II.3.5 Quá trình xử lý bằng bùn hoạt tính với vật liệu tiếp xúc Quá trình xử lý sinh học hiếu khí Attached Growth AG được sử dụng để loại bỏ chất hữu cơ trong nước thải.. Bùn hoạt tính
Trang 1Chương I – MỞ ĐẦU I.1 Lý do chọn đề tài
Tính đến 31/6/2006, cả nước có 134 KCN, KCX với tổng diện tích đất tự nhiên là 27.745 ha, tổng diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê là 18.561 ha KCN trên cả nước bao gồm 19 dự án có vốn ĐTNN và 112 dự án trong nước với tổng vốn đầu tư đạt hơn 1 tỷ USD và 33 nghìn tỷ đồng Trong đó, các KCN do doanh nghiệp ngoài quốc doanh làm chủ đầu tư chiếm số lượng lớn nhất: 45 KCN với tổng vốn đầu tư 15.673 tỷ đồng; 33 KCN được đầu tư theo cơ chế đơn vị sự nghiệp có thu với tổng vốn đầu tư hạ tầng đạt trên 7.424 tỷ đồng, các KCN còn lại do doanh nghiệp nhà nước làm chủ đầu tư với tổng vốn đầu tư hơn 9.835 tỷ đồng (34 KCN) Đến cuối năm 2005, có 79 KCN, đã hoàn thành xây dựng cơ bản và đi vào vận hành; 51 KCN còn lại đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản
KCN là nơi tập trung các doanh nghiệp công nghiệp, do đó có điều kiện tập trung các chất thải do các doanh nghiệp thải ra để xử lý, tránh tình trạng khó kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp do phân tán về địa điểm sản xuất
KCN góp phần thực hiện mục tiêu di dời các cơ sở sản xuất từ nội đô; tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường trong việc kiểm soát ô nhiễm và có biện pháp xử lý kịp thời đối với hành vi gây ô nhiễm của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp ngoài KCN
Thực tế cho thấy một số KCN thực hiện rất tốt và hài hoà mục tiêu thu hút đầu tư với giải quyết vấn đề về môi trường, thực sự là những "công viên công nghiệp", là mẫu hình để các KCN khác tiếp tục triển khai áp dụng, điển hình là KCN Biên Hoà II, KCN Thăng Long
Trong thời gian qua, công tác bảo vệ môi trường trong KCN mặc dù đã được chú trọng hơn nhưng đa số các KCN trên phạm vi cả nước còn chưa được cải
Trang 2Nhiều KCN chưa xây dựng nơi tập trung và xử lý rác thải Việc thu gom và vận chuyển rác thải chỉ thực hiện trong phạm vi từng nhà máy Những nhà máy sản xuất bao bì, hoá chất, nhựa,… thường có những chất khó phân huỷ, gây độc hại cho môi trường nước mặt, nước ngầm và đất
Ô nhiễm về nước thải công nghiệp càng trở nên nghiêm trọng Hiện chỉ có
33 KCN đã có công trình xử lý nước thải tập trung, 10 KCN đang xây dựng, còn lại các KCN khác đều trực tiếp thải ra sông, biển, gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường xung quanh, nhất là những KCN tập trung các ngành công nghiệp dệt, thuộc da, hoá chất…có lượng nước thải thải ra với khối lượng lớn và có tính độc hại cao
Phú Thọ là tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam.Thành phố Việt Trì là trung tâm hành chính của tỉnh, cách thủ đô Hà Nội 80 km vàsân bay Nội Bài 50 km về phía tây bắc
Đến 30/9/2006, các Khu công nghiệp (KCN) trên địa bàn tỉnh do Ban quản lý các KCN Phú Thọ quản lý có 46 dự án đầu tư còn hiệu lực (KCN Thuỵ Vân: 44 dự án; KCN Trung Hà: 01 dự án; CCN Bạch Hạc: 01 dự án) với tổng số vốn đăng ký là 126,878 triệu USD và 1.180,9 tỷ đồng Có 30 dự án đã đi vào sản xuất kinh doanh, 04 dự án tạm dừng hoạt động, các dự án khác đang trong quá trình xây dựng nhà xưởng và lắp đặt máy móc thiết bị sẽ đi vào sản xuất trong năm 2006;
02 dự án mới được cấp phép đầu tư
Khu công nghiệp Thụy Vân là nơi thu hút rất mạnh mẽ sự đầu tư của các doanh nghiệp trong và ngoài nước, đống thời là nơi tập trung nhiều ngành nghề sản xuất, do đó nước thải rất đa dạng Nước thải tại các khu công nghiệp nếu không được xử lý trước khi xả thải ra môi trường thì ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn nước và đời sống của các khu dân cư lân cận Do đó, thiết kế một hệ thống xử lý nước thải của khu công nghiệp phù hợp với quy mô tính chất nước thải để đảm bảo chất lượng nước thải ra môi trường đạt tiêu chuẩn cho phép và là một
Trang 3yêu cầu cần thiết Vì vậy, đề tài“tính toán và thiết kế hệ thống xử lý nước thải tập trung KCN Thụy Vân tỉnh Phú Thọ” đã được được lựa chọn để thực hiện đồ án tốt nghiệp.
I.2 Mục tiêu nghiên cứu
Khảo sát và nghiên cứu thực trạng nước thải phát sinh tại KCN Thụy Vân để tính toán và thiết kế hệ thống xử lý nước thải tập trung phù hợp
I.3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu bằng các phương pháp sau đây
- Khảo sát thực địa KCN Thụy Vân
- Thu thập, phân tích tổng hợp dữ liệu để tính toán và thiết kế
- Nghiên cứu tư liệu: đọc và thu thập số liệu về tình hình nước thải của KCN và các hệ thống xử lý nước thải tại các KCN khác
- Phương pháp so sánh: phương pháp này nhằm đánh giá hiệu quả xử lý nước thải đầu vào và ra theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 5945 – 1995, TCVN 6980-2001)
- Phương pháp phân tích chi phí lợi ích: nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế trong quá trình xử lý nước thải của các phương pháp xử lý
I.4 Nội dung đề tài
Đồ án tập trung nghiên cứu những nội dung chính sau:
- Nghiên cứu tổng quan các phương pháp xử lý nước thải công nghiệp
- Tìm hiểu những vấn đề kinh tế và môi trường tại khu công nghiệp Thụy Vân
- Tính toán thiết kế hệ thống xử lý nước thải tập trung KCN Thụy Vân
- Khái toán kinh phí đầu tư xây dựng công trình cho hệ thống xử lý nước thải KCN Thụy Vân
Trang 4I.5 Giới hạn đề tài
Với mục tiêu nghiên cứu được xác định, đề tài này chỉ thực hiện trong giới hạn tìm hiểu về tính chất và lưu lượng nước thải phát sinh từ các nhà máy trong KCN, từ đó, tính toán và thiết kế hệ thống xử lý nước thải phù hợp
I.6 Ý nghĩa của đề tài
Đề tài được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu tìm hiểu về thành phần tính chất nước thải phát sinh tại KCN Thụy Vân cùng các phương pháp xử lý để thiết kế HTXLNT tập trung phù hợp cho KCN, mang tính khả thi cao Kết quả tính toán thiết kế của đề tài có thể làm cơ sở cho công ty đầu tư hạ tầng KCN Thụy Vân tham khảo để đầu tư xây dựng công trình, đảm bảo KCN luôn xanh sạch đẹp, hạn chế đến mức thấp nhất các tác động tiêu cực của nước thải chưa xử lý đến môi trường xung quanh
Trang 5Chương II - TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NƯỚC THẢI
CÔNG NGHIỆP
Các loại nước thải đều chứa các tạp chất gây nhiễm bẩn có tính chất rất khác nhau: từ các loại chất rắn không tan đến các chất khó tan và những hợp chất tan trong nước Xử lý nước thải là loại bỏ các tạp chất đó, làm sạch lại và có thể đưa nước vào nguồn tiếp nhận hoặc tái sử dụng Để đạt được những mục đích đó, chúng ta thường dựa vào đặc điểm của từng loại tạp chất để lựa chọn phương pháp xử lý thích hợp
Thông thường có các phương pháp xử lý nước thải như sau:
II.1 Phương pháp cơ học
Trong nước thải thường chứa các loại tạp chất rắn có kích cỡ khác nhau bị cuốn theo như bao bì chất dẻo, giấy, giẻ, dầu mỡ nổi, cát sỏi,…Ngoài ra, còn có các loại hạt lơ lửng
II.1.1 Song chắn rác
Song chắn rác là công trình xử lý sơ bộ để chuẩn bị điều kiện cho việc xử lý nước thải sau đó Nhằm giữ lại các vật thô như rác, giẻ, giấy, mẫu đất đá, gỗ,…ở trước song chắn rác Song làm bằng sắt tròn hoặc vuông
Hiệu quả thao tác ít hay nhiều, đều phụ thuộc vào kích thước khe song, ta có thể chia thành:
- Song chắn rác tinh, khoảng cách nhỏ hơn 10mm
- Song chắn rác trung bình, khoảng cách từ 10 đến 40mm
- Song chắn rác sơ bộ, khoảng cách lớn hơn 40mm
