Chính vì vậy mà GV cần phải điều chỉnh lại một số nội dung của SGK để làm cho mỗi HĐ cũng như mỗi đơn vị bài học phù hợp và thú vị hơn đối với người học.. Trong các nguyên nhân làm cho H
Trang 1A: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Mặc dù sách Tiếng Anh 11 mới thay đổi rất nhiều so với Tiếng Anh 11 cũ, tuy nhiên không phải tất cả các hoạt động (activities) hoặc các tasks phù hợp đối với học sinh (HS) lớp 11 ở từng môi trường điều kiện dạy – học khác nhau ở Việt Nam hiện nay
Sau vài năm dạy Tiếng Anh 11 mới tại trường THPT Tĩnh Gia 2, tôi nhận thấy rằng có một số hoạt động (HĐ) trong sách Tiếng Anh 11 quá khó đối với
HS, một số HĐ chưa thật sự mang tính giao tiếp hoặc quá dài so với mặt bằng chung HS
Giáo viên chưa mạnh dạn đổi mới hoặc áp dụng phương pháp dạy học mới Qua khảo sát ở một số trường THPT, rất nhiều giáo viên (GV) cho rằng bộ sách giáo khoa (SGK) mới đã được biên soạn theo đường hướng giao tiếp – lấy
HS làm trung tâm nên cứ theo SGK mà dạy nên không cần phải điều chỉnh nội dung sách
Trên đây là những nguyên nhân làm cho HS không có nhiều hứng thú tham gia trong các giờ học tiếng Anh tại trường THPT Tĩnh Gia 2 Chính vì vậy mà
GV cần phải điều chỉnh lại một số nội dung của SGK để làm cho mỗi HĐ cũng như mỗi đơn vị bài học phù hợp và thú vị hơn đối với người học Để làm được điều này, GV cần đánh giá mỗi đơn vị bài học để xem vấn đề ở đây là gì và sau
đó tìm ra cách để điều chỉnh nó cho phù hợp Nhiều cách mà GV có thể làm để nâng cao chất lượng mỗi đơn vị bài học, chẳng hạn như phát triển thêm tài liệu bài tập hỗ trợ từ những nguồn tài liệu khác nhau, đổi mới thủ thuật tiến trình dạy mỗi đơn vị bài học, thiết kế các HĐ khác nhau có thể gây hứng thú cho người học
Trong các nguyên nhân làm cho HS không có hứng thú tham gia trong các giờ học nói kể trên, tôi nhận thấy rằng nguyên nhân chưa điều chỉnh một số HĐ
Trang 2phần SPEAKING cho phù hợp với đối tượng HS trường THPT Tĩnh Gia 2 là cần thiết
2 Mục đích của đề tài.
Điều chỉnh một số HĐ phần SPEAKING – sách TIẾNG ANH 11
(Chương trình chuẩn) nhằm tăng cường sự tham gia của HS trong giờ học nói
Đề tài này nhằm mục đích nghiên cứu lý do tại sao GV nên điều chỉnh
một số HĐ nói trong sách TIẾNG ANH 11 cho phù hợp với đối tượng học và xác định hiệu quả của các HĐ đã được điều chỉnh nhằm tăng cường sự tham gia của HS trong các giờ học nói tại trường THPT Tĩnh Gia 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Vì hạn chế về thời gian và độ dài của sáng kiến kinh nghiệm nên đề tài chỉ tập trung vào việc điều chỉnh một số HĐ phần SPEAKING của 3 đơn vị bài học trong sách TIẾNG ANH 11 và được thực nghiệm (TN) ở một số lớp trong học kỳ 2 năm học 2012 - 2013 tại trường THPT Tĩnh Gia 2 Mẫu nghiên cứu là
