Hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV) góp phần không nhỏ trong việc đảm bảo nguồn lương thực cho loài người trên thế giới. Tuy nhiên với đặc tính tồn lưu lâu dài trong môi trường, tính độc hại cao và nhất là khả năng lưu chuyển qua chuỗi thức ăn nên sự ô nhiễm bởi loại hoá chất này trở thành một vấn đề đang thu hút mạnh mẽ sự quan tâm của các tổ chức bảo vệ môi trường, các nhà khoa học. Các khu vực nghiên cứu ô nhiễm hoá chất BVTV trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên: Trạm vật tư nông nghiệp huyện Đồng Hỷ cũ; Công ty Vật tư Nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên cũ và Khu trung chuyển của Trạm vật tư nông nghiệp huyện Định Hoá cũ chủ yếu là kho tạm, hầu hết được xây dựng từ những năm 1980 không còn hồ sơ lưu trữ và thông tin hết sức hạn chế. Các hóa chất BVTV tồn lưu chủ yếu gồm các loại: DDT, Lindan, 666, Volphatoc, Basuzin, …Kết quả phân tích mẫu đất tại hầu hết các vị trí này có dư lượng hoạt chất DDT , DDE và Lindan vượt rất nhiều lần so với quy chuẩn 15:2008BTNMT. Khu vực xã Phúc Trìu, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên là khu vực ô nhiễm hoá chất BVTV mang tính tiêu biểu. Qua phân tích và đánh giá ,công nghệ hóa học xử lý và cách ly triệt để tại chỗ kết hợp xử lý bằng công nghệ sinh học và thực vật học tái tạo sinh thái khu vực ô nhiễm là khả thi hơn cả nên đã được lựa chọn.
Trang 1MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Hóa chất BVTV trong sản xuất nông nghiệp và các vấn đề môi trường 3
1.1.1 Vị trí và vai trò của hóa chất BVTV trong sản xuất nông nghiệp 3
1.1.2 Phân loại hóa chất BVTV 4
1.1.3 Quản lý nhà nước đối với hoá chất BVTV 7
1.1.4 Tác động của hoá chất BVTV đến môi trường và sức khoẻ con người.10 1.1.5 Độc tính của một số hoá chất hoá chất BVTV điển hình 13
1.2 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Thái Nguyên 18
1.2.1 Đặc điểm tự nhiên 18
1.2.2 Tình hình kinh tế - xã hội 22
1.2.3 Các vấn đề môi trường 26
1.3 Tình hình quản lý và sử dụng hoá chất hoá chất BVTV trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 28
1.3.1 Khối lượng hoá chất BVTV được kinh doanh sử dụng hàng năm 28
1.3.2 Tình trạng các khu vực kho lưu giữ tại tỉnh Thái nguyên 30
1.3.3 Tình hình kinh doanh sử dụng hoa chất BVTV gốc clo trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 31
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Đối tượng nghiên cứu 33
2.2 Nội dung nghiên cứu 33
2.3 Phạm vi nghiên cứu 33
2.4 Phương pháp nghiên cứu 33
2.4.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích tài liệu, số liệu 33
2.4.2 Phương pháp phỏng vấn trực tiếp lãnh đạo và người dân 34
2.4.3 Phương pháp quan trắc, khảo sát thực địa, lấy mẫu đất và nước 34
Trang 22.4.4 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm 41
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42 3.1 Đặc điểm hiện trạng một số khu vực kho chứa hoá chất BVTV trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 42
3.1.1 Đặc điểm hiện trạng Trạm vật tư nông nghiệp huyện Đồng Hỷ cũ 42 3.1.2 Đặc điểm hiện trạng Công ty Vật tư Nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên cũ 42 3.1.3 Đặc điểm hiện trạng Khu trung chuyển của Trạm vật tư nông nghiệp huyện Định Hoá cũ 43
3.2 Đánh giá hiện trạng tồn lưu các hợp chất cơ clo trong môi trường đất tại một
số kho chứa hoá chất BVTV trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 44
3.1.1 Đánh giá hiện trạng tồn lưu các hợp chất cơ clo trong môi trường đất tại Trạm vật tư nông nghiệp huyện Đồng Hỷ cũ 44 3.1.2 Đánh giá hiện trạng tồn lưu các hợp chất cơ clo trong môi trường đất tại Công ty Vật tư Nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên cũ 48 3.1.3 Đánh giá hiện trạng tồn lưu các hợp chất cơ clo trong môi trường đất tại Khu trung chuyển của Trạm vật tư nông nghiệp huyện Định Hoá cũ 51
3.3 Đánh giá hiện trạng tồn lưu các hợp chất cơ clo trong môi trường nước tại một số khu vực quanh các kho chứa HCBVTV trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 53
3.3.1 Đánh giá hiện trạng tồn lưu các hợp chất cơ clo trong môi trường nước tại Trạm vật tư nông nghiệp huyện Đồng Hỷ cũ 53 3.3.2 Đánh giá hiện trạng tồn lưu các hợp chất cơ clo trong môi trường nước tại Khu trung chuyển của Trạm vật tư nông nghiệp huyện Định Hoá cũ 55
3.4 Đề xuất giải pháp xử lý ô nhiễm hoá chất BVTV tại Công ty Vật tư Nông
nghiệp tỉnh Thái Nguyên cũ, xã Phúc Trìu, thành phố Thái Nguyên (Khu vực có
mức độ tồn lưu cao nhất) 57
3.4.1 Địa điểm thực hiện 57 3.4.2 Xác định khối lượng hoá chất tồn lưu 57
Trang 33.4.3 Phương pháp xử lý 60
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC 74
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
BNN&PTNN (BNN): Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
BKHCN&MT: Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường
LD50: Liều gây chết 50% vật thí nghiệm (Lethal Dose)
LD1: Liều gây chết 1% vật thí nghiệm (Lethal Dose)
UNEP: Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Phân loại hóa chất nông nghiệp theo độ độc hại của WHO 6
Bảng 1.4 Số đơn vị hành chính phân theo huyện, thành phố, thị xã trên địa
bàn tỉnh Thái Nguyên
18
Bảng 1.8 Lượng mưa trong tháng một số năm gần đây 21Bảng 1.9 Mực nước sông cầu tại Văn Chã - Phổ Yên 22Bảng 1.10 Số lượng thuốc BVTV được kinh doanh trên địa bàn tỉnh TháiNguyên qua các năm gần đây
29
Bảng 3.1 Kết quả phân tích dư lượng thuốc BVTV trong môi trường đất tại Trạm vật tư nông nghiệp huyện Đồng Hỷ cũ
Bảng 3.4 Kết quả phân tích dư lượng thuốc BVTV trong môi trường nước
tại Trạm vật tư nông nghiệp huyện Đồng Hỷ cũ
53
Bảng 3.5 Kết quả phân tích dư lượng thuốc BVTV trong môi trường nước
Khu trung chuyển của Trạm vật tư nông nghiệp huyện Định Hoá cũ
55
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Dư lượng thuốc BVTV trong môi trường đất tại Trạm vật tư nông
Hình 3.4 Dư lượng thuốc BVTV trong môi trường đất tại Công ty Vật tư
Nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên cũ - Đợt 2
Hình 3.11 Sơ đồ minh hoạ các vị trí ô nhiễm hoá chất bảo vệ thực vật tại
Công ty Vật tư Nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên cũ
58
Trang 7MỞ ĐẦU
Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đấtnước với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước côngnghiệp theo hướng hiện đại Tuy nhiên, cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế, ViệtNam đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn như suy thoái đất, ô nhiễm khôngkhí, ô nhiễm nguồn nước, suy giảm diện tích rừng và đa dạng sinh học Trong đó, ônhiễm môi trường do hoá chất bảo vệ thực vật (BVTV) tồn lưu gây ra đang trở lênnghiêm trọng, việc quản lý sử dụng hoá chất BVTV không hợp lý đang gây tácđộng không nhỏ, ảnh hưởng kéo dài đến môi trường và sức khỏe cộng đồng Đặcbiệt, trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, một lượng lớn hóa chất BVTV cóđộc tính cao, bền vững trong môi trường, rất khó phân hủy như DDT, Lindan,Hecxanclobenzen (thuốc 666), Aldrin, Heptalo, Endrin… đã được sử dụng tại ViệtNam Đây là những chất nằm trong nhóm 9 hóa chất BVTV trên tổng số 12 chấthữu cơ khó phân hủy (POP) đã bị cấm sử dụng tại Việt Nam theo yêu cầu của Côngước Stockhom
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có 13 khuvực kho chứa hoá chất BVTV đã dừng hoạt động nằm rải rác khắp các địa phươngcủa tỉnh Các khu vực này hầu hết không còn lưu giữ được các hồ sơ liên quan vàchưa được khảo sát điều tra đánh giá mức độ ô nhiễm
Ngoài những khu vực tồn lưu ô nhiễm hóa chất BVTV đã biết, còn rất nhiềuđịa điểm chưa được phát hiện, thống kê và đánh giá mức độ ô nhiễm Theo ướctính, tổng số khu vực ô nhiễm hóa chất BVTV có thể vào khoảng 20 - 25 vị trí trênđịa bàn toàn tỉnh
Các kho tồn lưu hóa chất BVTV trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có số lượnglớn, rải rác trên địa bàn, chủ yếu là kho tạm, hầu hết được xây dựng từ những năm
1980 trở về trước, khi xây dựng chưa quan tâm đến việc xử lý, kết cấu nền móngnên việc ô nhiễm đất tại các kho thuốc này là điều không thể tránh khỏi Hơn nữa,các kho này hiện nay không còn hồ sơ lưu trữ và thông tin về các khu vực này cũng
Trang 8hết sức hạn chế Một thực tế cho thấy, do thiếu thông tin và nhận thức về sự nguyhiểm của hoá chất BVTV còn rất hạn chế nên hầu hết các khu vực hóa chất BVTVtrước đây đã trở thành các công trình công cộng, ruộng canh tác thậm chí là đất ởcủa người dân.