Trang 6Hình 2.1: Song chắn rác tinh Hình 2.2: Song chắn rác thô
II.1.2 Lưới lọc
Sau chắn rác, để loại bỏ tạp chất rắn có kích cỡ nhỏ hơn, mịn hơn ta có thể đặt thêm lưới lọc Ngoài ra, lưới lọc còn giữ nhiệm vụ loại bỏ một phần đáng kể ô nhiễm dưới dạng huyền phù và có thể khôi phục lại giá trị của nó
Lưới lọc gồm các loại:
- Lưới lọc lõm tự động rửa sạch
- Các tang quay có lưu lượng tới 1.500m3/h
II.1.3 Lắng cát
Dựa vào nguyên lý trọng lực, dòng thải được cho chảy qua “bẫy cát” Bẫy cát là các loại bể, hố, giếng…cho nước thải chảy vào theo nhiều cách khác nhau: theo tiếp tuyến, theo dòng ngang, theo dòng từ trên xuống và tỏa ra xung quanh…nước qua bể lắng, dưới tác dụng của trọng lực, cát nặng sẽ lắng xuống đáy và kéo theo một phần chất đông tụ
Cát lắng ở bẫy cát thường ít chất hữu cơ Sau khi được lấy ra khỏi bể lắng cát, sỏi được loại bỏ
Các loại bể lắng cát thông dụng là bể lắng ngang Thường thiết kế 2 ngăn: một ngăn cho nước qua, một ngăn cào cát sỏi lắng Hai ngăn này làm việc luân phiên
Trang 7Ngoài lắng cát, sỏi, trong quá trình xử lý cặn phải lắng các hạt lơ lửng, các loại bùn (kể cà bùn hoạt tính)… nhằm làm cho nước trong Nguyên lý làm việc của các loại bể lắng là đều dựa trên cơ sở trọng lực
Bể lắng thường được bố trí theo dòng chảy, có kiểu hình nằm ngang hoặc thẳng đứng Bể lắng ngang trong xử lý nước thải công nghiệp có thể là một bậc hoặc nhiều bậc
Hình 2.3: Sơ đồ bể lắng cát có sục khí và dòng chảy trong bể
II.1.4 Bể tách dầu mỡ
Nước thải một số ngành công nghiệp ăn uống, chế biến bơ sữa, các lò mổ,
xí nghiệp ép dầu…thường có lẫn dầu mỡ Các chất này thường nhẹ hơn nước và nổi lên trên mặt nước Nước thải sau xử lý không có lẫn dầu mỡ được phép cho vào các thủy lực Hơn nữa, nước thải có lẫn dầu mỡ khi vào xử lý sinh học sẽ làm bịt các lỗ hổng ở các vật liệu lọc, ở phin lọc sinh học và còn làm hỏng các cấu trúc bùn hoạt tính trong Aerotank…
Ngoài cách làm các gạt đơn giản, bằng các tấm sợi trên mặt nước, còn có thiết bị tách dầu, mỡ đặt trước dây chuyền công nghệ xử lý nước thải
Trang 8Hình 2.4: Bể tách dầu mỡ
II.1.5 Lọc cơ học
Lọc trong xử lý nước thải để tách các tạp chất phân tán nhỏ khỏi nước mà bể lắng không làm được Trong các loại phin lọc thường có loại phin lọc dạng tấm và loại hạt Vật liệu dạng tấm có thể làm bằng tấm thép có đục lỗ hoặc lưới bằng thép, không gỉ, nhóm, niken, đồng thau…và các loại vải khác nhau (thủy tinh, amiăng, bông, len, sợi tổng hợp) Tấm lọc cần có trở lực nhỏ, đủ bền và dẻo cơ học, không bị trương nở và bị phá hủy trong điều kiện lọc
Các phin lọc làm việc sẽ tách các phần tử tạp chất phân tán hoặc lơ lửng khó lắng nước Các phin lọc làm việc không hoàn toàn dựa vào nguyên lý cơ học
Do vậy, ngoài tác dụng tách các phần tử tạp chất phân tán ra khỏi nước, các màng sinh học cũng đã biến đổi các chất hòa tan trong nước thải nhờ quần thể vi sinh vật có trong màng sinh học
Chất bẩn và màng sinh học sẽ bám vào bề mặt vật liệu lọc, dần dần bít các khe hở của lớp lọc làm cho dòng chảy bị chậm lại hoặc ngừng chảy Trong quá trình làm việc, người ta phải rửa phin lọc, lấy bớt màng bẩn phía trên và cho nước rửa đi từ dưới lên trên để tách màng bẩn ra khỏi vật liệu lọc
Trong xử lý nước thải thường dùng thiết bị lọc chậm, lọc nhanh, lọc kín, lọc hở Ngoài ra, còn dùng loại lọc ép khung bản, lọc quay chân không, các máy vi
Trang 9lọc hiện đại Đặc biệt là đã cải tiến các thiết bị trước đây thuần túy là lọc cơ học thành lọc sinh học, trong đó vai trò của màng sinh học được phát huy nhiều hơn
II.2 Phương pháp hóa học và hóa lý
Cơ sở của phương pháp hóa học là các phản ứng hóa học, các quá trình hóa
lí diễn ra giữa các chất bẩn với hóa chất cho thêm vào Các phương pháp hóa học là oxi hóa, trung hòa, đông keo tụ Thông thường các quá trình keo tụ thường đi kèm với quá trình trung hòa hoặc các hiện tượng vật lý khác Những phản ứng xảy ra là thường phản ứng trung hòa, phản ứng oxi hóa – khử, phản ứng tạo chất kết tủa hoặc phản ứng phân hủy các chất độc hại
II.2.1 Trung hòa
Nước thải thường có những giá trị pH khác nhau Muốn nước thải được xử lý tốt bằng phương pháp sinh học phải tiến hành trung hòa và điều chỉnh pH về 6.6 – 7.6
Trung hòa bằng cách dùng các dung dịch axit hoặc muối axit, các dung dịch kiềm hoặc oxit để trung hòa dung dịch nước thải
Một số hóa chất dùng để trung hòa: CaCO3, CaO, Ca(OH)2, MgO, Mg(OH)2, NaOH, Na2CO3,H2SO4, HCl, HNO3…
II.2.2 Keo tụ
Trong quá trình lắng cơ học chỉ tách được các hạt chất rắn huyền phù có kích thước lớn hơn 10-20nm, còn các hạt nhỏ hơn ở dạng keo không thể lắng được Ta có thể làm tăng kích thước các hạt nhờ tác dụng tương hỗ giữa các hạt phân tán liên kết vào các tập hợp hạt để có thể lắng được Muốn vậy, trước hết cần trung hòa điện tích của chúng, kế tiếp là liên kết chúng với nhau Quá trình trung hòa điện tích các hạt được gọi là quá trình đông tụ, còn quá trình tạo thành các bông lớn từ các hạt nhỏ gọi là quá trình keo tụ
Các chất đông tụ thường dùng trong mục đích này là các muối sắt hoặc muối nhôm hoặc hỗn hợp của chúng Các muối nhôm gồm có: Al (SO ) 18H O,
Trang 10FeCL3, FeSO4, …trong đó phổ biến nhất là Al2(SO4)3.18H2O vì chất này hòa tan tốt trong nước, giá rẽ và hiệu quả đông tụ cao ở pH = 5.0 – 7.5
Trong quá trình tạo thành bông keo của hidroxit nhôm hoặc sắt người ta thường dùng thêm chất phụ trợ đông tụ Các chất trợ đông tụ này là tinh bột, dextrin, các ete, xenluluzo, hidroxit silic hoạt tính…với liều lượng 1 – 5 mg/l
II.2.3 Hấp phụ
Phương pháp hấp phụ dùng để loại hết các chất bẩn hòa tan vào nước mà phương pháp xử lý sinh học cùng các phương pháp khác không thể loại bỏ được với hàm lượng rất nhỏ Thông thường đây là các hợp chất hòa tan có độc tính cao hoặc các chất có mùi, vị và màu rất khó chịu
Các chất hấp thụ thường dùng là: than hoạt tính, đất sét hoạt tính, silicagen, keo nhôm, một số chất tổng hợp khác và một số chất thải trong sản xuất như xỉ tro, xỉ mạ sắt…Trong số này than hoạt tính được dùng phổ biến nhất Các chất hữu cơ, kim loại nặng và các chất màu dễ bị than hấp phụ Lượng chất hấp phụ tùy thuộc vào khả năng của từng loại chất hấp phụ và hàm lượng chất bẩn có trong nước Phương pháp này có thể hấp phụ 58-95% các chất hữu cơ và màu Các chất hữu cơ có thể bị hấp phụ được là phenol, alkylbenzen, sunforic axit, thuốc nhuộm và các hợp chất thơm
II.2.4 Tuyển nổi
Phương pháp tuyển nổi này dựa trên nguyên tắc: các phần tử phân tán trong nước có khả năng tự lắng kém, nhưng có khả năng kết dính vào các bọt khí nổi lên trên bề mặt nước Sau đó người ta tách các bọt khí đó ra khỏi nước Thực chất quá trình này là tách bọt hoặc làm đặc bọt Trong một số trường hợp, quá trình này cũng được dùng để tách các chất hòa tan như các chất hoạt động bề mặt
Quá trình này được thực hiện nhờ thổi không khí thành bọt nhỏ vào trong nước thải Các bọt khí dính các hạt lơ lửng và nổi lên trên mặt nước Khi nổi lên các bọt khí tập hợp thành một lớp bọt chứa nhiều chất bẩn
Trang 11Tuyển nổi có thể đặt ở giai đoạn xử lý sơ bộ (bậc I) trước khi xử lý cơ bản (bậc II) Bể tuyển nổi có thể thay thế cho bể lắng, trong dây chuyền nó có thể đứng trước hoặc sau bể lắng, đồng thời có thể ở giai đoạn xử lý bổ sung sau xử lý
cơ bản
