LỜI MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài Hoạt động kinh doanh tiền tệ là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro nhƣ rủi ro nợ xấu, rủi ro tín dụng và đặc biệt là rủi ro thanh khoản trong bối cảnh khủng hoảng tài chính (2008). Mặc dù bảo hiểm tiền gửi bảo vệ sự an toàn và ổn định của hệ thống ngân hàng nhƣng nó, tùy theo phạm vi bảo hiểm và cơ cấu sở hữu của ngân hàng, cũng làm thay đổi hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng, có khả năng gây nên rủi ro đạo đức thể hiện qua hiện tƣợng chấp nhận rủi ro quá mức (excessive risktaking) và có thể dẫn đến rủi ro cho cả hệ thống. Một số nghiên cứu trên Thế giới đã đo lƣờng sự liên hệ giữa phạm vi bảo hiểm với hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng (Angkinand và Wihlborg, 2010 và gần nhất là Herman Saheruddin, 2013) thấy rằng giới hạn bảo hiểm quá cao hoặc quá thấp có liên quan với hành vi gặp rủi ro cao hơn và mối tƣơng quan giữa cơ cấu vốn sở hữu của ngân hàng và hành vi chấp nhận rủi ro (Laeven và Levine, 2009) nhận ra rằng các ngân hàng có tập trung quyền sở hữu hơn thì có xu hƣớng có hành vi chấp nhận rủi ro cao hơn nhƣng ở Việt Nam vẫn chƣa có những nghiên cứu đo lƣờng các mối liên hệ này. Vì thế, bài nghiên cứu hƣớng đến đề tài nhằm lƣợng hóa các mối quan hệ này tại Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu Về mặt định tính:
Trang 1Mã số: …45………….
MỐI QUAN HỆ GIỮA PHẠM VI BẢO HIỂM TIỀN GỬI, CƠ CẤU SỞ HỮU ĐẾN
SỰ CHẤP NHẬN RỦI RO CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Trang 2TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Hoạt động kinh doanh tiền tệ là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro như rủi ro nợ xấu, rủi ro tín dụng và đặc biệt là rủi ro thanh khoản trong bối cảnh khủng hoảng tài chính (2008) Mặc dù bảo hiểm tiền gửi bảo vệ sự an toàn và ổn định của hệ thống ngân hàng nhưng
nó, tùy theo phạm vi bảo hiểm và cơ cấu sở hữu của ngân hàng, cũng làm thay đổi hành
vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng, có khả năng gây nên rủi ro đạo đức thể hiện qua hiện tượng chấp nhận rủi ro quá mức (excessive risk-taking) và có thể dẫn đến rủi ro cho cả hệ thống Một số nghiên cứu trên Thế giới đã đo lường sự liên hệ giữa phạm vi bảo hiểm với hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng (Angkinand và Wihlborg, 2010 và gần đây nhất
là Herman Saheruddin, 2013) và mối tương quan giữa cơ cấu vốn sở hữu của ngân hàng
và hành vi chấp nhận rủi ro (Laeven và Levine, 2009) nhưng ở Việt Nam vẫn chưa có những nghiên cứu đo lường các mối liên hệ này.Vì thế, bài nghiên cứu quyết định chọn
đề tài nhằm lượng hóa các mối quan hệ này
Bài nghiên cứu chia làm 3 phần:
Phần 1: Định nghĩa cùng lý luận về những kết quả nghiên cứu trước đây
Phần 2: Phân tích thực trạng, các vấn đề hiện nay của 3 nhân tố: bảo hiểm tiền gửi, cơ cấu sở hữu và sự chấp nhận rủi ro
Nghiên cứu về mô hình định lượng, OLS regression, fixed effect và random effect: trên các phương diện lý thuyết, phương pháp tính, cách áp dụng cho trường hợp của Việt Nam
Phần 3: Giải pháp kiến nghị
Trang 3MỤC LỤC
TÓM TẮT ĐỀ TÀI 1
DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH 4
LỜI MỞ ĐẦU 2
1 Tổng quan về mối quan hệ giữa phạm vi bảo hiểm tiền gửi, cơ cấu sở hữu và sự chấp nhận rủi ro của ngân hàng 5
1.1 Khái quát chung về mối quan hệ 5
1.1.1 Khái niệm liên quan đến sự chấp nhận rủi ro 5
1.1.2 Khái niệm về phạm vi bảo hiểm tiền gửi 10
1.1.3 Khái niệm về cơ cấu sở hữu và các nhân tố xác định 13
1.2 Lý thuyết nền về mối quan hệ giữa bảo hiểm tiền gửi, cơ cấu sở hữu và sự chấp nhận rủi ro và các quan điểm liên quan 17
1.2.1 Lý thuyết nền về mối quan hệ giữa bảo hiểm tiền gửi, cơ cấu sở hữu và sự chấp nhận rủi ro 17
1.3 Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa bảo hiểm tiền gửi, cơ cấu sở hữu đến sự chấp nhận rủi ro của ngân hàng 22
2 Thực trạng về ngành ngân hàng, sự chấp nhận rủi ro, phạm vi bảo hiểm tiền gửi và cơ cấu sở hữu 28
2.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại Việt Nam 28
2.1.1 Tình hình hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam 28
2.1.2 Tình hình của bảo hiểm tiền gửi trong hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam 39
Trang 42.1.3 Tình hình của cơ cấu sở hữu trong hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần
Việt Nam 45
2.2 Xây dựng mô hình nghiên cứu 50
2.2.1 Dữ liệu nghiên cứu 50
2.2.2 Các biến nghiên cứu 50
2.2.3 Lựa chọn phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu 54
2.2.4 Quy trình nghiên cứu 57
2.3 Kết quả nghiên cứu 59
2.3.1 Mô tả các biến nghiên cứu 59
2.3.2 Kết quả nghiên cứu 61
3 Gợi ý chính sách liên quan đến mối quan hệ giữa bảo hiểm tiền gửi, cơ cấu sở hữu đến sự chấp nhận rủi ro của ngân hàng 69
3.1 Định hướng phát triển của bảo hiểm tiền gửi và cơ cấu sở hữu 69
3.2 Một số đề xuất khác 74
3.3 Kết luận, hạn chế và hướng phát triển đề tài 77
Phụ lục 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 5DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH
Bảng 1: Thống kê các nghiên cứu về mối quan hệ của phạm vi bảo hiểm tiền gửi, cơ cấu
sở hữu đến sự chấp nhận rủi ro của ngân hàng 22
Bảng 2: Thống kê về mối quan hệ giữa thành phần cơ cấu sở hữu và sự chấp nhận rủi ro ngân hàng 26
Bảng 3: Phân biệt NHTM và TCTD phi ngân hàng 29
Bảng 4: Thực trạng vốn điều lệ của các Ngân hàng thương mại cổ phần, Ngân hàng liên doanh đến thời điểm 30/5/2007: 34
Bảng 5: Tỷ trọng tổng tài sản của các NHTM so với toàn hệ thống Đơn vị: % 35
Bảng 6: Dự kiến quy mô ngân hàng trước và sau tái cơ cấu Đơn vị: số lượng ngân hàng 37
Bảng 7: Thị phần tiền gửi của các NHTM (%) 42
Bảng 8: Hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi/ GDP bình quân đầu người của Việt Nam qua các năm 44
Bảng 9: Thống kê về số lượng ngân hàng năm 2010-2011 45
Bảng 10: Thực trạng của các ngân hàng đến ngày 30/4/2013 Đơn vị tính: tỷ VNĐ, % 46
Bảng 11: Giải thích các biến 52
Bảng 12: Thống kê kết quả 66
Bảng 13: Số liệu chạy mô hình 80
Hình 1: Chi tiết cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam qua các năm 30
Hình 2: Tổng tài sản của hệ thống ngân hàng vào cuối các năm 2010-2013, đơn vị tính: nghìn tỷ đồng 34
Hình 3: Tổng tài sản hệ thống ngân hàng từ 12/2012-12/2013 35
Hình 4: So sánh tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng GDP 36
Hình 5: Tỷ lệ nợ xấu 37
Hình 6: Quy mô quỹ BHTG và Tỉ lệ % quỹ BHTG trên số dư tiền gửi được bảo hiểm 43
Trang 6Hình 7: Thực trạng về sở hữu chéo của các NHTM nhà nước tại các ngân hàng thương
mại cổ phần 48
Hình 8: Mô tả các biến phụ thuộc 59
Hình 9: Mô tả sự tự tương quan giữa các biến 60
Hình 10: Kết quả chạy mô hình Fixed Effect 1, 2, 3, 4, 5, 6 61
Hình 11: Kết quả chạy mô hình Random Effect 1, 2, 3, 4, 5, 6 61
Hình 12: Kiểm định Hausman Test cho mô hình thứ nhất 62
Hình 13: Kiểm định phương sai thay đổi trong mô hình RE 62
Hình 14: Kiểm định Hausman và Breusch-Pagan Lagrange Multiplier cho REM cho mô hình 2 63
Hình 15: Kiểm định Hausman và Breusch-Pagan Lagrange Multiplier cho REM cho mô hình 3 63
Hình 16: Kiểm định Hausman và Breusch-Pagan Lagrange Multiplier cho REM cho mô hình 4 64
Hình 17: Kiểm định Hausman và Breusch-Pagan Lagrange Multiplier cho REM cho mô hình 5 64
Hình 18: Kiểm định Hausman và Breusch-Pagan Lagrange Multiplier cho REM cho mô hình 6 65
