1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự tiếp thu và kế thừa kinh nghiệm tiểu thuyết trong sáng tác hồ biểu chánh

102 843 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự Tiếp Thu Và Kế Thừa Kinh Nghiệm Tiểu Thuyết Trong Sáng Tác Hồ Biểu Chánh
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Ngôn Ngữ & Văn Học
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 626 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hồ Biểu Chánh chính là một trong số ít tiểu thuyết gia Nam bộ thể hiện được một cách đầy đủ và toàn diện tính chất giao thời của văn học giai đoạn 19001930. Từ khi có mặt trên văn đàn toàn quốc, tiểu thuyết của ông có những nét mới rất thích hợp với cảm thụ nghệ thuật của đồng bào miền Nam nói riêng và hầu hết giới bình dân toàn quốc. Với sự tiếp thu tích cực những tinh hoa văn học phương Đông, sự học hỏi có chọn lọc tinh hoa văn học phương Tây cùng với việc tự làm giàu khả năng của mình bằng sự thẩm thấu những kinh nghiệm từ truyền thống văn học nước nhà, Hồ Biểu Chánh đã góp phần cách tân tiểu thuyết về các mặt xây dựng cốt truyện, tình tiết, bố cục tác phẩm cho đến tính cách, tâm lý nhân vật và ngôn ngữ văn chương của tác phẩm. Những tiếp thu, kế thừa và thử nghiệm của Hồ Biểu Chánh trong việc xây dựng nhân vật đã góp phần không nhỏ cho nghệ thuật xây dựng và phát triển tâm lý nhân vật của tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 19301945 và cho nền văn học Việt Nam hiện nay. Hồ Biểu Chánh cũng đã đem đến cho văn học giai đoạn giao thời những tiểu thuyết ly kỳ, hấp dẫn, hồi hộp, thu hút đông đảo bạn đọc với sự kế thừa, học hỏi những kinh nghiệm của tiểu thuyết truyền thống trong việc xây dựng cốt truyện, kết cấu và trật tự thời gian;. Bên cạnh các cốt truyện với nhiều tình tiết phiêu lưu, phản ánh chân thực hiện thực cuộc sống là những kiểu cốt truyện mới mẻ, phóng tác theo Phương Tây nhưng lại mang màu sắc, khung cảnh và văn hóa Việt Nam, tạo cho người đọc những cảm giác tươi mới mà gần gũi. Hồ Biểu Chánh đã kế thừa có chọn lọc kiểu kết cấu chương hồi truyền thống và kiểu kết cấu truyện thơ Nôm cũng như tiếp thu sáng tạo kiểu kết cấu hiện đại của tiểu thuyết Phương Tây vào tác phẩm của mình. Nghệ thuật xây dựng ngôn ngữ cũng chính là những đóng góp quan trọng và to lớn nhất của Hồ Biểu Chánh cho nền văn học nước nhà. Với sự tiếp thu kỹ thuật Phương Tây, dung hòa với kỹ thuật truyền thống cùng quan niệm đưa ngôn ngữ cuộc sống vào văn chương đã mở ra những trang viết sống động, gần gũi trong tiểu thuyết của ông. Hồ Biểu Chánh đã mạnh dạn đổi mới ngôn ngữ tiểu thuyết trên cả ba phương diện: từ vựng, ngữ âm và ngữ pháp khiến cho những câu văn của ông vừa mang dáng dấp của đồng bằng Nam bộ, vừa mang hơi thở của cuộc sống, giàu hình ảnh, dễ hiểu, dễ cảm thông... phản ánh chân thực lối sống của con người Nam Bộ Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX.

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 2

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Lịch sử nghiên cứu 3

3 Mục đích, đối tượng nghiên cứu 12

4 Phạm vi nghiên cứu 12

5 Cấu trúc luận văn 13

CHƯƠNG 1: HỒ BIỂU CHÁNH TRONG DÒNG VĂN CHƯƠNG QUỐC NGỮ NAM BỘ ĐẦU THẾ KỶ XX 14

1.1 Bối cảnh xã hội và văn học Nam Bộ giai đoạn đầu thế kỷ XX 14

1.1.1 Đời sống xã hội - lịch sử Nam Bộ đầu thế kỷ XX 14

1.1.2 Đặc điểm của văn học bằng chữ quốc ngữ ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX 20

1.2 Tiểu thuyết Nam Bộ giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 23

1.2.1 Từ cuối thế kỷ XIX đến 1887 24

1.2.2 Từ 1887 đến 1910: 25

1.2.3 Từ 1910 đến 1924 26

1.2.4 Từ năm 1925 đến 1930 26

1.3 Sáng tác của Hồ Biểu Chánh trong tiến trình vận động, phát triển của văn học vùng Nam Bộ 27

1.3.1 Vài nét về tác gia Hồ Biểu Chánh 27

1.3.2 Sự nghiệp văn học của Hồ Biểu Chánh 28

1.3.3 Vai trò của Hồ Biểu Chánh trong nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại 32

CHƯƠNG 2: SỰ KẾ THỪA TRUYỀN THỐNG VĂN XUÔI NƯỚC NHÀ 35

2.1 Nhân vật 36

2.2 Kết cấu 47

2.3 Thời gian trần thuật 54

2.4 Cốt truyện 56

2.5 Ngôn ngữ 58

CHƯƠNG 3: SỰ TIẾP THU NHỮNG KINH NGHIỆM TIỂU THUYẾT PHƯƠNG TÂY 63

3.1 Nhân vật 66

3.2 Kết cấu 78

3.3 Thời gian trần thuật 83

3.4 Cốt truyện 85

3.5 Ngôn ngữ 89

KẾT LUẬN 98

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hồ Biếu Chánh- người mở đường cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.

Không phải ngẫu nhiên và cũng không có gì là quá lời khi người ta phong cho ôngchức danh đó Thời gian cứ chảy trôi theo quy luật tất yếu của nó, có những thứ sẽ

bị năm tháng vùi lấp hoặc làm cho mờ nhạt Thế nhưng, có thể khẳng định, trải quagần một thế kỷ, cho đến nay tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh vẫn là một món ăn tinhthần hấp dẫn đối với độc giả miền Nam nói riêng và độc giả cả nước nói chungtrong khi nhiều tác phẩm của các nhà văn nổi tiếng cùng thời với ông hầu như đã bịđẩy lùi vào quá khứ Bên cạnh giá trị văn hoá, trong lĩnh vực nghiên cứu văn học,sáng tác của Hồ Biểu Chánh thực sự là một hiện tượng văn học sử lý thú, chứa đựngnhiều vấn đề hấp dẫn về phương diện lý thuyết thể loại và giao lưu văn hoá Đông-Tây

Với số lượng tác phẩm khá đồ sộ, ông chính là một trong những tiểu thuyếtgia nổi tiếng hàng đầu ở miền Nam mà tác phẩm từng được phổ biến rộng rãi trênmọi miền của tổ quốc Đến với những tác phẩm của Hồ Biểu Chánh là hòa mìnhvào cuộc sống của nhân dân Nam Bộ hồi đầu thế kỷ XX, sống lại không khí mộtthời của vùng đất này với những con người chất phác, trung thực, đôn hậu Đọc văn

của Hồ Biểu Chánh, ta có cảm giác như “đang được nghe ông già bà cả ở thôn quê

kể lại những điều hằng xảy ra trong cuộc đời thực tế Truyện của ông là những bức tranh truyền thần khá chính xác về xã hội Việt Nam trong một giai đoạn lịch sử

đã qua” (Nguyễn Văn Y) Vì thế, có lẽ chỉ khi nào quá khứ chẳng còn liên quan

đến hiện tại, con người hôm nay không cần nhìn lại quá khứ dân tộc, tiểu thuyết của

Hồ Biểu Chánh mới thôi hấp dẫn người đọc và mới đáng không cho phổ biến

Có thể nói, văn xuôi của Hồ Biểu Chánh nói riêng và văn xuôi Nam Bộ nóichung giai đoạn đầu thế kỷ XX vẫn được coi là bộ phận tiên phong trong quá trìnhhiện đại hóa văn học Việt Nam vốn là mảng đề tài “bị lãng quên”, “bị bỏ ngỏ” một

Trang 3

thời gian dài trong giới nghiên cứu không chỉ ngoài Bắc mà cả trong Nam vì một số

lí do nhất định Thời gian gần đây, bộ phận văn học này mới được đề cập đến vàbước đầu đã có những thành tựu đáng được ghi nhận trên nhiều phương diện, từviệc thu thập tư liệu đến việc áp dụng những phương pháp nghiên cứu lí thuyết đểlàm rõ các vấn đề về mặt tư tưởng, tìm ra những quy luật nội tại của nó Nghiên cứutiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, nhà văn Nam Bộ trong một giai đoạn văn học khánhạy cảm- giai đoạn giao thời, không phải là thao tác nghiên cứu tác giả mà chính làlàm rõ một bộ phận tối quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại Lựa

chọn đề tài “Sự tiếp thu và kế thừa kinh nghiệm tiểu thuyết trong sáng tác Hồ Biểu Chánh” chúng tôi mong muốn sẽ có cái nhìn có tính chất tổng quát về những

