1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tự do hóa tài chính và lợi nhuận của ngân hàng phân tích dữ liệu bảng đối với ngân hàng việt nam

47 393 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 919,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tóm tắt Bài nghiên cứu tập trung xem xét mối tương quan giữa sự tự do hóa tài chính đến lợi nhuận ngân hàng ở Việt Nam. Đối với trường hợp Việt Nam, biến chỉ số tự do hóa tài chính là biến giả được xác định thông qua các sự kiện, cải cách về hội nhập và dỡ bỏ dần kiểm soát đối với hệ thống ngân hàng trong giai đoạn từ 2006 đến 2012. Bằng cách thu thập dữ liệu bảng từ báo cáo tài chính của 25 ngân hàng ở Việt Nam, tiến hành ước lượng mô hình hồi quy tuyến tính pooled, mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên (REM) và mô hình hồi quy tác động cố định (FEM); sau đó tiến hành kiểm định Hausman để chọn mô hình phù hợp. Kết quả kiểm định cho thấy mô hình REM phù hợp để ước lượng tác động của tự do hóa tài chính lên lợi nhuận ngân hàng Việt Nam. Bài nghiên cứu đã cho thấy tự do hóa tài chính làm giảm lợi nhuận ngân hàng. Đồng thời nghiên cứu tác động của tự do hóa tài chính đến các nhóm ngân hàng có thị phần lớn và nhỏ khác nhau như thế nào. Kết quả hồi quy cho thấy nhóm ngân hàng có thị phần lớn chịu tác động của tự do hóa tài chính mạnh hơn nhóm ngân hàng có thị phần nhỏ. Ngoài ra, bài nghiên cứu còn cho thấy mối tương quan dương và có ý nghĩa thống kê giữa rủi ro và lợi nhuận ngân hàng, mối tương quan dương và có ý nghĩa thống kê giữa tốc độ tăng trưởng GDPngười và lợi nhuận ngân hàng, cuối cùng là tương quan âm và có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ lạm phát và lợi nhuận ngân hàng. Qua đó giúp chúng ta có cái nhìn rõ ràng hơn về tác động của tự do hóa tài chính đến hoạt động ngân hàng, giúp cho các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản trị ngân hàng có thể đưa ra các chính sách điều hành và quản lý thích hợp để cải thiện hoạt động ngân hàng, thích nghi trong môi trường cạnh tranh gay gắt do tự do hóa tài chính. Bài nghiên cứu vẫn còn gặp phải một số khó khăn và thiếu sót việc tìm kiếm số liệu phù hợp ở Việt Nam, với số lượng mẫu không quá lớn và còn hạn chế trong phạm vi nghiên cứu nên bài nghiên cứu mới chỉ đưa ra nhận định về tác động của tự do hóa tài chính lên lợi nhuận ngân hàng. Hướng phát triển của đề tài này đó là tiếp tục mở rộng hướng nghiên cứu ra các khía cạnh khác của hoạt động ngân hàng chịu tác động bởi tự do hóa tài chính như thế nào, từ đó tiến đến việc xây dựng quy trình tự do hóa tài chính bền vững đối với nền kinh tế nói chung và lĩnh vực ngân hàng nói riêng.

Trang 2

Tóm tắt

Bài nghiên cứu tập trung xem xét mối tương quan giữa sự tự do hóa tài chính đến lợi nhuận ngân hàng ở Việt Nam Đối với trường hợp Việt Nam, biến chỉ số tự do hóa tài chính là biến giả được xác định thông qua các sự kiện, cải cách về hội nhập và dỡ bỏ dần kiểm soát đối với hệ thống ngân hàng trong giai đoạn từ 2006 đến 2012 Bằng cách thu thập dữ liệu bảng từ báo cáo tài chính của 25 ngân hàng ở Việt Nam, tiến hành ước lượng

mô hình hồi quy tuyến tính pooled, mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên (REM) và mô hình hồi quy tác động cố định (FEM); sau đó tiến hành kiểm định Hausman để chọn mô hình phù hợp Kết quả kiểm định cho thấy mô hình REM phù hợp để ước lượng tác động của tự do hóa tài chính lên lợi nhuận ngân hàng Việt Nam Bài nghiên cứu đã cho thấy tự

do hóa tài chính làm giảm lợi nhuận ngân hàng Đồng thời nghiên cứu tác động của tự do hóa tài chính đến các nhóm ngân hàng có thị phần lớn và nhỏ khác nhau như thế nào Kết quả hồi quy cho thấy nhóm ngân hàng có thị phần lớn chịu tác động của tự do hóa tài chính mạnh hơn nhóm ngân hàng có thị phần nhỏ Ngoài ra, bài nghiên cứu còn cho thấy mối tương quan dương và có ý nghĩa thống kê giữa rủi ro và lợi nhuận ngân hàng, mối tương quan dương và có ý nghĩa thống kê giữa tốc độ tăng trưởng GDP/người và lợi nhuận ngân hàng, cuối cùng là tương quan âm và có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ lạm phát

và lợi nhuận ngân hàng

Qua đó giúp chúng ta có cái nhìn rõ ràng hơn về tác động của tự do hóa tài chính đến hoạt động ngân hàng, giúp cho các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản trị ngân hàng có thể đưa ra các chính sách điều hành và quản lý thích hợp để cải thiện hoạt động ngân hàng, thích nghi trong môi trường cạnh tranh gay gắt do tự do hóa tài chính Bài nghiên cứu vẫn còn gặp phải một số khó khăn và thiếu sót việc tìm kiếm số liệu phù hợp ở Việt Nam, với số lượng mẫu không quá lớn và còn hạn chế trong phạm vi nghiên cứu nên bài nghiên cứu mới chỉ đưa ra nhận định về tác động của tự do hóa tài chính lên lợi nhuận ngân hàng Hướng phát triển của đề tài này đó là tiếp tục mở rộng hướng nghiên cứu ra các khía cạnh khác của hoạt động ngân hàng chịu tác động bởi tự do hóa tài chính như thế nào, từ đó tiến đến việc xây dựng quy trình tự do hóa tài chính bền vững đối với nền kinh tế nói chung và lĩnh vực ngân hàng nói riêng

Trang 3

MỤC LỤC

1 Giới thiệu 5

1.1 Lý do chọn đề tài 5

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 5

1.3 Kết cấu 6

2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây 7

2.1 Sơ lược về tự do hóa tài chính 7

2.2 Tác động của tự do hóa tài chính 7

2.2.1 Tác động tích cực của tự do hóa tài chính 7

2.2.2 Tác động tiêu cực của tự do hóa tài chính 8

2.3 Các nghiên cứu thực nghiệm 14

2.3.1 Trường phái áp chế tài chính 16

2.3.2 Trường phái thuyết cấu trúc 17

2.4 Tự do hóa tài chính và Lợi nhuận ngân hàng 17

2.4.1 Khung lý thuyết 18

2.4.2 Nghiên cứu thực nghiệm trước đây 19

2.5 Thực trạng quá trình tự do hóa tài chính và ảnh hưởng của nó đến lợi nhuận của các ngân hàng ở Việt Nam 20

2.5.1 Thực trạng quá trình tự do hóa tài chính ở Việt Nam 20

2.5.2 Lợi nhuận và tình hình phát triển của các ngân hàng Việt Nam 22

3 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu 30

3.1 Phương pháp nghiên cứu 30

3.1.1 Tác động của Tự do hóa tài chính đến lợi nhuận ngân hàng 30

4 Kết quả thực nghiệm 36

4.1 Kết quả ước lượng và các kiểm định 36

4.2 Phân tích kết quả 38

4.3 Tự do hóa tài chính tác động đến lợi nhuân ngân hàng có thị phần khác nhau 40

Trang 4

5 Kết luận 42

Phụ lục 43

Tài liệu Tham khảo 46

Trang 5

TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH VÀ LỢI NHUẬN NGÂN HÀNG:

PHÂN TÍCH DỮ LIỆU BẢNG ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG VIỆT NAM

1 Giới thiệu

1.1 Lý do chọn đề tài

Trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, tự do hóa tài chính là xu thế tất yếu và được coi là đã mang lại nhiều lợi ích cho mỗi quốc gia, nhất là các nước đang phát triển Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực thì tự do hóa tài chính cũng tồn tại những tác động tiêu cực, gây ra những hậu quả lớn đến nền kinh tế của các quốc gia Chúng ta có thể thấy tự do hóa tài chính liên quan đến rất nhiều lĩnh vực hoạt động trong nền kinh tế như đầu tư, kĩ thuật công nghệ, bất động sản, ngân hàng, sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu,… Tuy nhiên với phạm vi khá rộng như vậy và tầm hiểu biết nghiên cứu hạn hẹp, chúng tôi muốn tập trung với một mảng khá quan trọng chịu ảnh hưởng của tự do hóa tài chính - đó là lĩnh vực ngân hàng Hệ thống ngân hàng là một phần rất quan trọng của nền kinh tế, chịu tác động trực tiếp của tự do hóa tài chính; những biến động trong hoạt động ngân hàng cũng cho thấy sức khỏe nền kinh tế đang trong tình trạng như thế nào Vậy khi Việt Nam đang trong quá trình hội nhập tài chính quốc tế, thì tự do hóa tài chính sẽ tác động đến hoạt động ngân hàng tốt hơn hay xấu hơn; trong tình huống đó thì Việt Nam nên có biện pháp gì để thích nghi với xu thế hội nhập

Vì lí do đó, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Tự do hóa tài chính và lợi nhuận ngân hàng – Phân tích dữ liệu bảng đối với ngân hàng Việt Nam”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Dựa trên hệ thống lý thuyết về tự do hóa tài chính, đặc biệt là lý thuyết của trường phái tân cổ điển và những nghiên cứu thực tế về tác động của tự do hóa tài chính đối với lợi nhuận ngân hàng; bài nghiên cứu đã cố gắng tìm hiểu bản chất và vai trò của tự do hóa tài chính để thấy được tác động của tự do hóa tài chính đến lợi nhuận ngân hàng Việt Nam, đồng thời đánh giá thực trạng đổi mới và nêu lên một số nhận xét gợi mở cho các ngân hàng Việt Nam Bài nghiên cứu xoay quanh các mục tiêu nghiên cứu sau:

Trang 6

 Tự do hóa tài chính có tác động đến lợi nhuận ngân hàng hay không? Nếu có thì làm tăng hay giảm lợi nhuận ngân hàng?

 Đối với hai nhóm ngân hàng có thị phần lớn và thị phần nhỏ thì tự do hóa tài chính tác động đến nhóm nào mạnh hơn?

1.3 Kết cấu

Nội dung bài nghiên cứu của nhóm bao gồm 5 phần sau:

Phần 1: Giới thiệu Trong phần này nhóm sẽ trình bày một cách tổng quan về bài

nghiên cứu thông qua các mục: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu và kết cấu bài nghiên cứu

Phần 2: Tổng quan nghiên cứu Trong phần này, nhóm tập trung trình bày cơ sở lý

thuyết cũng như thực nghiệm về tự do hóa tài chính, tác động của tự do hóa tài chính lên lợi nhuận ngân hàng Ngoài ra, nhóm cũng trình bày về quan điểm, kết quả nghiên cứu của các tác giả trong trường phái áp chế tài chính và trường phái thuyết cấu trúc Từ đó, đưa ra bằng chứng về tác động có tính tương quan âm của tự do hóa tài chính lên lợi nhuận ngân hàng Việt Nam

Phần 3: Phương pháp nghiên cứu Dựa theo phương pháp luận từ bài nghiên cứu của

tác giả Hakimi Abdelaziz- Djelassi Mouldi- Hamdi Helmi (2011) về tác động của tự do hóa tài chính đến lợi nhuận của ngân hàng ở Tunisia Chúng tôi lấy mẫu số liệu từ báo cáo tài chính của 25 ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2012 thông qua phương pháp phân tích dữ liệu bảng bằng cách ước lượng mô hình Pooled, sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính tác động ngẫu nhiên (Random effects model) và mô hình hồi quy tuyến tính tác động cố định (Fixed effects model) để đo lường tác động của tự do hóa tài chính đến lợi nhuận ngân hàng Việt Nam Sau đó, chúng tôi sử dụng kiểm định Hausman để đưa ra mô hình dự báo phù hợp

Phần 4: Kết quả nghiên cứu Trong phần này nhóm sẽ trình bày kết quả phân tích mô

hình dữ liệu bảng đối với ngân hàng ở Việt Nam và cho thấy rằng tác động của tự do hóa tài chính lên ngân hàng Việt Nam có mối tương quan âm và các ngân hàng có thị phần lớn sẽ bị giảm lợi nhuận nhiều hơn các ngân hàng có thị phần nhỏ trong điều kiện có tự

do hóa tài chính

Trang 7

Phần 5: Kết luận Phần này sẽ tổng kết lại vấn đề được đưa ra và trình bày tóm lược

kết quả đạt được

2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây

2.1 Sơ lược về tự do hóa tài chính

Theo IMF tự do hóa tài chính là quá trình giảm thiểu và cuối cùng là hủy bỏ sự kiểm soát của Nhà nước đối với hoạt động của hệ thống tài chính quốc gia, làm cho hệ thống này hoạt động tự do hơn và hiệu quả hơn theo quy luật thị trường

Nội dung của tự do hóa tài chính bao gồm: tự do hóa lãi suất, tự do hóa tỷ giá, tự

do hóa giao dịch vốn, tự do hóa hoạt động của tổ chức tín dụng và các định chế tài chính

khác trên thị trường tài chính

2.2 Tác động của tự do hóa tài chính

Phần lớn các nghiên cứu lý thuyết về chủ đề tự do hóa tài chính công bố những tác động tiêu cực của hiện tượng này nhiều hơn các tác động tích cực Nhưng chúng ta không nên đơn giản chỉ nghiên cứu những tác động của tự do hóa tài chính, mà tốt hơn nên nghiên cứu đến những sắc thái của chúng Có thể nói tự do hóa tài chính là "thủ phạm" trên một số lĩnh vực nhưng cũng không nên bỏ quên những lợi ích của nó trên các mặt khác, như đối với tiết kiệm và đầu tư

2.2.1 Tác động tích cực của tự do hóa tài chính

Theo Venet (1994), tự do hóa tài chính có lợi đối với tiết kiệm và đầu tư Với tự

do hóa lãi suất, dẫn đến sự gia tăng tiết kiệm tài chính, để mong đợi một lợi tức lớn từ tiền gửi Sự gia tăng này là động lực để kích thích đầu tư

 Ảnh hưởng đến tiết kiệm và đầu tư

Theo Mc Kinnon (1973) và Shaw (1973), tự do hóa tài chính đảm bảo tốt hơn cho việc huy động vốn Đặc biệt, giúp cho hoạt động tiết kiệm và đầu tư tương xứng hơn, và thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế Trong một nghiên cứu liên quan đến bảy nước châu Á, Fry (1978) đã dẫn ra rằng lãi suất tín dụng thực ảnh hưởng tích cực đến tiết kiệm quốc gia Diery và Yasim (1993) kết luận rằng lãi suất tín dụng thực hoạt động tích cực trong thực thi tiết kiệm ở chín quốc gia châu Phi Cũng như thế, Bandiera và Alii (2000),