Hình 19: Mô hình hồi quy cổ điển với lựa chọn robust cho mô hình 1, 2, 3, 4, 5, 6 66
Hình 20: Phương hướng hoàn thiện quy chế pháp lý về BHTG tại Việt Nam 75
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Hoạt động kinh doanh tiền tệ là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro như rủi ro nợ xấu, rủi ro tín dụng và đặc biệt là rủi ro thanh khoản trong bối cảnh khủng hoảng tài chính (2008) Mặc dù bảo hiểm tiền gửi bảo vệ sự an toàn và ổn định của hệ thống ngân hàng nhưng
nó, tùy theo phạm vi bảo hiểm và cơ cấu sở hữu của ngân hàng, cũng làm thay đổi hành
vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng, có khả năng gây nên rủi ro đạo đức thể hiện qua hiện tượng chấp nhận rủi ro quá mức (excessive risk-taking) và có thể dẫn đến rủi ro cho cả hệ thống Một số nghiên cứu trên Thế giới đã đo lường sự liên hệ giữa phạm vi bảo hiểm với hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng (Angkinand và Wihlborg, 2010 và gần nhất là Herman Saheruddin, 2013) thấy rằng giới hạn bảo hiểm quá cao hoặc quá thấp có liên quan với hành vi gặp rủi ro cao hơn và mối tương quan giữa cơ cấu vốn sở hữu của ngân hàng và hành vi chấp nhận rủi ro (Laeven và Levine, 2009) nhận ra rằng các ngân hàng
có tập trung quyền sở hữu hơn thì có xu hướng có hành vi chấp nhận rủi ro cao hơn nhưng ở Việt Nam vẫn chưa có những nghiên cứu đo lường các mối liên hệ này Vì thế, bài nghiên cứu hướng đến đề tài nhằm lượng hóa các mối quan hệ này tại Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu
- Về mặt định tính:
Tập trung nghiên cứu các lý thuyết về mối quan hệ giữa phạm vi bảo hiểm tiền gửi, cơ cấu sở hữu và sự chấp nhận rủi ro của các ngân hàng trên thế giới Phân tích, tìm hiểu về
Trang 8đặc điểm của 3 nhân tố bảo hiểm tiền gửi, cơ cấu sở hữu và sự chấp nhận rủi ro của các ngân hàng Việt Nam nói chung hiện nay Từ đó đi tìm mối quan hệ giữa phạm vi bảo hiểm tiền gửi, cơ cấu sở hữu và sự chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam và đưa ra các giải pháp cải thiện mức độ chấp nhận rủi ro cũng như ứng dụng công cụ bảo hiểm tiền gửi và cải thiện cơ cấu sở hữu theo hướng có lợi cho doanh nghiệp
- Về mặt định lượng:
Nghiên cứu áp dụng mô hình pooled regression, fixed effect và random effect nhằm xác định mối quan hệ của các nhân tố đã đề cập bằng cách tìm ra những bằng chứng thực nghiệm
Xây dựng mô hình kiểm định để lựa chọn mô hình định lượng phù hợp
Từ những bằng chứng thực nghiệm và các kết quả thống kê mô tả, bài nghiên cứu đưa ra các gợi ý về chính sách liên quan nhằm hạn chết sự chấp nhận rủi ro, phát triển và thay đổi bảo hiểm tiền gửi và cơ cấu sở hữu cho phù hợp
Phương pháp nghiên cứu
- Nguồn dữ liệu:
Chủ yếu, bài nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu sở hữu sử dụng những báo cáo quản trị ngân hàng hàng năm và cơ cấu sở hữu được gửi bởi nhóm ngân hàng thương mại cổ phẩn hoạt động tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2002 đến 2013 bao gồm 6 ngân hàng thương mại là Vietcombank, Sacombank, MB, Eximbank, BIDV, Techcombank tạo thành bộ dữ liệu panel data gồm có 48 quan sát
Bài nghiên cứu bổ sung cho cơ sở dữ liệu này với thông tin từ các trang web, tạp chí và các nguồn thông tin khác của ngân hàng với các biến phạm vi bảo hiểm tiền gửi và các
Trang 9biến vĩ mô khác Đối với những biến kế toán được dùng để đo lường sự rủi ro nhận được của nhân hàng (bank risk taking), bài nghiên cứu sử dụng báo cáo tài chính hàng năm của ngân hàng
- Phương pháp:
Đối với các mục tiêu định tính: bài nghiên cứu tập trung vào phương pháp thống kê mô
tả, quan sát thu thập các tài liệu nghiên cứu trước đây và một số tạp chí tài chính được cơ quan chính phủ Việt Nam công nhận
Đối với các mục tiêu định lượng: Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng bằng cách chạy mô hình tự pooled regression, fixed effect và random effect đối với cơ sở dữ liệu bảng
- Công cụ: Sử dụng phần mềm Stata 10 để ước lượng các mô hình
Nội dung nghiên cứu
Bài nghiên cứu chia làm 3 phần:
Trang 10Nghiên cứu về mô hình định lượng pooled regression, fixed effect và random effect: trên các phương diện lý thuyết, phương pháp tính, cách áp dụng cho trường hợp của Việt Nam
Các thu thập dữ liệu và xử lý cho dữ liệu bảng
Nghiên cứu cho ta thấy được mối quan hệ giữa phạm vi bảo hiểm tiền gửi, cơ cấu sở hữu
và mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng qua các bài nghiên cứu trước đây trên phạm vi toàn thế giới Đưa ra 1 cái nhìn tổng quan trên cơ sở lý thuyết của nhiều tác giả quan trọng Bên cạnh đó, bài nghiên cứu cũng đưa ra những khái niệm quan trọng về bảo hiểm tiền gửi, cơ cấu sở hữu và mức độ chấp nhận rủi ro trên phạm vi quốc gia cụ thể là Việt Nam Từ đó, ta có sự phân tích sâu sắc về đối tượng nghiên cứu
Hướng phát triển của đề tài
Đề tài có thể mở rộng theo hướng áp dụng cho toàn bộ cho các ngân hàng trong hệ thống ngân hàng ở Việt Nam Từ đó, ta có thể tìm ra được thêm các ảnh hưởng của cơ cấu sở
Trang 11hữu đến mức độ chấp nhận rủi ro của hệ thống ngân hàng ở Việt Nam bằng cách đa dạng hóa các danh tính cơ cấu sở hữu như là gia đình, chính phủ địa phương, tìm ra các bằng chứng thực nghiệm của sở hữu chéo, sở hữu kim tử tháp, cùng phân tích rõ hơn các khía cạnh của sự chấp nhận rủi ro trên phương diện nợ xấu
1 TỔNG QUAN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA PHẠM VI BẢO HIỂM TIỀN GỬI, CƠ CẤU SỞ HỮU VÀ SỰ CHẤP NHẬN RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ
1.1.1 KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN SỰ CHẤP NHẬN RỦI RO
Định nghĩa về rủi ro:
Theo Frank Knight, 1921, thì rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được
Theo Irving Prefler, 1956, thì rủi ro là tổng hợp những sự ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất
Theo Allen Willett, 1951 thì rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi
Phân loại rủi ro:
- Cách 1: Rủi ro có thể tính toán và không thể tính toán
Rủi ro có thể tính toán (Rủi ro tài chính): Là những rủi ro mà tần số xuất hiện cũng như mức độ trầm trọng của nó có thể tiên đoán được
Rủi ro không thể tính toán (Rủi ro phi tài chính): Người ta không thể (hoặc chưa thể) tìm
ra quy luật vận động nên không thể (hoặc chưa thể) tiên đoán được xác suất xảy ra biến
cố trong tương lai
Trang 12- Cách 2: Rủi ro động và tĩnh
Rủi ro động: Là những rủi ro vừa có thể dẫn đến khả năng tổn thất vừa có thể dẫn đến 1 khả năng kiếm lời Cũng vì khả năng kiếm lời đó mà người ta còn gọi những rủi ro này là rủi ro suy tính hay rủi ro đầu cơ
Rủi ro tĩnh: Là những rủi ro chỉ dẫn đến khả năng tổn thất hoặc không tổn thất chứ không
có khả năng kiếm lời
Trong bài nghiên cứu này, rủi ro ở đây được phân loại vào nhóm rủi ro tài chính và rủi ro động
Định nghĩa về sự chấp nhận rủi ro:
Sự chấp nhận rủi ro (risk-taking) tức là sự tham gia vào các hành vi có thể dẫn đến khả năng tổn thất cao nhưng đồng thời cũng mang lại những kết quả tích cực, tức là có thể mang lại khả năng sinh lợi
