Axit hữu cơ 11
1.2.2 Flavanoid 11
1.2.2.1 Định nghĩa 11
1.2.2.2 Cấu trúc 12
1.2.2.3 Phân loại 12
1.2.2.4 Tính chất 13
1.2.2.5 Các phương pháp chiết xuất Flavonoid 13
1.2.2.6 Tác dụng sinh học và ứng dụng 14
1.2.3 Nhóm phenolic 16
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 17
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.2.1 Phương pháp chiết tách 17
2.2.1.1 Chiết đơn giản một lần 17
2.2.1.2 Chiết đơn giản, nhiều lần 18
2.2.2 Chưng cất để loại dung môi 18
2.2.3 Phương pháp vật lí 19
2.2.3.1 Phương pháp hấp thụ nguyên tử AAS 19
2.2.3.2 Phương pháp sắc kí khí ghép khối phổ (GC-MS) 21
CHƯƠNG 3.KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23
3.1 SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU 23
3.2 TIẾN HÀNH THỰC NGHIỆM 23
3.2.1 Thu nguyên liệu 23
3.2.2 Xử lí nguyên liệu 24
3.2.3 Xác định một số đại lượng vật lí 24
3.2.3.1 Xác định độ ẩm 24
3.2.3.2 Xác định hàm lượng tro trong lá sống đời 26
3.2.3.3 Xác định hàm lượng kim loại 27
Trang 83.2.4 Chưng ninh trong KOH 27
3.2.5 Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chiết 28
3.2.5.1 Chiết soxhlet bằng dung môi hexan 28
3.2.5.2 Chiết soxhlet bằng dung môi cloroform 29
3.2.5.3 Chiết soxhlet bằng dung môi metanol 29
3.2.6 Xác định thành phần hóa học trong dịch chiết soxhlet 30
3.2.6.1 Phương pháp chiết soxhlet bằng dung môi hexan 30
3.2.6.2 Phương pháp chiết soxhlet bằng dung môi cloroform 30
3.2.6.3 Phương pháp chiết soxhlet bằng dung môi metanol 30
3.3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.3.1 Khảo sát các đại lượng vật lý 32
3.3.1.1 Độ ẩm 32
3.3.1.2 Xác định hàm lượng tro trong lá sống đời 33
3.3.1.3 Xác định hàm lượng kim loại 33
3.3.2 Kết quả khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chiết 34
3.3.2.1 Chiết soxhlet bằng dung môi hexan 34
3.3.2.2 Chiết soxhlet bằng dung môi cloroform 35
3.3.2.3.Chiết soxhlet bằng dung môi metanol 36
3.3.3 Kết quả định danh thành phần hóa học trong dịch chiết lá tươi bằng sắc kí khí ghép khối phổ GC-MS 37
3.3.4 Kết quả phổ GC-MS dịch chiết soxhlet dung môi n-hexan, cloroform và Metanol 38
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 3.1: Kết quả xác định độ ẩm trong lá sống đời tươi 32
2 Bảng 3.2: Kết quả xác định độ ẩm trong lá sống đời khô 32
3 Bảng 3.3: Kết quả xác định tỉ lệ tro trong lá sống đời sấy khô 33
4 Bảng 3.4: Bảng hàm lượng một số kim loại trong lá cây sống đời 33
5 Bảng 3.5: Kết quả khảo sát sự phụ thuộc của tổng khối lượng cao
thu được với thời gian chiết bằng phương pháp chiết
soxhlet trong dung môi n-hexan
34
6 Bảng 3.6: Kết quả khảo sát sự phụ thuộc của tổng khối lượng cao
thu được với thể tích dung môi bằng phương pháp chiết
soxhlet trong dung môi n-hexan
34
7 Bảng 3.7: Kết quả khảo sát sự phụ thuộc của tổng khối lượng cao
thu được với thời gian chiết bằng phương pháp chiết
soxhlet trong dung môi cloroform
35
8 Bảng 3.8: Kết quả khảo sát sự phụ thuộc của tổng khối lượng cao
thu được với thể tích dung môi bằng phương pháp chiết
soxhlet trong dung môi cloroform
35
9 Bảng 3.9: Kết quả khảo sát sự phụ thuộc của tổng khối lượng cao
thu được với thời gian chiết bằng phương pháp chiết
soxhlet trong dung môi metanol
36
10 Bảng 3.10 : Kết quả khảo sát sự phụ thuộc của tổng khối lượng cao
thu được với thể tích dung môi bằng phương pháp
chiết soxhlet trong dung môi metanol
36
11 Bảng 3.11: Thành phần hóa học trong dịch chiết chưng ninh KOH 38
Trang 1012 Bảng 3.12: Thành phần hóa học của dịch chiết trong dung môi
14 Bảng 3.14: Thành phần hóa học của dịch chiết trong dung môi
cloroform (tiếp theo)
41
15 Bảng 3.15: Thành phần hóa học của dịch chiết trong dung môi
metanol
42
16 Bảng 3.16: Thành phần hóa học của dịch chiết trong dung môi
metanol ( tiếp theo)
42
17 Bảng 3.17: Một số hợp chất đƣợc xác định trong dịch chiết lá sống
đời
45
Trang 1112 Hình 3.7: Hệ thống chiết soxhlet 31
14 Hình 3.9: Dịch chiết dung môi metanol 31