Trang 8

phân tích tác động tự do hóa tài chính về việc huy động tiết kiệm, họ thấy rằng tự do hóa tài chính có tác động tích cực một cách trực tiếp và có ý nghĩa đối với tiết kiệm Khi tự

do hóa lãi suất tín dụng và tin tưởng vào khoản lợi tức lớn, người gửi tiền sẽ sử dụng để tiết kiệm vốn Kết quả là một sự tích lũy vốn làm cho ngân hàng có thể giữ được một cường độ tài chính vững mạnh

Một khi tiết kiệm được ưa chuộng (tiết kiệm tài chính), các ngân hàng có thể đáp ứng tất cả các nhu cầu cho các khách hàng trong giới hạn tài chính Đầu tư cũng sẽ được

ưa chuộng như vậy, và mỗi nhà đầu tư tìm thấy tài chính tối ưu của dự án của mình Nếu tiết kiệm và đầu tư là những mặt có lợi của tự do hóa tài chính, thì theo Mc Kinnon (1973) và Shaw (1973) nó kiềm hãm điều gì đối với sự tăng trưởng kinh tế? Theo hai tác giả này, các chính sách tự do hóa tài chính là những việc liên quan đến sự gia tăng tiết kiệm, kích thích đầu tư và dẫn đến tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế Mặt khác, trong thời

kì khác, bởi tính phù hợp và thận trọng, các ngân hàng liệu sẽ tài trợ cho các khoản đầu

tư của các công ty hay không? Và ngoài ra, làm thế nào công ty phản ứng với các tín dụng ban đầu nhận được? Và làm thế nào nó duy trì các yếu tố quyết định của một mối quan hệ ngân hàng tương lai tốt đẹp? Mối quan hệ tiết kiệm, đầu tư và tăng trưởng kinh

tế là một mối quan hệ trong dài hạn Một khi một trong những thành phần đó không được chú trọng, mối quan hệ này sẽ không bao giờ được kiểm soát

2.2.2 Tác động tiêu cực của tự do hóa tài chính

 Nổi lên những hành vi ngân hàng mới

Những thay đổi của môi trường ngân hàng bởi chính sách tự do hóa tài chính là nguồn gốc của sự ra đời của hành vi ngân hàng mới Cụ thể là chấp nhận rủi ro và các hành vi đầu cơ

Trang 9

Chấp nhận rủi ro quá mức

Một số nghiên cứu gần đây đã tìm cách nghiên cứu tại sao một số ngân hàng vẫn tiếp tục thất bại trong khi những ngân hàng khác chứng minh được sự vững mạnh sau quá trình tự do hóa tài chính Kết quả của những phân tích đã dẫn đến cùng một kết luận để các ngân hàng đang thất bại chịu nhiều rủi ro biện minh cho mức lợi nhuận cao hơn được ghi nhận trước những thất bại khủng hoảng ngân hàng (Miotti và Plihon, 2001)

Bây giờ chúng ta hãy cố gắng làm rõ các khái niệm về chấp nhận rủi ro cũng như những yếu tố giải thích Việc chấp nhận rủi ro phù hợp với hướng lựa chọn và tài trợ của các dự án rủi ro mà đòi hỏi năng suất cao Giải trình của chấp nhận rủi ro là như sau, bởi

sự tự do hóa trong hoạt động của ngân hàng làm tăng cơ hội của chấp nhận rủi ro Lo ngại xem lợi nhuận của họ có bị giảm thấp và hỗ trợ thiệt hại có thể, sau sự gia tăng cạnh tranh, các ngân hàng khuyến khích tài trợ cho khách hàng xấu Hành vi này sẽ được hỗ trợ bởi cơ chế công khai bảo vệ (PDR) Chấp nhận rủi ro vượt mức, có thể liên quan đến một sự dễ sụp đổ ngân hàng, thường theo sau là khủng hoảng ngân hàng

Ngoài ra, chấp nhận rủi ro chịu tác động bổ trợ bởi tự do hóa tài chính và có khả năng liên quan đến các cuộc khủng hoảng ngân hàng, các ngân hàng phát triển hành vi đầu cơ

Các hành vi đầu cơ

Các khái niệm đầu cơ được hiểu là dự trữ một lượng hàng hóa (mua hoặc bán) với

ý định bán lại vào một ngày sau đó chứ không có ý định sử dụng Ở cấp độ này, các ngân hàng chịu sự cạnh tranh tài chính trực tiếp Sự tiếp cận của khách hàng vay để tài trợ trực tiếp làm giảm lợi nhuận của các hoạt động ngân hàng truyền thống Phải đối mặt với việc giảm khả năng hoạt động và thu nhập, các ngân hàng được khuyến khích phản ứng bằng cách nâng cao mức độ trung bình của nguy cơ hoạt động của họ bằng cách phát triển các hoạt động có tính chất đầu cơ

Sự xuất hiện của hành vi ngân hàng mới, cụ thể là chấp nhận rủi ro và các hành vi đầu cơ tăng lên cùng với vấn đề rủi ro đạo đức gây ra bởi các chính sách tự do hóa tài chính

Trang 10

 Rủi ro ngân hàng và rủi ro tài chính

Chương trình tự do hóa tài chính rộng lớn được thực hiện trong khuôn khổ của các nước mới phát triển; theo sau là tiến trình của những rủi ro ngân hàng và rủi ro tài chính Trong phần này, chúng tôi sẽ đưa ra các kênh truyền dẫn giữa tự do hóa tài chính và các ngân hàng chính yếu và rủi ro tài chính với những hiểu biết về rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, tỷ giá và rủi ro lãi suất

Việc nới lỏng hoạt động ngân hàng thông qua việc dỡ bỏ khung tín dụng đã đưa ra một hành động tuyệt vời như liên quan đến ấn định lãi suất và phân phối tín dụng Thật vậy, các ngân hàng đã tìm cách có lợi hơn - những gì làm dư thừa phân phối tín dụng mặc

dù chất lượng của những tín dụng đó "tốt hay xấu" Tín dụng "xấu" được phân phối mà thực tế khách hàng vay không đủ năng lực thực hiện đúng cam kết sẽ dẫn đến rủi ro tín dụng

Về vấn đề rủi ro thanh khoản, cải cách tự do hóa lãi suất tiền gửi được thực hiện, một mặt liên quan đến sự gia tăng thanh khoản ngân hàng mà vẫn còn ít hơn đáng kể số lượng tín dụng phân phối; và mặt khác, phụ thuộc vào quyết định của người gửi tiền mà

có thể rút vốn của họ một cách bất ngờ và ồ ạt

Theo sau chính sách tự do hóa tài chính, kết quả là sự gia tăng rủi ro lãi suất Các giải thích như sau: việc nới lỏng những hạn chế liên quan đến sự chu chuyển vốn trong khuôn khổ của chương trình tự do hóa tài chính, đã làm các định chế tài và phi tài chính nhạy cảm hơn với rủi ro lãi suất Thật vậy, một người cho vay với tỷ lệ biến đổi, chịu rủi

ro để xem thu nhập có giảm nếu tỉ suất giảm xuống Ngoài ra, nếu lãi suất được cố định, trong trường hợp gia tăng của tỷ suất, người cho vay này phải chịu một chi phí cơ hội để xem thu nhập của mình giảm Ngược lại, một người đi vay với các tỷ suất thay đổi chấp nhận rủi ro cho thấy chi phí tài chính tăng nếu lãi suất tăng Nếu tỷ lệ này là cố định, người đi vay này chịu rủi ro nếu tỷ suất giảm Ở cấp độ này, việc định nghĩa điểm lãi suất