Trong định nghĩa về rủi ro thì sự chấp nhận rủi ro mà chúng ta nghiên cứu được xếp vào hình thái rủi ro động, tức là những rủi ro liên quan đến sự luôn thay đổi, đặc biệt là trong nền kinh tế Đó là những rủi ro mà hậu quả của nó có thể có lợi, nhưng cũng có thể sẽ mang đến sự tổn thất (sự thay đổi về thị hiếu khách hàng có thể phù hợp với sản phẩm mà doanh nghiệp đang kinh doanh hay không, sự thay đổi về công nghệ kĩ thuật có phù hợp với khả năng tài chính của doanh nghiệp hay không, sự thay đổi đó có quá nhanh hay không? ) Trong trường hợp của Ngân hàng (bank risk-taking) thì ở đây có thể ví dụ tình huống cho khách hàng vay ở các mức tín nhiệm khác nhau, nếu khách hàng có mức độ tín nhiệm thấp thì ngân hàng sẽ có thể cho khách hàng cho vay với lãi suất cao hơn nhưng bù lại khả năng mất vốn, khả năng thiệt hại của ngân hàng cũng cao hơn
Sự chấp nhận rủi ro quá mức
Bên cạnh đó ta có khái niệm về sự chấp nhận rủi ro quá mức của ngân hàng (excessive risk-taking by banks), đây chính là sự chấp nhận rủi ro bất chấp những thiệt hại lớn có thể
Trang 13xảy ra Nghiên cứu về thuật ngữ này, ta tìm ra 1 số tác nhân dẫn đến sự chấp nhận rủi ro quá mức như sau:
- Thứ nhất:
Do quản trị doanh nghiệp, theo Hamid Mehran, Alan Morrison, and Joel Shapiro, 2012, cho rằng quản trị doanh nghiệp có thể đặc biệt yếu do sự đa dạng của các bên liên quan (người gửi tiền được bảo hiểm và không có bảo hiểm, công ty bảo hiểm tiền gửi, chủ sở hữu trái phiếu, nợ trực thuộc cổ đông và sở hữu chứng khoán lai), và sự phức tạp của các ngân hàng hoạt động Hơn nữa, rủi ro đạo đức được tạo ra bởi tình hình quá lớn để thất bại có thể dẫn bảng để khuyến khích chấp nhận rủi ro khi họ biết rằng thiệt hại lớn sẽ được thanh toán phần lớn là do người nộp thuế chứ không phải là các bên liên quan Dòng này của lý luận hướng sự chú ý đến cơ cấu quản trị công ty tổ chức tài chính là một trong những nguồn gốc của quá nhiều hành vi nguy hiểm do các ngân hàng làm những gì các nhà quản lý của họ quyết định và quản lý , lần lượt, được điều khiển bởi một ban giám đốc Do đó quá nhiều rủi ro phải liên quan đến một sự cố trong kiểm soát, hoặc mong muốn trên một phần của hội đồng quản trị để khuyến khích hoạt động như vậy
- Thứ hai:
Theo Xavier Freixas and Mathias Dewatripont, 2012, nhận định, sự chấp nhận rủi ro quá mức có liên quan đến cơ chế chuyển hóa của các ngân hàng ( banking resolution regime) được coi là một trong những nền tảng của bất kỳ liên minh ngân hàng - nó quyết định những gì sẽ xảy ra khi các ngân hàng bị phá sản Nó tương đương với quy định bảo đảm
an toàn và giám sát (để giảm xác suất của các vấn đề), và chương trình đảm bảo tiền gửi (để giảm xác suất của ngân hàng chạy gây phá sản), và hỗ trợ thanh khoản từ các ngân hàng trung ương (để giảm nguy cơ các ngân hàng dung môi đi theo do thiếu tính thanh khoản)
Theo các tác giả, nếu ngân hàng biết trước rằng sẽ được giải cứu, rủi ro là không bao giờ quá rủi ro cho ngân hàng
Trang 14Cơ chế chuyển hóa của các ngân hàng được xem như là một trò chơi thương lượng giữa các cổ đông và nhà quản lý Cổ đông muốn để tối đa hóa giá trị cổ phần của họ trong khi mục tiêu chính cơ quan quản lý là để bảo vệ sự ổn định tài chính với chi phí thấp nhất có thể Vì điều này , các tác giả tranh luận về các quy định phá sản được thiết kế đặc biệt cho ngành ngân hàng ( và khác với những áp dụng cho các công ty phi tài chính ) Các tác giả cũng cho rằng thời gian là điều cốt yếu, ngay cả với các thủ tục phá sản hoàn toàn hiệu quả Ngân hàng bị nạn phải được nhanh chóng đóng cửa hoặc nhanh chóng giải cứu Kiểm tra chương của các cuộc khủng hoảng ngân hàng ở các nước khác nhau cho thấy
sự đa dạng trong các thủ tục tiếp theo và kết luận lý thuyết mà không có khuyến nghị rõ ràng để cung cấp
Rõ ràng việc thiết kế các cơ chế giải quyết ngân hàng là rất quan trọng Một đề nghị là thêm một lớp vốn để ngăn chặn các cuộc khủng hoảng trong tương lai, nhưng các tác giả bảo vệ các khả năng mở vốn ( như bảo hiểm vốn) Họ lập luận rằng các loại cơ chế sẽ bảo
vệ các đặc điểm tốt nhất của các khoản nợ và do đó hạn chế rủi ro đạo đức Các tác giả kết luận bằng cách xem xét giải quyết giữa các nước và những thách thức nó ngụ ý và thảo luận về những thay đổi gần đây trong khuôn khổ giải quyết ngân hàng châu Âu
- Thứ ba:
Theo Xavier Freixas and Christian Laux, 2012, sự chấp nhận rủi ro quá mức của ngân hàng bị ảnh hưởng lớn từ sự công bố thông tin, minh bạch và kỷ luật thị trường Trước khi cuộc khủng hoảng, kỷ luật thị trường được cho là bổ sung hoàn hảo để giám sát – truyền tải thông tin trong khi các tổ chức rơi vào tình trạng quá mạo hiểm Cuộc khủng hoảng đã thay đổi quan điểm đó , hầu hết các nhà quản lý và các học giả bây giờ nhìn thấy kỷ luật thị trường là một lực lượng yếu Các tác giả của chương này xem xét các khía cạnh lý thuyết khác nhau như thế nào không hoàn hảo có thể làm tê liệt việc truyền tải thông tin - thành phần quan trọng của kỷ luật thị trường Ngoài các vấn đề mang tính
hệ thống , tình hình xấu đi trong một cuộc khủng hoảng vì cả hai công ty và tổ chức phát hành có động lực để che giấu thông tin xấu
Trang 15Nguồn chính của thị trường thông tin là báo cáo tài chính và các cơ quan xếp hạng tín dụng của các công ty và các tác giả giải quyết một số trách móc nhằm vào cả hai Trên báo cáo tài chính , việc sử dụng phân tích giá trị hợp lý đã đến cho những lời chỉ trích mạnh mẽ vì nó gây ra các công ty viết ra tài sản giảm xuống khi thị trường sụp đổ với điều này dẫn đến vốn bị xói mòn và sự không chắc chắn cao Tuy nhiên các tác giả lập luận rằng giá trị hợp lý không phải là nhiều để đổ lỗi vì nó chỉ ảnh hưởng đến danh mục đầu tư kinh doanh của các ngân hàng và có quyết định đáng kể cho các ngân hàng đình chỉ nếu thiệt hại được coi là tạm thời Họ là quan trọng hơn khi nói đến các cơ quan xếp hạng tín dụng , kết luận rằng các công ty lợi nhuận tối đa là trong một môi trường thể chế không đầy đủ đề với xung đột lợi ích Họ kêu gọi quy định hơn của các cơ quan xếp hạng tín dụng để khắc phục tình trạng này
Nguồn chính của thị trường thông tin là báo cáo tài chính và các cơ quan xếp hạng tín dụng của các công ty và các tác giả giải quyết một số trách móc nhằm vào cả hai Trên báo cáo tài chính , việc sử dụng phân tích giá trị hợp lý đã đến cho những lời chỉ trích mạnh mẽ vì nó gây ra các công ty viết ra tài sản giảm xuống khi thị trường sụp đổ với điều này dẫn đến vốn bị xói mòn và sự không chắc chắn cao Tuy nhiên các tác giả lập luận rằng giá trị hợp lý không phải là nhiều để đổ lỗi vì nó chỉ ảnh hưởng đến danh mục đầu tư kinh doanh của các ngân hàng và có quyết định đáng kể cho các ngân hàng đình chỉ nếu thiệt hại được coi là tạm thời Họ là quan trọng hơn khi nói đến các cơ quan xếp hạng tín dụng , kết luận rằng các công ty lợi nhuận tối đa là trong một môi trường thể chế không đầy đủ đề với xung đột lợi ích Họ kêu gọi quy định hơn của các cơ quan xếp hạng tín dụng để khắc phục tình trạng này
- Thứ tư
Ảnh hưởng đến sự chấp nhận rủi ro quá mức chính là các yêu tố vĩ mô và các yếu tố thị trường( Procyclicality), theo Rafael Repullo and Jesus Saurina thì sự khủng hoảng của các yếu tố thị trường đẩy các ngân hàng đến những quyết định mang tính rủi ro, Các tác giả tập trung vào một khía cạnh của điều này , cụ thể là câu hỏi liệu và bao nhiêu vốn bổ sung nên được yêu cầu trong các giai đoạn tăng trưởng tín dụng quá mức, và làm thế nào
Trang 16những giai đoạn tăng trưởng tín dụng quá mức sẽ được xác định Họ nghiên cứu cách khuôn khổ pháp lý Basel III đề xuất để giải quyết các vấn đề và mức độ mà các quy tắc thực hiện các mục tiêu của họ