đóng góp của Hồ Biểu Chánh trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Namnhững năm đầu thế kỷ XX

2 Lịch sử nghiên cứu

2.1 Nghiên cứu chung về tiểu thuyết miền Nam đầu thế kỷ XX

Có thể nói, trước năm 1975, giới nghiên cứu miền Nam cũng có chú ý đếnvăn học quốc ngữ Nam Bộ, tuy nhiên thành quả nghiên cứu chưa thật nhiều Ở miềnBắc thì hình như ít ai nhắc đến mảng văn học này Sau khi đất nước thống nhất,trong suốt 10 năm (1975-1985), tình hình nghiên cứu tiểu thuyết Nam Bộ chưa tiếnthêm được bao nhiêu Tuy nhiên, từ năm 1987 trở đi việc nghiên cứu về văn họcNam Bộ nói riêng và tiểu thuyết Nam Bộ nói chung đã có những thành tựu đáng ghinhận

Trong các công trình nghiên cứu về văn học Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ

XX ở miền Nam đầu tiên phải kể đến các công trình như Phê bình và cảo luận (1933) của Thiếu Sơn, Nhà văn hiện đại (1942) của Vũ Ngọc Phan, Việt Nam văn học sử yếu (1944) của Dương Quảng Hàm Nhưng việc đánh giá vị trí của tiểu

thuyết văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ trong các công trình này mới dừng lại ở mức độrất khiêm tốn: một vài gương mặt tiểu thuyết gia được điểm qua như Phú Đức,

Trang 4

Nguyễn Thời Xuyên, Tân Dân Tử, Hồ Biểu Chánh cùng một hai tác phẩm của họ

được nói đến rất sơ sài Hầu hết các tác giả đều coi Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách

và Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật là hai tiểu thuyết mở màn cho nền văn

xuôi hiện đại Việt Nam Nói tóm lại, trong những năm từ 1945 trở về trước thì tiểuthuyết văn xuôi Nam Bộ chưa trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà văn viếtvăn học sử

Trong Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam (1962) của Đại học sư phạm Hà

Nội, Nguyễn Đình Chú đã dành một chương để giới thiệu về thân thế, sự nghiệp của

Hồ Biểu Chánh Và đặc biệt, trong sự so sánh giữa hai tác giả để tìm ra gương mặttiêu biểu cho tiểu thuyết văn xuôi thời kỳ này, tác giả Nguyễn Đình Chú đã cho

rằng: “ cho nên nói đến tiểu thuyết lúc này, Hồ Biểu Chánh vẫn là người đáng chú ý hơn hết” [4,131] Sau đó ba năm, ở Sài Gòn, Phạm Thế Ngũ cho ra đời tập sách Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (1965) Trong tâp 3, phần văn học Việt

Nam hiện đại (1862-1945) tác giả đã dành hẳn một chương để nói về sự hình thành

của tiểu thuyết mới, trong đó khẳng định “ở một phương diện nào, thể tiểu thuyết

đã đi trước ở miền Nam.” [19,377] Như vậy, vị trí mở đầu cho nền tiểu thuyết đã

được Phạm Thế Ngũ trả cho các nhà văn Nam Bộ nhưng thời gian mới chỉ dừng lại

ở năm 1910 Và cũng như rất nhiều nhà nghiên cứu trước và sau này, tác giả cũngđặc biệt quan tâm đến Hồ Biểu Chánh như một trong những nhà văn đi tiên phong

của cả nước: “ và ngay trước năm 1925, khi văn gia miền Bắc còn đương dè dặt tập tành, ông đã cho ra đời những tác phẩm tuy không đạt đến trình độ cao về nghệ thuật mới song đã có tất cả dáng dấp của một tiểu thuyết mới.” [19,378] Đặc biệt,

tác giả đã phác thảo lại quá trình hình thành của tiểu thuyết trong giai đoạn này như

là hệ quả sự phát triển của truyện Nôm, sự nở rộ của báo chí và phong trào dịch

thuật Đến 1974, trong Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Phan Cự Đệ- một nhà nghiên

cứu miền Bắc cũng đã nhắc đến tên tuổi của một số tiểu thuyết gia Nam Bộ như:

Nguyễn Chánh Sắt, Lê Hoẳng Mưu và Hồ Biểu Chánh Sau đó, giáo trình Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900-1930 (1974) của hai giáo sư Trần Đình Hượu và

Lê Chí Dũng có đề cập đến văn học giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở

Trang 5

Nam Bộ trong chương VII: Văn học mới ra đời ở thành thị Ở công trình nghiên

cứu của mình, sau khi sơ qua về bối cảnh kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội giaiđoạn cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XIX, hai tác giả đã chỉ ra cuộc sống thành thị vàcông chúng thành thị là tiền đề trực tiếp dẫn đến sự ra đời của một nền văn học mới,

đó là nền văn học hiện đại Và Sài thành được đánh giá là nơi “chữ quốc ngữ truyền

bá sớm nhất, báo chí, nhà xuất bản, truyện ngắn và tiểu thuyết theo mẫu của văn học phương Tây, ra đời ở đây trước tiên” [17, 32] Từ những dẫn dắt trên các tác giả khẳng định “ các tác phẩm văn xuôi đầu tiên là Truyện thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản, Phan Yên ngoại sử của Trương Duy Toản, Hoàng Tố Oanh hàm oan của Trần Chánh Chiếu, tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh và Bửu Đình” [17,218] Đặc biệt trong giai đoạn này còn có công trình Bảng lược đồ văn học Việt Nam (1967) của Thanh Lãng có điểm qua đôi nét về phong trào dịch thuật và sáng

tác tiểu thuyết ở Nam Bộ hồi đầu thế kỷ Như vậy, cho đến trước năm 1975, trongcác công trình văn học sử, tiểu thuyết văn xuôi ở Nam Bộ giai đoạn đầu thế kỷ XXbắt đầu có một vị trí xứng đáng trong văn học nước nhà, đó là vị trí khởi đầu khôngchỉ của thể loại tiểu thuyết mà còn của nền văn học hiện đại

Sau năm 1975, tình hình nghiên cứu vấn đề này có nhiều biến chuyển, đặc

biệt là thời kỳ sau đổi mới Năm 1987, Nguyễn Văn Trung cho ra đời Những áng văn chương quốc ngữ đầu tiên - Truyện thầy Lazaro Phiền đã phân tích và chứng

minh tác phẩm này là tiểu thuyết bằng quốc ngữ viết theo Tây phương sớm hơn cả ở

miền Nam Trong sự so sánh với Tố Tâm, tác phẩm xuất hiện sau đó ba thập kỉ, tác

giả đã ngầm khẳng định về tính hiện đại của đoản thiên tiểu thuyết này không chỉ ở

phạm vi miền Nam mà là trên cả nước Văn học Nam Bộ từ đầu đến giữa thế kỷ XX (1900-1954): Sơ thảo (1988) của Hồ Sĩ Hiệp, Thành Nguyên, Hoài Anh là công

trình đầu tiên coi văn học Nam bộ hồi đầu thế kỷ XX là đối tượng nghiên cứuchuyên sâu một cách khá trọn vẹn Đi theo hướng nghiên cứu thể loại, các tác giả

này cũng cho rằng Truyện thầy Lazaro Phiền là cuốn tiểu thuyết bằng chữ quốc ngữ

đầu tiên, có tính tiên phong cả về nội dung và nghệ thuật Tuy vậy, nhưng các tác

giả này đã lựa chọn Kim thời dị sử- Biến Ngũ Nhy, Nghĩa hiệp kỳ duyên - Nguyễn

Trang 6

Chánh Sắt, và đặc biệt là 13 tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh là những tác phẩm tiêubiểu nhất trong thời kỳ này Đặc biệt, trong thể văn xuôi, các tác giả của công trìnhnày đã lưỡng phân ra hai tiểu loại nhỏ là “tiểu thuyết” và “truyện chí” Nếu “tiểuthuyết” là những tác phẩm viết theo lối Tây phương và còn được biết đến với cácdanh xưng khác như “truyện”, “kim thời dị sử”, “kim thời tiểu thuyết” thì “truyệnchí là những tác phẩm viết theo lối thiểu thuyết chương hồi trong văn học cổ điển

Trung Quốc và Việt Nam” Và Phan Yên ngoại sử- Trương Duy Toản cùng với Giọt máu chung tình – Tân Dân Tử được coi là hai truyện chí xuất sắc nhất của văn xuôi đương thời Đến Tiến trình văn nghệ miền Nam (1900), Nguyễn Quang Thắng