là cần thiết Điểm lãi suất đo lường xu hướng của công ty về rủi ro lãi suất, nó tập hợp tất

cả các cam kết và các tài sản của công ty, hiện tại, tương lai hay có điều kiện, với tỷ suất

cố định và biến động

Trang 11

Liên kết với các ảnh hưởng trực tiếp của tự do hóa tài chính lên rủi ro tỷ giá, Kaminsky và Reinhart (1999), thấy rằng 56% các cuộc khủng hoảng ngân hàng - thì chính sách tự do hóa tài chính là nguyên nhân trung tâm, được theo sau bởi các cuộc khủng hoảng ngoại tệ Các rủi ro tỷ giá trong khuôn khổ của chính sách tự do hóa tài chính có thể được tóm tắt chỉ đơn giản như sau: Việc mở cửa tài chính dẫn đến sự xâm nhập ồ ạt của các nguồn vốn cũng như như mức nợ rất cao đại diện cho các nước nghèo nhất thành những nước giàu nhất Rủi ro tỷ giá là kết quả khi đồng tiền nội tệ (nước vay) sụt giá so với ngoại tệ (nước cho vay) Hoặc một sự nâng giá đồng ngoại tệ so với đồng nội tệ Xem xét sự phụ thuộc tài chính của các nước nghèo liên quan đến tính thanh khoản đối với các nước với dư thừa thanh khoản (nợ lớn, vị trí từ nước ngoài), các nước vay sẽ chịu sự khác biệt giữa hai tỷ giá hối đoái

 Tính mỏng ngân hàng

Các chính sách tự do hóa tài chính đã được thông qua bởi một số quốc gia mới phát triển để hiện đại hóa và thúc đẩy hệ thống tài chính nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng Theo mong đợi của các nước đang phát triển và phát triển, sự tự do hóa này sẽ

hỗ trợ tăng trưởng và phát triển kinh tế như các khuyến nghị của các tác giả của trường phái áp chế tài chính

Quan sát các sự kiện cho thấy rằng tự do hóa tài chính chỉ có lợi trên tiết kiệm và đầu tư, sau khi tự do hóa lãi suất tín dụng và tự do hóa tài khoản vốn Kết quả là có sự gia tăng tính thanh khoản, điều mà sẽ kích thích đầu tư Tác động tích cực này là chỉ một thời gian ngắn và không chắc chắn, những lời giải thích như sau: một sự tác động tích cực không chắc chắn do thực tế là các nhà đầu tư có thể liên tục và bất ngờ rút vốn bằng cách tìm kiếm nơi trú ẩn khác tạo ra một sản lượng cao hơn Tác động tích cực trong ngắn hạn

từ các ngân hàng ngày càng trở nên mang tính đầu cơ trong trường hợp không có kiểm soát và đủ khả năng giám sát

Các ngân hàng bắt đầu chấp nhận rủi ro vượt mức của các dự án tài trợ có chất lượng kém nhưng lại yêu cầu năng suất cao Điều này sẽ được phản ánh một cách tiêu cực; một mặt đến chất lượng đầu tư của các công ty trên, và mặt khác đến khả năng thanh toán của các ngân hàng cuối cùng Từ đâu mà sự suy giảm của tình hình tài chính của các

Trang 12

tổ chức đó là trên mức này là điều mà một số tác giả tập trung trong nghiên cứu của họ

Ví dụ như Demirguç Kunt và Detragiache (1998), Klaus và Chenard (1997), Hermosillo

và Pazarbasioglu (1997); các tác giả nhấn mạnh đến tác hại của tự do hóa tài chính trong tính mỏng của ngân hàng

 Khủng hoảng ngân hàng

Một số nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm cho thấy vai trò trung tâm của tự do hóa tài chính trong sự xuất hiện của các cuộc khủng hoảng ngân hàng Các tài liệu về các cuộc khủng hoảng ngân hàng phát triển từ nửa sau những năm 1990, sau sự lan truyền phá sản ngân hàng và khó khăn tài chính trên thế giới Những thử nghiệm thành công của

tự do hóa tài chính là rất hiếm và trong trường hợp chung, tự do hoá ngân hàng gây ra khủng hoảng tài chính và khủng hoảng ngân hàng đi kèm với sự tụt dốc dữ dội của sự tăng trưởng và sự thu hẹp của GDP Theo Sandretto (1994) “các cuộc khủng hoảng tài chính không phải là một hiện tượng mới, vì trong hai mươi năm qua, 125 quốc gia đã phải đối mặt với vấn đề này, mà có một nửa số cuộc khủng hoảng ảnh hưởng đến các quốc gia trong quá trình phát triển.”

Theo hướng này, một số nước phát triển và đang phát triển chịu ảnh hưởng của khủng hoảng ngân hàng sau khi tự do hóa hệ thống tài chính của họ Các nước phía nam

là châu Á (Thái Lan và Hàn Quốc) và Châu Mỹ La Tinh (Chilie và Argentina) chịu mạnh

mẽ hơn cả Hãy cùng lấy một ví dụ về các quốc gia châu Á và chính xác hơn là Thái Lan,

là nước đầu tiên chịu tác động mạnh bởi các cuộc khủng hoảng ngân hàng Trên thực tế, hậu quả của việc tự do hóa tài chính thông báo đến một bất cập giữa hệ thống ngân hàng

và các phương pháp mở cửa, do thực tế rằng điều này cuối cùng đã không được trang bị tốt để thích ứng với những thay đổi sâu sắc và triệt để Sự cạnh tranh giữa các định chế tài chính dẫn đến việc bãi bỏ vị trí thống lĩnh của các ngân hàng

Theo chính sách tự do hóa tài chính, các nhà điều hành kinh tế tìm thấy một phương cách tuyệt vời, các ngân hàng có thể tự do phân bổ nguồn vốn Các ngân hàng áp dụng hành vi đầu cơ, cơ hội mới và chấp nhận rủi ro vượt mức do thực tế là các dự án rủi

ro đòi hỏi năng suất cao Những sửa đổi căn bản là nguồn gốc của căng thẳng bất đối xứng thông tin, điều mà làm khó vai trò của các giám sát viên Sự không hoàn hảo của

Trang 13

thông tin này kết hợp với giám sát yếu kém sẽ góp phần thêm vào chấp nhận rủi ro vượt mức

Thật vậy, lời giải thích chung nhất của việc chấp nhận rủi ro vượt mức dựa vào một phần lớn trách nhiệm của tự do hóa tài chính Tất cả những thất bại và nguy cơ suy yếu của ngân hàng kết hợp với một bối cảnh kinh tế vĩ mô không thuận lợi về thể chế là nguồn gốc của một cuộc khủng hoảng ngân hàng trong 1983 Trong trường hợp của Hàn Quốc, cuộc khủng hoảng tài chính đã thực sự bắt đầu khi vào năm 1997 chính phủ quyết định không hỗ trợ Chaebol trong khó khăn về tài chính Chaebol là một tập đoàn công nghiệp phần lớn thuộc xuất khẩu Để tài trợ cho các khoản đầu tư của họ, họ trông cậy vào tài trợ bởi số nợ đối với các ngân hàng trong nước và hệ thống tài chính Do đó, các ngân hàng sẽ phụ thuộc vào sự vững mạnh của Chaebol vì một khoản tín dụng đáng kể của họ tại Chaebol Trong những năm đó trước cuộc khủng hoảng, Chaebol đã cố gắng để tăng thị phần của mình, với ý định này, họ có khu nghỉ dưỡng mang khoản nợ từ các thị trường quốc tế Vì năng lực dư thừa của thặng dư sản xuất, Chaebol đã gặp khó khăn tài chính, được đánh dấu bởi sự sụt giảm lợi nhuận của họ và mất cân bằng giữa các khoản

nợ và tài sản của họ mà không phải cùng kỳ hạn Tình trạng này sẽ dẫn đến việc chủ nợ nước ngoài giảm tiếp xúc với các rủi ro của Hàn Quốc và cắt giảm hạn mức tín dụng, từ