Quy định ngược chu trình, Basel III yêu cầu tỷ lệ cao hơn vốn để cho vay khi tỷ lệ tín dụng trên GDP lệch khỏi xu hướng của nó Phân tích của họ , tuy nhiên , cho thấy các công trình này một cách sai lầm cho một phần lớn của các quốc gia ; độ lệch tương quan tiêu cực với tăng trưởng GDP Trong ngắn hạn, các ngân hàng thực hiện theo các quy tắc sai lệch so với xu hướng thực sự có thể được theo đuổi một mục tiêu kinh tế nào đó hơn
là một chính sách vốn chu kỳ Các tác giả đề xuất một quy tắc đơn giản - tốc độ tăng trưởng tín dụng
1.1.2 KHÁI NIỆM VỀ PHẠM VI BẢO HIỂM TIỀN GỬI
1.1.2.1 KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN BẢO HIỂM TIỀN GỬI
Khái niệm về bảo hiểm tiền gửi đã được hình thành từ rất lâu trên thế giới Hoạt động tài chính - ngân hàng luôn gắn liền với sự nhạy cảm và tiềm ẩn rủi ro, chính vì vậy mỗi quốc gia cần phải có tổ chức đứng ra bảo vệ người gửi tiền trong trường hợp ngân hàng xảy ra
đổ vỡ để ổn định tình hình an ninh - xã hội Trong thực tế, khi các quốc gia chưa hình thành hệ thống bảo hiểm tiền gửi thì họ cũng đã sử dụng công cụ “bảo hiểm ngầm” có nghĩa là mặc dù không cam kết công khai trước công chúng về việc bảo vệ tiền gửi của
họ trong trường hợp ngân hàng đổ bể nhưng nếu điều đó xảy ra thì Chính phủ phải đứng
ra chi trả tiền gửi cho người gửi tiền Tuy nhiên, việc bảo vệ ngầm đó không thật sự mang lại lợi ích cho quốc gia cũng như không mang lại niềm tin của công chúng đối với hệ thống tài chính - ngân hàng, vì vậy, hệ thống bảo hiểm công khai đã ra đời.Nguồn gốc ra đời của bảo hiểm tiền gửi gắn liền với việc chuyển từ bảo vệ ngầm sang bảo vệ công khai tiền gửi
Theo định nghĩa của Cẩm nang cho Tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi của Tổ chức Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam (viết tắt là DIV): “Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) là cam kết công
Trang 17khai của tổ chức BHTG đối với tổ chức tham gia BHTG và người gửi tiền về việc tổ chức BHTG sẽ trả tiền gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia BHTG bị chấm dứt hoạt động và mất khả năng thanh toán cho người gửi tiền.”
Theo Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 thì: “Bảo hiểm tiền gửi là sự bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho người được bảo hiểm tiền gửi trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi
tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản.”
Từ khái niệm bảo hiểm tiền gửi, ta hướng đến khái niệm trọng tâm của bài nghiên cứu là phạm vi bảo hiểm tiền gửi, hay còn gọi là sự che phủ của bảo hiểm tiền gửi Khi khủng hoảng xảy ra, người gửi tiền sẽ được hoàn trả lại số tiền gửi toàn bộ hay một phần, đó chính là phạm vi của bảo hiểm tiền gửi Phạm vi bảo hiểm tiền gửi được đo lường bằng
số tiền mà tổ chức bảo hiểm trả cho người gửi tiền và thường có một giới hạn cao nhất (coverage limit) còn gọi là giới hạn của bảo hiểm tiền gửi
Bên cạnh đó Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 cũng định nghĩa 1 số khái niệm sau:
“Người được bảo hiểm tiền gửi là cá nhân có tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.”
“Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng được nhận tiền gửi của cá nhân.”
“Tổ chức bảo hiểm tiền gửi là tổ chức tài chính nhà nước, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, thực hiện chính sách bảo hiểm tiền gửi, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng.”
“Phí bảo hiểm tiền gửi là khoản tiền mà tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phải nộp cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi để bảo hiểm cho tiền gửi của người được bảo hiểm tiền gửi tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.”
Trang 181.1.2.2 BẢN CHẤT CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI
Bảo hiểm tiền gửi cũng mang bản chất của các loại hình bảo hiểm nói chung, theo Dennis Kessler, 1994, tức là hoạt động theo nguyên lý lấy số đông bù số ít nhưng bên cạnh đó nó còn mang tính chất đặc thù, đó là:
Hoạt động BHTG là hoạt động cung cấp dịch vụ công, có nghĩa là BHTG là công
cụ được sử dụng để thực hiện chính sách công của từng quốc gia
Hoạt động của tổ chức BHTG thông thường không vì mục tiêu lợi nhuận Chính phủ các quốc gia thành lập tổ chức BHTG nhằm mục đích để thực hiện chính sách công Bởi trong thực tế, hoạt động tài chính - ngân hàng là hoạt động nhạy cảm, gắn với tính lan truyền rất cao; đồng thời sự đổ vỡ của hệ thống tài chính -ngân hàng sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế và gây ra những bất ổn về mặt xã hội
Do đó, Chính phủ các quốc gia đã sử dụng công cụ tài chính là BHTG nhằm góp phần đảm bảo sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống tài chính - ngân hàng
và ổn định xã hội
1.1.2.3 MỤC TIÊU CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI:
Mục tiêu của mỗi hệ thống BHTG ở các quốc gia có khác nhau nhưng đều nhằm đạt được các mục tiêu sau:
Bảo vệ số đông người gửi tiền, đối tượng có tiền gửi ít, hạn chế trong tiếp cận thông tin về quản trị, điều hành và tình hình hoạt động của các TCTD
Góp phần đảm bảo an toàn cho hệ thống tài chính quốc gia và tạo điều kiện cho các giao dịch tài chính có hiệu quả hơn bằng cách phòng, tránh đổ vỡ ngân hàng
Góp phần xây dựng một thị trường có tính cạnh tranh và bình đẳng cho các tổ chức tài chính có quy mô và trình độ phát triển khác nhau
Quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của người gửi tiền, tổ chức tài chính, Chính phủ và giảm thiểu gánh nặng tài chính cho người đóng thuế trong trường hợp có TCTD đổ bể
Trang 191.1.3 KHÁI NIỆM VỀ CƠ CẤU SỞ HỮU VÀ CÁC NHÂN TỐ XÁC ĐỊNH
1.1.3.1 CÁC KHÁI NIỆM VỀ CƠ CẤU SỞ HỮU
Theo Wen Wen (2010) có đề cập tới cơ cấu sở hữu được mô tả như sau:
Quan điểm 1, He (1998), Zhou (1999), cơ cấu sở hữu là những dạng khác nhau của nguồn vốn ví dụ cổ phiếu A, cổ phiểu B hoặc cổ phiếu đặc biệt
Quan điểm 2, Wu (2003), cơ cấu sở hữu là tỷ lệ nguồn vốn được chiếm giữ bới nhiều cổ đông ví dụ cổ phần nhà nước, cổ phần cá nhân, cổ phần do người đại diện của chính phủ nắm giữ
Quan điểm 3, Sun (2002), cơ cấu sở hữu là sự sở hữu của nguồn vốn tức là cấu trúc vốn
ví dụ tỷ lệ phần trăm cổ phần được nắm giữ bởi các cổ đông
Một tham chiếu cổ điển về cơ cấu sở hữu là Jensen và Meckling [1976] Một tài liệu tham khảo mới về chủ đề này là Holderness, Kroszner, và Sheehan [1999] Họ cho rằng
cơ cấu sở hữu được xác định bởi sự phân bố của vốn chủ sở hữu liên quan đến quyền biểu quyết, cơ cấu vốn và còn bởi danh tính của chủ sở hữu Những cấu trúc này có tầm quan trọng lớn trong quản trị doanh nghiệp, vì họ xác định động cơ của các nhà quản lý
và do đó hiệu quả kinh tế của các tập đoàn họ quản lý
Trong tham chiếu này ta chú ý đến các nhân tố quan trọng xác định chủ sở hữu bao gồm quyền biểu quyết (vote rights), quyền dòng tiền (cash flow rights) Trong bài nghiên cứu này, ta dùng quyền biểu quyết để xác định chủ sở hữu cuối cùng trong trường hợp có sự giống nhau trong quyền dòng tiền
Trong đó quyền biểu quyết (vote rights) được định nghĩa là quyền được sa thải và thuê giám đốc, thay đổi chính sách của công ty, bán, thanh lý công ty, để thay đổi điều lệ công
ty, vv, cụ thể bao gồm:
Bầu cử các nhà quản lý
Trang 20 Quyền được thông tin về tình hình tài chính của công ty