đã cho thấy tiến trình phát triển của văn học vùng Nam Bộ từ các tác gia văn họctrung đại đến các tác giả của văn học giai đoạn giao thời bước sang hiện đại nhưNguyễn Trọng Quản, Hồ Biểu Chánh Riêng về thể loại tiểu thuyết, tác giả khẳngđịnh “những tiểu thuyết có mặt trên sinh hoạt văn học nghệ thuật ở miền Nam từnăm 1856- 1887 đến năm 1954 không phải là văn học địa phương Thật sự đây làmột bộ phận của văn nghệ dân tộc được hình thành trong một thời điểm có nhiềubiến cố trọng đại của lịch sử cận đại Việt Nam” [14, 288] Và do đó các tác phẩm

Truyện thầy Lazarô Phiền- Nguyễn Trọng Quản, Phan Yên ngoại sử- Trương Duy

Toản….đều là những tác phẩm mở đầu của lịch sử tiểu thuyết Việt Nam” [13, 290]

Cũng trong thập niên 90 của thế kỷ XX, Bằng Giang xuất bản công trình Văn học quốc ngữ ở Nam kỳ 1865-1930 (1992) đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề của đời sống văn

học Nam bộ Đặc biệt, công trình đã cho thấy diễn tiến của một “đời sống văn học”nhiều biến động: từ chính sách giáo dục của Pháp ở Nam Kỳ, qua sự phát triển củabáo chí Quốc ngữ đến phong trào dịch thuật truyện Tàu Bằng Giang đã tiếp tụccách khai thác của Phạm Thế Ngũ hay Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng vẽ lên mộtbối cảnh văn hoá cho sự ra đời, vận động và phát triển của thể loại tiểu thuyết tronggiai đoạn này ở Nam Bộ Gần đây nhất, một công trình viết riêng về thể loại tiểu

thuyết giai đoạn này một cách công phu phải kể đến Luận án Tiến sĩ Sự hình thành

và vận động của thể loại tiểu thuyết văn xuôi Tiếng Việt ở Nam bộ giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (1993) của Tôn Thất Dụng Trong đó, sự xuất hiện của

Trang 7

tiểu thuyết Nam Bộ trong giai đoạn này được xem như là hệ quả tất yếu của nhữngbiến động trong xã hội, truyền thống văn học Nôm và ảnh hưởng của phong tràodịch thuật tiểu thuyết phương Tây và Trung Hoa (Phạm Thế Ngũ và Bằng Giangmới chỉ dừng lại ở dịch thuật tiểu thuyết Trung Hoa) Cuối cùng tác giả đã đưa ranhững tổng kết chung về những “yếu ính” của thể loại văn xuôi tiếng Việt Nam bộtrong giai đoạn này Và trong những năm đầu tiên của thế kỷ mới, Nguyễn Huệ Chi

với bài viết Thử tìm vài đặc điểm của văn xuôi tự sự quốc ngữ Nam Bộ trong bước khởi đầu (2002) đã khẳng định “văn xuôi tự sự quốc ngữ trong bước khởi đầu ở Nam Bộ đã có cái bản lĩnh khai sinh một dòng tiểu thuyết đích thực cho văn học Việt Nam”.

Từ tình hình nghiên cứu về tiểu thuyết miền Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIXđầu thế kỷ XX mà chúng tôi vừa trình bày ở trên có thể thấy trước hết, tiểu thuyết làthể loại được quan tâm trong tất cả các công trình nghiên cứu lịch sử văn học giaiđoạn này Ở những công trình ấy, hầu hết các tác giả chủ yếu đề cập đến quá trìnhhình thành và phát triển, một số nội dung và xu hướng chính, một vài phương diệnnghệ thuật Giai đoạn sau năm 1975, nhất là từ giữa những năm 80 trở lại đây, bêncạnh những công trình lớn, còn xuất hiện nhiều bài viết mang tính phát hiện về tácgiả, tác phẩm nhờ vào điều kiện tìm kiếm tài liệu thuận tiện hơn của người nghiêncứu Thứ hai, càng ngày các nhà nghiên cứu càng phát hiện thêm nhiều tư liệu mớiliên quan đến tiểu thuyết miền Nam giai đoạn này Đó chính là nguồn tư liệu quýgóp phần khô phục diện mạo thể loại tiểu thuyết trong một giai đoạn lịch sử đầybiến động như những năm đầu thế kỷ XX này Tuy nhiên còn nhiều cuốn có giá trịvẫn chưa được đề cập hoặc đề cập chưa thật sự thoả đáng

Phác thảo lịch sử nghiên cứu văn xuôi tự sự ở Nam Bộ trong giai đoạn giaothời, người viết muốn đưa ra một cái nhìn toàn cảnh về tình hình nghiên cứu giaiđoạn văn học này nói chung, trong đó không ít các công trình có tên Hồ BiểuChánh Từ đó, xác định được địa vị của Hồ Biểu Chánh đối với văn xuôi tự sự quốcngữ ở miền Nam nói riêng và đối với tiến trình hiện đại hoá thể loại tiểu thuyết củanền văn học Việt Nam nói chung

Trang 8

2.2 Nghiên cứu về tiểu thuyết của tác giả Hồ Biểu Chánh

Nằm trong tình hình nghiên cứu chung của tiểu thuyết miền Nam hồi đầu thế

kỷ XX, việc nghiên cứu về tác gia Hồ Biểu Chánh nói chung và văn xuôi tự sự của

Hồ Biểu Chánh nói riêng trước đây chưa được quan tâm thoả đáng Tuy nhiên, gầnđây càng có nhiều công trình nghiên cứu về tác gia văn học được coi là một trongnhững người để lại dấu ấn đậm nét nhất trong quá trình hiện đại hoá văn học ViệtNam này

Thiếu Sơn trong Phê bình và Cảo luận đã có ý phân chia tiểu thuyết giai

đoạn này thành các loại như: lịch sử tiểu thuyết, bí mật tiểu thuyết, phong tục tiểuthuyết….Trong đó, có hai tác giả tiểu thuyết được ông xếp vào mục “Phê bình nhân

vật” là Nguyễn Khắc Hiếu và Hồ Biểu Chánh Viết Ba mươi năm văn học với mục

đích trình bày “bản thống kê văn học quốc ngữ từ 1914 đến 1941”, tác giả MọcKhuê đã kể ra những tên tuổi tiêu biểu cho giai đoạn văn học này với nghĩa viếtnhiều, viết khỏe là hai nhà văn đều thuộc khu vực phía Nam: Phú Đức và Hồ BiểuChánh

Trong cuốn Nhà văn hiện đại (xuất bản lần đầu năm 1942) Vũ Ngọc Phan đã

có môt sự so sánh thú vị giữa tiểu thuyết của họ Hoàng (Hoàng Ngọc Phách, quyển

Tố tâm) và tiểu thuyết của họ Hồ (Hồ Biểu Chánh) Theo ông, nếu như tiểu thuyết

của họ Hoàng chuyên về tả tình và giọng văn nhiều chỗ uỷ mị, cầu kỳ, không tựnhiên thì tiểu thuyết của họ Hồ chuyên về tả việc, lời văn mạnh mẽ, giản dị, nhiềuchỗ như lời nói thường Theo ông, những tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh mang tínhchất bình dân cả về phương diện nhân vật lẫn lời văn

Nghiêm Toản trong Việt Nam văn học sử trích yếu có đề cập đến tiểu thuyết

trước năm 1930 trong mục “Thời kỳ tiệm tiến” Trong đó, ông khẳng định Hồ BiểuChánh là người “chiếm được địa vị cao trong làng tiểu thuyết” [11, 108]

Một trong những tác giả miền Nam có nghiên cứu về Hồ Biểu Chánh với vaitrò là một tác giả tiêu biểu của tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn này phải kể đến

Phạm Thế Ngũ Trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên khi đề cập đến tiểu

thuyết miền Nam, tác giả cuốn sách chỉ tập trung nói về Hồ Biểu Chánh Nhờ tiếp

Trang 9

cận được nhiều nguồn tư liệu, tác giả đã có những thông tin mới hơn về “cuốn tiểuthuyết đầu tiên”: “Cứ theo Hồ Biểu Chánh thì cuốn tiểu thuyết đầu tiên trong lục

tỉnh là Hoàng Tố Oanh hàm oan [19,357] và nhận định chính xác hơn về sáng tác

của Hồ Biểu Chánh “…có tiểu thuyết lưu hành ở Sài Gòn ngày từ 1912” [19, 356]

Năm 1967, Tạp chí Văn (Sài Gòn) dành số 80 (15/4/1967) để tưởng niệm Hồ Biểu Chánh Trong đó có các bài Nhớ Hồ Biểu Chánh (Thiếu Sơn), Nghĩ về Hồ Biểu Chánh (Sơn Nam), Biến cố và chiếc cầu Hồ Biểu Chánh (Bình Nguyên Lộc),