đó một cuôc khủng hoảng xảy ra trong năm 1997

Đối với trường hợp của các nước Mỹ Latinh, và chính xác hơn Chilie, Diaz Aljandro (1985) thấy rằng, hậu quả của tự do hóa tài chính Chile là thảm khốc Như tháng đầu tiên, sự phá sản ngân hàng có sự lặp lại Sau những khó khăn nghiêm trọng được biết đến với hầu hết các ngân hàng quan trọng của đất nước (Banco hoặc Sono) trong năm 1997, chính phủ xem xét lại tờ khai của mình, và quyết định hỗ trợ điều này trong sự lo ngại phá sản Trong nghiên cứu của họ, Brukett và Dot (1991) cho thấy quá trình tự do hóa tài chính thực hiện trong Chilie đã không cho phép phát triển, cũng như là tăng trưởng kinh tế

Như đối với việc tự do hóa thị trường vốn trong nước ra vốn nước ngoài, theo MC Kinnon, nó dẫn đến sự đánh giá cao của tỷ giá hối đoái mà nói đến hủy bỏ vài tác dụng

có lợi hiếm hoi của chính sách tự do hóa tài chính Trong trường hợp của Argentina, Miotti và Plihon (2001), do đó liên tiếp với sự xuất hiện của các cuộc khủng hoảng ngân

Trang 14

hàng trong bối cảnh kinh tế vĩ mô không thuận lợi của đất nước và các hành vi đầu cơ của các ngân hàng sau khi tự do hóa tài chính

Tình hình kinh tế vĩ mô dẫn đến sự kìm hãm nhanh chóng của lạm phát, rất nhanh nối lại các khoản tín dụng và tăng trưởng kinh tế Cũng như thế, tự do hóa tài chính liên quan đến một sự gia tăng mạnh mẽ của vốn ngắn hạn mà sẽ được sử dụng trong hoạt động đầu cơ Môi trường kinh tế vĩ mô này đặc trưng bởi dự đoán tăng trưởng thuận lợi, tăng tính thanh khoản và cạnh tranh ngân hàng mạnh mẽ là nguồn gốc của bong bóng đầu

cơ Các cuộc tấn công đầu cơ và rút vốn ồ ạt sẽ nhanh chóng vào gây phá sản ngân hàng

Số các định chế tài chính đóng cửa hoặc sáp nhập là 20 trong nửa đầu năm 1995, 28 trong nửa cuối năm này và 8 trong nửa đầu năm 1996 cho đến khi đạt 86 vào năm 1999

Ngoài bối cảnh kinh tế vĩ mô, nghiên cứu hành vi ngân hàng cũng vô cùng hữu ích Vào lúc bắt đầu của quá trình tự do hóa tài chính, kết quả của nó là tăng cạnh tranh

để tăng thị phần Hệ thống ngân hàng Argentina là với một cuộc cạnh tranh mãnh liệt, lợi nhuận cao và tính mỏng của các danh mục đầu tư Điều này được giải thích bởi sự phát triển của hoạt động đầu cơ

2.3 Các nghiên cứu thực nghiệm

Nghiên cứu sự ảnh hưởng của tự do hóa tài chính lên lợi nhuận ngân hàng thường liên quan đến mối quan hệ giữa tự do hóa tài chính và khủng hoảng ngân hàng Mối quan

hệ này cũng đi kèm với tầm quan trọng của lợi nhuận ngân hàng thông qua chỉ số rủi ro

Có một số bài nghiên cứu bàn riêng về mối tương quan này Fisher và Chenard (1997)

chỉ ra rằng tự do hóa tài chính làm sụt giảm lợi nhuận ngân hàng Theo hướng này, và bởi

sự tự do hóa lãi suất, dẫn đến kết quả là sự gia tăng chi phí tài chính ngân hàng (có lợi đối với khách hàng) Tương tự, việc nâng khung tín dụng (tự do hóa lãi suất nợ, tự do hóa tín dụng) khuyến khích các ngân hàng chấp nhận rủi ro để đạt được mục tiêu lợi nhuận Việc chấp nhận rủi ro này thường đi kèm theo rủi ro vỡ nợ

Barajas, Steiner và Salazar (1999), trong bài nghiên cứu của họ liên quan tới

trường hợp ở Colombia cho thấy rằng tự do hóa tài chính tác động tới lợi nhuận biên các ngân hàng trung gian Nếu tỷ lệ này không được giảm bớt, thì sẽ làm sụt giảm chất lượng

Trang 15

tín dụng Nói cách khác, lợi nhuận ngân hàng tăng là kết quả của tự do hóa lãi suất nợ Tuy nhiên, này sẽ chịu tác động tiêu cực bởi chất lượng tín dụng kém

Choudhry Tanveer Shehzad and Jakob De Haan (2008) điều tra tác động của tự do

hóa tài chính lên khủng hoảng có hệ thống và phi hệ thống của ngân hàng và cho thấy rằng tự do hóa tài chính làm giảm khả năng khủng hoảng có hệ thống của ngân hàng trong các thử nghiệm độ nhạy khác nhau thì kết quả cho ra có ý nghĩa mạnh mẽ, tuy nhiên có một số bằng chứng cho rằng khủng hoảng phi hệ thống của ngân hàng có khả năng gia tăng sau tự do hóa tài chính

Các tác giả khác thì tập trung vào những nghiên cứu định lượng mà có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận Theo hướng đó, các biến kinh tế vĩ mô được đề cập trong mô hình lợi nhuận ngân hàng Trong những biến vĩ mô đó, chúng ta chú ý vào lãi suất, tỉ lệ lạm

phát, và tổng sản lượng quốc nội (GDP) (Okpara 2010) Về vấn đề các biến ngân hàng,

chúng ta có đáng kể nhất là tỉ số thanh khoản, quy mô ngân hàng, mức độ rủi ro, tính đầy

đủ trong nguồn vốn

Afanasieff và cộng sự (2001), bằng cách sử dụng kĩ thuật dữ liệu bảng cho trường

hợp Brazil đã tổng kết rằng các biến kinh tế vĩ mô có tác dụng đáng kể đến lợi nhuận

ngân hàng Guru và cộng sự (2002), dựa trên dữ liệu của 17 ngân hàng thương mại

Malaysia trong suốt thời gian 1986-1995, đã nhấn mạnh tầm quan trọng của tiền gửi ngân

hàng như là mức định lượng cho hiệu suất của các định chế này Demirguç- Kunt A và Huizingha (2001), lấy dữ liệu từ ngân hàng 80 nước trong suốt thời 1988-1995, tính toán

cho lợi nhuận ngân hàng Các biến được giới thiệu trong mô hình liên quan đến đặc tính ngân hàng, các điều kiện kinh tế vĩ mô, và cấu trúc tài chính