Quyền khởi kiện người quản lý vi phạm nghĩa vụ
1.1.3.2 PHÂN LOẠI CƠ CẤU SỞ HỮU
Phân loại theo mức độ phân tán và tập trung:
Có 2 loại cấu trúc sở hữu là phân tán và tập trung
Trong cấu trúc sở hữu tập trung, cả quyền sở hữu lẫn quyền kiểm soát công ty tập trung vào tay một số cá nhân, gia đình, ban quản lý, hoặc các định chế cho vay Những cá nhân
và nhóm này (người bên trong) thường kiểm soát và chi phối lớn đến cách thức công ty vận hành Bởi vậy, cấu trúc tập trung thường được xem là hệ thống nội bộ Những cổ đông lớn kiểm soát doanh nghiệp trực tiếp bằng cách tham gia hội đồng quản trị và ban điều hành Cổ đông lớn có thể không sở hữu vốn toàn bộ nhưng có quyền biểu quyết đáng kể, nên vẫn có thể được kiểm soát doanh nghiệp
Trong cấu trúc sở hữu phân tán thì có nhiều cổ đông, mỗi cổ đông sở hữu một số cổ phần doanh nghiệp, quyền kiểm soát hoạt động công ty do ban giám đốc nắm giữ Các cổ đông nhỏ ít có động lực để kiểm tra chặt chẽ hoạt động và không muốn tham gia điều hành
Trang 21công ty Bởi vậy họ được gọi là người bên ngoài và cấu trúc phân tán được gọi là hệ thống bên ngoài
Mỗi hệ thống cấu trúc sở hữu có những điểm thuận lợi và bất lợi cũng như tiềm ẩn những thách thức về quản trị doanh nghiệp Đối với cấu trúc sở hữu tập trung, doanh nghiệp do những người bên trong kiểm soát có những điểm thuận lợi đáng chú ý Những người này
có quyền lực và động lực để kiểm soát doanh nghiệp chặt chẽ Nhờ đó, giảm thiểu được tình trạng sai phạm hay gian dối trong quản trị và điều hành
Hơn nữa, do nắm quyền sở hữu và quyền kiểm soát lớn, những người này có khuynh hướng giữ vốn đầu tư trong doanh nghiệp trong thời gian dài Vì thế họ sẽ ủng hộ những quyết định giúp tăng cường hiệu quả hoạt động dài hạn hơn là những quyết định mang lại lợi ích ngắn hạn
Tuy nhiên, hệ thống này cũng dẫn doanh nghiệp đến những thất bại trong quản trị Chẳng hạn, khi những người điều hành là các cổ đông lớn hay có quyền biểu quyết lớn, họ có thể dùng quyền của mình để tác động đến quyết định của hội đồng quản trị sao cho có lợi cho mình nhưng lại không có lợi cho công ty
Một trường hợp phổ biến là các nhà quản lý thuyết phục hội đồng quản trị trả lương và phúc lợi rất cao cho cấp quản lý hoặc phê duyệt việc mua bán yếu tố đầu vào giá cao từ các công ty mà họ có sở hữu hoặc có mối quan hệ Nghiêm trọng hơn, họ có thể sử dụng những thông tin bí mật để trục lợi như giao dịch nội gián
Phân loại dựa trên sự độc lập trong sự sở hữu, kiểm soát và các mối quan hệ liên quan
Một ngân hàng hay công ty có thể được sở hữu và kiểm soát bởi 2 nhóm người khác nhau, nhưng sự không độc lập hay sự tồn tại các mối quan hệ liên quan, liên kết giữa 2 nhóm người này cũng gây ra vấn đề tương tự như vấn đề của cấu trúc tập trung Một khả
năng dễ xảy ra nhất là sự tồn tại các cấu trúc sở hữu chéo và cấu trúc kim tự tháp giữa
Trang 22các công ty Hai hình thức sở hữu này thường thấy ở các công ty thành viên của tập đoàn hoặc các nhóm công ty
- Sở hữu kim tự tháp
Là hình thức sở hữu bởi một người kiểm soát thực sự thông qua nhiều tầng nấc sở hữu tại các công ty khác Chẳng hạn, A nắm 20% vốn của B, B lại nắm 10% vốn của C A được gọi là chủ sở hữu sau cùng của C, vì A kiểm soát C thông qua B A có thể tác động lên một quyết định nào đó của C nhưng chỉ chịu 2% (= 20% x 10%) mức độ ảnh hưởng (hoặc mức độ thiệt hại) của quyết định đó
- Sở hữu chéo
Xuất hiện khi A kiểm soát B (trong ví dụ trên) nhưng trong trường hợp này, B cũng nắm quyền kiểm soát tại A Mặc dù với tỉ lệ sở hữu chéo không cao, nhưng sự ràng buộc sở hữu chéo này lại làm gia tăng mức độ liên kết của A và B trong việc kiểm soát C
Về nguyên tắc, cấu trúc sở hữu chéo giúp các công ty gia tăng mức độ liên kết, cam kết
và hợp tác thực hiện chiến lược, nhưng nếu năng lực kiểm soát việc thực thi pháp luật không cao có thể sẽ dẫn đến tình trạng các công ty liên kết vi phạm quyền lợi cổ đông nhỏ
Về lý thuyết, sở hữu chéo có thể phân ra làm 2 loại, sở hữu chéo tích cực và tiêu cực
Sở hữu chéo tích cực sẽ thúc đẩy thương mại Việt Nam và quốc tế, nâng cao quản trị vốn hiệu quả, các mối quan hệ bao gồm:
NHTM nhà nước và NHTM nước ngoài
Cổ đông chiến lược nước ngoài tại các NHTM
Cổ đông tại các NHTM là các công ty quản lý quỹ
Trang 23Sở hữu chéo tiêu cực trái lại tiềm ẩn nguy cơ xấu cho tính ổn định của hệ thống Ngân hàng, các mối quan hệ bao gồm:
Sở hữu của NHTM nhà nước tại NHTM cổ phần
Sở hữu lẫn nhau giữa các NHTM cổ phần
Sở hữu NHTM CP bởi tập đoàn, tổng công ty nhà nước và tư nhân
1.2 LÝ THUYẾT NỀN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA BẢO HIỂM TIỀN GỬI,
CƠ CẤU SỞ HỮU VÀ SỰ CHẤP NHẬN RỦI RO VÀ CÁC QUAN ĐIỂM LIÊN QUAN
1.2.1 LÝ THUYẾT NỀN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA BẢO HIỂM TIỀN GỬI,
CƠ CẤU SỞ HỮU VÀ SỰ CHẤP NHẬN RỦI RO
Mối quan hệ của ba nhân tố bảo hiểm tiền gửi, cơ cấu sở hữu và sự chấp nhận rủi ro có nền tảng từ hai học thuyết quan trong đó là lý thuyết đại diện (agency theory) và lý thuyết hợp đồng (contracting theory)
Những nghiên cứu trước đã chia thông tin không đồng nhất của quan điểm về thuyết hợp đồng (contracting-theory) thành những thuyết về quản lý hình thức kinh doanh lặp lại để làm thỏa mãn các mối quan hệ khách hàng (repeat-business) (Hodgman 1963; Kaneand Malkiel 1965), phân phối giám sát (Diamond 1984), và bảo hiểm tiền gửi (Merton and Bodie1994; Kane 1995) Kết quả được được tạo ra từ thông tin không đồng nhất của quan điểm về thuyết hợp đồng (contracting-theory) của ngân hàng và chính sách ngân hàng Nguyên tắc hướng dẫn của lý thuyết hợp đồng đại diện quan trọng là những ngân hàng và những nhà làm luật bị lôi kéo đến những thỏa thuận mà mang đến cho tất cả các bên đối tác 1 động lực để sử dụng những thông tin và nguồn khan hiến một cách hiệu quả (Jensen
và Meckling, 1975) Một sự ứng dụng quan trọng của lý thuyết là để giải thích làm sao
mà qua thời gian và không gian các đặc điểm của những bản dự thảo hợp đồng đầu tiên được sử dụng bởi những ngân hàng và những tổ chức tài chính thích nghi với những sự biến đổi trong minh bạch thông tin, quản lý, kỹ thuật tài chính và quy định Sự thâm nhập
Trang 24của những quan điểm vào những học thuyết ngân hàng giúp ta giải thích tại sao và như thế nào những quy định kiềm chế cấu trúc (dựa vào rủi ro) vốn trở nên thay thế những sự cần thiết thanh khoản như là những công cụ chính sách trung tâm dành cho việc quản lý rủi ro ngân hàng
Lý thuyết ngân hàng truyền thống đã nhìn thấy một ngân hàng đơn giản như là định chế tài chính trung gian (Gurley và Shaw 1960) Lý thuyết hợp đồng phác họa những hoạt động của ngân hàng một cách tổng quát hơn Một ngân hàng trở nên hòa nhập với bộ máy tài chính gồm thông tin không định hình và bộ máy thỏa thuận Trong những bộ phận văn phòng phía sau (back offices), những đại lý ngân hàng thu thập thông tin, nhận dạng thông tin, lưu giữ thông tin, xử lý thông tin, quản lý thông tin và truyền dẫn thông tin cho những người chủ và khách hàng của họ thông qua mạng lưới nội bộ và bên ngoài Những văn phòng trung gian (middle offices) sử dụng những phòng chứa thông tin để soạn thảo
và định giá hàng loạt những dự thảo hợp đồng đầu tiên Những dự thảo ghi nhận sự thật
là ngân hàng và khách hàng đồng ý dựa trên những điều khoản rõ ràng của thỏa thuận tài chính, những quyền lợi và nhiệm vụ bắt buộc của các bên đối tác Cuối cùng, bộ phận văn phòng đối ngoại ( front-office) sẽ thỏa thuận, trao đổi hợp đồng và dịch vụ với khách hàng