Ô nhiễm hóa chất BVTV là một trong các dạng ô nhiễm có mức độ nguyhiểm cao nhất và có khả năng để lại những hậu quả rất nghiêm trọng đến sức khoẻcon người và sinh vật Tuy vậy, đến nay chưa có một hoạt động nghiên cứu nào tiếnhành rà soát một cách tổng thể và đánh giá mức độ tồn dư hóa chất BVTV nóichung và hợp chất cơ clo nói riêng trong môi trường đất trên phạm vi toàn tỉnh
Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu mức độ tồn dư các hợp chất cơ clo trong môi trường đất ở một số khu vực kho chứa hóa chất bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” với mục đích phát hiện và
khoanh vùng, đánh giá mức độ ô nhiễm các khu vực tồn lưu hóa chất BVTV và đề
ra các phương án xử cho khu vực có mức độ tồn lưu cao nhất
Mục tiêu nghiên cứu:
- Điều tra, thu thập thông tin đối với các địa phương nhằm xác định các điểm
ô nhiễm do hóa chất BVTV trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;
- Lấy mẫu đất và nước, phân tích các chỉ tiêu hóa chất BVTV gốc clo(Aldrin, DDT, DDE, Lindan), khoanh vùng, đánh giá phạm vi ô nhiễm, mức độ ônhiễm tại các điểm đã phát hiện;
- Đề xuất giải pháp nhằm xử lý ô nhiễm hóa chất BVTV tại khu vực có mức
độ tồn lưu cao nhất
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Hóa chất BVTV trong sản xuất nông nghiệp và các vấn đề môi trường
1.1.1 Vị trí và vai trò của hóa chất BVTV trong sản xuất nông nghiệp
Sử dụng thuốc BVTV trong nông nghiệp là một trong những biện phápphòng trừ dịch hại cây trồng, đồng thời là biện pháp chủ đạo, quan trọng nhất, cótính quyết định trong việc đẩy lùi dịch hại trên cây trồng ở các nước trên thế giới,trong đó có Việt Nam
Theo đánh giá của FAO (1989) mỗi năm nền nông nghiệp của thế giới thiệthại khoảng 75 tỷ đôla Mỹ do sâu bệnh và cỏ dại Ở Liên Bang Nga mức độ thiệt hạimùa màng do sâu bệnh và cỏ dại ước tính khoảng 71,3 triệu tấn ngũ cốc, trong đóthiệt hại do bệnh khoảng 45,1%; cỏ dại – 31,4% và sâu hại – 23,5% [26] Chính vìvậy, vấn đề bảo vệ thực vật có vị trí và vai trò rất quan trọng trong nền sản xuất nôngnghiệp, vì việc bảo vệ cây trồng khỏi sâu bệnh và diệt trừ cỏ dại sẽ tạo điều kiện đểhình thành năng suất cao cho các cây trồng
Nước ta là một nước nông nghiệp nhiệt đới, chịu ảnh hưởng của gió mùa, khíhậu ven biển và là nước có nền nông nghiệp rất đa dạng về cơ cấu cây trồng, giống,nhiều chế độ luân canh, xen canh, gối vụ, nhiều mùa vụ, với những phương thứccanh tác khác nhau Nhiều biến động xảy ra do khí hậu, thời tiết dẫn đến biến độngtrong các hệ sinh thái nông nghiệp, đặc biệt là các quần thể sinh vật hại, nấm gâybệnh cho cây trồng Vì vậy, người nông dân luôn phải ứng phó với những khó khănkhông những về biến đổi thời tiết, khí hậu mà còn phải bảo vệ cây trồng, mùa màngkhỏi bị dịch bệnh, sâu hại, cỏ dại và chuột phá hoại Vai trò của công tác BVTV,trong đó hóa chất BVTV là công cụ, phương tiện quan trọng đắc lực của nông dânnhằm đảm bảo được năng suất cao, mùa màng bội thu, tránh được sâu hại phá hoạimùa màng [4]
Trang 101.1.2 Phân loại hóa chất BVTV
Thuốc BVTV hay hóa chất BVTV là những hợp chất độc nguồn gốc tự nhiênhoặc tổng hợp hóa học được dùng để phòng chống, diệt trừ, xua đuổi hoặc giảm nhẹ
do dịch hại gây ra cho cây trồng
Có nhiều cách để phân loại hóa chất BVTV, một số cách phổ biến như sau:
a Theo đối tượng phòng trừ
- Thuốc trừ sâu: là những thuốc phòng trừ các loại côn trùng gây hại câytrồng, nông sản, gia súc, con người
- Thuốc trừ bệnh: là những thuốc phòng trừ các loài vi sinh vật gây bệnhcho cây (nấm, vi khuẩn, tuyến trùng)
- Thuốc trừ cỏ: là những thuốc phòng trừ các loài thực vật, rong, tảo, mọclẫn với cây trồng, làm cản trở đến sinh trưởng cây trồng
- Thuốc trừ chuột: là những thuốc dùng phòng trừ chuột và các loại gậmnhấm khác
- Thuốc trừ nhện: là những thuốc chuyên dùng phòng trừ các loài nhện hạicây trồng
Ngoài ra còn có các loại thuốc trừ tuyến trùng, thuốc trừ ốc sên, thuốc điềutiết sinh trưởng cây trồng (còn gọi là thuốc kích thích sinh trưởng), …
b Phân loại theo gốc hóa học
- Nhóm Clo hữu cơ: trong thành phần hóa học có chất Clo (Cl) Nhóm này
có độ độc cấp tính thấp nhưng tồn lưu lâu trong cơ thể người, động vật và môitrường, gây độc mãn tính nên nhiều sản phẩm đã bị hạn chế và cấm sử dụng Cácchất điển hình là DDT, Aldin, Lindan, Thiordan, Heptaclor,
- Nhóm Lân hữu cơ: là những dẫn xuất của axit photphoric Nhóm này cóthời gian bán phân hủy trong môi trường tự nhiên nhanh hơn nhóm clo hữu cơ Cácchất điển hình là Monocrotophos, Clorphenphot, Clorophos, Malathion, Acephat
- Nhóm Carbamate: là dẫn xuất của axit Carbamat, hóa chất thuộc nhóm nàythường ít bền vững trong môi trường tự nhiên nhưng lại có độc tính rất cao với người
và độc vật Thuộc nhóm này gồm có Padan, Furadan, Bassa,
Trang 11- Nhóm Pyrethroide (Cúc tổng hợp): là nhóm thuốc tổng hợp dựa vào cấutạo chất Pyrethrin có trong hoa của cây Cúc sát trùng Hoạt chất này có tác dụngnhanh, phân hủy dễ dàng, ít gây độc cho người và gia súc Các chất điển hình như:Sherpa, Permethrin, Cypermethrin.
- Nhóm thuốc chứa các kim loại nặng (KLN): Các hợp chất hữu cơ đượcgắn thêm các KLN vào Nhóm này tác động trực tiếp vào hệ thành kinh hoặc ngấmvào màng tế bào làm tế bào ngừng hoạt động Khi phân giải, các KLN lại được giảiphóng và lại một lần nữa gây độc, tiêu diệt tiếp côn trùng vừa được phục hồi
- Nhóm thuốc trừ sâu sinh học: thường tập trung ở ba nhóm vi khuẩn, vinấm, virus, điển hình là Bacillus Thuringensic (BT) [1]
c Theo tính độc của thuốc BVTV
- Độ độc cấp tính: thuốc xâm nhập vào cơ thể gây nhiễm độc tức thời gọi lànhiễm độc cấp tính Độ độc cấp tính của thuốc được biểu thị qua liều gây chết trungbình, viết tắt là LD50 (Letal dosis), tức là liều thuốc ít nhất có thể gây chết cho 50%
số cá thể vật thí nghiệm (thường là chuột), được tính bằng mg hoạt chất/kg trọnglượng cơ thể
- Độ độc mãn tính: nhiều loại thuốc có khả năng tích lũy trong cơ thể người
và động vật máu nóng, gây đột biến tế bào, kích thích tế bào khối u ác phát triển,gây bệnh ung thư [5]
d Theo độ bền của thuốc đối với khả năng phân hủy
- Rất bền (thời gian phân hủy thành các hợp phần không độc >2 năm)
- Bền (6 tháng đến 24 tháng)
- Tương đối bền (<6 tháng)
- Ít bền (thời gian phân hủy dưới 1 tháng)
Bền nhất là nhóm clo hữu cơ
Trang 12e Phân loại HCBVTV theo nhóm độc
Bảng 1.1 Phân loại hóa chất nông nghiệp theo độ độc hại của WHO[1]
Độc cấp tính bằng LD 50
(chuột nhà) mg/kg
Thể rắn
Thể lỏng
Thể rắn
Thể lỏng
50 500
200 2000
100 1000
400 4000IIIa
500 2000
Bảng 1.2 Phân chia nhóm độc của Việt Nam [1]
50
qua miệng (mg/kg) Thể rắn Thể lỏng
vạch màu xanh nước biển) Vạch đen không liên tục trên nền trắng >500 >2000
Ở nước ta, tạm thời theo cách phân nhóm độc của WHO và lấy căn cứ chính
là liều LD50 qua miệng (chuột), phân chia thành 3 nhóm độc là nhóm I (rất độc, gồm
Trang 13cả Ia và Ib), nhóm II (độc cao), nhóm III (ít độc) Theo quy định hiện nay chỉ có 3nhóm độc (bảng 2).