3 GV và 86 HS ( từ hai lớp 11 A10 và 11 A11) tại trường THPT Tĩnh Gia 2
4 Phương pháp nghiên cứu.
Tác giả sử dụng một số phương pháp như:
Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Sử dụng phiếu điều tra, quan sát
- Phân tích chương trình, nội dung kiến thức trong SGK tiếng Anh 11
Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Tiến hành TN dạy học ở 2 nhóm (lớp TN và ĐC) để đánh giá tính hiệu quả, tính khả thi của việc điều chỉnh một số HĐ trong sách TIẾNG ANH 11 nhằm tăng cường sự tham gia của HS trong các giờ học nói tại trường THPT Tĩnh Gia 2
Kết hợp nhiều phương pháp hỗ trợ khác
Trang 3B: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
I.1 Định nghĩa về điều chỉnh (Adaptation)
Nhiều học giả đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về điều chỉnh Madsen
và Bowen (1978 trang ix) đã cho rằng điều chỉnh là hành động sử dụng "Một hoặc hơn một số thủ thuật: bổ sung, mở rộng, cá nhân hóa, đơn giản hóa, hiện đại hóa, khu biệt, hoặc chỉnh sửa nội dung có tính văn hóa / tình huống" Ellis,
M (1986 trang 47) lại cho rằng điều chỉnh là quá trình "giữ lại, loại bỏ, sắp xếp lại và sửa đổi" và Tomlinson (1998b: xi) đề cập đến điều chỉnh như là "giảm thiểu, thêm, bỏ, sửa đổi, và bổ sung"
I.2 Mục đích của điều chỉnh
Thực tế có nhiều lý do để điều chỉnh các giáo trình nhằm làm cho người học
dễ dàng tiếp cận với chúng Tuy nhiên, có hai mục đích để điều chỉnh thường
được trích dẫn nhiều nhất đó là:
1 để cho giáo giáo trình phù hợp hơn đối với hoàn cảnh mà giáo trình đó đang được sử dụng Mc Donough và Shaw (1993 trang 85) cho rằng mục đích của điều chỉnh nhằm làm tăng sự phù hợp của giáo trình dạy học trong từng hoàn cảnh bằng việc thay đổi một số đặc trưng bên trong của một cuốn sách để phù hợp với hoàn cảnh cụ thể hơn
2 để bù chỉnh khuyết điểm bên trong đối với giáo trình chẳng hạn không chính xác về ngôn ngữ, không cập nhật, thiếu tính thiết thực như Madsen và Bowen (1978) đã đề cập hoặc thiếu tính đa dạng
Nghiên cứu kỹ định nghĩa của McDonough và Shaw ta thấy rằng tối đa sự phù hợp của giáo trình dạy học là quan trọng vì nó khuyến khích và tăng sự
Trang 4hứng thú cho HS làm cho không khí lớp học sôi động hơn Thực tế khi GV thay đổi một giáo trình để phù hợp với mục đích cụ thể Những gì GV thực sự đang
cố gắng làm là tăng cường sự tham gia của HS nhằm nâng cao chất lượng kinh nghiệm học
I.3 Thủ thuật để điều chỉnh
Sau khi nhận thấy sự khiếm khuyết giữa giáo trình dạy học đã được xuất bản
và nhu cầu cũng như mục tiêu của lớp học, GV phải chú ý đến tính thực tế của việc điều chỉnh giáo trình nhằm làm cho mục tiêu giờ học thiết thực hơn Mc Donough và Shaw (1993) và Cunningsworth (1995) đưa ra một loạt thủ thuật có thể được sử dụng khi điều chỉnh giáo trình tốt hơn để phù hợp với một tiết học
cụ thể Đó là:
Bổ sung: mở rộng và phát triển