Lý thuyết về tài chính doanh nghiệp (corporate-finance theory) nhấn mạnh rằng mỗi hợp đồng đều thành lập mối quan hệ đại diện người đứng đầu giữa các bên đối tác Chi phí đại diện là những chi phí được nâng cao khi những yếu đố hợp đồng không được chia sẻ một cách khách quan hoàn toàn Chi phí đại diện gồm 3 nhân tố:
Những chi phí mà đại diện gánh chịu để đưa ý định của nó vào sự thể hiện trách nhiệm của nó dưới hợp đồng
Những chi phí mà người đúng đầu gánh chịu để giám sát và thúc đấy sự hoàn thành của hợp đồng
Những cơ hội dư thừa cho sự không hoàn thành mà không được kiểm soát bởi hợp đồng
Trang 25Nhận định trung tâm của lý thuyết đại diện là những bên đối tác có một động lực để giảm thiểu chi phí đại diện Những chi phí này được giảm thiểu khi những chi phí biên của sự giao kèo, giám sát, kiểm soát sự thi hành được đặt ngang hàng với lợi nhuận biên của những cơ hội không được thực hiện dôi ra mà những sự kiểm soát kiềm chế lại
Trong những hoạt động của ngân hàng, những mối quan hệ của chi phí đại diện và kết quả của chi phí đại diện bị chồng chất lên nhau dày đặc Khi một ngân hàng đang hoạt động đơn giản như một định chế tài chính trung gian, nó đồng ý hoạt động như một đại lý trong những hoạt đồng tiền gửi và hoạt động như 1 người đại diện dùng những đồng tiền
mà nó mượn để trả cho những khoản vay Khi mà một ngân hàng bảo đảm cho nhóm những khoản nợ mà nó đang tiếp tục phục vụ, nó gia nhập vào một hợp đồng ba bên Nó trở thành đại diện cho cả người đầu tư trong nhóm và cho những người mượn tiền Tương
tự, khi một ngân hàng nâng cao sự tín nhiệm của một người phát hành trái phiếu, nó gánh chịu sự đại diện bắt buộc với người năm giữ trái phiếu (bondholder) và trở thành người đại diện cho người phát hành
Nguồn vốn được tạo từ những cổ đông được trút vào một hệ thống mang nghĩa vụ trung gian của ngân hàng vì lý do hệ thống đó rộng lớn hơn là chỉ để được che chở bởi bảo hiểm tiền gửi chính phủ Nhưng sự bảo đảm tiềm ẩn theo phỏng đoán của chính phủ mang đến sự sung sướng không trực tiếp của phần lớn những nghĩa vụ hợp đồng của những ngân hàng được bảo hiểm Giá trị của những tổ chức được bảo hiểm theo phỏng đoán của tăng lên với sự quan trọng của nó trong vùng và nền kinh tế quốc gia và với sự ảnh hưởng chính trị Đó là vì sao những chính phủ có những động lực mạnh mẽ để làm chậm lại những luật lệ hoặc đóng của những ngân hàng quan trọng Những nỗ lực hiệu quả trong một ngân hàng nhằm để làm sai lệch những hoạt động kỷ luật cho phép những bên đối tác của ngân hàng trông chờ việc có thời gian để loại bỏ những chi phí thấp trong những vị trí không được bảo hiểm trong một ngân hàng có vấn đề
Trang 26Trong nghiên cứu của Laeven và Levin, 2009, có đề cập đến những lý thuyết về sự ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu liên quan đến mức độ chấp nhận rủi ro của tổ chức kinh tế đặc biệt là ngân hàng
Lý thuyết 1:
Đầu tiên, những người chủ đa đạng (còn gọi những người chủ mà không có cổ phần lớn đầu tư trong ngân hàng) có xu hướng tán thành nhiều sự chấp nhận rủi ro cho ngân hàng hơn những người giữ nợ và những giám đốc mà không có cổ phần trong ngân hàng Khi nắm giữ ít cổ phần, những người chủ đa dạng sẽ có động lực để gia tăng rủi ro cho ngân hàng sau khi nhận được nguồn vốn từ bondholders và người gửi tiền (Galai and Masulis, 1976; and Esty, 1998) Tương tự, những giám đốc có kỹ năng quản lý ngồn vốn ngân hàng và lợi ích cá nhân từ sự kiểm soát có xu hướng chấp nhận ít rủi ro hơn những cổ đông không có những kỹ năng đó và không có lợi ích đó (Jensen and Meckling, 1976; Demsetz and Lehn, 1985; and Kane, 1985) Từ quan điểm trên, ngân hàng với 1 cấu trúc
sở hữu trao quyền cho những người chủ đa dạng sẽ có nhiều rủi ro hơn những ngân hàng
có những người chủ nắm quyền chính yếu với nhiều cổ phần hơn
Lý thuyết 2:
Thứ hai, lý thuyết tiên đoán rằng những nguyên tắc ( ví dụ như Basel, quy định vốn điều
lệ tối thiểu,…) ảnh hưởng đến động cơ chấp nhận rủi ro của những người chủ đa dạng khác với những người nắm nợ hoặc những giám đốc mà không nắm giữ cổ phần Ví dụ, bảo hiểm tiền gửi làm tăng thêm khả năng và động cơ của những cổ đông gia tăng rủi ro) (Merton, 1977; and 4 Keeley, 1990).Sự thúc đẩu của sự chấp nhận rủi ro lớn hơn được tạo ra bởi bảo hiểm tiền gửi được vận hành bởi những người sở hữu không nhất thiết phải
là những giám đốc không nắm cổ phần Ví dụ thứ hai, những quy định về vốn Một mục tiêu của những quy định về vốn là để giảm thiểu những động cơ chấp nhận rủi ro của những người chủ bằng cách bắt buộc người chủ phải đặt nhiều hơn tài sản cá nhân của họ vào ngân hàng khi chấp nhận rủi ro cao hơn nữa (Kim and Santomero, 1994)
Trang 27Đặc biệt là mặc dù những quy định về vốn có thể khiến ngân hàng tăng vốn, chúng có lẽ không thể bắt những nhà sở hữu chủ chốt đầu tư nhiều hơn tài sản vào ngân hàng Hơn nữa, những quy định về vốn có thể làm gia tăng mức độ chấp nhận rủi ro Người chủ có thể trả giá bằng việc mất đi sự hài lòng từ sự cần vốn nghiêm ngặt hơn bằng cách chọn những danh mục đầu tư rủi ro hơn (Koehn and Santomero, 1980, and Buser, Chen, and Kane, 1981) Điều này làm tăng lên sự xung đột giữa người chủ sở hữu và người giám đốc thông qua vấn đề chấp nhận rủi ro Ví dụ cuối cùng, nhiều nước nỗ lực giảm đi rủi ro ngân hàng bằng cách giới hạn các ngân hàng những hoạt động không phải vay mượn ví
dụ như chứng khoán hay là bảo lãnh (Boyd et al., 1998) Với sự cần thiết về vốn, tuy nhiên những hành vi bị cấm đoán có thể làm giảm sự hài lòng của chủ ngân hàng, làm tăng lên động lực chấp nhận rủi ro của người chủ sở hữu ảnh hưởng người quản lý Vì thế, sự ảnh hưởng của những quy định về rui ro phụ thuộc vào những ảnh hưởng của người chủ sở hữu với cơ cấu quản trị của từng ngân hàng
Lý thuyết 3:
Thứ 3, trong khi lý thuyết ngân hàng cho rằng những quy định ngân hàng ảnh hưởng đến động lực chấp nhận rủi ro của người chủ sở hữu khác với động lực chấp nhận rủi ro của người quản lý, lý thuyết về quản trị doanh nghiệp cho rằng cơ cấu sở hữu ảnh hưởng đến khả năng của những người chủ sở hữu trong việc tác động đến rủi ro (Jensen and Meckling, 1976)
Được tranh luận bởi Shleifer and Vishny (1986), những người chủ sở hữu với quyền biểu quyết và dòng tiền lớn hơn thì đồng nghĩa với việc có nhiều quyền lực hơn và động lực
để hình thành sự những hành động của doanh nghiệp hơn là những người chủ nhỏ Từ quan điểm này, cơ cấu sở hữu ảnh hưởng đến khả năng của những chủ sở hữu để thay đổi rủi ro ngân hàng đáp ứng với sự thay đổi của tiêu chuẩn rủi ro được tạo ra bởi những quy định chính thức (Boyd and 5 Hakenes, 2008)
Trang 281.3 CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA BẢO
HIỂM TIỀN GỬI, CƠ CẤU SỞ HỮU ĐẾN SỰ CHẤP NHẬN RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG
Chủ đề về hành vi chấp nhận rủi ro đã đón nhận được sự quan tâm lớn trong nền kinh tế cũng như các học giả tài chính Về mặt lý thuyết, các ngân hàng là các tổ chức duy nhất
mà một trong những hoạt động chính của nó là huy động các nguồn vốn ngắn hạn từ người gửi tiền và đem cho vay dài hạn, do đó làm cho các ngân hàng dễ bị tổn thương trong việc điều hành hoạt động chính ( Diamond và Dybvig, 1983) Bảo hiểm tiền gửi ra đời được thiết kế như một phần của sự sắp xếp mạng lưới an toàn tài chính nâng cao sự