Hồ Biểu Chánh: Nhà văn bạch thoại miền Nam (Đông Hồ), Hồ Biểu Chánh (Thanh

Lãng)…

Cũng trong năm 1967, Thanh Lãng cho ra mắt cuốn Bảng lược đồ văn học Việt Nam Trong công trình này, tác giả đã khảo sát kỹ lưỡng ba thế hệ của nền văn

học mới (1862-1945) Trong mục “Những nỗ lực sáng tác đầu tiên” của giai đoạn

1913-1916, tác giả có nhắc đến U tình lục của Hồ Biểu Chánh Trong phần giới

thiệu các gương mặt cụ thể, tác giả cũng có nói tới Hồ Biểu Chánh

Văn học và tiểu thuyết của Doãn Quốc Sỹ là một công trình vừa mang tính

chất văn học sử vừa mang tính chất phê bình Theo ông, ở miền Nam “Hồ BiểuChánh gần như là tỉ dụ sống của quá trình tiến triển của tiểu thuyết mới”

Tiếp đó, trong Những mảnh vụn văn học (1974) Bằng Giang đặc biệt nhấn mạnh, bí quyết về kĩ thuật tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh là “dẫn câu chuyện từ nông thôn ra thành thị, hoặc ngược lại Người nông thôn muốn biết việc thành thị còn người thị dân hiếu kỳ muốn biết qua hình ảnh đời sống nông thôn” Theo ông,

trong văn học sử hiện đại có hai người đáng tiếc, một là học giả Trần Trọng Kim(1883-1953), một là tiểu thuyết gia Hồ Biểu Chánh (1885-1958) Cả hai người đềurời địa hạt văn học để lạc bước vào con đường chính trị, cả hai đều rước lấy thất bại

ít nhiều chua cay

Cũng vào năm 1974, Nguyễn Khuê cho ra mắt Chân dung Hồ Biểu

Chánh-cuốn sách có tính chất chuyên khảo đầu tiên về nhà tiểu thuyết được nhiều ngườicho là lớn nhất của giai đoạn văn học này Khảo sát kỹ lưỡng thân thế và sự nghiệp

báo chí, văn chương của Hồ Biểu Chánh dựa trên những tư liệu quý như: Lời di

Trang 10

chúc, Đời của tôi về văn nghệ, cuốn sách thực sự trở thành một tài liệu tham khảo

có giá trị lớn cho giới nghiên cứu Để có được những nhận định khái quát về tiểuthuyết Hồ Biểu Chánh ở cả nội dung lẫn hình thức biểu hiện, Nguyễn Khuê đã lầnlượt giới thiệu và phân tích 14 tác phẩm, trong đó có 11 tác phẩm được sáng tác

trước 1930 (cả U tình lục) Về địa vị của Hồ Biểu Chánh trong văn học sử nước

nhà, tác giả khẳng định rằng: “Hồ Biểu-chánh là một trong những tiểu-thuyết giatiền-phong của Nam-kỳ nói riêng và của Việt Nam nói chung” [12, 307]

Đi sâu hơn vào việc nghiên cứu Hồ Biểu Chánh ở góc độ là một tiểu thuyết

gia, trong Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (1978) Phan Cự Đệ đã quan tâm đến nội

dung tư tưởng trong những sáng tác của Hồ Biểu Chánh Trong đó, ông chỉ rõ có bakhuynh hướng của tiểu thuyết trước 1930 là: khuynh hướng lãng mạn tiêu cực,khuynh hướng yêu nước và khuynh hướng hiện thực phê phán mà tiêu biểu lànhững sáng tác của Hồ Biểu Chánh

Trong Từ điển văn học - Tập I, (1983) Nguyễn Huệ Chi cũng đã khẳng định

vai trò của Hồ Biểu Chánh Bước vào văn đàn giữa lúc truyện ngắn, truyện dài bằngTiếng Việt hết sức vắng vẻ, nhưng bằng năng khiếu sáng tác nhạy cảm, Hồ BiểuChánh đã sớm dành được địa vị đáng kể trong số những cây bút tiểu thuyết ít ỏi ởmiền Nam thuở bấy giờ

Cũng nằm trong hướng khẳng định tầm quan trọng của tiểu thuyết gia Hồ Biểu Chánh đối với tiến trình hiện đại hoá văn học Việt Nam, trong cuốn Sài Gòn - Gia Định qua thơ văn xưa (1987), nhóm nghiên cứu Nguyễn Thị Thanh Nhàn,

Nguyễn Khuê, Trần Khuê cũng cho rằng Hồ Biểu Chánh chính là một trong sốnhững tiểu thuyết gia tiên phong của Nam kỳ, là cây bút văn xuôi sung sức bậc nhất

ở giai đoạn 1913-1930 Ông đã có thành công đưa tiểu thuyết mới từ tình trạng phôithai tiến lên giai đoạn thành lập và thịnh hành

Một nhóm nghiên cứu khác là Hoài Anh, Thành Nguyên, Hồ Sĩ Hiệp trong

cuốn Văn học Nam Bộ từ đầu đến giữa thế kỷ XX (1900-1954) (1988) cũng đi đến

xác lập vị trí của Hồ Biểu Chánh trong địa hạt văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ Theocác tác giả này, khi nói về tiểu thuyết Nam Bộ 1922-1945 phải nói đến tiểu thuyết

Trang 11

của Hồ Biểu Chánh vì không những chiếm số lượng nhiều nhất mà nội dung cũngvượt nhiều tác giả cùng thời Ông chính là nhà văn Nam Bộ nổi tiếng khắp toànquốc và là nhà tiểu thuyết Nam Bộ duy nhất được giới thiệu trong bộ sách phê bìnhvăn học của nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan mà chúng tôi đã có dịp nhắc đến

Ra đời cùng cuốn sách của nhóm tác giả trên, trong cuốn Địa chí văn hoá thành phố Hồ Chí Minh (1988), Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công

Bình lại một lần nữa khẳng định giá trị nội dung mà những tiểu thuyết của Hồ Biểu

Chánh đề cập đến Hơn thế nữa, các tác giả này cũng cho rằng: về bút pháp văn chương Hồ Biểu Chánh không văn vẻ nhưng hay vì đã viết theo suy nghĩ của một người dân thường

Trân trọng những tác phẩm của Hồ Biểu Chánh, trong Tiến trình văn nghệ miền Nam (1990), Nguyễn Quang Thắng khẳng định: Đây là một bức tranh hiện thực đa dạng giúp cho bạn đọc toàn quốc thấy rõ bộ mặt thực tại của xã hội “miệt vườn” Nam Bộ Đó là tính cách đa dạng, phong phú không những về chất lượng mà nghệ thuậ, ngôn từ, tình cảm tâm lý của mỗi nhân vật trong sáng tác của ông

Một cuốn sách nghiên cứu sâu hơn về tác phẩm của Hồ Biểu Chánh là bài

viết Đọc lại tác phẩm của Hồ Biểu Chánh của tác giả Trần Bạch Đằng hay bài viết của Trần Hữu Tá Một vài cảm nghĩ nhân đọc lại tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh

Đến đây, có thể khẳng định, tên tuổi Hồ Biểu Chánh xuất hiện trong nhiềucông trình nghiẻn cứu của nhiều tác giả Không chỉ có vậy, đã có một hội thảo khoahọc về nhà văn Hồ Biểu Chánh được tổ chức lần đầu tiên tại Tiền Giang vào haingày 17 và 18-11-1988 Trong đó, các ý kiến đã đi đến thống nhất, chính do chú ý

mô tả những biểu hiện bề ngoài nhiều hơn những chuyển biến bên trong tâm hồnnhân vật mà nhân vật của tác giả còn là người Nam bộ và rõ là người Nam bộ Tiếpthu có chọn lọc những tinh hoa của văn học phương Tây, Hồ Biểu Chánh đã gópphần khai sáng nền văn học hiện đại và cách tân thể loại tiểu thuyết Đáng chú ý là

ý kiến của giáo sư Trần Văn Giàu: Sách Hồ Biểu Chánh được nhân dân tán thưởng

và hay là ở chỗ nói lại những tiếng nói của dân, cái tấm lòng của dân, còn hay ở chỗ đạo đức, luân lý

Trang 12

Trong chiều hướng chung là quan tâm nghiên cứu thoả đáng đến một cây bútvốn được coi là người mở đường cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, nhóm tác giảTrang Quang Sen, Phan Tấn Tài, Nguyễn Văn Nở đã sưu tầm tài liệu về Hồ BiểuChánh, nhất là các quyển tiểu thuyết của ông đã được xuất bản và cho phổ biến trênmạng Internet với địa chỉ trang web là www.hobieuchanh.com Đây là một côngtrình thực sự có ý nghĩa trong việc cung cấp thêm cho bạn đọc một địa chỉ văn họclành mạnh, chuyên sâu- nhất là với độc giả Việt Nam ở hải ngoại.