Loại bỏ: loại trừ và rút ngắn lại
Đơn giản hóa
Sắp xếp lại
Thay thế giáo trình cũ
I.4 Các cấp độ điều chỉnh
Điều chỉnh SGK có thể thực ở 3 cấp độ: Điều chỉnh ở cấp độ vĩ mô, điều chỉnh ở một đơn vị bài học và điều chỉnh các hoạt động cụ thể
Tóm lại, theo tôi điều chỉnh một số HĐ SGK TIẾNG ANH 11 để chúng mang tính giao tiếp, phù hợp hơn đối với khả năng HS trường THPT Tĩnh gia 2 Giảm tải và điều chỉnh là những thủ thuật điều chỉnh phổ biến được sử dụng trong sáng kiến kinh nghiệm này
Trang 5CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ II.1 Giới thiệu chung về bối cảnh của trường THPT Tĩnh Gia 2
Phần lớn HS đến từ vùng nông thôn của huyện Tĩnh Gia Mặc dù hầu hết
HS nhận thức được tầm quan trọng của việc học tiếng Anh nhưng nó không được chú ý đến nhiều Rất ít HS chọn Tiếng Anh là môn thi đại học
Dạy tiếng Anh, đặc biệt là dạy kỹ năng nói GV gặp phải một số khó khăn Thứ nhất là lớp đông Có khoảng 46 HS trên một lớp Thật là khó để cho GV tạo các HĐ mang tính giao tiếp, quản lý lớp cũng như đưa ra phản hồi Thứ hai là hầu hết HS không quen với việc dạy bằng Tiếng Anh Chúng không thể hiểu nếu
GV luôn nói bằng tiếng Anh Cuối cùng là thiếu tài liệu học, tài liệu tham khảo
và tính tự học của HS không có Không có thư viện dành cho HS Hơn thế, cơ sở vật chất cần thiết dành cho môn tiếng Anh chưa đủ như máy tính, cassette, projector v.v…
HS thường có 3 tiết/ tuần Hạn chế về thời gian dành cho HS thực hành và phát triển các kỹ năng cũng như làm giàu vốn từ vựng và khả năng học cấu trúc Hơn nữa, tiếng Anh hầu như ít khi được sử dụng ở ngoài lớp học Đây là những yếu tố gây ảnh hưởng tới kết quả học tiếng Anh đặc biệt là kỹ năng nói
II.2 Giới thiệu khái quát qui trình tiến hành thu thập dữ liệu
Đầu tiên, 3 GV tiếng Anh khác quan sát 3 bài học ở 2 lớp để biết mức độ tham gia của HS trước khi TN Sau đó phát phiếu điều tra cho HS của 2 lớp để biết được thái độ và nhận xét đánh giá của HS đối với HĐ nói và những yếu tố ảnh hưởng tới sự tham gia của HS trong giờ học nói
Sau khi thu thập thông tin từ sự quan sát, phiếu khảo sát điều tra HS, tác giả đã giảng dạy 2 nhóm cùng 3 bài giống nhau Đối với nhóm ĐC 3 bài được tiến hành dạy theo đúng trình thự các HĐ của SGK Đối với nhóm TN, các bài nói được áp dụng dạy theo các HĐ đã được điều chỉnh Trong suốt quá trình TN,
Trang 63 GV tiếng Anh khác quan sát và đo thời gian tham gia nói của HS ở 2 nhóm để thu thập dữ liệu
CHƯƠNG III: BIỆN PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN
III.1 Kết quả trước khi thực nghiệm - quan sát
Trước khi TN, 3 GV tiếng Anh khác quan sát 3 tiết phần SPEAKING ở 2 lớp Trong thời gian quan sát, họ đã tính thời gian tham gia nói của 2 lớp Cả 3 tiết, tác giả đã dạy theo tiến trình các HĐ giống như SGK Kết quả TN có thể được minh họa sau:
Bảng1: STT và TTT cảu nhóm ĐC và nhóm TN trước khi TN.