15 Hình 3.10: Dịch chiết dung môi cloroform 31
17 Hình 3.12:Phổ đồ GC-MS dịch chiết chƣng ninh KOH 37
18 Hình 3.13: Sắc kí đồ GC của dịch chiết trong dung môi n-hexan 38
19 Hình 3.14: Sắc kí đồ GC của dịch chiết trong dung môi cloroform 39
20 Hình 3.15: Sắc kí đồ GC của dịch chiết trong dung môi metanol 39
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Việt Nam có một vị trí tự nhiên hiếm có, một mặt gắn liền với lục địa, mặt khác lại thông với đại dương và nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa, khí hậu có nhiều nét độc đáo và đa dạng, thay đổi từ điều kiện khí hậu nhiệt đới điển hình ở vùng núi thấp phía Nam, đến khí hậu mang tính chất Á - nhiệt đới vùng núi cao ở các tỉnh phía Bắc Điều kiện tự nhiên đó đã thực sự ưu đãi cho đất nước và con người Việt Nam một hệ sinh thái phong phú và đa dạng một tiềm năng to lớn về tài nguyên cây thuốc và tài nguyên dược liệu nói riêng Theo khảo sát, nước ta có sự đa dạng sinh học với khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao có mạch đã xác định tên của 8.000 loài, 600 loài nấm và 800 loài rêu… Trong đó, có gần 4.000 loài thực vật bậc cao và bậc thấp được dùng làm thuốc, chúng được phân bố rộng khắp cả nước
Mặt khác, nước ta có nền y học dân tộc lâu đời với tri thức sử dụng các loại dược liệu với các bài thuốc có giá trị chữa bệnh Hơn nữa, trong xu hướng của thế giới về sự “ Trở về với thiên nhiên ” thì việc sử dụng dược liệu làm thuốc ngày càng được nâng cao
Cây sống đời ( tên khoa học là Kalanchoe pinnata( Lamk.) Pers, họ Crassulaceae), còn có các tên gọi khác như là trường sinh, thuốc bỏng vừa là một cây cảnh, vừa là một cây thuốc được sử dụng từ lâu đời trong nền y học cổ truyền ở nước ta Nó là cây mọc hoang dã, rất dễ trồng nhưng có nhiều tác dụng như: Kháng khuẩn, tiêu viêm, chữa bỏng, làm lành các vết thương, lở loét, viêm tấy,cầm máu,
ức chế hệ miễn dịch, bảo vệ gan mật, an thần, chống co giật, chống đột biến [21]
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về thành phần và tác dụng của cây sống đời, nhưng ở nước ta chưa có nhiều nghiên cứu có tính hệ thống về cây sống đời Với mong muốn tìm hiểu và góp phần nghiên cứu chiết tách và xác định thành phần
hóa học của cây sống đời nên chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “N
(Kalanchoe pinnata( Lamk.)
P )”
2 Mục đích nghiên cứu
Trang 13- Nghiên cứu chiết tách và xác định thành phần hóa học trong lá cây sống đời
- Đóng góp vào nguồn thông tin, tư liệu khoa học về cây sống đời, tạo cơ sở khoa học phát huy tác dụng của nó
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Thu thập, tổng hợp các tài liệu, tư liệu trên sách báo, trên mạng
- Trao đổi kinh nghiệm với thầy cô, bạn bè
4.2 P :
- Phương pháp lấy mẫu, thu hái và xử lý mẫu
- Phương pháp vật lý và hóa học để xác định một số chỉ tiêu hóa lý:
+ Phương pháp trọng lượng để xác định độ ẩm
+ Phương pháp phân hủy mẫu phân tích để xác định hàm lượng tro
+ Phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS để xác định hàm lượng các kim loại nặng
+ Khảo sát các điều kiện chiết như: dung môi chiết, thể tích dung môi chiết, thời gian chiết
+ Chiết bằng phương pháp chiết nóng Soxhlet và phương pháp chưng ninh + Dùng phương pháp sắc ký khí ghép khối phổ (GC-MS) để phân tách và xác định thành phần hóa học trong các dịch chiết
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Trang 14- Lá cây sống đời được ứng dụng một cách rộng rãi và khoa học hơn
- Giải thích một cách khoa học về một số kinh nghiệm, bài thuốc dân gian, ứng dụng của lá cây sống đời
- Tổng hợp kiến thức về hợp chất thiên nhiên để giảng dạy bộ môn Hóa trong nhà trường phổ thông được tốt hơn
6 Cấu trúc của khóa luận:
Khóa luận được bố cục như sau:
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 TỔNG QUAN VỀ CÂY SỐNG ĐỜI
1.1.1 Tên gọi, phân loại khoa học
Tên khoa học: Kalanchoe pinata (Lam.) Pers.