ổn định hệ thống ngân hàng, bảo vệ người gửi tiền, và thúc đẩy niềm tin cộng đồng (BCBS và IADI, 2009) Có rất nhiều giả thuyết cũng như những bài nghiên cứu đề cập đến mối quan hệ của 3 nhân tố khả năng chấp nhận rủi ro của ngân hàng, cơ cấu sở hữu
và bảo hiểm tiền gửi
Bảng 1: Thống kê các nghiên cứu về mối quan hệ của phạm vi bảo hiểm tiền gửi, cơ cấu
sở hữu đến sự chấp nhận rủi ro của ngân hàng
Kể từ khi bảo hiểm tiền gửi được áp dụng, nó đã giới hạn các rủi ro xấu cho các ngân hàng, điều này
có thể mở màn cho việc các ngân hàng chiếm đoạt
từ chính phủ hoặc các đối tượng nộp thuế bằng cách tăng rủi ro tài sản của họ, tạo ra một vấn đề về rủi ro đạo đức
Trang 29regression
Họ cho rằng bảo hiểm tiền gửi rõ ràng có hại cho sự
ổn định của hệ thống ngân hàng nhất là khi lãi suất ngân hàng không được kiểm soát và môi trường thể chế yếu kém Và những ảnh hưởng sẽ trở nên tệ hại hơn nếu như tỷ lệ chi trả cho bảo hiểm tiền gửi cao hơn, chương trình bảo hiểm được đóng quỹ và hệ thống bảo hiểm được dẫn dắt bởi chính phủ nhiều hơn là các bộ phận tư nhân
Laeven và
Levine
(2009)
Sử dụng nghiên cứu định lượng cho 250 ngân hàng tư nhân trên 48 nước trên toàn thế giới từ năm
1996 đến 2001
Mô hình nghiên cứu: OLS: fixed effect
Nghiên cứu có tầm ảnh hưởng đầu tiên của hiệu ứng tương tác giữa cơ cấu sở hữu của ngân hàng cụ thể
và các quy định trong việc hình thành rủi ro ngân hàng là Laeven và Levine (2009) Họ khẳng định rằng tác động của các quy định ngân hàng về rủi ro ngân hàng phụ thuộc vào hình thức sở hữu của từng ngân hàng Họ nhận ra rằng các ngân hàng có tập trung quyền sở hữu hơn thì có xu hướng có hành vi chấp nhận rủi ro cao hơn Hơn nữa, họ thấy rằng các ngân hàng mà họ đưa ra có chủ sở hữu vốn chủ sở hữu lớn, sự hiện diện của bảo hiểm tiền gửi công khai có liên quan đến việc gặp rủi ro cao hơn Tuy nhiên, họ không kiểm tra các đề án cụ thể của bảo hiểm tiền gửi, chẳng hạn như giới hạn phạm vi bảo hiểm và hệ thống phí bảo hiểm, có thể ảnh hưởng như thế nào đến hành vi gặp rủi ro ngân hàng
từ năm 1960 đến
Cho thấy một tỷ lệ phí bảo hiểm tiền gửi ngang bằng không cung cấp động lực để giảm bớt vấn đề rủi ro đạo đức gây ra bởi sự gặp rủi ro ngân hàng quá mức Do đó, chúng ta có thể hy vọng rằng dưới
Trang 302003, mẫu định dạng historical time series
chế độ tỷ lệ phí bảo hiểm ngang bằng, sự gặp rủi ro ngân hàng sẽ thay đổi khi chính phủ làm thay đổi phạm vi bảo hiểm tiền gửi
Angkinand
và Wihlborg
,2010
Nghiên cứu định lượng, dữ liệu panel data cho hơn 100 quốc gia trên toàn thế giới trong thời gian 1997 đến năm
Phần mềm: Stata
Tập trung vào phạm vi bảo hiểm tiền gửi, theo Angkinand và Wihlborg (2010) thấy rằng giới hạn bảo hiểm quá cao hoặc quá thấp có liên quan với hành vi gặp rủi ro cao hơn Hơn nữa, họ thừa nhận rằng mối quan hệ giữa bảo hiểm tiền gửi và việc gặp rủi ro ngân hàng bị ảnh hưởng bởi chất lượng quản trị ngân hàng Theo Angkinand và Wihlborg,
2010, nếu phạm vi bảo hiểm tiền gửi là quá thấp, chính phủ có thể bắt buộc phải bảo lãnh cho các ngân hàng khi có khủng hoảng hệ thống bởi vì phạm vi bảo hiểm không đủ để giữ niềm tin của người gửi tiền Mặt khác, nếu phạm vi bảo hiểm tiền gửi là quá cao, nghĩa là chính phủ gánh chịu các rủi ro thua lỗ cao hơn của các ngân hàng, điều này
có thể làm tăng động lực tước quyền sở hữu tài sản
từ chính phủ hoặc các đối tượng nộp thuế khi các ngân hàng hy vọng rằng chính phủ ngay lập tức sẽ cung cấp trở lại và giúp đỡ họ nếu một cuộc khủng hoảng hệ thống xảy ra
sẽ làm giảm số lượng người gửi tiền không được bảo hiểm và do đó nó có thể làm giảm các nguyên
Trang 31Cho rằng sự chấp nhận rủi ro quá mức liên quan đến quản trị doanh nghiệp vì sự quản trị có thể đặc biệt yếu do sự đa dạng của các bên liên quan (người gửi tiền được bảo hiểm và không có bảo hiểm, công ty bảo hiểm tiền gửi, chủ sở hữu trái phiếu, nợ trực thuộc cổ đông và sở hữu chứng khoán lai), và sự phức tạp của các ngân hàng hoạt động Hơn nữa, rủi
ro đạo đức được tạo ra bởi tình hình quá lớn để thất bại có thể dẫn bảng để khuyến khích chấp nhận rủi
ro khi họ biết rằng thiệt hại lớn sẽ được thanh toán phần lớn là do người nộp thuế chứ không phải là các bên liên quan
Herman
Saheruddin,
2013
Nghiên cứu định lượng, dữ liệu panel data cho 145 ngân hàng tại Indonesia trong thời gian 2002 đến năm 2010
Tác giả sử dụng ba biện pháp đo lường cho bank-risk taking behavior: tỷ
lệ nợ xấu trên vốn ngân hàng, độ lệch chuẩn của nợ xấu liên quan đến vốn ngân hàng, và biến
Herman kết luận với trường hợp của Indonesia là tìm thấy bằng chứng mạnh mẽ và có ý nghĩa về mối quan hệ giữa mức độ rủi ro ngân hàng và phạm vi bảo hiểm tiền gửi là phi tuyến tính Mức độ rủi ro ngân hàng sẽ cao hơn khi phạm vi bảo hiểm tiền gửi hoặc quá thấp hoặc quá cao Không có bằng chứng đáng kể thể hiện mức độ sở hữu trực tiếp của gia đình làm tăng rủi ro ngân hàng Điều thú vị là, có một số bằng chứng quan trọng thể hiện rằng nếu các
cổ đông lớn thứ hai là các gia đình, chính quyền địa phương và chính quyền trung ương thì sẽ làm giảm mức độ rủi ro ngân hàng Hơn nữa, có bằng chứng yếu thể hiện rằng nếu cổ đông lớn nhất đầu tiên là các cổ đông nước ngoài có khả năng sẽ làm giảm Z-score (mức độ rủi ro cao hơn), đồng thời cũng có
Trang 32thời gian Z-core
Phương pháp nghiên cứu Kết quả nghiên cứu
sẽ mang đến ít rủi ro hơn Bài nghiên cứu nhấn mạnh đến đối tượng là các nước đang phát triển
1995
Mô hình ứng dụng: OLS regression
Cho rằng sự hiện diện của hình thức sở hữu nước ngoài trong các ngân hàng có
xu hướng được liên kết với hiệu suất tốt hơn
Bài nghiên cứu này cũng nhấn mạnh đến đối tượng là các nước đang phát triển
Bằng cách sử dụng mẫu của ngân hàng thương mại châu Âu , Iannotta , Nocera , và Sironi (2007) đã cho thấy rằng các ngân hàng thuộc sở hữu của
Trang 33chính phủ có xu hướng có chất lượng cho vay nghèo và nguy cơ phá sản cao hơn so với các loại khác của các ngân hàng
Morck, Yavuz,
và Yeung, 2011
Nghiên cứu định lượng sử dụng mẫu bao gồm các ngân hàng có chủ sở hữu là những ông trùm tư bản hay những gia đình
Mô hình: OLS regression
Sử dụng mẫu của các ngân hàng châu
Âu cho thấy rằng hệ thống ngân hàng được kiểm soát triệt để các ông trùm tư bản hoặc gia đình có hiệu quả kém trong việc phân bổ vốn, tăng trưởng kinh tế chậm lại và bất ổn tài chính lớn hơn và bao hàm cả việc chấp nhận rủi
ro trong hệ thống ngân hàng
Iannotta, Nocera
, và Sironi, 2013
Sử dụng nghiên cứu định lượng trên mẫu cross country data của 210 ngân hàng của 16 nước Tây Âu,
sợ hữu của chính phủ có thể phục vụ mục tiêu chính trị nhất định
Hossain, Jain, và
Mitra, 2013
Nghiên cứu định lượng các ngân hàng ở khu vực Châu
Á – Thái Bình Dương trong những giai đoạn bình thường
Họ nhận ra rằng các ngân hàng sở hữu nhà nước một phần, đặc biệt trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, sẽ giúp tránh giảm mạnh trong thời gian
Trang 34và những giai đoạn xảy ra khủng hoảng
Mô hình: OLS regression
khủng hoảng tài chính bằng cách hạn chế rủi ro hoạt động kinh doanh
2 THỰC TRẠNG VỀ NGÀNH NGÂN HÀNG, SỰ CHẤP NHẬN RỦI RO, PHẠM VI BẢO HIỂM TIỀN GỬI VÀ CƠ CẤU SỞ HỮU
2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
2.1.1 TÌNH HÌNH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