Bể tuyển nổi có thể tròn hoặc hình chữ nhật Dạng chữ nhật dành cho xử lý nước dân dụng Về mặt thủy lực và đặc biệt xử lý nước có nồng độ lớn các chất huyền phù, bể tuyển nổi tròn có ưu điểm hơn so với bể tuyển nổi hình chữ nhật: ở cùng một dung tích, khoảng cách giữa chiều cao của phòng trộn nước/bọt khí và nơi thấp của thành ống xi phông rất nhỏ và sự phân bố bọt gần giống nhau được duy trì trên toàn bộ tiết diện ngang của bể
Hình 2.5: Bể tuyển nổi
II.2.5 Trao đổi ion
Thực chất của phương pháp trao đổi ion là một quá trình trong đó các ion trên bề mặt của chất rắn trao đổi ion có cùng điện tích trong dung dịch khi tiếp xúc với nhau Các chất này gọi là ionit (chất trao đổi ion) Chúng hoàn toàn không tan trong nước
Phương pháp này được dùng làm sạch nước nói chung trong đó có nước thải, loại ra khỏi nước các ion kim loại như Zn, Cu, Cr, Ni, Hg, Pb, Cd, Mn… Cũng như các hợp chất có chứa asen, phosphor, xianua và cả chất phóng xạ Phương
Trang 12pháp này được dùng phổ biến để làm mềm nước, loại ion Ca và Ma ra khỏi nước cứng
Thiết bị trao đổi ion là các chất vật liệu hạt không hòa tan có trong cấu trúc phân tử các gốc axit hay bazo có thể thay thế được mà không thay đổi tính chất vật lí của chúng và cũng không làm biến mất hoặc hòa tan Các ion dương hay âm cố định trên các gốc này đẩy ion cùng dấu có trong dung dịch lỏng Đó làsự trao đổi ion, cho phép thay đổi thành phần ion của chất lỏng cần xử lý mà không thay đổi số lượng tải toàn bộ có trong chất lỏng trước khi trao đổi
Các chất trao đổi ion có thể là các chất vô cơ hoặc hữu cơ có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp Các chất thường được sử dụng như: zeolit, đất sét, nhôm silic, silicagen, pecmutit, các chất điện li cao phân tử, các loại nhựa tổng hợp
II.3 Phương pháp sinh học
Xử lý nước bằng sinh học dựa vào các dạng lên men khác nhau Lên men là sự phân hủy một số chất thải hữu cơ, chúng thường kèm theo sự thoát khí dưới tác dụng của các enzim do các vi sinh tiết ra
Phương pháp xử lý sinh học dựa trên nguyên tắc hoạt động của vi sinh vật để phân hủy các chất hữu cơ nhiễm bẫn nước Do vậy, điều kiện đầu tiên và vô cùng quan trọng là nước thải là môi trường sống của vi sinh vật phân hủy các chất hữu cơ có trong nước thải
II.3.1 Ao hồ hiếu khí
Ao hồ hiếu khí là loại ao nông 0.3 – 0.5 m có quá trình oxi hóa các chất bẩn hữu cơ chủ yếu nhờ vào các vi sinh vật hiếu khí Loại ao này có hồ làm thoáng tự nhiên và hồ làm thoáng nhân tạo
Hồ hiếu khí tự nhiên: oxy từ không khí dễ dàng khuếch tán vào lớp nước phía trên và ánh sáng Mặt Trời chiếu rọi, làm cho tảo phát triển, tiến hành quang hợp thải oxy Để đảm bảo ánh sáng qua nước, chiều sâu của hồ phải nhỏ, thường là 30-40 cm Do vậy diện tích của hồ càng lớn càng tốt Tải trọng của hồ (BOD) khoảng 250 – 300 kg/ha.ngày Thời gian lưu nước từ 3 – 12 ngày
Trang 13Do ao nông, diện tích lớn đảm bảo điều kiện hiếu khí cho toàn bộ nước trong ao Nước lưu trong ao tương đối dài, hiệu quả làm sạch có thể tới 80-95% BOD, màu nước có thể chuyển dần sang màu xanh của tảo
Hồ sục khuấy: nguồn cung cấp oxy cho vi sinh vật hiếu khí trong nước hoạt động là các thiết bị khuấy cơ học hoặc khí nén Nhờ vậy, mức độ hiếu khí trong hồ sẽ mạnh hơn, điều độ và độ sâu của hồ cũng lớn hơn Tải trọng BOD của hồ khoảng 400kg/ha.ngay Thời gian lưu nước trong hồ khoảng 1 – 3 ngày có khi dài hơn
II.3.2 Ao hồ kỵ khí
Ao hồ kỵ khí là loại ao sâu, ít có hoặc không có điều kiện hiếu khí Các vi sinh vật hoạt động sống không cần oxy không khí Chúng sử dụng oxy ở dạng các hợp chất như nitrat, sulfat… để oxy hóa các chất hữu cơ thành các axit hữu cơ, các loại rượu và khí CH4, H2S, CO2…và nước
Ao hồ kỵ khí thường dùng để lắng và phân hủy cặn lắng ở vùng đáy Loại
ao hồ này có thể tiếp nhận loại nước thải có độ nhiễm bẩn lớn, tải trọng BOD cao và không cần vai trò quang hợp của tảo Nước thải lưu ở hồ kỵ khí thường sinh ra mùi hôi thối khó chịu
II.3.3 Ao hồ hiếu – kỵ khí
Loại ao này rất phổ biến trong thực tế Đó là loại kết hợp hai quá trình song song: phân hủy hiếu khí các chất hữu cơ hòa tan có ở trong nước và phân hủy kỵ khí cặn lắng ở vùng đáy
Đặc điểm của ao hồ này gồm có 3 vùng xét theo chiều sâu: lớp trên là vùng hiếu khí, vùng giữa là vùng kỵ khí tùy tiện và vùng phía đáy sâu là vùng kỵ khí
II.3.4 Cánh đồng tưới và bãi lọc
Việc xử lý nước thải bằng cánh đồng tưới và bãi lọc dựa trên khả năng giữ các cặn nước ở trên mặt đất, nước thấm qua đất như đi qua lọc, nhờ có oxy trong
Trang 14hủy các hợp chất hữu cơ nhiễm bẩn Càng sâu xuống lượng oxy càng ít và quá trình oxy hóa các chất hữu cơ càng giảm xuống dần Cuối cùng đến độ sâu ở đó chỉ diễn ra quá trình khử nitrat Đã xác định được quá trình oxy hóa nước thải chỉ xảy ra ở lớp đất mặt sâu tới 1.5m Vì vậy các cánh đồng tưới và bãi lọc thường được xây dựng ở những nơi có mực nước nguồn thấp hơn 1.5m so với mặt đất
II.3.5 Quá trình xử lý bằng bùn hoạt tính với vật liệu tiếp xúc
Quá trình xử lý sinh học hiếu khí Attached Growth (AG) được sử dụng để loại bỏ chất hữu cơ trong nước thải Quá trình AG bao gồm: lọc sinh học, lọc thô, RBC (Rotating bioligical contactor), AGWSP (Attached growth Waste Stabilization Pond), bể phản ứng nitrate hóa fixed-bed,…
Đây là một dạng hồ sinh học kết hợp với bể lọc sinh học Những vật liệu tiếp xúc được bố trí dọc theo chiều dài hồ tạo điều kiện cho vi khuẩn sinh trưởng trên bề mặt Ơû tải trọng cao, sục khí có thể được tiến hành một phần hoặc trên toàn bộ thể tích bể Thời gian lưu nước thay đổi 4-3 ngày Giá thể sinh vật dính bám là các sợi nhựa tổng hợp khá cứng được quấn xung quanh một lõi thép tráng kẽm Kích thước loại nhựa tổng hợp tính từ lõi kẽm dài khoảng 50 –70mm Mỗi lõi kẽm được quấn tròn có đường kính 80-100mm Hệ thống phân phối khí là các đá bọt hoặc các đường ống nhựa dẫn khí Cột sinh học chứa đầy vật liệu bám sính là giá thể cho vi sinh vật sống bám Nước thải được phân bố đều trên bề mặt lớp vật liệu bằng hệ thống khuấy hoặc vòi phun Quần thể sinh vật sống bám trên giá thể tạo nên màng nhầy sinh học có khả năng hấp phụ và phân hủy chất hữu cơ trong nước thải Quần thể vi sinh vật này có thể là vi sinh vật hiếu khí, nấm, tảo và động vật nguyên sinh Ngoài ra còn có giun, ấu trùng, công trùng Phần bên trong lớp màng nhầy (khoảng 0.1-0.2mm) là loài vi sinh hiếu khí Khi vi sinh vật phát triển, chiều dày ngày càng tăng Vi sinh vật lớp ngoài tiêu thụ hết lượng oxy khuếch tán trước kho oxy thẩm thấu vào bên trong Vì vậy gần sát bề mặt giá thể, môi trường kỵ khí hình thành Khi lớp màng dày, chất hữu cơ bị phân hủy ở lớp ngoài, vi sinh sống gần bề mặt giá thể nhiều hay ít tùy thuộc vào tải trọng hữu cơ
Trang 15và tải trọng thủy lực Tải trọng hữu cơ ảnh hưởng đến tốc độ trao đổi chất trong màng nhầy Tải trọng thủy lực ảnh hưởng đến rửa trôi màng Phương pháp này có thể sử dụng trong điều kiện hiếu khí hoặc trong điều kiện yếm khí
II.3.6 Bùn hoạt tính
Nguyên lý chung của quá trình bùn hoạt tính là oxy hóa sinh hóa hiếu khí với sự tham gia của bùn hoạt tính
Bùn hoạt tính là loại bùn xốp chứa nhiều vi sinh có khả năng oxy hóa và khoáng hóa các chất hữu cơ chứa trong nước thải
Ngày nay, trong xử lý nước thải công nghiệp, người ta thường sử dụng: bể Aeroten va bể phản ứng sinh học từng mẻ liên tục (SBR)