Nhóm ĐC (11A10-43 HS) Nhóm TN (11A11-43 HS)
TTT: Teacher talking time(Thời gian tham gia nói của GV)
STT: Student talking time(Thời gian tham gia nói của HS)
Từ 3 bài học, rõ ràng nhìn thấy rằng mức độ tham gia vào HĐ nói của 2 lớp tại trường THPT Tĩnh Gia 2 hầu như giống nhau và khá thấp
Trong suốt thời gian quan sát, tác giả cũng nhận thấy thậm chí đã cung cấp những hướng dẫn và cấu trúc cần thiết khi HS được yêu cầu làm việc theo nhóm hay theo cặp, nhưng rất ít làm việc một cách nghiêm túc Thực tế, mỗi HS tham gia nói chỉ kéo dài chỉ vài phút sau đó chúng cố gắng làm cái gì khác thay
vì tập trung vào công việc
GV đã có khuynh hướng chi phối lớp học GV đã nói nhiều về sự lo lắng của HS không biết nói như thế nào và cố gắng yêu cầu HS tham gia nói Hơn thế, GV đã lo không hoàn thành dạy các HĐ đúng giờ Tại trường THPT nếu 1 tiết GV không thể hoàn thành các HĐ đúng giờ thì họ sẽ bị đánh giá là giáo viên chưa giỏi Nhận thức được tầm quan trọng của việc điều chỉnh các HĐ trong SGK nhằm làm cho phù hợp với trình độ và sở thích của HS để tăng cường sự tham gia của HS thì GV nên thực hiện
Trang 7Tóm lại, sự tham gia của HS trong HĐ nói là rất kém Vì vậy đã đến lúc
GV phải tìm ra các thủ thuật dạy học nhằm tăng cường sự tham gia của HS Tuy nhiên, để có thủ thuật dạy học phù hợp, GV phải hiểu lý do tại sao sự tham gia vào HĐ nói của HS lại thấp
III.2 Kết quả từ phiếu điều tra của HS
III.2.1 Sự tham gia của HS trong giờ nói:
Bảng2: Sự tham gia của HS trong giờ nói.
1 How often do you speak English in English class time?
d never except when not being asked by
the teacher
7%
Có nhiều lý do khác nhau làm cho HS ngại nói trong giờ nói tiếng Anh
Bảng 3: Yếu tố cản trở sự tham gia của HS trong giờ học nói
2 What prevent you from speaking in the English speaking class?
b Speaking activities are difficult 67%
c Speaking activities are not various 56%
d I don’t like the teacher so I don’t want to speak 20%
e Being not accustomed to speaking 41%
Nhìn vào bảng, ta thấy có một vài yếu tố chính làm cho HS ngại nói trong giờ nói 67% HS nói rằng nguyên nhân có ảnh hưởng nhất là HĐ nói Yêu cầu quá xa so vói trình độ thực tế của HS Chúng không có đủ từ và cấu trúc để diễn
tả những gì mà chúng muốn nói Chiếm tỉ lệ phần trăm cao thứ 2 mà HS thể hiện
là các HĐ trong SGK cũng làm cho chúng nhàm chán với việc nói tiếng Anh Gần 1 nửa (41%) chỉ ra rằng chúng không quen với việc nói tiếng Anh Lý do
có thể là cách học truyền thống chỉ tập trung vào việc nắm được quy tắc và từ vựng hơn là khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh và ảnh hưởng của kỳ thi viết cũng cản trở HS quen với việc nói tiếng Anh trong lớp Chiếm một tỉ lệ phần
Trang 8trăm nhỏ hơn (20%) không tham gia vào HĐ nói vì GV của họ không yêu cầu
và 13% thú nhận rằng chúng sợ mắc lỗi hay bị trêu chọc chế giễu
Tóm lại, có nhiều yếu tố khác nhau làm cho HS phải đối mặt Những yếu
tố này xuất phát từ phía HS, GV cũng như các HĐ nói Để nâng cao hiệu quả trong giờ nói, cần phải có những thay đổi giữa GV, HS và HĐ nói
III.2.2 Quan điểm của HS đối với kỹ năng nói trong sách TIẾNG ANH 11.
Bảng 4
3 In your opinion, are speaking activities in the textbook interesting?
b not very interesting 58%
90% HS nói rằng các HĐ nói trong SGK không thú vị Thực tế này đòi hỏi sự đầu tư của GV vào những HĐ thích hợp nhằm tăng cường sự tham gia của HS vào HĐ nói