Đến đây, có thể khẳng định, hầu như không có công trình nghiên cứu về tiểuthuyết Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX lại không nhắc đến Hồ Biểu Chánh Ông

là một trong những cây bút tiểu thuyết thể hiện rõ nhất tính chất giao thời của vănhọc giai đoạn kể trên Ở những tác phẩm của ông, có sự xuất hiện của màu sắcphương Tây bên cạnh sắc màu truyền thống Có một số công trình nghiên cứu củacác tác giả, nhất là các tác giả giai đoạn gần đây đã chỉ ra hiện tượng này trong cáinhìn so sánh Tuy nhiên, hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào nhìn nhận vấn

đề này một cách thấu đáo, toàn diện, có hệ thống

3 Mục đích, đối tượng nghiên cứu

Từ việc khảo sát một số tiểu thuyết tiêu biểu của Hồ Biểu Chánh trong sốhơn 60 tiểu thuyết của ông chúng tôi sẽ đưa đến những kết luận chung nhất vềnhững đóng góp của Hồ Biểu Chánh trong việc tiếp thu và kế thừa những kinhnghiệm văn xuôi tự sự truyền thống và tiểu thuyết phương Tây

4 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành luận văn, chúng tôi sử dụng kết hợp những phương phápnghiên cứu sau: phương pháp thống kê, miêu tả; phương pháp phân loại, so sánh;phương pháp phân tích, tổng hợp

5 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi không có tham vọng đi sâu vào tất

cả hơn 60 tiểu thuyết trong sự nghiệp sáng tác văn học không mệt mỏi của Hồ Biểu

Trang 13

Chánh Chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát trên 5 tiểu thuyết của ông được sáng tác

trong khoảng 30 năm đầu của thế kỷ XX như: Ai làm được, Thầy thông ngôn, Ngọn

cỏ gió đùa, Khóc thầm, Cha con nghĩa nặng.

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo; phần nội dungcủa luận văn gồm có 3 chương như sau:

Chương 1: Hồ Biểu Chánh trong dòng văn chương quốc ngữ Nam bộ đầu thế kỷ

XX

Chương 2: Sự tiếp thu và kế thừa những kinh nghiệm tiểu thuyết từ truyền thống

văn học trong nước

Chương 3: Sự tiếp thu và kế thừa những kinh nghiệm tiểu thuyết phương Tây.

Trang 14

CHƯƠNG 1: HỒ BIỂU CHÁNH TRONG DÒNG VĂN CHƯƠNG QUỐC

NGỮ NAM BỘ ĐẦU THẾ KỶ XX

1.1 Bối cảnh xã hội và văn học Nam Bộ giai đoạn đầu thế kỷ XX.

1.1.1 Đời sống xã hội - lịch sử Nam Bộ đầu thế kỷ XX

Nam Bộ là vùng đất mới của tổ quốc, ra đời do kết quả của một cuộc khẩnhoang quy mô lớn chính thức vào khoảng thế kỷ XVI, mà nhân vật chính là Nguyễn

Hoàng- trấn thủ Thuận Hoá kiêm lãnh xứ Quảng Nam Từ khi nhà Nguyễn ở Đàng

Trong được lập nên cho đến khi “cả một miền bao la từ rừng rậm Đồng Nai kéo dàiđến bờ biển Cà Mau, từ Hà Tiên qua rừng núi Thất Sơn (Châu Đốc) vào đầu thế kỷXVIII đều hoàn toàn thống thuộc đất nước Đại Việt” [16, 21] Đến năm 1862, đểthuận lợi cho công cuộc cai trị, thực dân Pháp đã chia nước ta làm ba kỳ: Bắc,Trung, Nam- ba đơn vị hành chính tương đối độc lập, tương đương với hai “tiểuquốc gia” láng giềng Lào và Campuchia Và kết quả là Nam kỳ trở thành xứ thuộcđịa, Bắc Kỳ và Trung kỳ là xứ “bảo hộ” nhưng thực chất là những thuộc địa trá hìnhbởi triều đình nhà Nguyễn và bộ máy quan lại chỉ tồn tại với thân phận bù nhìn,dưới quyền điều khiển của chính quyền thực dân Để duy trì tình hình chính trị ấy,toàn quyền Paul Doumer còn thi hành hàng loạt chính sách về tổ chức quân lực,cảnh sát, toà án, nhà tù…Những chính sách về văn hoá, giáo dục của thực dân tronggiai đoạn này đều hướng tới đồng hoá dân tộc Việt Nam, duy trì vĩnh viễn áchthống trị của Pháp ở Việt Nam, trong đó, trước hết là miền Nam Việt Nam

Để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa, thực dân Pháp tiến hành một

hạ tầng cơ sở phù hợp nhằm thu lợi tối đa về mặt kinh tế Cả đường bộ, đường sắt,đường thuỷ đều được nâng cấp, mở rộng, khai thông Ở đô thị Sài Gòn, chúng cònxây dựng hệ thống đường xe điện Giao thông phát triển, tạo điều kiện thuận lợi chocông nghiệp và thương mại phát triển Chỉ trong một thời gian ngắn, nền kinh tếthuần nông khép kín của miền Nam nói riêng, Việt Nam nói chung đã bị đẩy lùi.Những biến đổi mạnh mẽ về cơ cấu và trình độ phát triển của các ngành kinh tếtrong mấy chục năm đầu thế kỷ XX đang làm lộ rõ một nền kinh tế tư bản Đó là

Trang 15

một nền kinh tế mở với cả nghĩa đen và nghĩa bóng: mở rộng giao lưu với nhiềunước trong khu vực và trên thế giới liên tục vận động và phát triển

Cơ cấu kinh tế thay đổi dần dần dẫn đến những thay đổi của cơ cấu xã hội.Một số tầng lớp, giai cấp mới như: công nhân, tiểu tư sản, tư sản xuất hiện vàtrưởng thành nhanh chóng cùng với sự mở rộng của các thành phần kinh tế mới- tưbản chủ nghĩa Các giai cấp cũ có sự phân hoá rõ rệt: nông dân và thợ thủ công bịbần cùng hoá và phá sản, địa chủ phong kiến do được thực dân Pháp nâng đỡ, có ưuthế cả về kinh tế và chính trị nên ngày càng phát triển hơn trước Sự phân hoá giàunghèo giữa nông dân và địa ch vốn đã sâu sắc đến nay càng sâu sắc hơn, địa chủ thìgiàu lên nhanh chóng, nông dân thì đa số rơi vào cảnh nghèo đói, bần cùng, trắngtay, trở thành một thứ hàng hoá nhân công rẻ mạt

Những thay đổi mạnh mẽ và sâu sắc ấy của đời sống xã hội- lịch sử Nam Bộ

đã dẫn đến một cuộc biến đổi không kém phần mạnh mẽ và sâu sắc của đời sốngvăn học Trong sự vận động của nền văn học Việt Nam giai đoạn này, đáng chú ý là

sự hình thành và phát triển của thể loại văn học mang tính hiện đại và toàn cầu: đó

là tiểu thuyết Trong đó, những yếu tố đáng chú ý nhất đối với sự ra đời của tiểuthuyết văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ là sự tác động của môi trường đô thị và các yếu

tố văn hoá, giáo dục

1.1.1.1 Môi tr ư ờng đ ô thịChính thức trở thành một hạt (département) của Pháp từ 1867 Nam bộ làvùng đất phát triển mạnh mẽ của cả nước theo hướng hiện đại hoá nhưng trước đó,

từ thế kỷ XVIII, ở Nam Bộ đã xuất hiện những đô thị phong kiến lớn- những trungtâm thương mại, buôn bán sầm uất và giao thương với nước ngoài như: thương cảngSài Gòn, thương cảng Hà Tiên, phố chợ Mỹ Tho và các chợ Bến Nghé, Đồng Nai,

Bà Rịa, Phố Thành…Từ khi Pháp xâm lược và du nhập một nền sản xuất mới theolối tư bản chủ nghĩa, bộ mặt của các đô thị miền Nam đã thay đổi hẳn về chất Cuộcsống của đô thị tư bản ở một nước thuộc địa làm nảy sinh nhiều nhu cầu mới, nhiềungành nghề mới Kiểu sinh hoạt và nhu cầu của cư dân thành thị cũng khác hẳn sovới cuộc sống của con người trong môi trường cung đình, làng xã trước đây Đời

Trang 16

sống vật chất của người thành thị nhìn chung khá giả hơn Những công chức, côngnhân, thầy giáo, học trò làm việc theo giờ, ngoài giờ làm việc có thời gian nghỉngơi Tầng lớp tiểu thương và tiểu chủ, những người làm các nghề tự do khác cũng

có nhiều thời gian rảnh rỗi Giải trí trở thành một nhu cầu khá phổ biến Nhưngnhững phương tiện giải trí cho người dân lại quá ít ỏi Một vài rạp hát, rạp chiếubóng được xây dựng ở những nơi trung tâm thành phố vào đầu thế kỷ chủ yếu dànhcho người Pháp ở thuộc địa hoặc những người An Nam có tiền Do vậy, phần lớnthị dân giải trí bằng việc đọc sách báo Người ta thích tìm đến những câu chuyện cótình huống, có kịch tính, gần gũi với đời sống họ đang sống Chính nhu cầu ấy trongđời sống của thị dân đã kích thích tiểu thuyết ra đời và phát triển