Trong bể Aeroten diễn ra quá trình oxy hóa sinh hóa các chất hữu cơ trong nước thải Vai trò ở đây là nhữg vi sinh vật hiếu khí, chúng tạo thành bùn hoạt tính Bùn hoạt tính và nước thải tiếp xúc với nhau được tốt và liên tục, người ta khuấy trộn bằng máy khí nén hoặc các thiết bị cơ giới khác Để các vi sinh vật khoáng hóa sống và hoạt động bình thường phải thường xuyên cung cấp oxy vào bể, oxy sẽ được sử dụng trong các quá trình sinh hóa Sự khuếch tán tự nhiên qua mặt thoáng của nước trong bể không đảm bảo đủ lượng oxy cần thiết, vì vậy phải bổ sung lượng không khí thiếu hụt bằng phương pháp nhân tạo: thổi khí nén vào hoặc tăng diện tích mặt thoáng
Trong thực tế, người ta thường thổi không khí nén vào bể vì như vậy sẽ đồng thời giải quyết tốt hai nhiệm vụ: vừa khuấy trộn bùn hoạt tính với nước thải vừa bảo đảm chế độ oxy cần thiết trong bể Bùn hoạt tính là tập hợp những vi sinh vật khoáng hóa có khả năng hấp thụ và oxy hóa các chất hữu cơ có trong nước thải với sự có mặt của oxy Để bùn hoạt tính tiếp xúc với nhau được tốt và liên tục, chúng có thể được khuấy trộn bằng khí nén hoặc các thiết bị cơ giới khác Các chất hữu cơ hòa tan, các chất keo phân tán nhỏ sẽ được chuyển hóa và hấp phụ vào keo tụ sinh học trên bề mặt các tế bào vi sinh vật Tiếp đó trong quá
Trang 16trình trao đổi chất, dưới tác dụng của những men nội bào, các chất hữu cơ sẽ bị phân hủy Quá trình xử lý này gồm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn khuếch tán và chuyển chất từ dịch thể tới bề mặt các tế nào vi sinh vật
- Hấp phụ: khuếch tán và hấp thụ các chất bẩn từ bề mặt ngoài các tế bào qua màng bán thấm
- Quá trình chuyển hóa các chất đã được khuếch tán và hấp phụ ở trong tế bào sinh vật sinh ra năng lượng và tổng hợp các chất mới của tế bào
Hình 2.6: Bể Aerotank đang sục khí
Hình 2.7:Hệ sục khí trong bể Aerotank
Trang 17Quá trình phản ứng từng mẻ liên tục là quy trình tuần hoàn với chu kỳ thời gian sinh trưởng gián đoạn mà khả năng thích ứng với một sự đa dạng của quá trình bùn hoạt tính – như là khuấy trộn hoàn chỉnh theo lối thông thường, tháo lưu lượng, tiếp xúc ổn định và các chu trình sục khí kéo dài Mỗi bể SBR một chu kỳ tuần hoàn bao gồm “cấp nước”, “sục khí”, “lắng”, “xả nước”, và “nghỉ” Bởi thao tác vận hành như trường hợp gián đoạn này, cũng có nhiều khả năng khử nitrir và photpho Phản ứng bể SBR không phụ thuộc đơn vị xử lý khác và rất thường xuyên chúng hoạt động liên tục trong chu trình đem lại lợi ích kinh tế Quy trình hoạt động của bể SRB như sau:
- Giai đoạn “cấp nước”: đưa nước thải đủ lượng đã qui định trước vào bể SBR và nó bắt đầu các chất ô nhiễm sinh học bị thối rữa
- Giai đoạn “sục khí”: các phản ứng sinh hóa hoạt động nhờ vào việc cung cấp khí, sinh khối tổng hợp BOD, aniniac và nito hữu cơ
- Giai đoạn “lắng”: sau khi oxy hóa sinh học xảy ra, bùn được lắng và nước nổi trên bề mặt tạo lớp màng phân cách bùn, nước đặc trưng
- Giai đoạn “xả nước”: nước nổi trên bề mặt sau thời gian lắng (nước đầu ra đã xử lý) được tháo ra khỏi bể SBR mà không có cặn cào nào theo sau
- Giai đoạn “nghỉ”: thời gian nghỉ trong khi đợi nạp mẻ mới
Cấp nước Sục khí Lắng
Xả nước Nghỉ
Trang 18II.3.7 Bể lọc sinh học
Bể lọc sinh học là công trình trong đó nước thải được lọc qua lớp vật liệu có kích thước hạt lớn Bề mặt các hạt vật liệu đó được bao bọc bởi một màng sinh vật do loại vi sinh vật hiếu khí tạo thành
Sau khi lắng trong các bể lắng đợt I nước thải được cho qua bể lọc sinh học Ơû đó màng sinh học sẽ hấp phụ các chất phân tán nhỏ, chưa kịp lắng, cả các chất ở dạng keo và hòa tan Các chất hữu cơ bị màng sinh vật giữ lại sẽ bị oxy hóa bởi các vi sinh vật hiếu khí Chúng sử dụng các chất hữu cơ, một phần để sinh
ra năng lượng cần thiết cho sự sống và hoạt động, một phần để xây dựng tế bào (nguyên sinh chất) và tăng khối lượng cơ thể Như vậy, một phần các chất bẩn hữu cơ bị loại khỏi nước thải, mặt khác khối lượng màng sinh vật hoạt tính trong vật liệu lọc đồng thời cũng tăng lên Màng đó sau một thời gian già cỗi, chết đi và bị dòng nước mới và xói cuốn đi khỏi bể lọc
Thực chất quá trình oxy hóa diễn ra trong bể lọc sinh vật cũng tương tự như các quá trình diễn ra ở cánh đồng tưới, cánh đồng lọc Song nhờ những điều kiện nhân tạo thuận lợi đối với sự sống hoạt động của vi sinh vật hiếu khí nên các quá trình oxy hóa sinh hóa trong các bể sinh vật diễn ra mạnh hơn nhiều do đó kích thước công trình cũng nhỏ hơn nhiều
Bể Biophin được phân loại theo tính chất như sau:
- Theo mức độ xử lý: Biophin xử lý hoàn toàn và không hoàn toàn Biophin cao tải có thể xử lý hoàn toàn hoặc không hoàn toàn, còn Biophin nhỏ giọt dùng để xử lý hoàn toàn
- Theo biện pháp làm thoáng: Biophin làm thoáng tự nhiên và Biophin làm thoáng nhân tạo
- Theo chế độ làm việc: Biophin làm việc liên tục và Biophin làm việc gián đoạn tuần hoàn và không tuần hoàn
- Theo sơ đồ công nghệ: bể Biophin một hay hai bậc
- Theo khả năng chuyển tải: Biophin cao tải và Biophin nhỏ giọt
Trang 19- Theo đặc điểm cấu tạo của vật liệu lọc: Biophin chất liệu khối và Biophin chất liệu bản
Bể lọc sinh học hiện đại gồm những lớp vật liệu tiếp xúc có khả năng thấm cao cho phép vi sinh vật bám dính và nước thải đi qua Môi trường lọc có thể là đá, kích thước thay đổi từ 25 – 100mm đường kính, chiều sâu lớp đá tùy theo thiết kế nhưng thông thường từ 0.9 –2.0m trung bình là 1.8m Lọc sinh học có thể dùng vật liệu lọc cải tiến là plastic, có thể hình vuông hoặc hình khác với chiều sâu thay đổi từ 9 – 12m Bể lọc hình tròn được phân phối trên bằng thiết bị phân phối quay
Chất hữu cơ trong nước thải được phân hủy bởi quần thể sinh vật bám dính và chất liệu lọc Chất hữu cơ trong nước thải được hấp phụ lên màng sinh học hoặc lớp nhầy Ơû lớp ngoài của lớp màng nhầy sinh học (0.1 – 0.2mm), chất hữu
cơ sẽ được phân hủy hiếu khí Khi sinh vật tăng trưởng thì lớp màng nhầy tăng lên, và oxy khuếch tán được tiêu thụ trước khi nó có thể thấm và chiều sâu lớp màng nhầy Do đó, môi trường kỵ khí sẽ nằm gần bề mặt lớp vật liệu lọc
Khi độ dày màng nhầy tăng, các chất hữu cơ hấp phụ được chuyển hóa trước khi nó tiếp xúc với vi sinh vật gần bề mặt vật liệu Kết quả vi sinh vật gần bề mặt vật liệu phải hô hấp nội bào do không có nguồn chất dinh dưỡng thích hợp của chất hữu cơ nước thải, và do đó mất khả năng bám dính Sau đó màng nhầy này bị rửa trôi, màng nhầy mới được hình thành
Trang 20II.3.8 Bể lọc khô
Bể lọc thô là bể lọc sinh học được thiết kế đặc biệt để vận hành ở tải trọng thủy lực cao Lọc thô được dùng chủ yếu để loại bỏ chất hữu cơ bằng quá trình xuôi dòng
Các loại bể lọc thô hiện nay sử dụng vật liệu lọc tổng hợp hay gỗ gõ với độ sâu trung bình 3.7 – 12m cũng như quá trình lọc sinh học khác, lọc thô rất nhạy cảm với nhiệt độ Lọc thô được dùng để loại bỏ một phần chất hữu cơ, làm tăng quá trình Nitrate hóa xuôi dòng
II.3.9 Roatating Biological Cotactor ( RBC)
RBC gồm một loại đĩa tròn xếp liền nhau bằng polystylen hay PVC Những đĩa này được nhúng chìm trong nước thải và quay từ từ
Trong khi vận hành, sinh vật tăng trưởng sẽ dính bám vào bề mặt đĩa và hình thành một lớp màng nhầy trên toàn bộ mặt ướt của đĩa
Đĩa quay làm cho sinh khối luôn tiếp xúc với chất hữu cơ trong nước thải và với không khí để hấp thụ oxy, đồng thời tạo sự trao đổi oxy và duy trì sinh khối trong điều kiện hiếu khí Sự quay cũng là cơ chế tách những chất rắn dư thừa bằng sức trượt và duy trì chất rắn bị rửa trôi trong huyền phù, do vậy thực hiện được quá trình làm sạch RBC có thể được sử dụng như công trình xử lý thứ cấp, và có thể được vận hành cho những công trình nitrate hóa và khử nitrate liên tục theo mùa