Các tác giả khác chỉ ra rằng tư do hóa tài chính có tác động tiêu cực đến cấu trúc tài chính Họ khẳng định rằng sự mở cửa tài chính tác động mạnh đến sự bất ổn tài chính, nguy cơ sụp đổ của ngân hàng và sự phá sản cũng như sự sụt giảm tăng trưởng kinh tế Ở

mức độ này, Demirguç-Kunt và Detragiache (1998), Fisher and Chenard (1997), nhấn

mạnh sự tồn tại mối tương quan giữa tự do hóa tài chính và nguy cơ sụp đổ hệ thống ngân hàng

Trang 16

2.3.1 Trường phái áp chế tài chính

Các tài liệu tự do hóa tài chính bắt nguồn từ những năm đầu thập niên 70, tại thời

điểm xây dựng trường phái áp chế tài chính bởi những người tiên phong Mc Kinnon (1973) và Shaw (1973) Theo hai tác giả này, tự do hóa tài chính là phương tiện hiệu quả

duy nhất để phát triển các ngân hàng trung gian; bắt đầu tích lũy vốn; và thúc đẩy sự phát triển tăng trưởng kinh tế của các nước Nhiều tác giả đưa ra tác hại của việc ngăn chặn tài chính và bảo vệ những mặt tích cực của tự do hóa tài chính

Theo Mc Kinnon (1973) và Shaw (1973) cũng như người ủng hộ khác đã cùng chia sẻ quan điểm về tác dụng tích cực của tư do hóa tài chính Trong đó, Kapur (1976) là

một trong những người đầu tiên bổ sung vào bài phân tích của hai tác giả đó bằng việc hợp nhất nó trong một mô hình năng động Điều này bộc lộ ra rằng việc gia tăng lãi suất danh nghĩa có lợi cho việc kích thích tiền gửi hơn là cắt giảm tỉ lệ tăng cung tiền Hơn nữa, trình tự đầu tiên này giúp đạt được đồng thời hai mục tiêu: một mặt, cho phép giảm

tỉ lệ lạm phát nhờ giảm cầu tiền tệ; mặt khác, cũng là nguồn gốc của sự kích thích trực tiếp của tiết kiệm

Galbis (1977) là người được coi là một trong những người ủng hộ trường phái áp

chế tài chính, đã xây dựng mô hình với hai phần: phần nguyên bản- sản lượng vốn bất biến và kém; và phần hiện đại – sản lượng vốn ổn định bất biến nhưng cao hơn Phần đầu tiên chứng minh khả năng bỏ vốn đầu tư một cách triệt để, trái lại phần thứ hai đảm bảo việc bỏ vốn đầu tư bằng nguồn tiết kiệm và vay nợ ngân hàng Hơn nữa, tự do hóa tài chính thúc đẩy việc tăng lãi suất thực của tiền gửi dẫn đến sự gia tăng năng suất trung bình của đầu tư, cũng như cho phép thay đổi tiết kiệm từ truyền thống đến hiện đại

Cuối cùng, từ các mô hình gần đây làm phong phú thêm những đóng góp ban đầu

của Mc Kinnon (1973) và Shaw (1973) Trong việc này, chủ yếu là công lao của Roubini

và Martin (1992) Mô hình của họ nhằm nghiên cứu hệ quả của tình trạng bất định ngoại

sinh của thị trường tài chính đối với sự tăng trưởng dài hạn Cũng giống như ý kiến của

Mc Kinnon (1973) và Shaw (1973), những tác giả khác chỉ trích nó bởi thừa nhận ảnh

hưởng trực tiếp của tự do hóa tài chính đến sự bất ổn tài chính, suy kiệt tình trạng tài chính ngân hàng, nguy cơ sụp đổ, khủng hoảng và phá sản ngân hàng Những nghiên cứu mới gần đây xoay quanh các tác giả của trường phái thuyết cấu trúc

Trang 17

2.3.2 Trường phái thuyết cấu trúc

Trường phái thuyết cấu trúc được xây dựng xung quanh các việc nói đến tranh chấp phương pháp tiếp cận của Mc Kinnon (1973) và Shaw (1973) Họ khẳng định rằng

tự do hóa tài chính làm nổi lên những bất ổn tài chính, nguy cơ sụp đổ ngân hàng và phá sản cũng như sự suy giảm của tăng trưởng kinh tế Ở cấp độ này, Demirguç-Kunt và Detragiache (1998), Fisher và Chenard (1997) nhấn mạnh sự tồn tại của mối quan hệ giữa

tự do hóa tài chính và nguy cơ sụp đổ ngân hàng Aljandro.C Diaz (1985) trong bài viết nổi tiếng có tựa đề “Tạm biệt áp chế tài chính, xin chào khủng hoảng tài chính” đã cho thấy việc quá độ từ trạng thái áp chế tài chính đến trạng thái tự do hóa tài chính làm nổi lên những bất ổn tài chính và khủng hoảng

Thật vậy, mặc dù cách tiếp cận của Mc Kinnon (1973) và Shaw (1973) đã được điều chỉnh và làm phong phú thêm bởi một số tác giả, nhưng không thể không thông báo rằng nó có một số vấn đề nhất định cần lưu ý

 Đầu tiên, các lý thuyết về tự do hóa tài chính giả định một mối quan hệ ngày càng tăng giữa các lãi suất thực và tiết kiệm Giả định này không tính đến tác động thay thế và hiệu quả trở lại Ngược lại, các lý thuyết của áp chế tài chính giả định một mối quan hệ ngày càng giảm giữa tiết kiệm và lãi suất

 Thứ hai, cách tiếp cận của Mc Kinnon (1973) và Shaw (1973) là thành lập trên giả định ngầm rằng thị trường tài chính là hoàn hảo, trong khi Stieglitz và Weiss (1981) cho thấy, thị trường tín dụng thì nguồn thông tin không hoàn hảo Chính sự thông tin không hoàn hảo này có thể dẫn đến quá trình chống chọn lọc

 Cuối cùng, Mc Kinnon và Shaw giả định sự tồn tại của một mối quan hệ giữa lĩnh vực tài chính không chính thức và áp chế tài chính Ngược lại, Jensen (1989) nhấn mạnh

sự tồn tại của một thị trường tài chính không chính thức không bắt buộc các bằng chứng cần thiết của áp chế tài chính mà hơn nữa thể hiện một tổ chức cụ thể của sản xuất và tiếp thị

2.4 Tự do hóa tài chính và Lợi nhuận ngân hàng

Trang 18

2.4.1 Khung lý thuyết

Trong ngắn hạn, theo sau các chương trình tự do hóa tài chính là một mức độ lợi nhuận ngân hàng cao hơn Giải thích như sau: sự mở cửa tài chính đã được theo sau bởi

sự tích lũy thanh khoản Cường độ tài chính này đi lên với việc tự do hóa tài khoản vốn

và lãi suất tín dụng Trong khi có thanh khoản mạnh, việc đầu tư sẽ được ưa chuộng, từ nơi một trợ cấp tối ưu các nguồn tài nguyên

Trong trường hợp không có kiểm soát và giám sát đầy đủ, các ngân hàng bắt đầu tài trợ cho các dự án rủi ro mà yêu cầu năng suất cao Lợi nhuận ngân hàng được xem tăng lên Sự tự do hóa hoạt động ngân hàng được thúc đẩy bởi tự do hóa tài chính đã làm tăng cơ hội nhận rủi ro Các ngân hàng tiếp tục được hướng tài trợ cho các hoạt động có rủi ro cao Khách hàng vay vẫn không thể đảm bảo cam kết của họ Thật vậy, kết quả là một sự suy giảm của tình hình tài chính của các ngân hàng dẫn đến một sự yếu kém và thậm chí lợi nhuận ngân hàng âm Lợi nhuận thấp này kết hợp với hành vi đầu cơ, sự bất đối xứng thông tin và bất lợi về thể chế bối cảnh kinh tế vĩ mô, tạo nên nguy cơ sụp đổ của ngân hàng; theo sau đó là phá sản và khủng hoảng ngân hàng