Trong các đô thị miền Nam, còn phải kể đến một số lượng lớn người Hoasinh sống Đó là kết quả của quá trình di dân trong chiến tranh Mặt khác, trongchính sách thương mại của thực dân Pháp, tư bản Hoa kiều được sử dụng để muahàng hoá của thực dân Pháp bán lại cho người Việt Về mặt xã hội, lực lượng ngườiHoa đông đảo đó có ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của cộng đồng người Việttrong các đô thị Chính họ đã làm cho nhu cầu dịch truyện Trung Quốc tăng mạnh.Không chỉ vậy, nhưng đặc điểm riêng về con người và tiếng nói người Hoa đã để lạidấu ấn rõ nét trong các tiểu thuyết giai đoạn này

Đô thị cũng là nơi tiếp xúc đầu tiên với văn hoá phương Tây mà trước hết làvăn hoá Pháp- một đất nước có nền văn học nói chung và tiểu thuyết hiện đại nóiriêng, rất phát triển Điều này có tác động không nhỏ đối với sự ra đời của tiểuthuyết hiện đại Việt Nam thông qua con đường dịch thuật Không chỉ có vậy, tiếpxúc với luồng gió phương Tây là tiếp xúc với cái mới, cái lâu nay ta không có “Bộphận cư dân đô thị ngày càng thấy sự tiện lợi của đồ dùng do thực dân mang đếnđồng thời cũng thấy được sự hấp dẫn của sinh hoạt văn hoá phương Tây; cái mớicái đẹp cái tiện lợi theo quan niệm cũ đã bị rạn nứt.”[24, 29] Sống trong môi trường

đó, cư dân đô thị đã ít nhiều có những nét tâm lý khác hẳn với cư dân thuần nôngnghiệp Con người giờ đây muốn sống thực trong một xã hội đời thường hơn làhướng đến một xã hội hoàn hảo thời quá vãng nào đó và nép mình theo những lời

Trang 17

giáo huấn khắt khe của Nho giáo “Người ta muốn nếm trải cái có thật (hay có thể

có thật) chứ không phải được khích lệ bằng những gương trung hiếu minh hoạ đạo nghĩa…Người ta muốn xúc cảm, muốn mở mang như những con người, những cá nhân, chứ không phải xúc động khi chiêm ngưỡng tấm gương cao cả của những vị thánh xuất chúng”[16, 25] Đó chính là mảnh đất màu mỡ để tiểu thuyết hình thành,

phát triển không ngừng

1.1.1.2 Những tiền đ ề v ă n hoá- giáo dục Chỉ 8 năm sau khi thực dân Pháp tấn công Đà Nẵng (1858)- mở đầu cuộcxâm lược chính thức vào nước ta, Nam Kỳ Lục tỉnh đã trở thành vùng nhượng địacho Pháp Bắt đầu từ 1867 cho đến ngót 100 năm sau đó, Nam Bộ vừa là địa bànthử nghiệm đầu tiên của chế độ thực dân, vừa là hình ảnh của “nước Pháp thu nhỏ”tại Đông Dương Chính sự xâm lăng của thực dân Pháp, cùng với đó là sự xuất hiệncủa mô hình văn hoá- xã hội- kinh tế mới đã gây tác động đến mọi mặt của đời sống

xã hội Nam Kỳ trong đó có văn học

Trước hết, phải kể đến việc chữ quốc ngữ được phổ biến rộng rãi ở Nam Kỳ.Ngay sau khi hoà ước Nhâm Tuất (1862) được kí kết, chữ quốc ngữ đã được thựcdân Pháp chọn làm phương tiện giao tiếp thay thế cho chữ Hán Mục đích của thựcdân Pháp là cách ly người dân khỏi các sĩ phu nhà nho yêu nước Mặt khác, chữquốc ngữ La-tinh lại đồng dạng với chữ Pháp, do vậy dễ đưa người dân An Namhướng theo văn hoá Pháp, xoá bỏ truyền thống văn hoá của dân tộc Để chữ quốcngữ được phổ biến rộng rãi ở Nam Kỳ, thực dân Pháp đã đưa ra rất nhiều nghị định,

mở các trường dạy chữ quốc ngữ với nhiều chính sách ưu đãi cho giáo viên, họcsinh; chính sách khuyến khích đội ngũ giúp việc đọc chữ quốc ngữ…Việc phổ biếnchữ quốc ngữ gắn liền với việc tuyên truyền tư tưởng mới, với một nền văn hoámới So với chữ Hán và chữ Nôm, chữ quốc ngữ dễ đọc hơn, dễ viết hơn Bởi vậy,việc dùng chữ quốc ngữ trong đời sống văn hoá tinh thần đã thực sự tạo nên mộtcuộc cách mạng- nền văn hoá dân chủ đang dần thay thế nền văn hoá bác học Việc

sử dụng chữ quốc ngữ trong sáng tác văn học mà trước hết là sáng tác tiểu thuyết

đã tạo điều kiện để tiểu thuyết đến với đông đảo quần chúng hơn Như vậy, từ

Trang 18

những năm cuối thế kỷ XIX, chữ quốc ngữ dưới sự bảo trợ của thực dân Pháp, đã

có điều kiện phát triển nhanh hơn trước, mặc dù vấp phải sự phản đối mạnh mẽ củacác sĩ phu nho học Đến đầu thế kỷ XX, nhờ sự kích thích của phong trào ĐôngKinh Nghĩa Thục (1908) cổ xuý cho sự phát triển rộng rãi của chữ quốc ngữ mànhiều người dân Nam Bộ đã thấy đựơc tiện ích của thứ chữ này Chữ quốc ngữnhanh chóng phát triển, trở thành thứ chữ của báo chí, văn học đáp ứng yêu cầu củamột bộ phận công chúng mới- công chúng thị dân ở Nam Bộ

Dưới chính sách cai trị của thực dân Pháp, một nền giáo dục mới dần đượchình thành ở miền Nam Việt Nam Giáo dục phong kiến dần dần bị đẩy lùi và xoá

bỏ, thay vào đó là nền giáo dục mới- giáo dục Pháp- Việt đang dần trở nên ổn định

So với nền giáo dục phong kiến nền giáo dục mới có nhiều tiến bộ đáng kể: chươngtrình, nội dung học tập phong phú, toàn diện, thời gian đào tạo nhanh hơn….Độingũ tri thức, sản phẩm của nền giáo dục mới không chỉ đáp ứng mục tiêu học hành

để thi cử làm quan mà còn hướng đến rất nhiều các ngành nghề khác Một lớp tríthức “tân học” đã xuất hiện ở đầu thế kỷ XX Họ là con đẻ của nền giáo dục mới,những kiến thức mà họ tiếp thu được sẽ chuẩn bị hoặc gợi ý cho họ những ứng xửmới với thời cuộc

Song hành với quá trình truyền bá chữ quốc ngữ là sự phát triển của báo chí

ở Nam Bộ Từ tờ Gia Định báo- tờ công báo đầu tiên ra đời năm 1865 đến năm1932

ở Sài Gòn đã phát hành trên 50 tờ báo-tạp chí Báo chí ngay từ thời kỳ đầu này đã làmảnh đất tốt cho văn chương, mà đặc biệt là tiểu thuyết Các tiểu thuyết ngắn dài

được in nhiều kỳ theo hình thức tiểu phẩm (fuelliton), bao gồm cả các tiểu thuyết

sáng tác lẫn các tiểu thuyết dịch Phần lớn các tiểu thuyết gia Nam Bộ đều là cácnhà viết báo như: Trần Chánh Chiếu, Lê Hoằng Mưu, Phú Đức, Bửu Đình…Báochí với đặc thù của nó là cập nhật và không thể không quan tâm đến độc giả có ảnhhưởng lớn đến lối viết tiểu thuyết của các nhà văn thời kỳ này Đặc biệt, sự pháttriển của báo chí, với mục đích hàng đầu là cung cấp thông tin cho độc giả mà chủyếu là độc giả ở các đô thị, đã góp phần to lớn trong việc cải tiến câu văn xuôi tiếngViệt, chính xác hoá cách sử dụng chữ quốc ngữ Những hiện tượng viết sai chính tả

Trang 19

hay sử dụng lối viết văn biền ngẫu ngày càng ít đi, cách viết câu văn sáng sủa của

cú pháp văn xuôi tiếng Pháp ngày càng trở nên thông dụng Bên cạnh sự phát triểncủa báo chí, số lượng các nhà in, nhà xuất bản ở Sài Gòn ngày càng nhiều Từ 1862đến 1932 ở Sài Gòn Chợ Lớn có tới 74 nhà in khác nhau [24,43] Với số lượng cácnhà in, xuất bản ngày càng nhiều tiểu thuyết văn xuôi Quốc ngữ ở Nam Bộ có điềukiện để in ấn, phát hành, khoảng cách giữa công chúng và nhà văn được thu ngắnlại, độc giả có nhiều sự lựa chọn hơn trong việc đọc tiểu thuyết và nhà văn vì thếcũng bị thách thức nhiều hơn khi sáng tác