II.4 Phương pháp xử lý bùn
Bùn cặn của nước thải trong nhà máy xử lý là hỗn hợp của nước và cặn lắng có chứa nhiều chất hữu cơ có khả năng phân hủy, dễ bị thối rửa và có các vi khuẩn có thể gây độc hại cho môi trường vì thế cần có biện pháp xử lý trước khi thải ra nguồn tiếp nhận
Mục đích của quá trình xử lý bùn cặn là:
Trang 21- Giảm khối lượng của hỗn hợp bùn cặn bằng cách gạt một phần hay phần lớn lượng nước có trong hỗn hợp để giảm kích thước thiết bị xử lý và giảm trọng lượng thải vận chuyển đến nơi tiếp nhận
- Phân hủy các chất hữu cơ dễ bị thối rữa, chuyển chúng thành các hợp chất hữu cơ ổn định và các hợp chất vô cơ để dễ dàng tách nước ra khỏi bùn cặn và không gây ra tác động xấu đến môi trường của nơi tiếp nhận
II.4.1 Sân phơi bùn
Điều kiện áp dụng: nơi có đất rộng, cách xa khu dân cư, mực nước ngầm thấp dưới mặt đất >1m, có sẵn lao động thủ công để xúc bùn khô từ sân phơi bùn lên xe tải
Cấu tạo: sân phơi bùn chia thành nhiều ô, kích thước mỗi ô phụ thuộc vào cách bố trí đường xe vận chuyển bùn ra khỏi sân phơi và độ xa khi xúc bùn từ ô phơi lên xe
Đáy và thành ô phơi bùn thường làm bằng bêtong cốt thép hay xây gạch đảm bảo cách ly hoàn toàn dung dịch bùn với môi trường đất xung quanh
Trên đáy ô phơi đổ một lớp sỏi cỡ hạt: 8 – 10 mm dày 200mm, trong lớp sỏi đặt hệ thống ống khoan lỗ D8 – D10 mm hình xương cá để rút nước về hố thu, đáy ô phơi bùn phải cao hơn mực nước ngầm để dễ thu nước
Trên lớp sỏi và lớp cát cỡ hạt 0.5 – 2mm, dày 150 – 200mm Làn khô bùn trên sân phơi xảy ra theo hai giai đoạn, giai đoạn 1: lọc hết nước qua lớp cát, sỏi; giai đoạn 2: làm khô bằng bốc hơi nước tự nhiên trên bề mặt rộng Cặn đã xử lý ổn định có chu kỳ phơi khô ngắn hơn cặc chưa xử lý ổn định
Sân phơi bùn có thể có máy che hay không có máy che, nếu không có máy che về mùa mưa sân phơi không làm việc được
Trang 22Hình 2.10: Sân phơi bùn
II.4.2 Máy lọc cặn chân không
Máy lọc chân không là thiết bị làm khô bùn có thể giảm độ ẩm của bùn từ 99% xuống 70 – 85% tùy thuộc vào tính chất của cặn và tốc độ quay của máy (thời gian làm khô) Loại thiết bị này thường được áp dụng nhiều trong thời gian trước, mười năm gần đây do có nhiều loại thiết bị có hiệu suất cao hơn, chi phí đầu tư và chi phí quản lý rẻ hơn nhiều lần, lại có quá trình vận hành đơn giản hơn, nên thiết bị lọc chân không đã không được sử dụng
II.4.3 Máy lọc ép băng tải
Máy làm khô cặn bằng lọc ép trên băng tải được dùng phổ biến hiện nay
vì quản lý dơn giản, ít tốn điện, hiệu suất làm khô cặn chấp nhận được
Hệ thống lọc ép cặn trên băng tải gồm máy bơm bùn từ bể cô đặc đến thùng hòa trộn hóa chất keo tụ và định lượng cặn, thùng này được đặt trên đầu vào của băng tải, hệ thống băng tải và trục ép, thùng đựng và xe vận chuyển cặn khô, bơm nước sạch để rửa băng tải, thùng thu nước lọc và bơm nước lọc về đầu của băng tải ở đoạn đầu của băng tải ở đoạn này nước được lọc qua băng tải thoe nguyên tắc lọc trọng lực, đi qua cần gạt để san đều cặn trên toàn chiều rộng băng, rồi đi qua trục ép và có lực ép tăng dần Hiệu suất làm khô cặn phụ thuộc vào nhiều thông số như: đặc tính của cặn, cặn có trộn với hóa chất keo tụ hay không, độ rỗng của băng lọc, tốc độ di chuyển và lực nén của băng tải Nồng độ cặn sau khi làm khô trên máy lọc ép băng tải đạt được từ 15 – 25%
Trang 23II.4.4 Máy ép cặn ly tâm
Làm khô cặn theo nguyên tắc lắng và ép cặn bằng lực ly tâm
Dung dịch cặn được bơm vào máy theo ống cố định đặt ở dọc tâm quay, nằm trong lõi của trục bánh vít chuyển động chậm và ngược chiều với thùng quay để dồn cặn khô đến cửa xả cặn
Cặn đi ra khỏi đầu ống đặt ở cuối thùng quay, cặn chịu tác động của lực ly tâm dính vào mặt trong thùng, nước trào ra được tháo qua lỗ đặt ở cuối thùng quay
Hình 2.11: Máy ép bùn II.5 Phương pháp khử trùng
Nước thải sau khi xử lý bằng phương pháp sinh học còn chứa khoảng 105 – 106
vi khuẩn trong 1ml Hầu hết các loại vi khuẩn có trong nước thải không phải là vi trùng gây bệnh, nhưng không loại trừ khả năng tồn tại một vài loài vi khuẩn gây bệnh nào trong nước thải ra nguồn cấp nước, hồ bơi, hồ nuôi cá thì khả năng lan truyền bệnh sẽ rất cao, do đó phải có biện pháp tiệt trùng nước thải trước khi xảy
ra nguồn tiếp nhận Các biện pháp tiệt trùng nước thải phổ biến hiện nay là:
- Dùng Clo hơi qua thiết bị định lượng Clo
- Dùng Hypoclorit – canxi dạng bột – Ca(ClO)2 – hòa tan trong thùng dung dịch 3 – 5% rồi định lượng vào bể tiếp xúc
Trang 24NaOClo Nước vào
Nước ra
- Dùng Ozon, Ozon được sản xuất từ không khí do máy tạo Ozon đặt trong nhà máy xử lý nước thải Ozon sản xuất ra được dẫn ngay vào bể hòa tan và tiếp xúc
- Dùng tia cực tím (UV) do đèn thủy ngân áp lực thấp sinh ra Đèn phát tia cực tím đặt ngập trong mương có nước thải chảy qua
- Từ trước đến nay, khi tiệt trùng nước thải hay dùng Clo hơi và các hợp chất của Clo vì Clo là hóa chất được các ngành công nghiệp dùng nhiều, có sẵn trên thị trường, giá thành chấp nhận được, hiệu quả tiệt trùng cao Nhưng những năm gần đây các nhà khoa học đưa ra khuyến cáo hạn chế dùng Clo để tiệt trùng nước thải vì:
+ Lượng Clo dư 0.5mg/l trong nước thải để đảm bảo sự an toàn và ổn định cho quá trình tiệt trùng sẽ gây hại đến cá và các sinh vật nước có ích khác
+ Clo kết hợp với Hydrocacbon thành hợp chất có hại cho môi trường sống Trong quá trình xử lý nước thải, công đoạn khử khuẩn thường đặt ra ở cuối quá trình, trước khi làm sạch nước triệt để và chuẩn bị đổ vào nguồn
Hình 2.12: Bể khử trùng
Trang 25CHƯƠNG III - TỔNG QUAN KHU CÔNG NGHIỆP THỤY VÂN
III.1 Tổng quan về khu công nghiệp
III.1.1 Tình hình phát triển đầu tư tại các khu công nghiệp
Trước năm 1991: Đã có khái niệm khu công nghiệp, sự hình thành khu công nghiệp hoàn toàn dưới hình thức tự phát, chưa có quy hoạch nhất định nào, các khu công nghiệp được hình thành trên cơ sở các cụm nhà máy sản xuất công nghiệp do Pháp để lại hoặc do Đông Aâu tài trợ và không hề có sự quản lý về các hoạt động của các cụm khu công nghiệp này Tất cả các khu công nghiệo lúc đó nằm xen kẽ với khu dân cư
Sau năm 1991: Đất nước bắt đầu mở cửa, giao lưu kinh tế với các nước khác trên thế giới, thu hút được sự đầu tư của nước ngoài Từ đây các khu công nghiệp đã được lập các kế hoạch quản lý khu công nghiệp – khu chế xuất nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển theo hướng hiện đại của thế giới
Xây dựng và phát triển KCN ở nước ta được đặt ra trong quá trình CNH, HĐH đất nước, quá trình triển khai Nghị quyết của Đảng, xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của đất nước từng thời kỳ nhất định Trong giai đoạn vừa qua (1991 - 2006), hoạt động các KCN trong cả nước đã đạt được những thành tựu quan trọng
Đến cuối tháng 12/2005, cả nước đã có 131 KCN, được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên 26.986 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt 18.044 ha
Các KCN được phân bố trên 47 tỉnh thành trên cả nước theo hướng vừa tập trung đẩy mạnh phát triển công nghiệp ở các vùng có lợi thế và tiềm năng, vừa tạo điều kiện để các địa phương có ít lợi thế hơn, có động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH
Trang 26Quy mô các KCN đa dạng và phù hợp với từng điều kiện và trình độ phát triển cụ thể của mỗi địa phương Phần lớn các KCN thuộc Danh mục các KCN ưu tiên thành lập theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Các KCN đã thu hút được 2.120 dự án có vốn ĐTNN còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 16.843 triệu USD
Thực tế đã chứng tỏ, nguồn vốn nước ngoài đầu tư xây dựng và phát triển KCN 15 năm qua là hết sức quan trọng Cùng với nguồn lực từ bên ngoài, chúng
ta còn đặc biệt coi trọng phát huy nội lực của các thành phần kinh tế trong nước Nếu như trong 5 năm 1991 - 1995, chỉ có gần 50 dự án trong nước đầu tư vào các KCN, thì đến 5 năm 2001 - 2005 thu hút được 1870 dự án, tăng gấp 4,16 lần so với kế hoạch 5 năm trước Đến cuối tháng 12/2005, tổng số có 2.367 dự án trong nước còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư trên 117 nghìn tỷ đồng
Phát triển các khu công nghiệp – khu chế xuất là chiến lược lâu dài của Việt Nam, và thực tế cho thấy quá trình phát triển các khu công nghiệp đã góp phần tăng trưởng GDP, thúc đẩy đầu tư và sản xuất công nghiệp xuất khẩu, phục vụ các ngành kinh tế và tiêu dùng trong nước, góp phần hình thành các khu đô thị mới, giảm khoảng cách giữa các vùng….Tuy nhiên, bên cạnh sự chuyển biến tích cực về mặt kinh tế là những tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái do khu công nghiệp gây ra
Hiện nay, vấn đề đang được quan tâm hàng đầu của hầu hết các khu công nghiệp là làm sao kêu gọi đầu tư để lấp đầy diện tích đất cho thuê, vấn đề môi trường nhiều lúc được coi là cản trở công tác kêu gọi đầu tư
III.1.2 Tình hình xử lý nước thải tại các KCN
Theo quy định, các KCN bắt đầu xây dựng và hoạt động thì phải có hệ thống xử lý nước thải tập trung, nhưng trên thực tế có rất ít KCN tuận thủ Thêm nữa, so với nhiều hạng mục xây dựng khác trong hoàn cảnh luôn thiếu vốn thì HTXLNTTT trở thành hạng mục thứ yếu Chính vì thế, thật dễ hiểu khi cho đến
Trang 27nay, theo thống kê sơ bộ mới chỉ có khoảng 20 KCX, KCN hoàn thiện hệ thống xử
lý nước thải tập trung Doanh nghiệp trong các KCN sản xuất hàng trăm ngành hàng khác nhau, nước thải xử lý chưa đạt tiêu chuẩn đổ thẳng ra các sông suối, kênh mương Đặc biệt, đối với những ngành xi mạ, dệt nhuộm, giấy, da, chế biến thực phẩm, hoá chất nguồn nước thải rất độc hại đã được cảnh báo lâu nay, nhưng vẫn không có gì cải thiện ở các KCN
Trong nhiều hoàn cảnh, giữa đơn vị đầu tư xây dựng KCN và các doanh nghiệp dễ đi đến một thoả thuận ngầm là “cùng nhau nhắm mắt” Bởi nếu điều kiện đặt ra các doanh nghiệp khi vào KCN phải xây dựng trạm xử lý nước thải cục bộ đạt tiêu chuẩn nguồn loại B hoặc loại C thì khó có thể thu hút được doanh nghiệp đến thuê đất Mâu thuẫn này thể hiện rõ nhất đối với các KCN có nhiều
cơ sở sản xuất vừa và nhỏ, vốn hạn chế, khó chấp nhận khi phải thêm gánh nặng đầu tư trạm xử lý nước thải Gánh nặng thứ hai đối với họ là ở một số KCN, doanh nghiệp phải trả phí xử lý nước thải tại HTXLNTTT với giá ngang bằng giá mua nước sạch được cung cấp điển hình
Các khu công nghiệp – khu chế xuất có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường với mật độ cao, tập trung nhiều khối lượng chất thải công nghiệp phức tạp với nhiều thành phần độc hại cần sớm hạn chế khắc phục kịp thời
III.1.3 Các vấn đề môi trường khác cần được quan tâm tại các KCN
Phần lớn các khu công nghiệp ở nước ta mới chỉ ở giai đoạn giải tỏa mặt bằng hoặc đầu tư xây dựng cơ bản kết hợp xây dựng và bước đầu xây dựng nhà máy Tại một số khu công nghiệp diễn ra các hoạt động sản xuất, xây dựng, giao thông vận tải xen kẽ nhau Do đó vấn đề ô nhiễm môi trường không thể tránh được
Không chỉ các DN thiết bị cũ, lạc hậu gây ô nhiễm Phần lớn các KCN hiện đại cũng không có hệ thống xử lý nước thải tập trung và đang tiếp tục gây ô nhiễm trầm trọng Các loại ô nhiễm nặng nhất mà các KCN đem đến cho môi
Trang 28trường là ô nhiễm nước thải, ô nhiễm khí thải, ô nhiễm chất rắn Theo Tiến sĩ Nguyễn Trung Việt – Sở Tài nguyên và Môi trường (TP HCM) -hầu hết các KCN đang được quy hoạch và vận hành đều không quan tâm hoặc quan tâm rất ít đến môi trường và nhiều KCN đã phá huỷ nghiêm trọng môi trường của nhiều khu vực
Hàng năm các nhà máy trong KCN – KCX trên địa bàn TP HCM thải ra 62.726,4 tấn chất thải rắn (nếu tính luôn các nhà máy ngoài các KCN thì tải lượng chất thải rắn thải ra là 667.137,1 tấn/năm), các nhà máy tại các KCN trên địa bàn tỉnh Bình Dương hàng ngày thải ra khoảng 82 tấn chất thải rắn Thời gian qua, Ban quản lý các KCX – KCN TP HCM (HEPZA) cũng đã phối hợp với các cơ quan, phân tích môi trường tiến hành đo đạc giám sát chất lượng môi trường của các đơn vị sản xuất có phát sinh ô nhiễm tại các KCX – KCN
Nhiều nhà máy hoạt động gây ra tiếng ồn ở mức độ khá cao, nhà xưởng chưa thông thoáng, nhiều nơi khí độc và nhiệt thừa tích tụ trong không gian làm ảnh hưởng đến sức khoẻ công nhân Theo các chuyên gia về môi trường tập trung hàng trăm nhà máy lớn nhỏ, vào một khu công nghiệp, tạo nên ảnh hưởng tích tụ từ nhiều nguồn ô nhiễm đến nước, không khí và đất Nếu nhiều nhà máy sử dụng hoá chất nằm gần nhau có thể thải ra các loại hoá chất tương tác hoặc trộn lẫn gây ảnh hưởng tích luỹ hoặc cộng sinh đến môi trường khu vực và cộng đồng dân
cư lân cận
Hầu hết các KCN chưa có trung tâm lưu trữ và xử lý chất thải rắn độc hại Nhiều nhà máy trong KCN thải ra khói độc chưa được xử lý rốt ráo Không hệ thống xử lý nước thải, không hệ thống xử lý chất thải rắn, không hệ thống xử lý khói độc Các KCN “3 không” đang trở thành ổ phát tán ô nhiễm
Mặc khác trong các loại ô nhiễm khu công nghiệp, ô nhiễm môi trường đất cần chú ý hơn vì nguồn ô nhiễm của các nhà máy thực phẩm, phân bón hữu cơ, các ô nhiễm hóa học và kim loại nặng từ các nhà máy cơ khí chế tạo và chất độc
Trang 29hại của phân bón, thuốc trừ sâu, hóa chất có khả năng tồn lưu lâu ngày trong đất
Vì vậy, tính chất của nó trong chu trình sinh hóa và mối tương quan với môi trường không khí, môi trường nước cũng như đa dạng sinh học trong hệ sinh thái không được quan tâm Nếu xét theo quan điểm đô thị sinh thái thì vấn đề sử dụng của các khu công nghiệp cần được chấn chỉnh
Khí thải công nghiệp cũng chịu phần tạo nên sự ô nhiễm môi trường Hiện nay, ô nhiễm môi trường không khí của KCN và các vùng lân cận do 2 nguồn chính sau:
- Khí thải của các nhà máy nằm trong khu công nghiệp: đa số các nhà máy nằm trong khu công nghiệp đều có các thiết bị nhiệt như: nồi hơi, máy phát điện,…do đó quá trình vận hành thiết bị này phải sử dụng dầu DP, FO và thải vào môi trường lượng khí thải CO2, NOx, bụi
- Khí thải từ các phương tiện giao thông: ở các khu công nghiệp mật độ giao thông cao, ngoài ra nó còn chịu ảnh hưởng của giao thông trên các trục lộ
Do đó, tình trạng ô nhiễm giao thông cũng xảy ra Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá ô nhiễm không khí từ các hoạt động giao thông là nồng độ SO2, NO2,
CO xung quanh khu công nghiệp Qua khảo sát của Trung tâm kỹ thuật nhiệt đới cho thấy nồng độ các chỉ tiêu vướt quá 2.3 lần so với tiêu chuẩn cho phép
III.2 Tổng quan về KCN Thụy Vân
III.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển KCN
KCN Thụy Vân được thành lập năm 1997 (do Tổng công ty Xây dựng Sông Hồng làm chủ đầu tư), nhưng cho đến cuối năm 2002, KCN này vẫn hoạt động chưa hiệu quả, với chỉ 4 dự án trong nước đăng ký hoạt động Theo ông Phan Văn Hồng, Phó trưởng ban thường trực Ban quản lý các KCN tỉnh Phú Thọ, nguyên nhân chính khiến hoạt động của KCN Thụy Vân trong thời gian trên ì ạch là do mâu thuẫn về lợi ích giữa chủ đầu tư và chính quyền tỉnh Cụ thể, chủ đầu