f Theo dạng thuốc BVTV
Thuốc BVTV thường có hai dạng chính là thuốc kỹ thuật và thuốc thành phẩm:
- Thuốc kỹ thuật (thuốc nguyên chất): là thuốc mới qua công nghệ chế tạo ra,
có hàm lượng chất độc cao, dùng làm nguyên liệu gia công các loại thuốc thành phẩm
- Thuốc thành phẩm (thuốc thương phẩm): là thuốc được gia công từ thuốc
kỹ thuật, có tiêu chuẩn chất lượng, tên và nhãn hiệu hàng hóa được phép lưu thông
và sử dụng Thuốc có hàm lượng chất độc thấp, có thêm chất phụ gia để dễ sử dụng[7] Dạng thành phẩm gồm có:
+ Dạng dung dịch, thường có các ký hiệu: DD, L, SL, AS, SC
+ Dạng nhũ dầu, ký hiệu là: ND, E hoặc EC
+ Dạng huyền phù, ký hiệu là: HP, AS, F hoặc FL, FC, SC
+ Dạng bột thấm nước, thường có các ký hiệu là: BTN, BHN, WP
+ Dạng bột hòa tan, thường có ký hiệu: SP
+ Dạng thuốc hạt, có ký hiệu: H, G hoặc GR
Ngoài các dạng thuốc phổ biến trên, còn có một số dạng và ký hiệu như:AC: Dung dịch đặc OD: Huyền phù trong dầu
DF: Huyền phù khô SD: Hạt tan trong nước
FS: Huyền phù đậm đặc WG: Hạt thấm nước
FW: Huyền phù nước WS: Bột phân tán trong nước
1.1.3 Quản lý nhà nước đối với hoá chất BVTV
a Các văn bản pháp luật đối với thuốc BVTV
Giai đoạn từ 1957-1985, thời kỳ kinh tế bao cấp thuốc BVTV được Bộ NôngNghiệp và Công nghiệp thực phẩm giao cho Công ty vật tư nông nghiệp độc quyềntrong việc nhập khẩu và phân phối Từ năm 1985-1990 Nhà nước giao cho CụcBVTV lên kế hoạch nhập thuốc BVTV và trực tiếp phân phối cho các địa phươngqua mạng lưới vật tư nông nghiệp, sau đó phân phối cho các hợp tác xã nôngnghiệp
Trang 14Năm 1991, Bộ nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm quy định về việc đăng
ký sử dụng thuốc BVTV ở Việt Nam
Năm 1993 nhà nước ban hành pháp lệnh “Bảo vệ và kiểm dịch động thực
vật”, chính phủ ban hành nghị định số 92/CP “Hướng dẫn thi hành Pháp lệnh bảo
vệ kiểm dịch thực vật” kèm theo Điều lệ về quản lý thuốc BVTV.
Đến nay, tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước đã bước vào giaiđoạn mới - giai đoạn hội nhập Quốc tế, thì việc quy định nghiêm ngặt về sử dụngthuốc BVTV trong nông nghiệp càng phải được chú ý Thực tế nông sản hay thuỷsản của ta xuất khẩu ra nước ngoài đã có nhiều trường hợp bị trả lại do có dư lượnghoá chất độc hại cao Chính vì vậy, trong nỗ lực hội nhập Quốc tế, nhà nước ta đã
có nhiều văn bản pháp quy nhằm quản lý và sử dụng thuốc BVTV có hiệu quả
Những năm gần đây, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thuốc BVTV đãđược xây dựng và hoàn thành trên cơ sở hướng dẫn của FAO, UNEP, WHO; hài hòacác nguyên tắc quản lý thuốc BVTV của các nước Asean; các Công ước quốc tế màViệt Nam là thành viên Các văn bản quy phạm pháp luật quy định việc quản lý thuốcBVTV hiện nay ở Việt Nam bao gồm:
- Pháp lệnh Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật năm 2001;
- Điều lệ Quản lý thuốc BVTV (Ban hành kèm theo nghị định số58/2002/NĐ-CP ngày 3/6/2002) của Chính phủ;
- Thông tư số 38/2010/TT-BNNPTNT về quản lý thuốc BVTV quy định: từđăng ký, xuất nhập khẩu, sản xuất, gia công, sang chai, đóng gói, ghi nhãn, sử dụng,vận chuyển, bảo quản, quảng cáo, khảo nghiệm, kiểm định chất lượng và dư lượngthuốc BVTV;
- Thông tư số 77/2009/TT-BNTPTNT quy định về kiểm tra nhà nước chấtlượng thuốc BVTV nhập khẩu; Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng, hạn chế
sử dụng và cấm dử dụng ở Việt Nam của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thônban hành các năm;
- Quyết định số 145/2002/QĐ-BNN ngày 18/12/2002 - Ban hành quy định vềthủ tục đăng ký sản xuất, gia công, sang chai đóng gói, xuất khẩu, nhập khẩu thuốc,
Trang 15bán buôn, bảo quản, vận chuyển, sử dụng, tiêu huỷ, nhãn thuốc, bao bì, hội thảo,quảng cáo thuốc BVTV;
- Quyết định 50/2003/QĐ-BNN ngày 25/3/2003 - Ban hành quy định kiểmdịch chất lượng, dư lượng thuốc BVTV và khảo nghiệm thuốc BVTV mới, nhằmđăng ký lưu hành tại Việt Nam;
- Quyết định số 31/2006/QĐ-BNN ngày 27/4/2006 QĐ-BNN của Bộ Nôngnghiệp & Phát triển nông thôn - Ban hành danh mục thuốc bảo vệ thực vật đượcphép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam;
- Quyết định số 1946/QĐ-TTg ngày 21 tháng 10 năm 2010 của Thủ tướngChính phủ - Kế hoạch xử lý, phòng ngừa ô nhiễm môi trường do hóa chất bảo vệthực vật tồn lưu gây ra trên phạm vi toàn quốc;
Ngoài ra còn có các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn Việt Nam, tiêu chuẩnchất lượng thuốc BVTV về cửa hàng buôn bán thuốc BVTV, quy trình kiểm tra sửdụng thuốc BVTV trên cây trồng và các văn bản hướng dẫn của Cục BVTV Nhưvậy, đến nay Chính phủ và các Bộ đã có đủ các cơ sở pháp lý để quản lý thuốcBVTV từ khâu sản xuất, gia công, sang chai đóng gói, kinh doanh đến khâu sửdụng Những văn bản đó có hiệu lực thi hành, nhưng chưa được phổ biến rộng rãiđến mọi đối tượng có liên quan, nhất là bà con nông dân, những người trực tiếp sửdụng thuốc BVTV
b Quản lý nhập khẩu thuốc BVTV
Các loại thuốc BVTV đang lưu thông trên thị trường sử dụng ở nước ta phầnlớn được nhập khẩu từ nước ngoài, vì vậy khâu quản lý nhập khẩu thuốc là vấn đềcực kỳ quan trọng Trong những năm qua, việc quản lý nhập khẩu thuốc được thựchiện theo hai nhóm: thuốc BVTV trong danh mục được phép sử dụng và thuốcBVTV trong danh mục hạn chế sử dụng Theo Quyết định số 145/2002/QĐ-BNNngày 18/12/2002 của Bộ NN&PTNT việc nhập khẩu thuốc BVTV trong danh mụcđược phép sử dụng, thì mọi tổ chức cá nhân trong và ngoài nước đều có thể nhậpkhẩu thuốc không cần phải có giấy phép Các loại thuốc BVTV trong danh mục hạnchế sử dụng phải được Bộ NN&PTNT cấp giấy phép nhập khẩu
Trang 16Trước năm 1991 mỗi năm nước ta nhập khoảng 7.500-8.000 tấn thành phẩmthuốc BVTV hạn chế sử dụng Từ 1994, nhà nước chỉ cho phép nhập 3.000 tấnthành phẩm mỗi năm Đến năm 1997, giảm xuống còn 2.500 tấn, và đến năm 1999giảm xuống còn 1.000 tấn thành phẩm Như vậy chủ trương giảm dần các loại thuốcBVTV có độc tính cao, dễ gây hại cho con người và môi trường đã được nhà nướcthực hiện Từ năm 1994-1997, nhà nước chỉ cho phép 22 doanh nghiệp đủ điều kiệnnhập khẩu thuốc BVTV hạn chế sử dụng, năm 2004, số đầu mối được nhập chỉ còn
18 doanh nghiệp Một điều đáng chú ý nữa là tỷ lệ thuốc trừ sâu nhập khẩu đã giảmdần từ 88,3% năm 1991 xuống còn 48,3% năm 1999; ngược lại cũng trong thời giannày số lượng thuốc trừ bệnh và trừ cỏ đã tăng từ 20% lên khoảng 50% Tình hìnhbiến đổi tương quan tỷ lệ đó đã phù hợp với xu thế quy luật chung của lĩnh vựcBVTV [9]
Tình hình thực tế hiện nay còn cho thấy thuốc BVTV nhập lậu, không cógiấy phép đối với loại thuốc trong danh mục cấm sử dụng, không rõ nguồn gốc xuất
xứ vẫn chưa kiểm soát được, nông dân vẫn mua và sử dụng bừa bãi trên các loại câytrồng khác nhau
1.1.4 Tác động của hoá chất BVTV đến môi trường và sức khoẻ con người
a Tác động của hoá chất BVTV đến môi trường
Các động của hoá chất BVTV lên môi trường là do những tính chất chủ yếu sau:
dễ bay hơi, dễ hoà tan trong nước và dung môi, bền với quá trình biến đổi sinh học
Hoá chất BVTV cũng được những cây cối và động vật hấp thụ và theo chuỗithức ăn sẽ xâm nhập và tích luỹ trong cơ thể người Đặc biệt, trong chuỗi thức ănnày cứ qua mỗi bậc dinh dưỡng, hoá chất BVTV lại được tích luỹ với số lượng theocấp số nhân và được gọi là khuếch đại sinh học
Tác động đến môi trường đất
Sự tồn tại và chuyển vận hoá chất BVTV trong đất phụ thuộc vào nhiều yếu
tố cấu trúc hóa học của hoạt chất, các dạng thành phẩm, loại đất, điều kiện tiết thủylợi, loại cây trồng và các vi sinh vật trong đất
Trang 17Hoá chất BVTV có thể hấp thụ từ đất vào cây trồng, đặc biệt các loại rễ củarau như củ cà rốt và cỏ Hoá chất BVTV được hấp thu từ đất vào cỏ, súc vật ăn cỏnhư trâu bò sẽ hấp thu toàn bộ dư lượng hoá chất BVTV trong cỏ vào thịt và sữa.