Tên khác: Bryophyllum pinnatum (Lam.) Oken,1841; Bryophyllum calycinum Salisb,1805; Cotyledon pinnata Lam, 1786, Bryophyllum germinans, Verea pinnata, Cotyledon calycina, Cotyledon calyculata, Cotyledon rhizophilla,
Crassula pinnata, Crassula floripendia, Sedum madagascariense
Tên gọi ở các nơi khác: Air Plant, Coirama, Branca, Brava, Hoja de aire, Folha da Costa, Paochecara, Sayao, Saiao
Coirama-1.1.1.2 P [15]
Ngành: Magno liophyta(Ngọc Lan)
Lớp: Magno liopsida (Ngọc Lan)
Bộ: Saxifragales( Tai Hùm)
Họ: Crassulaceae ( Thuốc bỏng)
Chi: Kalanchoe
1.1.2 Nguồn gốc và phân bố
Cây sống đời là loài cây bản địa của Madagasca, được trồng và mọc tự nhiên
ở các vùng có khí hậu ôn hòa của các khu vực Châu Á, Thái Bình Dương, vùng Caribe Ở nước ta, cây sống đời được trồng ở nhiều nơi để làm cảnh và làm thuốc [18]
1.1.3 Đặc điểm thực vật [7], [16]
- Cây sống đời thuộc cây thân thảo, cao chừng 0.4-0.6 m, thân tròn nhẵn, rỗng, có
Trang 16đốm tía ( hình 1.1)
- Lá mọc đối thành hình chữ thập, lá dày có khi nguyên, có khi phân thành 3-5
thùy, phiến lá dài từ 5-15 cm, rộng từ 2-10cm, mép lá có răng cưa tù to, mặt lá bóng có
cuống dài từ 2-5cm, phía dưới phát triển ẩn vào thân cây
- Hoa có màu tím hồng, mọc ở ngọn hoặc kẽ lá, rủ xuống trên một cán dài ở ngọn
thân hay ở lá bên cạnh như đèn lồng Hoa nở vào tháng 3-5, quả từ tháng 4-6
- Cây sống đời rất dễ trồng, chỉ cần cắm một lá già xuống đất ẩm là được, không
cần đòi hỏi chăm sóc nhiều Vì thế, nhiều người chọn loại cây này trồng trong sân,
vườn, hoặc chậu cây nhỏ đặt trên bàn
- Cây sống đời có vị nhạt, hơi chua chua, chát chát, rất dễ uống khi ốm đau, có
tính mát Khi hái vào buổi sáng sớm thì có vị chua, lúc về chiều thì lại có vị chát chát,
nên hái lá vào buổi sáng sớm thì hiệu quả chữa bệnh cao hơn [23]
Trang 17chất chính:
+ Các axit hữu cơ: Năm 1971, Marriage Paul B và cộng sự đã xác định có 32.5% axit malic, 10.1% axit citric, 0.9% axit fumaric, 46.5% axit izoxitric
+ Các falvonoid
+ Các hợp chất phenolic: Axit b Cumaric, syringic, cafeic
1.1.5 Công dụng của cây sống đời
Dân gian từ lâu đã quen dùng lá của cây sống đời, thuộc họ thuốc bỏng (crassulaceae) để chữa bỏng Những chiếc lá xanh, dày, bóng nhẵn, có viền răng cưa nhỏ xíu là nơi tập trung tác dụng kì diệu của loại cây này Người ta thường giã nát lá cây và đắp lên vết bỏng để làm dịu mát cơn đau [19]
Ngoài ra, chiếc lá sống đời xinh xắn còn chứa những hoạt chất bryophylin, có khả năng kháng khuẩn và điều trị một số bệnh đường ruột [20]
Ở Creoles người ta sử dụng lá rang trị ung thư, viêm và hạ sốt Palikur trộn nước
ép lá với dầu dừa hoặc dầu andiroba và sau đó chà xát nó trên trán cho chứng đau nửa đầu, đau đầu Ở các dân tộc bản địa Siona, kalanchoe lá được gọi thuốc đun sôi và dùng tại chỗ để các bóng nước và loét da Vùng Pastaza Rio ở Ecuador, người dân địa phương sử dụng một lá cho gãy xương và các vết bầm tím
Ở Nam Mỹ nó được dùng trị nhiễm trùng hô hấp, ho, viêm loét dạ dày và nhiễm trùng da, mắt và tai, nó được biết đến rộng rãi và được sử dụng như "lá phép lạ." [11]
Tại Brazil sử dụng chữa áp-xe, các bệnh vòm họng, viêm phế quản, viêm khớp,
bóng nước, bỏng, những cục chai, viêm kết mạc, ho, viêm da, bệnh da liễu, đau tai, eczema, phù, sốt, bệnh tăng nhãn áp, nhức đầu, nhiễm trùng, viêm, côn trùng đốt, các vấn đề đường ruột, ngứa, sỏi thận, rối loạn bạch huyết, lở loét miệng căng thẳng, nhiễm trùng hô hấp, bệnh thấp khớp, vấn đề về da, đau răng, bệnh lao, ung thư, loét, suy tiết niệu, mụn cơm, ho gà, vết thương, và sử dụng như thuốc an thần
Tại Peru, Mexico và Nicaragua, lá sống đời được sử dụng cho mục đích tương