Chúng ta hãy lấy trường hợp của Argentina, và theo nghiên cứu Miotti và Plihon (2001), họ chứng minh rằng tự do hóa tài chính ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận ngân hàng Theo các tác giả, trước khi rơi vào phá sản, các ngân hàng có được lợi nhuận cao hơn so với thực lực ngân hàng Sự chênh lệch lợi nhuận này đến từ những cách mà các ngân hàng đã làm để phát triển hoạt động đầu cơ Như chiến lược chấp nhận rủi ro tăng lên, lợi nhuận ngân hàng được xem xấu đi và các ngân hàng trở nên mong manh hơn

Nói tóm lại, tự do hóa tài chính ở các nước đang phát triển đi kèm với lợi nhuận cao của các ngân hàng Lợi nhuận này được giải thích bởi việc thiếu giám sát và kiểm soát, dẫn đến cơ hội chấp nhận rủi ro Chấp nhận rủi ro quá mức, một suy giảm chất lượng đầu tư và tài trợ xấu là nguồn gốc của sự suy giảm của lợi nhuận ngân hàng, tạo thành một trong những nguồn bất ổn ngân hàng

Trang 19

2.4.2 Nghiên cứu thực nghiệm trước đây

Theo Hakimi Abdelaziz, Djelassi Mouldi và Hamdi Helmi (2011), bài nghiên

cứu mối quan hệ giữa tự do hóa tài chính và lợi nhuận ngân hàng ở Tunisia dựa trên phân tích dữ liệu bảng của các ngân hàng ở Tunisia, đã cho thấy rằng tự do hóa tài chính vào lợi nhuận ngân hàng có mối tương quan đáng kể Tự do hóa tài chính ở Tunisia là khác với các nước khác trên một số chương trình kế hoạch Việc tự do hóa có nhịp điệu dần dần và không triệt để Do đó nó khác biệt bởi không có sự xuất hiện của các cuộc khủng hoảng và phá sản ngân hàng như các ví dụ của Đông Nam Á và châu Mỹ Latinh Tuy nhiên theo kết quả nghiên cứu của các tác giả, tác động của tự do hóa tài chính vào lợi nhuận ngân hàng chứng minh là tương tự như kết quả thực hiện trên các quốc gia khác

Tự do hóa tài chính làm giảm lợi nhuận của các ngân hàng Tunisia Bởi tự do hóa lãi suất

nợ và việc dỡ bỏ khung tín dụng, lợi nhuận ngân hàng xấu đi Sự tự do hóa này khuyến khích các ngân hàng chấp nhận rủi ro hơn bằng cách yêu cầu nâng lãi suất với các dự án rủi ro cao Tuy nhiên, nguồn lợi nhuận mạnh mẽ này là ngẫu nhiên và với một xác suất thành công nhỏ Điều làm giảm lợi nhuận ngân hàng chính là việc dỡ bỏ khung của tín dụng Các khoản tín dụng phân phối cho khách hàng vay "xấu" làm cho các ngân hàng tốn kém chi phí điều chỉnh, ảnh hưởng đến tiêu cực đến lợi nhuận ngân hàng

Nihal Bayraktar and Yan Wang (2004) điều tra tác động của các ngân hàng nước ngoài khi gia nhập vào thị trường ngân hàng trong nước và mối quan hệ này bị tác động như thế nào bởi tự do hóa tài chính Nghiên cứu này cho thấy sau khi kiểm soát các biến kinh tế vĩ mô và nhóm các quốc gia lại với nhau theo trình tự tự do hóa tài chính, các ngân hàng nước ngoài đã cải thiện đáng kể năng lực cạnh tranh trong các nước có tự do hóa tài chính đầu tiên Ở các nước tự do hóa tài chính, chỉ số lợi nhuận và chi phí có tương quan âm đến giá cổ phiếu của các ngân hàng nước ngoài

Arthur E Wilmarth, Jr (2003) cho rằng tự do hóa tài chính có xu hướng tăng tính

dễ tổn thương lên hệ thống ngân hàng do sự sụp đổ đột ngột của giá trị tài sản trong thị

trường chứng khoán và thị trường bất động sản Và theo Gil Mehrez(1999), xác suất

khủng hoảng ngân hàng sẽ cao hơn trong giai đoạn 5 năm sau tự do hóa tài chính, đặc biệt với các quốc gia có tính minh bạch tài chính kém và thông tin kém hiệu quả

Trang 20

Demerguç-Kunt và Huizingha (2001) đã nghiên cứu tác động của sự phát triển tài

chính lên lợi nhuận ngân hàng Bằng cách sử dụng dữ liệu ngân hàng của các nước phát triển và các nước khác trong tiến trình phát triển suốt giai đoạn 1990-1997, nó chỉ ra rằng

sự phát triển tài chính có tác động đáng kể đối với hiệu suất ngân hàng Chúng cũng dẫn đến rằng sự phát triển ngân hàng ở mức độ cao có tác động tiêu cực đến hiệu suất ngân hàng Kết quả này được giải thích bởi thực tế là sự phát triển này sẽ làm dấy lên sự cạnh tranh giữa các ngân hàng, điều này sẽ làm giảm hiệu suất ngân hàng Nhiều tác giả kết luận rằng sự phát triển của thị trường tài chính và sự phát triển của cấu trúc hệ thống ngân hàng là tỉ lệ thuận do đó chúng bổ sung lẫn nhau

2.5 Thực trạng quá trình tự do hóa tài chính và ảnh hưởng của nó đến lợi nhuận

của các ngân hàng ở Việt Nam

2.5.1 Thực trạng quá trình tự do hóa tài chính ở Việt Nam

Quan hệ song phương và đa phương của Việt Nam ngày càng được phát triển mạnh hơn khi hội nhập vào kinh tế thế giới và khu vực

Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ với trên 170 quốc gia và vùng lãnh thổ Các Hiệp định quan trọng được ký kết là: Hiệp định thương mại Việt Nam - Trung Quốc (năm 1991), Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (năm 2000), Hiệp định bảo hộ và thúc đẩy đầu tư với Nhật Bản (năm 2003), hiệp định thương mại Việt Nam - Ấn Độ (2008), hiệp định thương mai Việt Nam – Hàn Quốc (2011)… Quan hệ trên cấp độ đa phương, khu vực và toàn cầu: từ những năm đầu của thập kỷ 1990, Việt Nam đã nhận thức và chủ động tự đổi mới nền kinh tế và bắt đầu chuyển hướng hội nhập kinh tế khu vực và quốc

tế Hành động đầu tiên là Việt Nam ký Hiệp định với Liên minh Châu Âu (EU) vào năm

1995 Điểm mốc hội nhập khu vực có ý nghĩa lớn là gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1995 và tham gia khu vực mậu dịch tự do AFTA (1996); tháng 3/1996 tham gia diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) với tư cách là thành viên sáng lập, nhằm thuận lợi hóa thương mại, đầu tư và hợp tác giữa các nhà doanh nghiệp Á - Âu Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Khối hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) vào ngày 14/11/1998 Trong những năm gần đây, ASEAN trong đó có Việt Nam đã tích cực thúc đẩy đàm phán ký kết các Hiệp định khung về hợp tác kinh tế