Nhiều thuốc bảo vệ thực vật có thể tồn lưu lâu dài trong đất, ví dụ DDT vàcác chất clo hữu cơ sau khi đi vào môi trường sẽ tồn tại ở các dạng hợp chất liên kếttrong môi trường, mà những chất mới thường có độc tính hơn hẳn, xâm nhập vàocây trồng và tích luỹ ở quả, hạt, củ sau đó di truyền theo thực phẩm đi vào gây hạicho người, vật như ung thư, quái thai, đột biến gen
Khi thuốc bảo vệ thực vật (chủ yếu là nhóm lân hữu cơ) xâm nhập vào môitrường đất làm cho tính chất cơ lý của đất giảm sút (đất cứng), cũng giống như tác hạicủa phân bón hoá học dư thừa trong đất Do khả năng diệt khuẩn cao nên thuốc bảo
vệ thực vật đồng thời cũng diệt nhiều vi sinh vật có lợi trong đất, làm hoạt tính sinhhọc trong đất giảm Ở trong đất, hoá chất BVTV tác động vào khu hệ vi sinh vật đất,giun đất và những động vật khác làm hoạt động của chúng giảm, chất hữu cơ khôngđược phân huỷ, đất nghèo dinh dưỡng
Tác động đến môi trường nước
Hoá chất BVTV có thể trực tiếp đi vào nước do phun hoặc xử lý nước bề mặtvới hoá chất BVTV để tiêu diệt một số sinh vật truyền bệnh cho người; thải bỏ hoáchất BVTV thừa sau khi phun; nước dùng để cọ rửa thiết bị phun được đổ vào sông,
hồ, ao, ngòi; cây trồng được phun ngay ở bờ nước; rò rỉ hoặc đất được xử lý bị xói mòn
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng 25% tổng lượng DDT đã sử dụng được chuyểnvào đại dương
Tác động đến môi trường không khí
Ô nhiễm không khí do hoá chất BVTV chủ yếu do phun thuốc Ngay trongquá trình phun thuốc, các hạt nhỏ bay hơi tạo thành những hạt mù lỏng có thể bayrất xa theo gió Thông thường hoá chất BVTV loại tương đối ít bay hơi như DDTcũng bay hơi trong không khí rất nhanh khi ở vùng khí hậu nóng gây ô nhiễmkhông khí và rất nguy hiểm nếu hít phải hoá chất BVTV trong không khí Tuy vậy,
Trang 18hoá chất BVTV cũng có thể bám dính theo các hạt bụi và xâm nhập cơ thể conngười qua hít thở hoặc bám lên rau quả xâm nhập cơ thể người qua ăn uống
b Tác động của thuốc BVTV đến sức khỏe con người
Các yếu tố quyết định mức độ độc hại của thuốc BVTV phụ thuộc vào độđộc hại của thuốc, tính mẫn cảm của từng người, thời gian tiếp xúc và con đườngxâm nhập vào cơ thể Có 3 con đường xâm nhập vào cơ thể người:
- Đường hô hấp: khi hít thở thuốc dưới dạng khí, hơi hay bụi
- Hấp thụ qua da: khi thuốc dính vào da
- Đường tiêu hóa: do ăn, uống phải thức ăn nhiễm thuốc hoặc sử dụng nhữngdụng cụ ăn nhiễm thuốc
Ở các nước đang phát triển, tỷ lệ ngộ độc và tử vong vì thuốc BVTV cao hơn
do những nguyên nhân sau:
- Các tiêu chuẩn an toàn lao động không đủ nghiêm ngặt
- Thuốc BVTV không được dán nhãn mác đầy đủ trong khi số dân mù chữcòn nhiều và nói chung người dân thiếu hiểu biết về nguy hiểm thuốc BVTV
- Thiếu thốn các điều kiện vệ sinh và phòng hộ cá nhân [11]
Các thuốc BVTV xâm nhập vào cơ thể tích tụ lâu dài sẽ gây bệnh ung thư, tổnthương bộ máy di truyền, gây sự vô sinh ở nam và nữ, giảm khả năng đề kháng của cơthể, mắc các bệnh về thần kinh như giảm trí nhớ, bệnh tâm thần,
Bảng 1.3 Nguyên nhân nhiễm độc thuốc BVTV
Trang 19sinh lý của cơ thể trẻ em khác với người lớn: tốc độ trao đổi chất cao hơn, khả năngkhử độc và loại thải chất độc thấp hơn người lớn Ngoài ra, do trọng lượng cơ thểthấp nên mức dư lượng thuốc BVTV trên một đơn vị thể trọng ở trẻ em cũng caohơn so với người lớn Trẻ em nhạy cảm thuốc trừ sâu cao hơn người lớn gấp 10 lần.Đặc biệt thuốc trừ sâu làm cho trẻ em thiếu oxy trong máu, suy dinh dưỡng, giảmchỉ số thông minh, chậm biết đọc, biết viết.
Ngoài các vấn đề sức khỏe con người, hàng năm thuốc BVTV còn gây rahàng chục ngàn vụ ngộ độc ở gia súc, thú nuôi Các sản phẩm thịt, trứng, sữa, cũng có thể nhiễm thuốc BVTV và gây ra thiệt hại kinh tế rất lớn
Như vậy, do người dân vì hiểu biết còn hạn chế nên chưa chấp hành những quyđịnh về an toàn đối với môi trường và sức khỏe của chính mình cộng với kỹ thuật vàphương tiện bảo hộ còn thiếu nên đã xảy ra những trường hợp nhiễm độc do nhiềunguyên nhân mà yếu là nhiễm độc do tiếp xúc trực tiếp trong quá trình phun thuốcđang ngày càng đe dọa sức khỏe cộng đồng ở mỗi quốc gia và trên thế giới
1.1.5 Độc tính của một số hoá chất hoá chất BVTV điển hình
a DDT
Đặc điểm
Thuốc trừ sâu DDT là chữ viết tắt tiếng Anh của hoá chất Dichlo - Dibenzen
- Trichlothan, được phát minh năm 1872 DDT có tính năng trừ sâu rất tốt, dùng đểdiệt các loài sâu phá hoại lương thực, cây ăn quả, rau xanh và các loài côn trùng gâybệnh DDT còn được biết đến với các tên thương mại Anfex, Arkotin, Dicofol,Genitox, Ixodex, Neoxid, Pentachlorin, Peprothion, 7~erdane DDT ở dạng bộttrắng hay xám nhạt, không tan trong nước, rất tan trong cychlorhexanon, tan ít hơntrong xylen và aceton, ít tan trong dầu hoả
Tính chất của DDT khá ổn định, có hiệu quả lâu dài, hơn nữa DDT không dễhoà tan trong nước (sau khi phun thuốc không bị nước mưa rửa sạch) cho nên về kinh
tế, nó đã thể hiện tính ưu việt so với các loài thuốc trừ sâu khác Bắt đầu từ năm 1943thuốc trừ sâu DDT đã được sử dụng rộng rãi với số lượng lớn trên toàn thế giới
Trang 20 Độc tính với con người
Liều gây độc đối với người là 30 gam DDT có tác dụng tích luỹ Tuy nhiênkhoảng cách an toàn giữa nồng độ diệt được côn trùng và liều gây độc cho ngườikhá lớn
Độc tính cấp
Theo phân loại của Tổ chức sức khoẻ thế giới (WHO), DDT có độc tínhtrung bình Đường xâm nhập chủ yếu của DDT là qua hô hấp, tiêu hoá và qua da,hiếm gặp nhiễm độc gây tử vong ở người Liều nhỏ DDT gây rối loạn tiêu hoá (nôn,tiêu chảy) kèm theo nhức đầu, suy nhược, lo lắng, mất trí nhớ Các biểu hiện thầnkinh chủ yếu ở các chi: giảm cảm giác sờ mó, vô cảm ngoài da, chuột rút, dị cảm,giật cơ Ở liều cao hơn, có thể gây co giật liên tục và tử vong
Độc tính mãn
DDT có thể gây ung thư Trong các thực nghiệm trên động vật, DDT và chấtchuyển hoá của nó đã được chứng minh gây khối u ở phổi và gan động vật thínghiệm DDT làm giảm số lượng tinh trùng, hạ thấp tỷ lệ sinh sản ở người và độngvật, còn gây đẻ non, sảy thai và trẻ sơ sinh nhẹ cân
Tác hại do phơi nhiễm lâu dài với DDT là tổn thương gan, thoái hoá hệ thầnkinh trung ương, viêm da, suy nhược Tác hại của DDT đặc biệt nghiêm trọng vớinhững người tiếp xúc thường xuyên (ví dụ như công nhân sản xuất trực tiếp)
Thực tế ở các tồn lưu (ví dụ như khu vực Núi Căng, huyện Phú Bình, tỉnhThái Nguyên) đã ghi nhận nhiều trường hợp những người dân trực tiếp tham gia đụcphá các thùng chứa, đào đất nhiễm về vãi ruộng bị mắc các chứng rối loạn da (nứt
nẻ, chảy nước vàng), ung thư gan, mất trí nhớ [15]
Lan truyền và ảnh hưởng đến môi trường
Với đặc tính khó phân giải trong môi trường, DDT có thể tồn lưu trong đấthàng chục năm Từ ô nhiễm đất tất yếu sẽ dẫn tới ô nhiễm hồ ao, sông ngòi do lantruyền qua nước mưa
DDT tồn tại trong môi trường, qua sinh vật tích luỹ và thông qua các chuỗithức ăn, có thể được phóng đại và khuếch tán có tính nguy hại rất lớn đối với con
Trang 21người và các loài sinh vật khác DDT phá hoại sự hấp thụ và đào thải bình thườngđối với chất Canxi, khiến cho vỏ trứng mỏng hơn, dễ vỡ và làm cho trứng không nởthành chim non.