tự và cũng để thúc đẩy kinh nguyệt, chất kích thích tử cung, co mạch, mau lành vết
Trang 18thương và hỗ trợ trong khi sinh con, chống co giật, ngăn chặn hoặc loại trừ sỏi thận, tống hơi trong ruột, lợi tiểu, làm giảm cholesterol, chất làm giảm nhiệt độ cơ thể, tăng
lực Tại Mỹ sử dụng chữa thủy đậu, sốt, đau bụng…
Mới đây, giáo sư Supratman và các cộng sự của ông, thuộc Đại học Osaka Prefecture ở Sakai, Nhật Bản, còn tìm thấy tác dụng khác của cây sống đời: có tác dụng chống lại vi trùng gây khối u Ở Ấn Độ, người ta dùng lá cây này đắp trị bỏng, vết thương, mụn nhọt và các vết cắn đốt của côn trùng Ở Trung Quốc, toàn cây được dùng chữa ung sang thũng độc, viêm tuyến vú, đan độc, ngoại thương xuất huyết, đòn ngã, tổn thương, gãy xương, bỏng, viêm tai giữa
Việc nghiên cứu lá trường sinh hiện nay được các nước Ấn Độ, Brazil, Nhật, Pháp, Trung Hoa, Phi Luật Tân, Hoa Kỳ tiến hành Kết quả những cuộc nghiên cứu và thí nghiệm trên chuột cho thấy lá trường sinh kháng trùng, kháng khuẩn, kháng nấm,
kháng dị ứng, kháng histamine Dùng lá trường sinh trị suyễn, kiết lỵ, tiêu chảy, sốt
Dum Dum có kết quả tốt Sốt Dum Dum (leishmaniasis) là một loại bịnh nhiệt đới gây
tử vong và khó trị nhưng có thể trị khỏi bằng thuốc chế từ lá trường sinh Khả năng cầm máu của lá trường sinh làm cho các nhà khoa học đặc biệt quan tâm đến dược tính
và khả năng trị liệu rộng rãi của nó
Ở Việt Nam có trên 10 loài thuộc chi Kalanchoe Ở nước ta cây phân bố rộng khắp các vùng miền Toàn cây được sử dụng nhưng phần lá và phần rễ đều có tác dụng chữa trị cao hơn cả [13].Ở nước ta, lá cây sống đời chỉ mới được dùng trong phạm vi dân gian Theo PGS.TS Trương Thị Đẹp thì cây sống đời toàn thân cây có vị nhạt, chát, hơi chua, tính mát, có tác dụng giải độc, tiêu thũng, hoạt huyết chỉ thống, bạt độc sinh cơ Lá tươi giã nát đắp hoặc vắt lấy nước bôi hàng ngày [16] Có thể dùng lá tươi rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước hoặc hòa với nước chín rồi lọc lấy nước cốt để uống Ngoài ra lá tươi giã nát vắt lấy nước, nhỏ vào tai chữa được bệnh viêm tai giữa cấp tính Cũng nước lá tươi, thêm rượu và đường uống chữa bị ngã, bị thương thổ huyết [ 22]
Trang 19Cách dùng: Lá tươi giã nát đắp hoặc vắt lấy nước bôi hàng ngày Có thể dùng lá tươi 40g rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước hoặc hòa với nước chín rồi lọc lấy nước cốt để uống Ngoài ra lá tươi giã nát vắt lấy nước, nhỏ vào tai chữa được bệnh viêm tai giữa cấp tính Cũng nước lá tươi, thêm rượu và đường uống chữa bị ngã, bị thương thổ huyết
Ở nước ta, lá cây sống đời có trong nhiều bài thuốc dân gian như [24]:
- Chữa viêm tai giữa cấp tính: Lấy lá tươi giã nát, vắt lấy nước rồi nhỏ vào tai
- Đau lưng và thấp khớp: Hơ lá sống đời nóng lên tới mức bạn có thể chịu được, sau đó đắp chúng lên khu vực đau Ngoài ra, bạn có thể tiếp nhiệt cho lá bằng cách cho nước nóng vào chai, liên tục chườm lên đá trong khi đắp Nhiệt độ này sẽ giúp giải phóng các thuộc tính chữa bệnh của lá, giúp việc chữa trị hiệu quả hơn
- Đau, mỏi chân: Mỗi ngày, bạn ngâm chân với nước ấm có ngâm ít nhất 3 lá sống đời
- Giảm kích thước mụn lẹo ở mắt: Bạn cần làm ấm rồi đặt lá trên mắt một hoặc hai phút, ngày làm 3-6 lần Dược liệu từ lá cây giúp làm giảm đỏ và kích thước của mụn lẹo
- Chữa đau đầu: Hơ nóng lá trên ngọn lửa hoặc lò vi sóng Lấy lá này đắp lên trên trán trong khoảng 10 phút
- Giảm sốt: Để giảm sốt, bạn lấy lá sống đời giã nhỏ, đắp lên trán người bệnh Bạn cần thực hiện như vậy hai lần mỗi ngày
- Bệnh viêm amidan: Bạn nên dùng 5-10 lá sống đời giã nhỏ, vắt lấy nước, sử dụng như nước súc miệng hàng ngày