Trang 21

toàn diện với 6 đối tác lớn là Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Úc và New Zealand Việt Nam cũng đã làm đơn xin gia nhập WTO từ năm 1995, và sau hơn 11 năm đàm phán, đến ngày 11/01/2007, Việt Nam đã chính thức là thành viên thứ 150 của WTO, đánh dấu sự hội nhập toàn diện vào kinh tế thế giới của Việt Nam

Theo các cam kết thương mại song phương và đa phương, cho đến nay, hầu hết các lĩnh vực (thương mại, đầu tư, sản xuất, phân phối, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán ) đã được mở cửa ở các mức độ khác nhau theo các lộ trình cam kết cụ thể Khu vực tài chính cũng được mở cửa ở mức độ nhất định với việc cho phép thành lập các ngân hàng liên doanh, các ngân hàng 100% vốn nước ngoài; thị trường chứng khoán cho phép các nhà đầu tư nước ngoài giao dịch; thị trường bảo hiểm cũng đã có những bước

mở cửa nhiều hơn Việt Nam đã có sự chuyển biến tích cực, hội nhập kinh tế quốc tế cùng với cải cách trong nước tạo ra những động lực lớn thúc đẩy phát triển kinh tế thể hiện qua một số điểm như sau: (i) Hội nhập kinh tế quốc tế mang lại cơ hội để mở rộng thị trường và tăng cường xuất khẩu Các doanh nghiệp Việt Nam có nhiều cơ hội tiếp cận với các nguồn tín dụng, công nghệ hiện đại, các loại hình dịch vụ đa dạng Hoạt động xuất khẩu đã tạo nên sự gia tăng mạnh mẽ nguồn thu xuất khẩu (ii) Tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài để bù đắp thâm hụt cán cân vãng lai, tăng cường dự trữ ngoại hối quốc gia, cải thiện cán cân thanh toán; (iii) Thông qua môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các công ty trong nước với nhau, giữa các công ty trong nước với các công

ty nước ngoài trên thị trường trong nước và quốc tế, tính hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế ngày càng được nâng cao; (iv) Hình thành tư duy quản lý và chuẩn mực kinh doanh mới Việc thực thi các cam kết mở cửa thị trường, áp dụng nguyên tắc không phân biệt đối xử, xóa bỏ bao cấp, công khai minh bạch các cơ chế chính sách kinh tế, đã thúc đẩy việc hình thành tư duy mới, các chuẩn mực mới trong quản lý nhà nước, đồng thời, hướng các doanh nghiệp quan tâm đến việc xây dựng chiến lược kinh doanh, tiếp cận thị trường, tạo dựng thương hiệu Như vậy, Việt Nam đã ngày càng hội nhập sâu rộng vào kinh tế khu vực và thế giới

Trang 22

2.5.2 Lợi nhuận và tình hình phát triển của các ngân hàng Việt Nam

Hơn 6 năm tham gia vào sân chơi thế giới không chỉ tạo cơ hội cho các ngân hàng thương mại (NHTM) trong nước tiếp cận vốn quốc tế dễ dàng hơn, đưa năng lực tài chính của nhiều ngân hàng tăng lên, mà còn tạo cơ hội và thúc đẩy các NHTM nói riêng và các doanh nghiệp (DN) trong nước nói chung tích cực cạnh tranh thị trường để tồn tại và phát triển, không chỉ ở trong nước mà còn mở rộng hoạt động ra khu vực và thế giới

Có thể thấy, cơ cấu và giá trị vốn điều lệ của hệ thống NHTM đã tăng lên đáng kể Hầu hết các ngân hàng đều đạt được mức vốn pháp định là 3.000 tỷ đồng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Trong đó, một số ngân hàng còn có số vốn điều lệ khá cao như: Vietinbank, Agribank, Vietcombank, BIDV, Techcombank

Giá trị tổng tài sản của các NHTM cũng tăng mạnh, trong giai đoạn từ năm

2007-2010, quy mô tài sản của các NHTM đã tăng gấp đôi, từ 1.069 nghìn tỷ đồng lên 2.690 nghìn tỷ đồng và đạt khoảng 3.600 nghìn tỷ đồng vào cuối năm 2012

Việc áp dụng các mô thức quản trị ngân hàng phù hợp với thông lệ quốc tế; triển khai hệ thống kiểm tra, kiểm soát và kiểm toán nội bộ; sắp xếp lại mô hình theo khối, tách bạch khối quản lý rủi ro theo ba vòng kiểm soát, coi trọng đầy đủ các loại rủi ro trong ngân hàng, cấu trúc lại các công ty con, cùng với việc đưa ra một số tiêu chí bước đầu phục vụ cảnh báo sớm rủi ro kinh doanh ngân hàng là những kết quả đáng ghi nhận

Nó không chỉ là sự đòi hỏi khách quan của mỗi NHTM hướng đến sự phát triển ổn định, mà còn là đòi hỏi của nền kinh tế, của khách hàng Để quản lý, giám sát hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam thì các văn bản luật, cơ chế, chính sách của các Bộ/Ngành trong thời gian qua hầu như đã phủ kín các hoạt động chính của ngân hàng, tạo điều kiện cho các NHTM hoạt động

Tuy nhiên với sự biến đổi phức tạp của kinh tế toàn cầu, cùng với những rủi ro trong thị trường tại chính, lợi nhuận của các ngân hàng thương mại Việt Nam cũng có những biến động đáng kể qua các năm

Năm 2007

Trang 23

Năm 2007 tổng huy động vốn của hệ thống tín dụng tăng đột biến, khoảng 50% so với năm 2006 Riêng tại Tp.HCM, kỷ lục được xác lập ở mức tăng khoảng 55%; tại Hà Nội là 36,1 % Tổng dư nợ cho vay toàn hệ thống cũng đột biến kể từ năm 2004, dự tính tăng tới 40%; riêng tại Tp.HCM lên tới 51%, tại Hà Nội là khoảng 38,5% Những con số trên cho thấy sự sôi động của dòng tiền ra – vào các ngân hàng Riêng về tốc độ cho vay lại dẫn đến những lo ngại về tăng trưởng nóng, chất lượng tín dụng và là một tác động đẩy lạm phát tăng cao

Năm 2007, khối ngân hàng cổ phần gặt hái thành công về lợi nhuận Hầu hết các thành viên đều vượt xa kế hoạch đặt ra đầu năm Đây cũng là một cơ sở để cuộc chạy đua lập ngân hàng mới càng gấp rút Phía sau những con số lợi nhuận ấn tượng là sự dịch chuyển thị phần đáng lo ngại đối với khối ngân hàng quốc doanh Đáng chú ý là kết quả này có từ một năm khó khăn từ ảnh hưởng của một số chính sách lớn (tăng dự trữ bắt buộc, hạn chế cho vay đầu tư chứng khoán…) Ngoài ra, 2007 cũng là năm ấn tượng về

nỗ lực mở rộng mạng lưới, đa dạng sản phẩm – dịch vụ của khối này

Ngày đăng: 18/07/2014, 17:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Kết quả ước lượng mô hình Pooled - Tự do hóa tài chính và lợi nhuận của ngân hàng phân tích dữ liệu bảng đối với ngân hàng việt nam
Bảng 1. Kết quả ước lượng mô hình Pooled (Trang 36)
Bảng 2. Kết quả ước lượng mô hình REM - Tự do hóa tài chính và lợi nhuận của ngân hàng phân tích dữ liệu bảng đối với ngân hàng việt nam
Bảng 2. Kết quả ước lượng mô hình REM (Trang 37)
Bảng 3. Kết quả ước lượng mô hình FEM - Tự do hóa tài chính và lợi nhuận của ngân hàng phân tích dữ liệu bảng đối với ngân hàng việt nam
Bảng 3. Kết quả ước lượng mô hình FEM (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w