DDT phá hoại môi trường và sinh thái ở mức độ rất lớn Bắt đầu từ nhữngnăm 60 của thế kỷ XX, rất nhiều nước đã cấm sử dụng thuốc trừ sâu DDT
b HCH và Lindan
Tên chung: BHC (Benzene hexachloride)
- HCH (Hexachlorcychlorhexane)
- Lindan: tên chung của 99% đồng phân gamma HCH
Tên thương mại:
- HCH: Benzex, Denzex, Dolmox
Hexafur, Hexyclan, Kotol, Submar.v.v
- Lindan: Exaggama, Forlin, Gammex, Inexit,
Isotox Lindanrgam, Lindanlo, Bovigam,
HCH - 666 là bột trắng mùi sốc, không tan trong nước, dễ tan trong cồn,benzen aceton, xylen, dầu hoả Sản phẩm thương nghiệp là hỗn hợp 5 đồng phân,trong đó đồng phân gamma, hay lindan, còn gọi là gammexan, không vị, khôngmùi
Độc tính cấp
Theo cấp phân loại của WHO HCH và Lindan có độc tính vừa (II)
Đường hấp thu chủ yếu của lindan và các đồng phân khác của HCH là đường
hô hấp, tiêu hoá và qua da Tác động chủ yếu do phơi nhiễm với lindan là kích thích
hệ thần kinh gây co giật Các dấu hiệu và triệu chứng của nhiễm độc lindan và HCH
từ nhẹ đến vừa là: chóng mặt, buồn nôn, đau dạ dày, nôn, suy yếu, dễ kích thích, lo
âu và dễ cáu giận ở thể nhiễm độc nặng hơn có thể gây giật cơ, có giật, khó thở.Tiếp xúc với da có thể thấy phát ban
Độc tính mãn
- Gây ung thư
- Gây quái thai và giảm tỷ lệ sinh sản
Trang 22- Tác hại khác gồm hại đến thận, tuỵ, phá huỷ niêm mạc mũi, suy nhược, caohuyết áp, co giật, thiếu máu Lindan còn gây giảm sản hay bất sản tuỷ xương, gannhiễm mỡ, thoái hoá cơ tim, hoại tử mạch máu ở thận, phổi, não
Ảnh hưởng môi trường
Có tính tồn lưu và phát tán mạnh, dư lượng HCH và lindan có thể ghi nhận ởkhắp thế giới, cả ở những khu vực xa nơi sử dụng như ở Nam Cực và Bắc cực.Lindan và các sản phẩm phân giải cũng đã gây ô nhiễm nguồn nước ngầm và nước
bề mặt
c Aldrin
Tên thường: Aldrin; Aldrine; HHDN; Phức hợp 118; Octalene; OMS 194 Tên hóa học: Hexachloro-hexahydro-endo-exo-dimethanonaphthalene;1,2,3,4,10,10-hexachloro-1,4,4a,5,8,8a-hexahydro-1,4: 5,8- dimethanonapthalene1.4 Số ký hiệu trong danh mục hoá chất trong các CSDL trong và ngoài nước (CAS
- Chemical Abstracts Service number)
Ký hiệu CAS : 309-00-2 Các ký hiệu khác: NIOSH RTECS: IO2100000EPA chất thải rắn: P004 OHM/TADS: 7215090 DOT/UN/NA/IMCO:IMO6.1NA2762 HSDB (1992): 199 NCI: C00044 1.5
Tên hãng/tên thương mại: Aldrex; Altox; Drinox; Octalene; Toxadrin 1.6.Nhà sản xuất, nhập khẩu 1948-1974: J Hyman & Co., Denver, CO, USA 1954-1990: Shell Chemical Corporation, Pernis, The Netherlands
Aldrin tinh khiết có dạng tinh thể rắn màu trắng Thang màu kỹ thuật củaaldrin là màu nâu
Aldrin có mùi nhẹ, rất dễ tan trong các dung môi hữu cơ (aromatics, esters,ketones, paraffins, halogenated dung môi)
Độc tính cấp tính
Đường tiêu hóa
Các báo cáo mô tả các triệu chứng khởi phát trong vòng 15 phút sau khi đưavào qua đường miệng (Garrettson & Curley, 1969; Spiotta, 1951; Black, 1974) Đápứng quá mức của hệ thần kinh trung ương là triệu chứng thường gặp gây ra do
Trang 23aldrin Các triệu chứng có thể có như đau đầu, hoa mắt, kích thích, buồn nôn vànôn, lo lắng, giật cơ, và chuyển nhanh sang co giật [Jager, 1970] Co giật có thểkéo dài và dấu hiệu của kích thích có thể kéo dài vài ngày [Spiotta, 1951; Black,1974] Sau nhiễm độc aldrin cấp thường có rối loạn chức năng thận Nó làm tăngnồng độ ure trong máu, có hồng cầu và albumin niệu
Đường hô hấp
Đường này thường xảy ra khi công nhân đang sản xuất hay đang phun thuốctrừ sâu Dù sao, không có trường hợp nhiễm độc cấp nào xảy ra với đường tiếp xúcnày Đa số các ca bệnh đều là bán cấp và không có triệu chứng nhiễm độc, triệuchứng lâm sàng đầu tiên thường là cơn động kinh co giật
Đường qua da
Đường tiếp xúc này rất khó phân biệt với đường hô hấp, và có lẽ cả hai cùngtác động (ATSDR, 1993) Giống như phơi nhiễm qua đường hô hấp, hấp thụ qua dathường xảy ra đầu tiên với các công nhân Nếu phơi nhiễm cấp nặng, triệu chứngtiến triển giống như với nhiễm qua đường miệng Dù sao, rất nhiều trường hợpnhiễm độc bán cấp không có triệu chứng và triệu chứng đầu tiên là cơn co giật động kinh
Nhiễm độc mãn tính
Đường tiêu hóa
Không có ảnh hưởng về thần kinh học, huyết học và gan trên người nồng độdưới 0.003 mg/kg/day [Hunter & Robinson, 1967]
Đường hô hấp
Co giật có thể xuất hiện đột ngột không có triệu chứng báo trước có thể do
sự tích lũy aldrin (và chất chuyển hóa của nó là dieldrin) sau nhiều ngày [Jager,1970] Thiếu máu và chậm phục hồi vết thương có thể xảy ra sau thời gian dài tiếpxúc [Muirhead và CS, 1959; Pick và CS, 1965; de Jong, 1991]
Trang 241.2 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Thái Nguyên
1.2.1 Đặc điểm tự nhiên
a Vị trí địa lý
Thái Nguyên là một tỉnh nằm ở vùng Trung du miền núi Bắc Bộ, có diện tích
tự nhiên 3.541,5 km2 (tài liệu của Nhà xuất bản Bản đồ ghi là 3.541,1km2), chiếm1,08% diện tích và dân số là 1.155.500 người (2007), chiếm 1,335% dân số cả nước[17] Thái Nguyên giáp tỉnh Bắc Kạn về phía Bắc, Lạng Sơn về phía Đông Bắc, vàBắc Giang về phía Đông, Đông Nam, Thành phố Hà Nội về phía Nam và các tỉnhVĩnh Phúc, Tuyên Quang về phía Tây (Hình 1.1) Về mặt hành chính, Thái Nguyên
có 7 huyện, một thành phố và một thị xã Các huyện, thành phố, thị xã được chiathành 180 xã, phường và thị trấn, trong đó có 14 xã vùng cao, 106 xã vùng núi cao,còn lại là các xã trung du, đồng bằng (Bảng 5)
Bảng 1.4 Số đơn vị hành chính phân theo huyện, thành phố, thị xã trên
địa bàn tỉnh Thái Nguyên (tính đến 31/12/2007)
Trang 25b Đặc điểm khí hậu
Nhiệt độ không khí
Nhiệt độ trung bình năm đạt khoảng 23.60C trong đó nhiệt độ trung bình caonhất đạt 28.90C (thời gian tháng 6) và trung bình thấp nhất khoảng 17.00C Nhiệt độcao nhất trong năm là 40.10C
Bảng 1.5 Nhiệt độ không khí qua các tháng
Nhiệt độ không khí trung bình tháng ( 0 C)
17,
5
17
20,3
24,1
27,3
28,9
27,
9 28,2
25,5
25,6
22,
8 18,6
Hình 1.1 Bản đồ hành chính tỉnh Thái Nguyên
Trang 27 Lượng mưa
Với lượng mưa khá lớn, trung bình năm 1.800 – 2.500 mm, tổng lượng nướcmưa tự nhiên của tỉnh Thái Nguyên dự tính lên tới 6,4 tỷ m3/năm Tuy nhiên lượngmưa phân bố không đều theo thời gian và không gian
Bảng 1.8 Lượng mưa trong tháng một số năm gần đây (Đơn vị: mm)
c Đặc điểm hệ thống sông ngòi và chế độ thuỷ văn khu vực
Thái Nguyên có 2 sông chính là:
- Sông Công: có lưu vực 951 km2 bắt nguồn từ vùng núi Ba Lá huyện ĐịnhHóa chạy dọc theo chân núi Tam Đảo, nằm trong vùng mưa lớn nhất của tỉnh TháiNguyên Dòng sông đã được ngăn lại ở Đại Từ tạo thành Hồ Núi Cốc có mặt nướcrộng khoảng 25km2, chứa được 175 triệu m3 nước
- Sông Cầu: Lưu vực sông Cầu có dòng chính là sông Cầu với chiều dài 290
km bắt nguồn từ núi Văn Ôn (Vạn On) ở độ cao 1.170 m và đổ vào sông Thái Bình
ở Phả Lại Trong lưu vực sông Cầu có tới 26 phụ lưu cấp một với tổng chiều dài
670 km và 41 phụ lưu cấp hai với tổng chiều dài 645 km và hàng trăm km sông cấp
ba, bốn và các sông suối ngắn dưới 10 km Lưu vực sông Cầu nằm trong vùng mưalớn (1.500 - 2.700 mm/năm) của các tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên Tổng lưu lượngnước hàng năm đạt đến 4,5 tỷ m3
Chế độ thuỷ văn của các sông trong lưu vực sông Cầu được chia thành 2mùa: mùa lũ và mùa khô
+ Mùa lũ bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 9 và chiếm 70-80% tổng lưu lượngdòng chảy trong năm
Trang 28+ Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 5 năm sau, chỉ chiếm 20-30% tổng lưulượng dòng chảy của năm.