- Đắp vết thương: Lá sống đời giã nát hoặc nghiền, cho thêm một ít nước và đắp lên phần cơ thể bị thương
- Chữa viêm loét dạ dày: Người bệnh có thể ăn sống 40g lá sống đời mỗi ngày
Trang 20- Chữa mụn nhọt chưa có mủ: 30g lá sống đời, 20g lá táo, 15g lá đại Tất cả giã nhỏ, đắp vào chỗ đau, ngày 1-2 lần
- Chữa đi lỵ và bệnh trĩ: Lấy khoảng 6g lá sống đời, 6g lá rau sam, nhai sống hoặc sắc lấy nước để uống
1.1.6 Tác dụng dược lý
Cây sống đời từ lâu đã được biết đến như cây thuốc và được đánh giá cao trên thế giới Cây sống đời giàu ancaloit, triterpenes, glycosides, flavonoid, steroid và chất béo Đặc biệt lá có chứa một nhóm các hóa chất gọi là bufadienolides Nó có cấu trúc
và hoạt động tương tự như hai glycosides tim khác, digoxin và digitoxin (thuốc dùng
để điều trị lâm sàng của suy tim sung huyết và điều kiện liên quan) Gần đây các nhà hóa học Nhật Bản phát hiện khả năng kháng khuẩn gây bệnh sốt rét ở lá sống đời tuy
nhiên vẫn chưa chứng minh thành phần nào có tác dụng chính trong công dụng này
Cây sống đời được sử dụng trong các bài thuốc cổ truyền như: làm thuốc giảm đau, chống dị ứng, chống phản vệ (làm giảm phản ứng dị ứng), chống viêm, antitumorous, antiulcerous, kháng khuẩn, kháng nấm, kháng histamine, kháng siêu vi, trầm cảm hệ thần kinh trung ương, giải nhiệt (giảm sốt) gastroprotective (bảo vệ dạ dày), ức chế miễn dịch (ngăn chặn một số tế bào miễn dịch), immunomodulator (điều biến một số tế bào miễn dịch overactive), vết thương do côn trùng, giãn cơ, thuốc an
thần
1.1.6.1 ẩ
Trong lá sống đời có hợp chất phenolic có hoạt động chống vi khuẩn [18] Lá
và nước ép lá tươi đã chứng minh vai trò quan trọng trong hoạt động kháng khuẩn đối với Staphylococcus, E coli, Shigella, Bacillus và Pseudomonas Schmitt cho thấy hoạt
tính kháng khuẩn của nước sắc từ lá có tác dụng chống lại vi khuẩn gram dương [11]
1.1.6.2
Các lá có chứa một nhóm chất gọi là bufadienolides Nó có cấu trúc và tác động tương tự như hai glycoside tim khác là digoxin và digitoxin
Trang 21Bersaldegenin-1,3,5-orthoacetate ức chế sự tăng trưởng một số tế bào ung thư
1.1.6.3 loét
Trong lá sống đời có các hợp chất Flavonoit- là chất chống ôxy hóa mạnh, coa tác dụng ngăn chặn sự tổn thương của các tế bào bị ôxy hóa Vì thế, được sủ dụng để điều trị vết thương, bỏng và các vết loét… Lá cây có chứa hydroxyproline chữa lành những vết thương [12]
1.1.6.6 ả
Tanin có trong lá có tính chất làm se, đẩy nhanh việc chữa lành vết thương và viêm màng nhầy Dra Amilia điều tra các hoạt động chống viêm của chất lỏng chiết xuất từ lá chống phù nề gây ra bởi tảo carragreen ở chuột [14]
1.1.6.7 A
Từ năm 1921, lá cây sống đời được sử dụng trong y học cổ truyền với tác dụng chống loạn thần Salahdeen cho thấy dịch chiết từ lá có tác động lên thần kinh trung ương [11]
Trang 22Các công trình nghiên cứu trước đây đã phát hiện ra rằng trong lá cây sống đời chứa 3 hoạt chất chính: Axit hữu cơ, flavanoid và phenolic
1.2.1 Axit hữu cơ
Axit hữu cơ là hợp chất hữu cơ có tính axít Ví dụ thường gặp nhất là các axit carboxylic Ngoài ra còn một số nhóm chức khác có thể gây ra tính axit yếu: hydroxyl (–OH), alkenol, phenol, v.v Axit hữu cơ có hàm lượng khá cao trong các nguyên liệu thực vật
Ta có thể phân loại axit hữu cơ căn cứ vào số chức axit trong phân tử, rồi trong mỗi loại đó lại chia thành axit mạch hở, axit mạch vòng, axit thơm [8]
Các axit đóng vai trò quan trọng trong sự chuyển hóa của cây Người ta nhận thấy các axit làm tăng áp suất thẩm thấu của các tế bào Nếu các axit hữu cơ có nồng
độ cao trong những cây mầm thì làm giảm sự bốc hơi và giúp cây tăng khả năng chịu hạn.Các axit phenol có tác dụng chống nấm, đóng vai trò chống các kí sinh trong cây [1]