2.1.1.1 KHÁI NIỆM VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
Luật các tổ chức tín dụng: NHTM là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy
định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật (Nghị định số
59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM)
Theo Luật Ngân hàng nhà nước: Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để
cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán
Từ đó có thể nói bản chất của ngân hàng thương mại được thể hiện qua các điểm sau:
Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế
Ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng
Trang 35Bảng 3: Phân biệt NHTM và TCTD phi ngân hàng
- Là tổ chức không nhận tiền gửi (nondeposit institution)
- Không cung cấp dịch vụ thanh toán
2.1.1.3 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM
2.1.1.3.1 Quá trình phát triển
Thời kỳ 1945-1954, sự ra đời của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ngày 6/5/1951 là bước ngoặt lịch sử trong quá trình phát triển hệ thống tiền tệ - Ngân hàng Việt Nam Hoạt động của Ngân hàng Quốc gia trong thời kỳ này đã góp phần rất quan trọng củng cố hệ thống tiền tệ độc lập, tự chủ của đất nước, phát triển sản xuất, lưu thông hàng hóa, tăng cường lực lượng kinh tế quốc doanh, phục vụ cuộc kháng chiến chống Pháp
Ngày 26/3/1988, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ký Nghị định 53 hình thành hệ thống Ngân hàng hai cấp bao gôm Cấp ngân hàng quản lý là Ngân hàng Nhà nước thực thi nhiệm vụ Quản lý nhà nước về lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng và cấp Kinh doanh đó là các tổ chức tín dụng ngân hàng và tổ chức tín dụng phi ngân hàng thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ
Năm 1997, Quốc hội khóa X thông qua Luật ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các
tổ chức Tín dụng (2/12/1997) và có hiệu thực thi hành từ ngày 1/10/1998
Tháng 4/2007, NHNN Việt Nam cho phép sự hiện diện thương mại của các tổ chức tài chính nước ngoài ở Việt Nam với hình thức NH100% vốn nước ngoài Cải cách hệ thống ngân hàng năm 1990 đã xoá bỏ được tính chất độc quyền nhà nước, góp phần đa dạng
Trang 36hoá hoạt động ngân hàng vềmặt hình thức sở hữu cũng như về số lượng ngân hàng Cụ thể, số lượng NH TMCP đã tăng lên nhanh chóng
Từ năm 1991-1993, số lượng NH TMCP nhảy vọt từ 4 lên 41 và đạt đỉnh điểm là 51 vào năm 1997 Sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ1997, một số NHTMCP do kinh doanh không hiệu quả, bị phá sản hoặc rút giấy phép hoạt động nên con sốnày đã giảm Đến giai đoạn 2000 – 2007, đây là giai đoạn các NHTMCP đẩy mạnh tiến trình tái cơ cấu lại toàn diện hệ thống ngân hàng nhằm củng cố và phát triển theo hướng tăng cường năng lực quản lý về tài chính, đồng thời giải thể, sáp nhập, hợp nhất hoặc bán lại các NHTMCP yếu kém về hiệu quảkinh doanh Thời số lượng các NHTMCP đã giảm xuống đôi chút so với những năm cuối của thập kỷ 1990 Ngoài ra, số lượng các chi nhánh và đại diện của các ngân hàng nước ngoài có xu hướng gia tăng trong giai đoạn này theo các cam kết đã
ký, trước hết là hiệp định thương mại Việt - Mỹ, hiệp định khung về thương mại dịch vụ (AFAS) của ASEAN Kết quảlà tỷtrọng về số lượng NHTMCP giảm xuống so với toàn
hệ thống ngân hàng thương mại, từ đỉnh cao 73% ở năm 1993 xuống còn 40% vào năm
2007 Đến năm 2008 và 2009, do hai ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN) là ngân hàng Ngoại thương và ngân hàng Công thương lần lượt chuyển đổi sang hình thức cổphần nên tỷ lệ này đã tăng lên chiếm khoảng 42% năm 2008 và 43% năm 2009 so với toàn ngành
Hình 1: Chi tiết cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam qua các năm
Trang 37Nguồn: Báo cáo thường niên Ngân hàng Nhà nước (2010)
2.1.1.3.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Hiện nay được ngân hàng Việt Nam chia thành 5 loại dựa theo danh tính của chủ sở hữu:
Ngân hàng thương mại Nhà nước (State owned Commercial bank):
Là ngân hàng thương mại được thành lập bằng vốn ngân sách nhà nước, thuộc sở hữu của nhà nước có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam Trong tình hình hiện nay để tăng nguồn vốn và phù hợp với xu thế hội nhập tài chính với thế giới các ngân hàng thương mại quốc doanh Việt Nam đang phát hành trái phiếu để huy động vốn; đã và đang
cổ phần hóa để tăng sức cạnh tranh với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các ngân hàng cổ phần hiện nay.Thuộc loại này gồm:
- Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (Bank for Agriculture and Rural Development)
- Ngân hàng Công Thương Việt nam (Industrial and Commercial Bank of Viet Nam – ICBV) gọi tắt là Vietinbank ) đã cổ phần hoá
- Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (Bank for Investement and Development of Viet Nam – BIDV) đã cổ phần hóa
- Ngân hàng ngoại thương Việt Nam (Bank for Foreign Trade of Viet Nam – Vietcombank) đã cổ phần hoá
- Ngân hàng phát triền nhà đồng bằng sông Cửu Long (Housing Bank of Mekong Delta) đã cổ phần hóa
Hiện nay, vào năm 2013, thì chỉ có ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là ngân hàng 100% vốn nhà nước và ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long là
có vốn nhà nước trên 97%
Ngân hàng thương mại cổ phần (Joint Stock Commercial bank):
Trang 38Là ngân hàng thương mại được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần Trong đó một
cá nhân hay pháp nhân chỉ được sở hữu một số cổ phần nhất định theo qui định của ngân hàng nhà nước Việt nam
Ngân hàng liên doanh (thuộc loại hình tổ chức tín dụng liên doanh)
Là Ngân hàng được thành lập bằng vốn liên doanh giữa một bên là ngân hàng thương mại Việt Nam và bên khác là ngân hàng thương mại nước ngoài có trụ sở đặt tại Việt Nam, hoạt động theo pháp luật ở Việt Nam, có tư cách pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính ở Việt Nam Mô hình hoạt động là công ty trách nhiệm hữu hạn
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài:
Là ngân hàng được thành lập theo pháp luật nước ngoài, được phép mở chi nhánh tại Việt Nam, hoạt động theo pháp luật Việt Nam
Là NHTM được thành lập tại VN với 100% vốn điều lệ thuộc sở hữu nước ngoài; trong
đó phải có một NH nước ngoài sở hữu trên 50% vốn điều lệ (NH mẹ) NHTM 100% vốn nước ngoài được thành lập dưới hình thức công ty TNHH một thành viên hoặc từ hai thành viên trở lên, là pháp nhân VN, có trụ sở chính tại VN
- NH TNHH một thành viên ANZ
Trang 39- NH TNHH một thành viên Standard Chartered
Bảng 4: Thực trạng vốn điều lệ của các Ngân hàng thương mại cổ phần, Ngân
hàng liên doanh đến thời điểm 30/5/2007:
Số lượng/ Mức VĐL Trên 1.000 tỷ Dưới 1.000 tỷ Tổng số
Nguồn: Bản tin số 21 BHTG, www.div.org.vn
Bên cạnh đó, tổng tài sản của hệ thống ngân hàng ngày càng tăng cao
Hình 2: Tổng tài sản của hệ thống ngân hàng vào cuối các năm 2010-2013, đơn vị tính:
Trang 40Nguồn: SBV/BizLIVE
Đáng chú ý, theo số liệu thống kê của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), trong năm 2013 tổng tài sản của hệ thống ngân hàng vẫn tăng mạnh và đạt mức cao nhất kể từ ngày cơ quan này công bố số liệu thống kê vào tháng 4/2012.Cụ thể, đến 31/12/2013, tổng tài sản của hệ thống ngân hàng đạt 5.755,87 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 670 nghìn tỷ đồng so với cuối 2012