Bảng 1.9 Mực nước sông cầu tại Văn Chã - Phổ Yên (Đơn vị: cm)
1.2.2 Tình hình kinh tế - xã hội
a Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Tổng GDP của Tỉnh năm 2007 đạt 4.716,2 tỷ đồng tính theo giá so sánh năm
1994 (gần 9.868,7 tỷ theo giá hiện hành) GDP bình quân đầu người (theo giá hiệnhành) của tỉnh đạt khoảng 8,67 triệu (khoảng 540USD vào năm 2007 và 600 USDvào năm 2008), cao hơn nhiều so với mức bình quân của vùng nhưng thấp hơn sovới mức bình quân của cả nước (khoảng 14,0 triệu đồng vào năm 2007 và 16,5 triệuđồng vào năm 2008)
b Ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
Năm 2007, trên toàn Tỉnh có khoảng 1.173 doanh nghiệp sản xuất, kinhdoanh theo Luật doanh nghiệp Trong số này có trên 100 cơ sở sản xuất công nghiệplớn, điểm hình là Công ty Gang thép Thái Nguyên, Công ty Vật liệu Xây dựng,Công ty Phụ tùng Máy số 1, Công ty Natsteel Vina, Công ty Cổ phần Giấy HoàngVăn Thụ,
Trang 29Các ngành công nghiệp chủ yếu
- Công nghiệp sản xuất cơ khí: Gồm chế tạo máy, cơ khí tiêu dùng, lắp ráp
sản xuất phụ tùng sửa chữa và cung cấp phụ tùng thay thế, tập trung chủ yếu ở KhuCông nghiệp Sông Công và các nhà máy quốc phòng trong tỉnh Các sản phẩm chủyếu là các loại máy nông nghiệp, động cơ diezen, các loại phụ tùng, hộp số, công
cụ, dụng cụ cơ khí, dụng cụ y tế, băng chuyền, thuốc phóng, thuốc nổ,
- Công nghiệp khai khoáng, luyện kim: Gồm than, quặng sắt, chì, kẽm, thiếc,
đôlômit, pirit, barit, titan, đá xây dựng, sét , phân bố ở các huyện phía Bắc Côngnghiệp khai khoáng của địa phương chủ yếu là tận thu Trừ thiếc được chế biến tinh,các loại quặng khác sau khi khai thác đều được bán thô
- Công nghiệp nhẹ: Các sản phẩm chủ yếu là hàng may mặc, da giầy, giấy, tơ
tằm, bao bì, thực phẩm tươi sống, bia, nước giải khát, lắp ráp xe máy
- Công nghiệp chế biến nông, lâm sản, thực phẩm: Các sản phẩm chủ yếu
của ngành là chè, trái cây, bia hơi, thực phẩm đông lạnh, nước khoáng
c Các lĩnh vực xã hội
Giáo dục
Với 5 trường đại học, 13 trường chuyên nghiệp, 6 trường công nghiệp kỹthuật và 437 trường phổ thông các cấp Thái Nguyên đã thực sự là hạt nhân đào tạocủa cả vùng miền núi phía Bắc Sự nghiệp giáo dục phổ thông của tỉnh Thái Nguyên
đã có nhiều chuyển biến tích cực, việc quản lý giáo dục theo ngành đã mang lạinhiều hiệu quả, trường lớp mới được xây dựng, số học sinh các cấp không ngừngđược tăng lên Giáo dục miền núi được quan tâm thích đáng, một số trường nội trúcho con em các dân tộc miền núi đã được xây dựng
Thái Nguyên hiện có 1.035 bác sỹ và trên đại học, 550 y sĩ, 1.234 y tá và 146
nữ hộ sinh Trên địa bàn Tỉnh có 363 cơ sở y tế (219 cơ sở Nhà nước) với 3.556giường bệnh (trong đó có 840 giường của trạm y tế xã) cung cấp dịch vụ chăm sócsức khoẻ, khám và chữa bệnh cho nhân dân Trong số này có 20 bệnh viện và 19phòng khám đa khoa khu vực, 1 bệnh viện điều dưỡng, 1 trại phong, 1 nhà hộ sinh
Trang 30và 180 trạm y tế xã phường Một số chỉ tiêu y tế của tỉnh được cải thiện rõ rệt trongnhững năm qua và cao hơn mức bình quân của toàn vùng và cả nước Tuy nhiên, có
sự khác biệt lớn giữa khu vực nông thôn và thành thị trong tỉnh về các chỉ tiêu này.Các huyện Phổ Yên, Phú Lương, Đại Từ, Phú Bình có mức bác sỹ và cán bộ y tếbình quân trên 1 vạn dân thấp hơn nhiều so với các huyện khác
d Kết cấu hạ tầng
Đường bộ
Tính đến cuối năm 2005 toàn tỉnh Thái Nguyên có 4.545 Km đường bộ.Trong số này có 184,6 Km đường quốc lộ; 248,8 Km đường tỉnh ; 865,5 Km đườnghuyện (có 472,2 Km đường đã được rải nhựa và bê tông nhựa); 3.180,6 đường xã,liên xã và 65,3 Km là đường đô thị Toàn bộ đường quốc lộ và đường đô thị đãđược nhựa hoá, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại nội tỉnh và phục vụ tốt hơnnhư cầu đi lại của khách du lịch Hệ thống đường tỉnh mới có 128,5/428,8 Km đượcnhựa hoá, còn lại 120,3 Km là đường đá dăm, đường cấp phối và đường đất Tínhđến cuối năm 2005, mật độ đường toàn mạng lưới (không kể đường xã) là 0,385Km/Km2 và mật độ đường (không kể đường xã) tính trên 1.000 dân đạt 1,233 Km,thấp hơn nhiều so với mức bình quân của cả nước (tương ứng là 0,74 Km/Km2 và2,97 Km/1.000 dân)
Hiện đã có đường ô tô đến 180/180 xã, phường của tỉnh Tuy nhiên, khảnăng tiếp cận bằng đường bộ với một số xã miền núi trong tỉnh còn gặp nhiều khókhăn do địa hình dốc, chất lượng đường kém Một số đoạn đường quốc lộ, một sốđường huyện và một số cầu cống đang xuống cấp, ảnh hưởng đến năng lực vận tảinội tỉnh và với tỉnh ngoài
Đường thuỷ
Đường thuỷ ở Thái Nguyên khá phong phú và phân bố rộng khắp TháiNguyên hiện có 430 Km đường thuỷ, bao gồm hai tuyến đường sông chính nối Tỉnhvới các tỉnh ngoài: tuyến Đa Phúc - Hải Phòng dài 161 Km và tuyến Đa Phúc - HònGai dài 211 Km ; và hai tuyến vận tải thuỷ nội tỉnh: tuyến Thái Nguyên - Phú Bình
Trang 31dài 16 Km và tuyến Thái Nguyên - Chợ Mới dài 40 Km tuy nhiên việc đi lại ở tuyếnnày còn hạn chế.
Đường sắt
Hệ thống đường sắt của Thái Nguyên gồm ba tuyến chính với tổng chiều dàitrên địa bàn Tỉnh là 98,55 Km:
Tuyến Quán Triều - Hà Nội dài 75 Km
Tuyến Thái Nguyên - Kép dài 57 Km, đoạn qua Thái Nguyên dài 25 Km
Tuyến Quán Triều - Núi Hồng qua Đại Từ dài 39 Km chủ yếu phục vụ vậntải than
Cấp, thoát nước
Nguồn cấp nước của Thái Nguyên là nước ngầm và nước mặt Thành phốThái Nguyên sử dụng nguồn nước mặt lấy từ hồ Núi Cốc và nước ngầm lấy từ tầngchứa độ sâu 41 - 64 m, gồm 10 giếng khoan (trong đó 2 giếng dự phòng) Thị xãSông Công được cấp nước từ nguồn nước mặt sông Công đã qua xử lý Ngoài hai
đô thị trên, huyện Đồng Hỷ được cấp nước ngầm từ Nhà máy nước Mắt Rồng Tạicác huyện đều có giếng khoan để cung cấp nước sạch cho dân
Tính đến cuối năm 2007, khoảng 92% dân Thành phố Thái Nguyên, 75%dân Thị xã Sông Công có nước máy sử dụng đô thị, còn ở các huyện chỉ 0,5% đến5% hộ gia đình sử dụng giếng khoan
Tính đến cuối năm 2008, khoảng 80% dân đô thị và 76% dân nông thôntrong tỉnh sử dụng nước sạch
Hệ thống thoát nước trên địa bàn tỉnh chưa được đầu tư đồng bộ nên hiệuquả thoát nước kém Nước thải còn thoát chung với nước mưa và có điểm bị úngngập Hệ thống thoát nước hiện có ở thành phố Thái Nguyên chưa đáp ứng đượcyêu cầu đối với một đô thị loại II
e Đặc điểm dân số
Tổng đân số tỉnh Thái Nguyên tính đến ngày 01/4/2009 là 1.124.786 người.Trong đó, dân số nam là 559.153 người, chiếm 49,71%; dâm số nữ là 565.663
Trang 32người, chiếm 50,29% So với cả nước, dân số tỉnh Thái Nguyên đứng thứ 33 vàđứng thứ 3 các tỉnh vùng trung du và miền núi phía Bắc (sau Bắc Giang và Phú Thọ).