Các axit hữu cơ có tác dụng thông tiểu, nhuận tràng Axit benzoic là thuốc sát khuẩn nhẹ và long đờm; axit gallic là chất săn da; axit cafeic làm lợi mật [2]…
Các axit hữu cơ được ứng dụng rộng rãi trong thực phẩm vì hiệu ứng của chúng với vi khuẩn Các axit hữu cơ không phân ly nên có thể xâm nhập vào thành tế bào vi khuẩn và làm gián đoạn sinh lí bình thường của một số loại vi khuẩn mà chúng ta gọi
là nhạy cảm với pH Khi khuếch tán thụ động của các axit hữu cơ vào vi khuẩn, nơi mà
độ pH gần hoặc trên trung lập, các axit sẽ phân ly và giảm pH bên trong vi khuẩn, sẽ làm giảm hoặc làm ngừng sự phát triển của bên trong vi khuẩn Hơn nữa, phần anion của các axit hữu cơ không thể thoát khỏi các vi khuẩn trong mẫu phân ly của nó sẽ tích
tụ trong các vi khuẩn và phá vỡ nhiều chức năng trao đổi chất dẫn đến tăng áp suất thẩm thấu, không tương thích với sự tồn tại của vi khuẩn
1.2.2 Flavanoid [2]
1.2.2.1
Trang 23Flavonoit là những hợp chất tự nhiên có màu, thường gặp trong thực vật, có
trong tất cả các bộ phận của cây như: lá, quả, phấn hoa, rễ, gỗ… Flavonoit tham gia
vào sự tạo màu sắc của cây (nhất là hoa) nên thường được dùng để làm chất màu thực
vật
1.2.2.2
Cấu trúc của Flavonoit gồm có bộ khung cacbon C6 – C3 – C6, thường có hai
vòng thơm (vòng A và vòng B) nối với nhau qua mạch ba cacbon (mạch hở ) hoặc nối
với vòng cacbon có một nguyên tử ôxy (nhờ nguyên tử ôxy nên đóng vòng )
CC
CA
B
A
B O
- Flavon : Apigenin , luteolin…
Trang 24- Leucoantoxyanidin : 3,4-diol Flavan…
- Phần lớn flavonoit có màu vàng (một số có màu xanh,tím…)
- Các flavonoit thường có độ tan không giống nhau : các flavonoid glycosid và flavonoid sunfat là những hợp chất phân cực nên không tan hoặc ít tan trong dung môi hữu cơ, tan tốt trong nước; các aglycon flavonoid tan được trong dung môi hữu cơ, không tan trong nước; các dẫn chất flavonoid có nhóm 7-hydroxy thường dễ tan trong dung dịch kiềm loãng
- Flavonoit có cấu trúc phenol nên có tính axit nên tác dụng với kiềm tạo ra những màu đặc trưng
- Tác dụng với chì axetat trung tính tạo kết tủa
1.2.2.5 t x Flavonoid [5], [6]
Nguyên liệu được chiết với methanol, bốc hơi methanol trong chân không hay trên nồi cách thuỷ tới cạn Hòa tan cặn trong nước rồi chiết lại bằng ethyl acetat Bốc hơi dịch chiết ethyl acetat trên cách thuỷ tới cạn Hoà tan cặn trong methanol để chấm sắc ký hoặc có thể dùng dịch chiết methanol ban đầu làm dung dịch chấm sắc ký VD: Với các chất anthocyanin thường kém bền vững nhất là các acyl anthocyanin được acyl hóa với các acid aliphatic do đó người ta thường chiết bằng methanol có mặt của các acid yếu như axit acetic, axit citric,…
Không có một phương pháp chung nào để chiết suất các flavonoid vì chúng rất khác nhau về độ tan trong nước và trong các dung môi hữu cơ
- Các dẫn chất flavon, flavonol có nhóm -OH tự do ở vị trí thứ 7 tan được trong dung dịch kiềm loãng, dựa vào đó để chiết
- Để chiết các dẫn chất ở dạng glycoside, người ta phải loại các chất thân dầu
Trang 25bằng ether dầu hỏa sau đó chiết bằng nước nóng hoặc methanol hoặc ethanol hay hỗn hợp cloruafom và ethanol
- Dịch chiết đem làm đậm đặc dưới chân không ở nhiệt độ thấp (40-700C) Để phân lập từng chất flavonoid, người ta dùng phương pháp sắc khí cột Chất hấp phụ thông dụng cho sắc ký các flavonoid là silicagel G, bột polyamid, thường hoạt hoá ở 1200C trong 1 hoặc 2 giờ Ngoài ra còn có thể dùng các chất khác như bột cenllulose, silicagel, magnesol,…
1.2.2.6 T dụ dụ
* T dụ
- Khi đưa các chất chống oxy hóa như flanovoid vào cơ thể để bảo vệ tế bào thì