III.2.3 Quan điểm của HS đối với cách GV dạy Speaking
Bảng 5
4 In what way does your teacher teaches speaking in Tieng Anh 11?
a The teacher always taught us activities in the textbook 0%
b The teacher usually changed, adapted activities in the
textbook
10%
c She/he sometimes adapted activities in the textbook 85%
d She/ he sometimes replaced textbook activities by
outside activities
5%
III.2.4 Quan điểm của HS về sự điều chỉnh của GV đối với HĐ nói
Bảng 6
5 Do you like your teachers’ adapted speaking activities?
a No, I don’t like I’d like her/ him to follow
all activities in the textbook
5%
b Yes, I like these adapted activities 95%
Trang 9Phần lớn HS đã nói rằng GV thỉnh thoảng thay đổi và điều chỉnh các HĐ trong SGK Hầu hết HS thích cách mà GV đã có tác động điều chỉnh tới những
HĐ trong SGK Khi được hỏi lý do tại sao thích những HĐ được sửa đổi thì HS nói rằng GV đã làm cho các HĐ trong SGK đễ hơn và mang tính giao tiếp hơn
và GV cũng chuẩn bị bài kỹ càng, thường ứng dụng trò chơi, bài hát trong giờ nói Điều này gây hứng thú cho HS rất nhiều
III.2.5 Đánh giá của HS đối với giờ học nói hiện nay
Bảng7
6.What do you think about your current speaking lessons?
a Boring Most of students don’t speak 74%
b Interesting Students speak a lot 12%
III.3 Kết quả sau khi quan sát TN
Nhóm ĐC và nhóm TN được dạy 3 bài với cùng nội dung kiến thức Đối với nhóm ĐC 3 bài được tiến hành dạy theo đúng các HĐ của SGK Đối với nhóm TN, các bài nói được áp dụng dạy theo các HĐ đã được điều chỉnh Trong suốt quá trình TN, tác giả và GV tiếng Anh khác quan sát 2 lớp một lần nữa để tìm ra những thay đổi sự tham gia của HS ở 2 nhóm và đo thời gian tham gia nói của HS ở 2 nhóm
III.3.1 Quan sát nhóm ĐC
Tôi đã sử dụng cùng phiếu quan sát lần 2 tại lớp 11A10 và kết quả có thể được tóm tắt như sau: Không có sự thay đổi trong cách dạy của GV, tất cả các
HĐ trong sách TIẾNG ANH 11 được giữ nguyên Kết quả thời gian HS và GV tham gia nói đều giống như lần quan sát trước khi TN Điều này được minh họa trong bảng sau:
Bảng8
Nhóm ĐC (số phút)
Sự im lặng 11 24%
Trang 10STT 15 33%
Sự im lặng 10 22%
III.3.2 Quan sát nhóm TN :
III.3.2.1 Điều chỉnh 1 (Adaptation 1):
Bài được điều chỉnh : Unit 12: The Asian Games: B-Speaking:
Hoạt động được điều chỉnh : Task 1, 2 (Tiếng Anh 11, trang 139, 140)
Thời gian: Điều chỉnh này được thực hiện vào ngày 11 tháng 3 năm 2013 tại lớp 11A11, trường THPT Tĩnh Gia 2
Lý do để điều chỉnh:
- Tôi nhận thấy rằng 2 HĐ trong Unit 12- B- speaking không mang tính giao tiếp Task 1 được cho là HĐ information-gap nhưng không có information-gap trong HĐ này Task 2 giống như 1 HĐ role-play Tuy nhiên, thực tế, tất cả HS
có cùng thông tin Những gì mà HS phải làm là đặt câu dùng những thông tin
đã cho Không có HĐ nào tạo cơ hội để trao đổi thực sự về thông tin hoặc về quan điểm Trong 2 HĐ này, HS nghe HS khác nói về những thông tin mà chúng đã biết HS có cùng một thông tin Vì vậy mà không có lý do để hỏi
- Chính vì những lý do trên mà trong năm học trước, tôi nhận thấy HS không
có hứng thú khi chúng được yêu cầu làm 2 task này HS vẫn làm việc theo cặp, nhưng người hỏi không quan tâm đến câu trả lời của người bạn bởi vì chúng đã biết câu hỏi và câu trả lời rồi
Thủ thuật để điều chỉnh: Chỉnh sửa
- Hoạt động 1 (Activity 1) (Task 1- trang 139):
HĐ này được thiết kế lại để trở thành 1 HĐ information-gap GV chuẩn bị một số cặp thể và yêu cầu HS làm việc theo nhóm để tìm ra thông tin còn khuyết
về Asian Games:
Card A1:
Games Host country Year Number of Number of