Tỷ lệ dân thành thị của tỉnh tăng chậm trong những năm qua, năm 2008 mớichiếm khoảng 24% tổng dân số
Có 8 dân tộc cùng sinh sống với nhau từ lâu đời trên đất Thái Nguyên Dântộc Kinh chiếm khoảng 75,5%; Tày 10,7%; Nùng 5,1%; Dao 2,1% ; Sán Dìu 2,4% ;các dân tộc khác (Cao Lan, H'Mông, Hoa) chiếm 4,2% dân số toàn tỉnh
Các hiện tượng thời tiết bất thường (lũ, lụt, bão lốc, sương mù ) gây ảnhhưởng đến hầu hết các hoạt động KT - XH và sức khoẻ người dân trên địa bàn tỉnh
Ô nhiễm nguồn nước (nước mặt, nước ngầm) là nguyên nhân dẫn đến gâybệnh, dịch ảnh hưởng đến sức khoẻ người dân và các hệ sinh thái tự nhiên Ngoài
ra, ô nhiễm nước tác động đến năng suất, chất lượng các sản phẩm của ngành nông lâm nghiệp - thuỷ sản Thiếu nước sản xuất vào mùa khô ảnh hưởng đến hoạt độngcủa ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và nông - lâm nghiệp - thuỷ sản
-Ô nhiễm không khí không chỉ ảnh hưởng đến sức khoẻ người dân mà còn sựphát triển du lịch của tỉnh
Suy giảm tài nguyên rừng và tài nguyên sinh vật đang và sẽ gây gia tăngcường độ lũ lụt, xói mòn đất, biến đổi khí hậu và suy giảm đa dạng sinh học trong tỉnh
Trang 33b Khả năng ảnh hưởng do phát triển KT - XH đến môi trường xung quanh
Hoạt động phát triển KT - XH của các ngành trên địa bàn tỉnh Thái Nguyênvới tốc độ ngày càng gia tăng sẽ làm gia tăng nhanh các chất ô nhiễm gây tác độngxấu đến môi trường, ảnh hưởng đến sức khoẻ người dân
Nước thải từ các khu dân cư, khách sạn (chứa nồng độ cao các chất hữu cơ,dinh dưỡng, vi sinh ), nước thải các cơ sở sản xuất công nghiệp (chứa các chất hữu
cơ, kim loại nặng, các hoá chất độc hại, dầu mỡ ), nông nghiệp - thuỷ sản (chứacác chất hữu cơ, hoá chất bảo vệ thực vật ), chất thải y tế từ các cơ sở khám chữabệnh (chứa nồng độ cao chất hữu cơ, bệnh phẩm, vi trùng ) đã và sẽ gây ô nhiễmnước mặt, nước ngầm, phát tán bệnh dịch và tác hại đến hệ sinh thái nước
Khí thải (chứa các chất ô nhiễm như bụi, CO, SO2, NOx, HF và tiếng ồn) từcác cơ sở sản xuất công nghiệp và khai thác khoáng sản đang và sẽ gây ảnh hưởngđến sức khoẻ người lao động và gây ô nhiễm không khí xung quanh
Chất thải rắn nhiễm các chất độc hại như hoá chất, dầu mỡ từ các cơ sở sảnxuất công nghiệp, nông nghiệp, hoạt động giao thông thuỷ là nguồn gây ô nhiễmnước mặt, nước ngầm, đất đai nếu không được xử lý triệt để Chất thải rắn sinh hoạtkhông những gây mất mỹ quan, nguồn phát sinh bệnh dịch mà còn ảnh hưởng đến
sự phát triển của ngành kinh tế khác (như du lịch, thuỷ sản, cấp nước)
Hoạt động sản xuất lâm nghiệp, giao thông thuỷ có khả năng làm thay đổicác hệ sinh thái tự nhiên, giảm diện tích rừng tự nhiên, bãi bồi ven sông, gia tăngxói mòn, sạt lở đất, suy giảm đa dạng sinh học và ô nhiễm môi trường
Trên đây là các vấn đề môi trường quan trọng nhất có thể được phát sinh dođộng lực xây dựng và phát triển KT - XH của tỉnh Thái Nguyên Các vấn đề môitrường này sẽ càng gia tăng trong giai đoạn tăng cường CNH, HĐH với tốc độ tăngtrưởng kinh tế hàng năm của tỉnh trên 10% trong giai đoạn 2010-2020
Trang 341.3 Tình hình quản lý và sử dụng hoá chất hoá chất BVTV trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
1.3.1 Khối lượng hoá chất BVTV được kinh doanh sử dụng hàng năm
a Các đơn vị thực hiện chức năng kinh doanh phân phối hoá chất BVTV của tỉnh Thái Nguyên
Các đơn vị quản lý hoá chất BVTV có thay đổi qua các thời kỳ Một số đơn vịchính được kinh doanh phân phối hóa chất BVTV bao gồm:
- Công ty Vật tư nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên
- Chi cục BVTV tỉnh Thái Nguyên
- Công ty cây trồng thành phố Thái Nguyên
- Trạm Vật tư các Huyện, Thành, thị (nay là chi nhánh vật tư các Huyện,Thành, Thị)
- Công ty cổ phần vật tư Bảo vệ thực vật Thái Nguyên
- Công ty TNHH một thành viên Bảo vệ thực vật Thái nguyên
- Các đại lý cấp I của các công ty thuốc BVTV Việt Nam
b Khối lượng thuốc BVTV được kinh doanh sử dụng hàng năm
Khối lượng thuốc BVTV sử dụng trước năm 1985:
- Nguồn thuốc được nhận từ Trung ương, sau đó tỉnh tiếp tục phân phối tới cáchuyện và các xã Lúc này, do nông dân chưa biết dùng nên nhu cầu sử dụng thuốcBVTV chưa cao
- Cả tỉnh được phân phối khoảng 12 tấn thuốc/năm Trong đó có khoảng 20%thuốc nước, còn lại là thuốc bột Các loại thuốc nước như Metaphos 40,50EC;Wophatox 50EC; Bassa 50EC….Các loại thuốc bột như: DDT, 666, BHC,Dipterex, 2,4D
Khối lượng thuốc BVTV sử dụng từ năm 1986-1992:
- Ngoài nguồn thuốc được phân phối, một số đơn vị đã bắt đầu giao dịch vớicác tỉnh ngoài để kinh doanh thuốc BVTV như công ty Cây trồng thành phố TháiNguyên, chi cục Bảo vệ thực vật Thái Nguyên Thuốc được phân phối cho các hợp
Trang 35tác xã (với nguồn thuốc phân phối bao cấp từ trên) và được bán tự do (với nguồnthuốc đơn vị tự kinh doanh).