có thể ngăn ngừa các nguy cơ xơ vữa động mạch, tai biến mạch, lão hóa,…Vì khả năng chống ôxy hóa của flavonoid còn mạnh hơn các chất khác như vitamin C, E, selenium
và kẽm
- Flavonoid tạo được phức với các ion kim loại Mà chính các ion kim loại này
là xúc tác của nhiều phản ứng oxy hóa
- Tác dụng chống độc của flavonoid làm giảm thương tổn gan, bảo vệ được chức năng gan
- Flavonoid thể hiện tác dụng chống co thắt những tổ chức cơ nhẵn (túi mật, ống dẫn mật, phế quản và một số tổ chức khác)
- Trên bộ máy tiết niệu, nhiều flavonoid thuộc nhóm flavon, flavanon, flavonol thể hiện tác dụng thông tiểu rõ rệt
- Tác dụng chống loét của flavanon và chalcon-glycoside của rễ cam thảo được ứng dụng để chữa đau dạ dày
- Flavonoid làm bền ứng dụng trong chữa thành mạch, giảm sức thẩm thấu các hồng cầu qua thành mạch trị các rối loạn chức năng tĩnh mạch, giãn hay suy yếu tĩnh mạch, trĩ, rối loạn tuần hoàn võng mạc
* Ứ dụ [5], [4]
- Chất flavonoid giúp bảo quản mô thận, ức chế phản ứng thải ghép thận; yếu
Trang 26tố bảo vệ thận ghép, hạn chế tổn thương tế bào thận do thiếu máu
- Flavonoid được chiết từ lá cây bạch quả (Ginkgo biloba-thuộc họ Ginkgoaceae) chứa các chất dẫn chất của Kaempferol, quercetin có tác dụng cải thiện được tuần hoàn, đặc biệt là tuần hoàn não, làm tăng trí nhớ, có tác dụng tính cực trong chữa bệnh Alzheimer, cải thiện chứng liệt dương
- Thí nghiệm flavonoid chiết xuất từ hoa kim ngân cũng có tác dụng làm giảm các chỉ số cholesterol toàn phần, triglycerid và LDLC (hại cho tim) đồng thời làm tăng HDLC (lợi cho tim mạch) trong huyết tương chuột cống trắng uống cholesterol thực nghiệm
- Các flavonoid còn có tác dụng chống độc, làm giảm thương tổn gan, bảo vệ chức năng gan như cynarin, acid cafeic, chlorogenic
- Báo The Times of India dẫn lời các nhà khoa học cho biết, chính hợp chất flavonoid có trong củ hành với đặc tính chống ôxy hóa đã giúp tiêu diệt các phân tử gốc tự do Củ hành có tác dụng ngừa ung thư(đặc biệt là ung thư dạ dày), huyết áp cao
và bệnh tim, giúp giảm cholesterol và ngăn ngừa chứng xơ vữa động mạch, qua đó giúp ngừa bệnh tim
- Trong nụ hoa hòe có chứa flavonoid: rutin (rutosid) cao nhất Tác dụng của rutin (một loại vitamin P) làm giảm tính thấm của mao mạch, củng cố sức bền thành mạch, hạn chế hiện tượng suy giảm tĩnh mạch ở người cao tuổi
- Cây thanh hao hoa vàng chứa các hợp chất flavonoid gồm quercetagetin, methylether, tetramethylether và các coumarin, các dẫn chất polyacetylen
- Rất nhiều loại hoa chứa các flavonoid, polyphenol (như hoa và đài hoa cây bụt dấm) có tính chống ôxy hoá, làm giảm rối loạn lipid máu, nguy cơ bệnh tim mạch
- Nghiên cứu cho thấy các chất có trong chocolate được gọi là flavonoid có thể giúp mạch máu hoạt động trôi chảy hơn và có thể giảm nguy cơ bệnh tim
- Hesperidin và naringin là hai chất flavonoid có trong bưởi giúp bảo vệ tính đàn hồi của mạch máu, ngừa xơ cứng động mạch, gián tiếp chống cao huyết áp và tai biến mạch máu não
Trang 27- Một nghiên cứu mới của Mỹ đƣợc đăng trên tạp chí Journal of Agricultural and Food Chemistry khẳng định rằng các chất flavonoid trong chanh có tính năng ngăn ngừa các bệnh thoái hóa của não
- Ngoài ra, flavoloid còn có trong một số loại nhƣ: cam quýt, vỏ và hạt nho, đậu nành
Các axit phenolic có tác dụng chống nấm và đóng vai trò chống các kí sinh của cây Các hợp chất phenolic có trong lá sống đời nhƣ: axit p-cumaric, syringic, axit caffeic, p-hydroxybenzoic…
Trang 28CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Lá sống đời được hái tại xã Đức Nhuận, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi
Tên khoa học: Kalanchoe pinnata.(Lam.) Pers
Thuộc họ thuốc bỏng: Crassulaceae
Chi: Kalanchoe