Trang 30tư muốn tăng giá đất để nhanh chóng thu hồi vốn và lợi nhuận, trong khi chính quyền tỉnh muốn giảm giá đất để thu hút nhà đầu tư Kết quả là cơ sở hạ tầng KCN hầu như không có và cả 4 dự án trong nước nói trên hầu như đều “bị ép” vàoKCN
Tình hình thu hút đầu tư bắt đầu thay đổi khi chính quyền tỉnh quyết định thay chủ đầu tư Theo mô hình của Đà Nẵng, Công ty Phát triển hạ tầng KCN thuộc UBND tỉnh Phú Thọ được thành lập thay thế Tổng công ty Xây dựng Sông Hồng xây dựng cơ sở hạ tầng và xúc tiến đầu tư Tỉnh ủy và chính quyền tỉnh đã quyết định đưa ra một số chính sách ưu đãi nhà đầu tư để khắc phục những điểm yếu cơ bản của Phú Thọ về cơ sở hạ tầng, vị trí địa lý và nguồn lao động Về tiền thuê đất, các doanh nghiệp đầu tư vào KCN được chậm nộp tiền thuê đất trong 5 năm đầu kể từ thời điểm phải nộp theo quy định trong hợp đồng thuê đất và được giảm 50% trong 5 năm tiếp theo Giá thuê đất được áp dụng từ 0,15 USD đến 0,25 USD/m2/năm Các nhà đầu tư nước ngoài được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 8 năm đầu kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế phải nộp trong 4 năm tiếp theo; các doanh nghiệp trong nước được miễn 5 năm đầu và giảm 50% trong 4 năm tiếp theo Cho đến nay, toàn bộ 70 ha giai đoạn I của KCN Thụy Vân đã được lấp đầy bởi 11 doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và hơn 20 công ty trong nước đăng ký thuê đất hoặc đã đi vào hoạt động Các văn bản có liên quanh: quyết định số 4209/QĐ-CT, ngày 16 tháng 12 năm 2003; quyết định số 2059/ QĐ-CT, ngày 07 tháng 07 năm 2004 của Chủ tịch Uûy ban nhân dân hạ tầng kỹ thuật tỉnh Phú Thọ về việc phê duyệt dự án khả thi đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật Khu công nghiệp Thụy Vân giai đoạn II, giai đoạn III
III.2.2 Điều kiện tự nhiên
Trang 31Hình 3.1: Bản đồ Khu công nghiệp Thụy
Vân
Khu công nghiệp Thụy Vân nằm ở phía Bắc thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ, cách ga Phủ Đức - tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai 0,5 km, cách quốc lộ số 02 là 01km, cách đường xuyên Á gần 02km, cách Cảng sông Việt Trì 7km và cách sân bay Quốc tế Nội Bài 50 km Tổng diện tích 306 ha
III.2.3 Hiện trạng cơ sở hạ tầng:
- Hệ thống giao thông: hệ thống giao thông nội bộ Khu công nghiệp đã được xây dựng hoàn chỉnh và được đấu nối đồng bộ vào mạng lưới giao thông của Thành phố Việt Trì
- Hệ thống cấp điện: hệ thống điện lưới sử dụng của KCN Thụy Vân được cung cấp từ mạng lưới điện quốc gia được đấu nối bằng hệ thống đường dây 35 KV và 22 KV qua trạm biến áp 2 x 40 MAV – 110/35/22
- Hệ thống cấp nước: mạng lưới cấp nước của Thành phố Việt Trì được xây dựng đến tận chân hàng rào của từng nhà máy trong KCN Hệ thống này có công suất cao và ổn định có khả năng đáp ứng mọi nhu cầu về nước của Nhà đầu tư
Trang 32
- Hệ thống thông tin liên lạc: mạng lưới thông tin liên lạc của KCN Thụy Vân đã được hòa mạng viễn thông quốc gia và quốc tế với đầy đủ các dịch vụ viễn thông cơ bản: điện thoại, Fax, Internet Hệ thống này đảm bảo được các tiêu chí cơ bản về tốc độ kết nối, chất lượng thông tin cung cấp và tính bảo mật
- Cảng nội địa ICD: cảng nội địa ICD là địa điểm làm thủ tục hải quan ngoài cửa khẩu, trong KCN (thủ tục hải quan tại chỗ), cung cấp các dịch vụ bốc dỡ, vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu và các doanh nghiệp nằm trong KCN
- Khu đô thị mới và khu nhà ở công nhân: khu đô thị mới và khu nhà ở công nhân cũng đang được đầu tư xâu dựng đồng bộ để đáp ứng các nhu cầu về nhà ở cho các Nhà đầu tư và đội ngũ công nhân
Hình 3.2: Mặt bằng dự kiến sử dụng xây dựng Trạm XLNTTT
Trang 33III.2.4 Tình hình hoạt động của khu công nghiệp
Khu công nghiệp Thụy Vân với diện tích 306 ha đã được bộ xây dựng phê duyệt năm 1997 sẽ mở rộng thêm 80ha theo quy hoạch chung của Thành phố đã thu hút được 40 dự án đầu tư sản xuất vào KCN bao gồm các loại hình: Chế biến nông sản, vật liệu xây dựng, hóa chất, bao bì, cơ khí, điện tử, dệt may, giặt mài, chế biến thực phẩm, các sản phẩm từ PVC, PP, PE
Kết quả đầu tư các dự án trong KCN Thụy Vân đối với các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được 53,3 triệu USD đạt 60% tổng vốn đăng ký; số lao động đang làm việc trong các DN này là 4.233 người Các DN này đã thực hiện việc đầu tư, xây dựng khá hoàn chỉnh và đi vào sản xuất có hiệu quả; một số dự án đầu tư sau giai đoạn I đang chuẩn bị đầu tư tiếp vào giai đoạn II mở rộng sản xuất trong năm 2006 Có 23 dự án đầu tư trong nước đã thực hiện được 949,6 tỷ đồng đạt 59,4% tổng vốn đăng ký và đã thu hút được 1.721 lao động vào làm việc Tại đây, các dự án được cấp phép đã đầu tư xây dựng hoàn chỉnh và đi vào sản xất ổn định, có hiệu quả; một số dự án cũng đã chuẩn bị đầu tư vào giai đoạn II mở rộng sản xuất
Trên cơ sở khu công nghiệp hiện nay, tiếp tục đầu tư xây dựng một khu đô thị – dịch vụ, du lịch liền kề phía Nam KCN Gồm chung cư cao tầng, chung cư thấp tầng, các khu nhà vườn xen lẫn làng xóm hiện có giữ lại chỉnh trang, các công trình dịch vụ cấp I và hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đồng bộ Mỗi đơn vị ở đều độc lập với các khu liền kề bởi dải cây xanh mặt nước lớn của đô thị
Khu dân cư hiện tại, chỉnh trang, đầu tư cơ sở hạ tầng đồng bộ với khu công nghiệp và khu đô thị – dịch vụ mới
Trang 34Hình 3.3: Hình ảnh Khu công nghiệp Thụy Vân
III.2.5 Vấn đề môi trường tại KCN Thụy Vân
KCN là nơi tập trung các doanh nghiệp công nghiệp, do đó có điều kiện tập trung các chất thải do các doanh nghiệp thải ra để xử lý, tránh tình trạng khó kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp do phân tán về địa điểm sản xuất
KCN góp phần thực hiện mục tiêu di dời các cơ sở sản xuất từ nội đô; tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường trong việc kiểm soát ô nhiễm và có biện pháp xử lý kịp thời đối với hành vi gây ô nhiễm của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp ngoài KCN
Trong thời gian qua, công tác bảo vệ môi trường trong KCN mặc dù đã được chú trọng hơn nhưng đa số các KCN trên phạm vi cả nước còn chưa được cải thiện nhiều và chưa đáp ứng được những tiêu chuẩn môi trường theo quy định
Nhiều KCN chưa xây dựng nơi tập trung và xử lý rác thải Việc thu gom và vận chuyển rác thải chỉ thực hiện trong phạm vi từng nhà máy Những nhà máy sản xuất bao bì, hoá chất, nhựa,… thường có những chất khó phân huỷ, gây độc hại cho môi trường nước mặt, nước ngầm và đất
III.2.5.1 Khí thải
Các chất gây ô nhiễm không khí trong khu vực hạn chế thường là bụi, khói từ quá trình đốt, thành phần độc hại như SO2, NO2, CO và hydrocabon xuất phát
Trang 35từ nơi sử dụng dầu mỏ và các chế phẩm làm nhiên liệu Ngoài ra các chất độc hại (kim loại nặng, phenol, PAH…) có thể tạo ra từ các quá trình sản xuất hóa chất
Khu công nghiệp Thụy Vân thu hút các ngành công nghiệp sạch và công nghệ cao như: điện, điện tử, cơ khí, thực phẩm, hàng tiêu dùng,…do đó lượng khí thải sinh ra không đáng kể Kết quả là tính đến nay các chỉ số ô nhiễm trong khí thải đều đạt tiêu chuẩn cho phép (TCVN 5339 – 1995)
III.2.5.2 Nước thải
Trong những nguồn ô nhiễm nước liên quan đến hoạt động của con người, sả xuất công nghiệp làm phát sinh nguồn ô nhiễm lớn về quy mô đa dạng Đặc trưng của nguồn nước như sau:
- Khác với công nghiệp khai khoáng và nông nghiệp điều kiện thải của nguồn thải công nghiệp đơn giản hơn do ít chịu tác động phức tạp của tự nhiên Ví dụ như nước thải công nghiệp từ các nguồn cố định và nguồn nước thải hoàn toàn nhân tạo
- Nguồn nước thải công nghiệp dễ dàng phát hiện nhưng việc khống chế không hoàn toàn dễ do tác động của các yếu tố xã hội và chính sách Hơn nữa do một số bí mật công nghệ khả năng kiểm soát nguồn gặp khó khăn
- Ngược với quá trình thải đơn giản, thành phần và lượng nước thải dao động trong khoảng rộng phụ thuộc vào dạng, quy mô, trình độ kỹ thuật của từng nhà máy và thay đổi theo thời gian…
III.2.5.3 Chất thải rắn
Chất thải rắn sinh ra từ các nhà máy trong KCN bao gồm rác thải sinh hoạt và chất thải công nghiệp Mỗi đơn vị sản xuất đều phải xây dựng nhà chứa rác trong khuôn viên của mình Ngay từ khi bắt đầu hoạt động, công ty đã hợp đồng với địa phương hàng ngày thu gom chất thải sinh hoạt tại các nhà chứa rác và đỗ tại nơi quy định của địa phương Các chất thải thủ công nghiệp
Trang 36được các nhà thầu có giấy phép lấy tại các nhà máy để mang đi tái chế hoặc hủy
III.3 Tình hình phát sinh nước thải tại KCN
Quy hoạch chung thành phố Việt Trì đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại quyết định số 277/2005/QD-TTg ngày 02/11/2005, nhưng cho đến nay chưa được đầu tư hệ thống xử lý nước thải, nằm ở phía Tây Bắc thành phố Việt Trì, đang là yêu cầu bức thiết Hiện có 60 doanh nghiệp khu công nghiệp Thụy Vân, cụm công nghiệp Đồng Dạng (nơi nước thải sẽ được thu gom và dẫn về Nhà máy xử lý nước thải KCN Thụy Vân) đang hoạt động và ngày càng mở rộng, ngoài ra còn có bao gồm khu vực dân cư thuộc địa bàn thành phố Việt Trì và huyện Lâm Thao Nhưng đến nay chưa xây dựng được hệ thống xử lý nước thải tập trung kể cả xử lý nước thải cho khu công nghiệp Thụy Vân Nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt chưa được thu gom và xử lý, tự chảy ra ao hồ xả ra sông Hồng, làm mất vệ sinh, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, gây bức xúc khiếu kiện trong dân cư, mặt khác còn trực tiếp tác động đến môi trường nước thuộc địa bàn các tỉnh Vĩnh Phúc, Hà Nội và công đồng dân cư vùng hạ lưu Sông Hồng Nước thải của cụm công nghiệp Đồng Lạng hiện nay đang thải ra môi trường và theo các dòng chảy chảy ra sông Lô, do vậy nước thải của cụm công nghiệp Đồng Lạng sẽ gây ô nhiễm môi trường sông Lô – nguồn cung cấp cho sinh hoạt của thành phố Việt Trì và là nguồn cấp nước của dự án cấp nước Hà Nội
III.3.1 Lưu lượng nước thải
Theo thống kê bản đăng ký nhu cầu tiêu thụ nước của KCN Thụy Vân hiện nay, do các nhà máy đầu tư theo kiểu cuốn chiếu nên lượng nước tiêu thụ thực tế của các nhà máy chỉ khoảng 70% so với đăng ký, như vậy thực tế của nhà máy đã tiêu thụ nước là: 5.640 * 0.7 = 3.950m3/ngđ, tương ứng với diện tích đất công nghiệp lấp đầy 92.5ha, trung bình 42,4m3/ha
Trang 37Thực tế hiện nay đã có 40 nhà máy trong khu công nghiệp Thụy Vân hoạt động, nước thải gồm nhiều loại hình khác nhau, lưu lượng không ổn định
Từ thực tế trên đây, căn cứ tiêu chuẩn cấp nước, chọn các thông số tính toán lưu lượng nước thải như sau: tiêu chuẩn cấp nước cho sản xuất công nghiệp 45m3/ngđ ha , nước tưới cây, rửa đường, dự phòng, cứu hỏa lấy khoảng 30% Lưu lượng nước thải được tính bằng 67% lượng nước cấp cho khu công nghiệp
Trong khu công nghiệp Thụy Vân có 120 ha đất công nghiệp đã được đầu
tư, đi vào hoạt động là 80 ha và dự kiến mở rộng giai đoạn 2 là 40ha đất công nghiệp
Tổng lượng nước cấp cho sản xuất công nghiệp 1 ngày: 80 * 45 = 3600m3/ngd
Tổng lượng nước cấp 1 ngày max: 3600 * 1.3 = 4680 m3/ngd
Tổng lượng nước thải ngày max: 4680 * 0.67 = 3136 m3/ngd
Như vậy, tổng lưu lượng nước thải giả định để thiết kế cho nhà máy xử lý nước thải tập trung tại khu công nghiệp Thụy Vân là 4000 m3/ngd
III.3.2 Tính chất nước thải
Hiện nay, khu công nghiệp Thụy Vân đã thu hút được 40 dự án đầu tư bao gồm các loại hình: chế biến nông sản, vật liệu xây dựng, hóa chất, bao bì, cơ khí, điện tử, dệt may, giặt mài, chế biến thực phẩm, các sản phẩm từ PVC, PP, PE
Khu công nghiệp là nơi tập trung rất nhiều ngành công nghiệp, do đó nước thải rất đa dạng và phức tạp
Tính chất nước thải của một số ngành công nghiệp điển hình:
a) Nước thải từ công nghiệp chế biến thực phẩm:
Các loại nước thải từ công nghiệp chế biến thực phẩm chứa rất nhiều chất hữu cơ Nước thải này thường có lưu lượng thất thường trong một vài giờ trong một ngày, cũng có sự dao động lớn về lượng và nồng độ của các phần tử Chất thải này hầu hết đều chứa các hợp chất giàu năng lượng như protein, axitamin,
Trang 38đường và cacbonhydrat, chất béo động thực vật, các axit hữu cơ có nồng độ thấp, ancol và xeton
b) Nước thải từ công nghiệp hóa chất (nhựa, cao su, composit, bột giặt, mỹ phẩm):
Nước thải ngành chế biến sản phẩm từ cao su nếu liên quan đến giai đoạn chế biến mủ cao su thô thì ngành đặc biệt ô nhiễm, không được đầu tư vào KCN Công nghiệp cao su trong khu vực chỉ bao gồm: cán, hỗn luyện pha chế hoặc chế tạo sản phẩm từ nguyên liệu cao su thành phẩm thì hầu như không tạo ra nước thải Tuy nhiên, ở các phân xưởng này thường gây mùi, có lượng bụi khá cao và nước vệ sinh thiết bị, mặt bằng có nguy cơ gây ô nhiễm cao
Nước thải của ngành bột giặt và mỹ phẩm có khả năng gây ô nhiễm đáng kể đối với môi trường, các tác nhân ô nhiễm là xút và các hoạt động bề mặt
c) Nước thải từ ngành công nghiệp cơ khí: ngành sữa chữa, chế tạo máy móc – thiết bị – phụ tùng – dụng cụ kim loại
Đặc trưng của ngành công nghiệp cơ khí là lượng nước sử dụng trực tiếp trong sản xuất không đáng kể, nước được dùng chủ yếu cho công đoạn: nước giải nhiệt máy móc thiết bị, nước cho nồi hơi, nước vệ sinh thiết bị,… Nước thải ngành này ít độc hại, mức độ ô nhiễm có tính tương đối như nước thải sinh hoạt Đặc trưng ô nhiễm của ngành này là nước thải có khả năng bị nhiễm dầu mỡ Ngoài ra trong một số ngành nước thải còn bị nhiễm các loại bụi kim loại, bụi hơi dung môi Loại nước thải này thải trực tiếp ra môi trường không qua xử lý sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái vùng và đời sống dân cư quanh KCN
Và tính chất của một số ngành công nghiệp khác nói chung:
Trang 39Oâ nhiễm cơ học: nước thải của một số nhà máy có thể bị ô nhiễm bẩn do
đất, cát…từ quá trình thu gom, chuyển tải nguyên liệu, rửa nguyên liệu, vệ sinh thiết bị
Oâ nhiễm hữu cơ: nước thải của một vài nhà máy có thể ô nhiễm hữu cơ như
nhà máy chế biến nông sản
Oâ nhiễm hóa học và kim loại nặng: nước thải của một vài nhà máy có thể ô
nhiễm hóa học và kim loại nặng như các nhà máy sản xuất thiết bị điện tử
Nước thải sinh hoạt trong khu công nghiệp có thành phần và tính chất tương tự như các nước thải sinh hoạt khác: chứa các chất cặn bã, các chất lơ lửng, các chất hữu cơ, các chất dinh dưỡng và vi trùng
Nói chung, nước thải của các nhà máy, xí nghiệp đầu tư vào khu công nghiệp Thụy Vân đã xử lý cục bộ ra nguồn loại C – TCVN trước khi vào trạm xử lý nước thải của khu công nghiệp Việc quản lý chất lượng nước thải đầu ra của từng nhà máy trong khu công nghiệp sẽ do Ban quản lý các khu công nghiệp, công ty phát triển hạ tầng KCN chịu trách nhiệm
Bảng 3.1: Nồng độ các chất ô nhiễm và là cơ sở tính toán thiết kế:
Trang 40Bảng 3.2: Nồng độ các chất ô nhiễm kim loại nặng Hạng