- Số lượng thuốc sử dụng tăng lên hàng năm Năm 1990 số lượng thuốc được
sử dụng khoảng 100 tấn/năm trong đó có 40% là thuốc nước (đa số thuộc gốc lânhữu cơ), còn lại là thuốc bột (đa số là gốc clo hữu cơ)
Khối lượng thuốc BVTV sử dụng từ năm 1993 đến nay:
- Không còn nguồn thuốc phân phối bao cấp Các tổ chức, cá nhân, đơn vịkinh doanh thuốc BVTV tự mua bán phân phối các loại thuốc BVTV (căn cứ tìnhhình sâu bệnh, nhu cầu thị trường và các qui định của nhà nước)
- Số lượng, chủng loại thuốc sử dụng tăng lên hàng năm Không chỉ thuốc trừsâu, thuốc trừ bệnh mà còn thuốc trừ cỏ, thuốc trừ chuột, thuốc điều hoà sinh trưởngcây trồng
Bảng 1.4 Số lượng thuốc BVTV được kinh doanh trên địa bàn tỉnh
Thái Nguyên qua các năm gần đây [Nguồn: Số liệu chi cục BVTV]
Năm Thuốc trừ sâu Thuốc trừ bệnh Thuốc trừ cỏ Tổng số
1.3.2 Tình trạng các khu vực kho lưu giữ tại tỉnh Thái nguyên
Tình trạng các khu vực kho lưu giữ trước năm 1985
Trang 36- Đa số thuốc được phân phối từ tổng kho về tỉnh và lưu giữ tại kho Phúc Trìu,
xã Phúc Trìu, thành phố Thái Nguyên
- Các huyện lĩnh từ kho tỉnh về phân phối cho các xã Số lượng thuốc khôngnhiều và hầu như cả huyện và xã đều chưa có nơi chuyên để lưu chứa thuốc BVTV
Sự hiểu biết về độc hại của thuốc BVTV của đa số cán bộ và nông dân còn rất thấp.Việc mua bán thuốc BVTV thực hiện rất thô sơ thủ công (thuốc nước được đong rót
từ thùng phi lớn sang chai nhỏ, thuốc bột được xúc cân lẻ từ những bao thùng lớnsang bất cứ một loại bao túi nào do người mua mang đến) như mua bán thực phẩm
Tình trạng các khu vực kho lưu giữ từ năm 1986 đến năm 2002:
- Kho thuốc các huyện (do trạm vật tư Huyện quản lý), kho chi cục BVTV (dochi cục BVTV quản lý) được xây dựng Ở các xã đều có nơi chuyên để thuốcBVTV do hợp tác xã nông nghiệp quản lý, nhà để thuốc có cửa khoá có thủ kho (có
xã có tới 2,3 nơi để thuốc như xã Phúc Xuân thành phố Thái Nguyên, xã Úc kỳhuyện Phú Bình…)
- Qui mô kho cấp huyện tuỳ thuộc mức độ kinh doanh khác nhau của mỗi trạmvật tư Huyện Kho chi cục BVTV là kho do Tỉnh đầu tư xây dựng, ngoài việc là nơi
để thuốc phục vụ kinh doanh thuốc BVTV, kho còn có nhiệm vụ dự trữ thuốcBVTV phòng chống dịch
- Nơi để thuốc tại các hợp tác xã nông nghiệp thường là nơi gần ban quản lýhợp tác xã làm việc, gần trường học, khu dân cư đông người Khi có nhu cầu, nôngdân đến đó mua thuốc về sử dụng
Tình trạng các khu vực kho lưu giữ từ năm 2003 đến nay
- Các kho thuốc cấp huyện, cấp xã cũ được chuyển đổi dần mục đích sử dụng;
có nơi được chuyển thành thổ cư, có nơi chuyển thành trường học, nhà mẫu giáo,trung tâm dạy nghề…Hiện nay chỉ có các công ty Cổ phần vật tư BVTV, Công tytrách nhiệm hữu hạn một thành viên Bảo vệ thực vật và 1số các đại lý cấp I có kholưu chứa thuốc
- Nguyên nhân: Do việc kinh doanh thuốc BVTV đã thay đổi và thực hiện theoPháp lệnh BVTV Không còn việc phân phối bao cấp thuốc BVTV
Trang 37Thuốc BVTV lưu thông trên thị trường đã được đóng lẻ trong các chai, gói,thùng kiện theo qui định, có thời hạn sử dụng và luôn được đáp ứng đầy đủ trên thịtrường nên cũng không cần số lượng nhiều lưu trữ trong kho Các tập thể cá nhânkinh doanh không được Cục BVTV cho phép sang chai đóng gói thuốc BVTV thìkhông được tự sang chai đóng gói
Tại các xóm, xã đều có các cá nhân và tập thể tham gia kinh doanh thuốcBVTV (những người đã có chứng chỉ kinh doanh thuốc BVTV) Các nhà kinhdoanh thường nhập thuốc để bán với số lượng nhỏ theo nhu cầu thị trường (bán hếtlại lấy tiếp, không để tồn lưu) cho nên không phải cần đến kho để lưu trữ thuốcBVTV Nông dân không phải đi mua thuốc xa, không bị thiếu thuốc khi có dịchhại
1.3.3 Tình hình kinh doanh sử dụng hoa chất BVTV gốc clo trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
a Một số loại thuốc BVTV có nguồn gốc Clo đã sử dụng để phòng trừ sâu bệnh trên địa bàn tỉnh thái Nguyên
- DDT có tên hoá học là Diclodiphenyltricloetan Thuốc ở dạng bột trắng hayxám nhạt không tan trong nước Thuốc có tác dụng tiếp xúc và vị độc
- BHC, Gama 666 là 2 loại thuốc có tên hoá học chung là Ga ma - Hexaclo-xiclohexan Thuốc ở dạng bột mịn, mùi hôi, không tan trong nước thuốc
1,2,3,4,5,6-có tác dụng vị độc, xông hơi và tiếp xúc
- Thiodan: tên hoá học là 6,9-metano-2,4,3-benzodioxathiepin-3oxit Thuốc ở dạng lỏng, có tác dụng vị độc
6,7,8,9,10,10a-Hexaclo-1,5,5a,6,9,9a-Hexahydro-và tiếp xúc
- 2,4D tên hoá học là Diclophenoxiaxetic, thuốc ở dạng bột trắng dùng để trừ
cỏ thuốc có tác dụng nội hấp Thuốc rất độc, được sử dụng ở dạng muối trongthuốc có chất dioxin có thể kích thích tế bào ung thư phát triển, gây đột biến tế bàolàm dị dạng cơ thể người và động vật máu nóng
Các loại thuốc này rất bền vững trong cơ thể sống, trong môi trường và sảnphẩm động thực vật Hiện nay, các loại thuôc này đã bị cấm sử dụng
Trang 38b Khối lượng sử dụng trung bình một số loại hoá chất hoá chất BVTV gốc clo hữu cơ điển hình và phổ biến
Khối lượng tuỳ thuộc lượng thuốc được cung ứng bao cấp từ phía tổng khoBVTV do nhà nước quản lý và nhu cầu thị trường hàng năm Số lượng trung bìnhmột số loại thuốc BVTV gốc clo chính trong khoảng thời gian từ năm 1996- 2002như sau:
- DDT: 20 tấn /năm
- Ga ma 666: 40tấn /năm
- Thiodan: 10tấn/ năm
- 2,4 D: 10tấn /năm
c Thời gian bị cấm sử dụng các loại hoá chất BVTV gốc clo
- DDT: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đưa vào danh mục thuốc cấm
sử dụng trong nông nghiệp từ năm 1996
- 2,4D Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đưa vào danh mục thuốc cấm
Trang 39CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đất tại 3 khu vực (thuộc địa bàn 02 huyện và 01 thành phố) có kho chứa
hóa chất BVTV trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
- Nước ngầm tại các khu vực lân cận kho chứa
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra, thu thập thông tin đối với các địa phương nhằm xác định các điểm
ô nhiễm do hóa chất BVTV trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;
- Lấy mẫu đất và nước, phân tích các chỉ tiêu hóa chất BVTV gốc clo(Aldrin, DDT, DDE, Lindan), khoanh vùng, đánh giá phạm vi ô nhiễm, mức độ ônhiễm tại các điểm đã phát hiện;
- Đề xuất giải pháp nhằm xử lý ô nhiễm hoá chất BVTV tại khu vực có mức
độ tồn lưu cao nhất
2.3 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu hiện trạng môi trường đất và nước của một số khu vực kho chứahóa chất BVTV thuộc địa bàn thành phố Thái Nguyên, huyện Đồng Hỷ và huyệnĐịnh Hóa
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích tài liệu, số liệu
- Thu thập, nghiên cứu tất cả các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu,các quy định, các tiêu chuẩn môi trường cho các mục đích khác nhau
- Hệ thống các tài liệu, số liệu rời rạc sẵn có về đặc điểm khu vực nghiêncứu
- Phân tích, đánh giá các số liệu sẵn có: Với những số liệu về ô nhiễm môitrường do hoá chất BVTV, việc phân tích, đánh giá kèm theo so sánh với tiêu chuẩnmôi trường tương ứng Từ đó khoanh vùng, đánh giá phạm vi ô nhiễm, mức độ ônhiễm tại các điểm đã phát hiện
Trang 402.4.2 Phương pháp phỏng vấn trực tiếp lãnh đạo và người dân
Phương pháp này được bắt đầu bằng việc xây dựng kế hoạch dựa trên lýthuyết và thông tin đã có, tiếp đó là sửa chữa kế hoạch dựa trên tiếp thu góp ý củacác chuyên gia Sau đó xuống địa phương khảo sát thực địa và phỏng vấn ngườidân, phân tích kết quả và bổ sung các thông tin cần thiết Cuối cùng thảo luận vớingười dân, kiểm tra và tổng hợp thông tin
Nội dung phỏng vấn liên quan đến: đặc điểm kho chứa hóa chất BVTV trướcđây, vấn đề sử dụng hoá chất BVTV, hiện trạng sử dụng đất khu vực tồn lưu hoáchất BVTV, chất lượng nước và không khí khu vực nghiên cứu, nhận thức củangười dân về mức độ nghiêm trọng tồn lưu hoá chất BVTV, tình hình sức khoẻ củangười dân khu vực nghiên cứu, biện phát phòng tránh của người dân khi phát hiệntồn lưu hoá chất BVTV
Hình thức phỏng vấn là phỏng vấn bán chính thức Các đối tượng đượcphỏng vấn là một cách ngẫu nhiên (đối với người dân trong khu vực nghiên cứu) và
có chuẩn bị trước (đối với cán bộ thôn, xã, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện,thành phố) Quá trình phỏng vấn diễn ra bằng cách đặt câu hỏi thông qua các buổitrò chuyện với người dân, các câu hỏi không đưa trước cho các đối tượng phỏngvấn Tuỳ thuộc vào mức độ cởi mở để đặt ra nhiều câu hỏi hơn
2.4.3 Phương pháp quan trắc, khảo sát thực địa, lấy mẫu đất và nước
* Phương pháp quan trắc: Đây là phương pháp quan trọng nhất nhằm định
rõ vị trí và mức độ ô nhiễm hoá chất bảo vệ thực vật theo từng loại Trong phươngpháp này một mạng lưới quan trắc sẽ được xây dựng để thực hiện thu thập các mẫuđất tại các khu vực nghi vấn và đánh giá mức độ phân tán của hóa chất BVTV Quátrình thực hiện quan trắc sự hỗ trợ của cơ sở dữ liệu bản đồ và thiết bị định vị vệtinh là rất cần thiết
* Phương pháp khảo sát thực địa
Phương pháp khảo sát thực địa là rất cần thiết giúp người nghiên cứu có cáinhìn tổng quát và sơ bộ về đối tượng nghiên cứu đồng thời kiểm tra lại tính chínhxác của những tài liệu, số liệu đã thu thập từ đó xử lý tốt hơn trong bước tổng hợp