Mô tả thực vật: Cây cao khoảng 40 - 60cm Thân tròn, nhẵn, có đốm tía, lá mọc đối, nguyên hoặc xẻ 3 thùy ( hình 2.1) Phiến lá dày, mọng nước, có răng cưa tròn ở
mép Lá non màu hơi tím, lá già màu xanh thẫm Mép lá, cuống lá màu tím ( hình 2.2)
Hoa mọc thõng xuống, màu hồng tím tụ tập thành xim trên một cán dài ở ngọn thân
Chiết đơn giản một lần nhiệt độ thường hay còn gọi chưng ninh, ngâm kiệt Ta
sử dụng nhiệt độ cao để đun nóng hợp chất với dung môi trong bình cầu có sinh hàn hồi lưu, lọc nóng hoặc để lắng cho trong rồi chắt
Trang 292.2.1.2 ả
Người ta thường sử dụng ống Soxhlet Bộ chiết Soxhlet bao gồm một bình cầu, một ống chiết và một ống sinh hàn hồi lưu (hình 2.3) Dung môi ở trong bình cầu được làm bốc hơi từng phần, dung môi được ngưng tụ nhỏ vào chất được chiết đựng trong một cái túi bằng giấy lọc và sau đó lại chảy vào bình (dung môi lựa chọn phải tan chất hữu cơ nghiên cứu hoặc hòa tan chất phụ) Trong quá trình đó cấu tử cần được tách được làm giàu thêm trong dung môi ở bình cầu Phương pháp này tiết kiệm được dung môi và hiệu quả tương đối cao Kỹ thuật này có ưu điểm là chiết triệt để, song các điều kiện chiết phải nghiêm ngặt thì mới có kết quả tốt Vì thế hệ thống chiết vận hành tự động cho kết quả tốt hơn nhưng phải có hệ thống trang thiết bị hoàn chỉnh Nó thích hợp chiết các chất hữu cơ từ các đối tượng mẫu khác nhau Chất phân tích có trong mẫu rắn, bột, mẫu xốp khô…kỹ thuật này được ứng dụng chủ yếu để tách các hợp chất hữu cơ từ mẫu lá cây, rau quả hoặc mẫu đất
2.2.2 Chưng cất để loại dung môi
Khi tổng hợp ta thu được một dung dịch của hợp chất mong muốn trong một dung môi có điểm sôi thấp hơn mà sau khi chưng cất loại bỏ dung môi đi ta có được hợp chất cần tổng hợp Trong những trường hợp đó, ta thường đun cách thuỷ hay đun bằng hơi nước, một mặt vì phần lớn các dung môi dễ cháy và mặt khác, để các hợp chất hữu cơ không phải chịu nhiệt một cách không cần thiết Cuối quá trình chưng cất loại dung môi, điểm sôi của dung dịch tăng mạnh đến nỗi những dung môi có nhiệt độ sôi thấp như alcol, benzen và cả ete cũng không thể được tách hoàn toàn khỏi số cặn có điểm sôi cao hơn trên nồi cách thuỷ được đun sôi Vì thế ta dùng một chân không nhẹ
và làm cho áp suất càng giảm đi theo mức độ dung môi trong dung dịch càng nghèo hơn để luôn có được một tốc độ cất thoả mãn
Ngày nay, người ta thường sử dụng máy cô đuổi dung môi ( hình 2.4) hiện đại
để cô đuổi dung môi một cách thuận tiện và dễ dàng
Trang 30 N ồ
Muốn thực hiện phép đo phổ hấp thụ nguyên tử, cần phải có nguồn phát tia
Trang 31bức xạ đơn sắc của nguyên tố cần phân tích để chiếu qua đám hơi nguyên tử tự do Nguồn phát tia bức xạ đơn sắc phải thoả mãn các yêu cầu sau:
+ Nguồn phát tia bức xạ đơn sắc tạo ra phải là các tia phát xạ nhạy của nguyên tố phân tích Chùm tia phát xạ phải có cường độ (Io) ổn định, lặp lại trong nhiều lần đo khác trong cùng điều kiện và phải điều chỉnh được để có cường độ cần thiết cho mỗi phép đo
+ Nguồn phát bức xạ phải tạo ra được chùm tia phát xạ thuần khiết, chỉ bao gồm một số vạch nhạy của nguyên tố phân tích Phổ nền của nó phải không đáng kể
+ Nguồn phát tia bức xạ phải tạo ra được chùm tia sáng có cường độ cao, nhưng phải bền theo thời gian và không bị các yếu tố vật lý khác gây nhiễu, không bị ảnh hưởng bởi các dao động của điều kiện làm việc Ngoài ra không quá đắt và không quá phức tạp khi sử dụng
Phương pháp quang phổ nguyên tử hấp thụ có thể áp dụng trong nhiều đối tượng phân tích khác nhau như: nước, đất, không khí…, chỉ khác nhau ở công đoạn lấy mẫu, bảo quản mẫu
Dùng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử để xác định hàm lượng các