Sinh hoạt văn hoá có ảnh hưởng lớn nhất tới tiểu thuyết văn xuôi quốc ngữNam Bộ thời kỳ này chính là hoạt động dịch thuật, phiên âm, sưu tầm, nghiên cứucủa các học giả Tây học như: Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của… Các công trình

nghiên cứu, dịch thuật như Đại Nam quốc âm tự vị hay Ngôn ngữ Đông Dương, Đại Nam quốc sử diễn ca đặt dấu mốc đầu tiên cho công tác nghiên cứu ngôn

ngữ, văn học bằng chữ quốc ngữ ở ta, đồng thời cung cấp những tư liệu quý báu choviệc khảo cứu ngôn ngữ đương thời Bên cạnh đó, còn phải chú ý đến phong tràodịch thuật tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa với các dịch giả như Nguyễn Chánh Sắt,Phụng Hoàng Sang, Nguyễn An Khương, Nguyễn Công Kiều…và tiểu thuyếtphương Tây với những cái tên như Trương Minh Ký, Trần Chánh Chiếu, Trần TháiNguyên… Sự ra đời với số lượng lớn các tiểu thuyết dịch trong giai đoạn sơ khởinày có ý nghĩa lớn với đời sống thể loại cả về phía người đọc và người sáng tác.Trong khi người đọc dần chuyển hướng tiếp cận một thể loại đáp ứng được nhu cầucủa họ cả về mặt hình thức và nội dung thì người sáng tác có cơ hội để học tậpnhững kinh nghiệm làm tiểu thuyết ở hai nền văn học lớn của thế giới là TrungQuốc và Pháp Ảnh hưởng của phong trào này đến sự phát triển của thể loại tiểuthuyết văn xuôi quốc ngữ ở Nam Bộ giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX làkhông thể phủ nhận, và sẽ tiếp tục được đề cập tới trong những phần sau của luậnvăn

Ngành in, ngành xuất bản cùng với những hoạt động mang tính chất thươngmại sách báo phát triển cũng là yếu tố có liên quan mật thiết đến sự ra đời và phát

Trang 20

triển của tiểu thuyết quốc ngữ Ngoài việc được đăng nhiều kỳ trên các bài báo, rấtnhiều tiểu thuyết ra đời dưới dạng in thành sách Do vậy, vai trò của các nhà in, nhàxuất bản cũng rất quan trọng Đô thị ngày càng phát triển, lực lượng công chúngđông kéo theo nhu cầu thưởng thức văn học, nhất là tiểu thuyết ngày càng lớn Nhàvăn kiếm sống bằng nghề viết văn, nhà xuất bản làm giàu bằng nghề in ấn

Nam Kỳ chính là đất khởi phát của tiểu thuyết, là nơi tiểu thuyết pháttriển nhanh chóng trong ba thập niên đầu của thế kỷ XX Ở Nam Kỳ, những yếu tốnhư: đô thị hiện đại, sự phổ biến và phát triển rộng rãi của nền chữ quốc ngữ, báochí, dịch thuật, ngành in, hoạt động thương mại sách báo…xuất hiện sớm nhất trong

cả nước Những yếu tố này có sự cộng hưởng qua lại với nhau chính là tiền đề cho

sự ra đời và phát triển của tiểu thuyết, của nền văn học hiện đại Khi đi vào phântích các tiểu thuyết văn xuôi quốc ngữ của tác giả Hồ Biểu Chánh- một đại diệnxuất sắc của văn xuôi tự sự Nam Bộ lúc bấy giờ chúng ta sẽ thấy được những biểuhiện bước đầu của quá trình hiện đại hoá một nền văn học trong một bối cảnh mới,đồng thời, cả những biểu hiện của cái cũ vẫn chưa mất hẳn, thể hiện tính giao thờicủa văn học ở giai đoạn này

1.1.2 Đặc điểm của văn học bằng chữ quốc ngữ ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX

Phải khẳng định, cuộc xâm lược của thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX đã dẫnđến nhiều thay đổi lớn lao trên cả nước nói chung và mảnh đất Nam Kỳ nói riêng.Tuy nhiên quá trình hiện đại hoá, Âu hoá diễn ra ở Nam Bộ vào cuối thế kỷ XIXđầu thế kỷ XX mang nhiều nét đặc thù, riêng biệt

Thứ nhất, ngay cả khi một nền kinh tế tư bản đã bắt đầu hình thành ở Nam

Bộ vào đầu thế kỷ XX thì những trào lưu mới của thế giới cũng chưa thể du nhậpthông qua giai cấp tư sản dân tộc Tư tưởng dân chủ châu Âu đã được chuyển tảibằng tân thư vào Việt Nam nhờ các nhà nho, do vậy không thể giữ nguyên tinh thầncủa nó Sự tiếp nhận văn học Pháp đầu thế kỷ XX, theo Đặng Anh Đào có mở đầu

là một sự tiếp nhận đường vòng thông qua những bản dịch Trung Quốc Do nhu cầutiếp nhận và do công cụ tiếp nhận nên ảnh hưởng đầu tiên dễ nhận thấy là ảnh

Trang 21

hưởng của các tác gia thế kỷ Ánh sáng Văn học Pháp phần cuối thế kỷ XIX đầu thế

kỷ XX vào nước ta chủ yếu qua con đường giáo dục của các nhà trường

Thứ hai, giai cấp tư sản, nòng cốt của cuộc cách mạng đổi mới lại có rấtnhiều đặc thù: tính chất tư sản kiêm địa chủ, thế lực kinh tế yếu đuối và có mối quan

hệ chặt chẽ với tư bản Pháp trong công cuộc kinh doanh, tinh thần dân tộc bạcnhược Đặc điểm này khiến giai cấp tư sản không gánh được sứ mạng lịch sử củamình là làm cuộc cách mạng dân chủ tư sản

Thứ ba, về văn hoá, với âm mưu “đồng hoá” núp dưới chiêu bài “khai hoávăn minh”, thực dân Pháp đã du nhập văn hóa Pháp để đẩy lùi, thay thế dần văn hoá

cổ truyền của dân tộc trên mảnh đất Nam Kỳ Các nhà nho yêu nước của ta phảnkháng lại âm mưu đó bằng cách ra sức phát huy các giá trị văn chương truyềnthống Trong khi đó, các trí thức mới, sản phẩm của nền giáo dục mới- giáo dụcPháp- Việt lại tiếp thu cái mới của phương Tây để có thể thích ứng với cuộc sốngchung đang đổi thay

Thêm vào đó, Nam Bộ, ngay từ thuở “khai thiên lập địa” đã có những khácbiệt căn bản so với “anh cả” và “anh hai”- Bắc Bộ và Trung Bộ Thành phần cư dânphức tạp- sự “hợp chủng” của ba tộc người Việt, Hoa, Khơ-me, cùng với điều kiệnđịa lý nhiều ưu đãi và cả không gian riêng biệt- xa trung tâm đã làm nên một vùngđất đặc biệt, đã tạo ra một “cá tính miền Nam” (chữ dùng của nhà văn Sơn Nam).Con người ở vùng đất này rất cởi mở, phóng khoáng, cương trực, trung hậu, nhiềusáng kiến, thành tâm và không thành kiến Bên cạnh đó, người miền Nam có mộtcái lợi lớn là tiếp nhận một nền giáo dục không khắt khe như Đàng Ngoài Chínhnhững điều này đã làm cho người miền Nam dễ dàng “tiếp thu và kế thừa nhữngnguồn sinh hoạt văn hoá khác nhau Do đó, tinh thần văn nghệ của họ rất cởi mở, đadạng về nhiều mặt.”[13, 26] Cùng với những điều kiện đặc thù về kinh tế-chính trịthì đặc điểm này lí giải vì sao văn học Nam Bộ lại đi đầu trong công cuộc hiện đạihoá của văn học nước nhà

Truyền thống văn học Nam Bộ, cho đến cuối thế kỷ XIX, tuy chưa có bề dàyđáng tự hào như văn học Bắc Bộ ở vào thời điểm đó nhưng cũng đã có những thành

Trang 22

tựu đáng ghi nhận và bước đầu thể hiện một diện mạo riêng đáng chú ý Hai bộphận văn học viết và văn học dân gian cùng tồn tại song hành, thâm nhập và ảnhhưởng lẫn nhau; trong đó văn học dân gian phát triển khá mạnh đặc biệt là các loạihình dân ca hò, vè, các hình thức kể chuyện Đặc biệt, người bình dân ở Nam Bộthường sống với truyện thơ thông qua hình thức “nói thơ”, “kể chuyện” Văn họcviết ở Nam Bộ, cho đến trước khi thực dân Pháp xâm lược thì hiện tượng đáng chú

ý nhất là các sáng tác của nhóm Chiêu Anh Các và Gia Định tam gia thi xã vàokhoảng cuối thế kỷ XVIII Đến thời kỳ thực dân Pháp xâm lược, văn học yêu nướcNam Bộ nở rộ với các nhà thơ tiêu biểu như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, BùiHữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt…Truyền thống văn chương kể trên, trước hết, cungcấp chất liệu hiện thực cho tiểu thuyết văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ giai đoạn saunày Sau nữa, theo Tôn Thất Dụng, những đặc điểm như: truyền thống sáng tácbằng chữ Nôm, ảnh hưởng của nghệ thuật sân khấu (đặc biệt là tuồng), nguyên líthẩm mĩ “vì đời”- phù hợp với thị hiếu thẩm mĩ và tâm lí thưởng ngoạn của đa sốcông chúng sẽ còn tiếp thu và phát triển trong các sáng tác văn xuôi quốc ngữ ở giaiđoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ

Như vậy, có thể thấy, Nam Bộ hồi đầu thế kỷ XX là một môi trường mớitrong đó diễn ra một cảnh tượng giao thời và giao thoa giữa hai nền văn hoá, vănhọc: phương Đông- phương Tây, truyền thống- hiện đại Những tiểu thuyết ra đờitrong giai đoạn này thể hiện rất rõ tính chất giao thời và giao thoa đó: cái mới vẫnchưa rõ ràng, cái cũ vẫn chưa mất hẳn Tuy nhiên, trong quá trình vận động, do sựphát triển ngày càng nhanh chóng của các đô thị, sự tích luỹ ngày càng nhiều trithức văn học phương Tây nên tiểu thuyết phát triển rất nhanh Trong chương II vàchương III của luận văn chúng tôi sẽ tập trung làm rõ đặc điểm kế thừa và tiếp thunhững kinh nghiệm tiểu thuyết trong sáng tác của một tác giả miền Nam tiêu biểu là

Hồ Biểu Chánh trên cơ sở khảo sát những cảm hứng nổi bật và một số phương diệnhình thức cơ bản

Trang 23

1.2 Tiểu thuyết Nam Bộ giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Việc khái quát quá trình hình thành, vận động, phát triển của tiểu thuyết nóichung giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã được đề cập đến trong nhiềucông trình nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau Trong đó đáng chú ý là luận ánphó tiến sĩ của Tôn Thất Dụng, luận án tiến sĩ của Cao Xuân Mỹ, luận án tiến sĩ của

Lê Tú Anh Tôn Thất Dụng chia thành ba chặng: từ cuối thế kỷ XIX đến khoảng

1910, từ khoảng 1910 đến 1920, từ 1920 đến 1932 Cao Xuân Mỹ chia thành 2 giaiđoạn: giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX đến 1920 và giai đoạn từ 1920 đến đầu 1930 Lê

sự xuất hiện của cuốn tiểu thuyết Thầy Lazaro Phiền (1887), còn nếu tính từ tác phẩm kí Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876) thì khoảng cách này là ngót nghét

nửa thế kỷ Đây là điều đã được đông đảo giới nghiên cứu văn học Việt Nam cậnđại thừa nhận trong những năm gần đây Dựa trên tiêu chí đã nói ở trên, chúng tôimạnh dạn chia quá trình hình thành, vận động và phát triển của văn xuôi tự sự quốcngữ ở Nam Bộ trong bước khởi đầu làm các chặng sau:

Trang 24

1.2.1 Từ cuối thế kỷ XIX đến 1887

Giai đoạn này được đánh dấu bằng sự ra đời của các tác phẩm của TrươngVĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký, Nguyễn Trọng Quản Trong đó,Trương Vĩnh Ký là người có số lượng tác phẩm đồ sộ nhất, ở đây chỉ tính các côngtrình bằng Việt văn gồm các bài khảo cứu, sách dạy sơ học đến các tác phẩm dịch raquốc ngữ những sách chữ Hán kinh điển của Nho gia, những tác phẩm văn Nôm nổitiếng và phần tự sáng tác Phần văn tự sáng tác của ông có thể được chia thành haiphần: văn cũ và văn mới, dựa theo thể loại Phần văn cũ gồm các tác phẩm được

sáng tác theo thể ca, phú, vịnh của văn chương truyền thống Phần văn mới của Trương Vĩnh Ký, theo Phạm Thế Ngũ, chỉ có hai tác phẩm là Chuyện đời xưa là

một kiểu “cố sự tân biên” các truyện cổ dân gian Việt Nam dưới hình thức của các

truyện ngắn và Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi một tập du kí Như vậy, đến Trương

Vĩnh Ký, hai thể loại quan trọng của tự sự văn xuôi Quốc ngữ là truyện ngắn và ký

ra đời Tác giả thứ hai không thể bỏ qua chính là Nguyễn Trọng Quản với Truyện thầy Lazarô Phiền ra đời năm 1887 Đây là tác phẩm được đánh giá là tiểu thuyết

văn xuôi quốc ngữ đầu tiên với “cách kết cấu rất hiện đại của tác phẩm và cái khảnăng của một ngòi bút biết đi vào thế giới thầm kín bên trong của nhân vật” đã tạonên “hiện tượng có một không hai trong văn xuôi quốc ngữ cả Nam lẫn Bắc cho đếntận giữa những năm 1920 Các tác phẩm trên của Trương Vĩnh Ký, Nguyễn TrọngQuản được Nguyễn Huệ Chi gọi là “hiện tượng chín sớm” Bằng Giang thì gọi đó là

“hoa nở độc chiếc”[1, 329] của nền văn xuôi tự sự bằng quốc ngữ ở miền Nam, dotrước đó không hề có một tiền lệ, cũng chỉ xuất hiện một lần duy nhất như là sự

“thăng hoa” hay “xuất thần” của tác giả, và sau đó cũng không có bước tiếp nối.Tuy nhiên, hoạt động quan trọng có ý nghĩa lâu dài của các tác giả, học giả thời kỳnày chính là phiên âm văn nôm cũ, khảo cứu về văn hoá và ngôn ngữ nước nhà, sưutầm những ca dao, cổ tích xưa của ta, dịch thuật ngoại văn ra quốc ngữ Với ý thứcchuẩn hoá câu văn xuôi tiếng Việt và mong muốn xây dựng một nền văn học mangmàu sắc dân tộc từ nội dung đến hình thức, đây vừa là bước khởi đầu vừa là bước

Trang 25

chuẩn bị quan trọng cho sự phát triển nở rộ của các thể văn xuôi tự sự bằng chữquốc ngữ ở Nam Bộ trong những giai đoạn sau.

1.2.2 Từ 1887 đến 1910

Đây là giai đoạn văn xuôi tự sự viết bằng chữ quốc ngữ không có nhiềuthành tựu Hai mươi năm văn học này vẫn được coi là một bước lùi của văn xuôiquốc ngữ Nam Bộ, “quốc văn miền Nam sau đó lâm vào tình trạng ngưng trệ vànghèo nàn hết sức”[17, 84] Các truyện thơ Nôm tiếp tục là lựa chọn của nhà văn và

công chúng như Cậu Hai Miêng, Thầy thông chánh, Sáu Trọng…Sự kiện có ý nghĩa đầu tiên ở chặng này chính là cuộc thi tiểu thuyết do Nông cổ mín đàn phát động.

Trong thể lệ cuộc thi, những vấn đề khá cơ bản của tiểu thuyết hiện đại được đề cậpđến Đó là các vấn đề về đề tài: “Trong cuộc đời phải đem hết các việc quan hôntang tế, thày thuốc, thày chùa, thày phép…Phải có can thường, luân lý, nhơn duyên,thiện ác”, về bút pháp “lấy trí riêng mà đặt ra một truyện tuỳ theo nhân vật phongtục trong xứ, dường như truyện có thật vậy” Về ngôn ngữ, về dung lượng tácphẩm…Mặc dù vậy, duy nhất chỉ có một tác phẩm dự thi Điều đó chứng tỏ cuộc thikhông thu hút được sự chú ý của độc giả Điều mà cuộc thi đem lại chính là đã gópphần hình thành ý niệm về thể loại trong nhiều người cầm bút cũng như công chúngvăn học lúc bấy giờ Đến năm 1909, Hồ Biểu Chánh có sáng tác một truyện thơ

Nôm là U tình lục Đây là một trong những thể nghiệm của Hồ Biểu Chánh bằng

hình thức văn vần Truyện thơ này được ông viết dưới dạng thơ lục bát, độ dài tácphẩm lên tới 1790 câu Từ nhân vật đến cốt truyện tác phẩm thể hiện rõ nét dấu ấn

truyện Nôm thời trung đại, nhất là ảnh hưởng của Đoạn trường tân thanh Tuy

nhiên, sáng tạo của Hồ Biểu Chánh ở tác phẩm chính là quan niệm khác trước vềtình yêu và hôn nhân “Điểm mới mẻ độc nhất trong tác phẩm này là, tuy nhằm chủđích luân lý, tác giả vẫn để cho hai nhân vật chính, sống vào cuối thế kỷ XIX, được

tự do luyến ái và có hành động táo bạo, vượt ra ngoài khuôn khổ lễ giáo.” [17,178]

Trang 26

1.2.3 Từ 1910 đến 1924

Năm 1910 là năm đánh dấu mốc khá quan trọng trong quá trình hình thành

và phát triển của tiểu thuyết chữ quốc ngữ ở miền Nam nói riêng và cả nước nóichung Mở đầu với sự xuất hiện trở lại vào năm 1910 của hai tiểu thuyết tự sáng tác

là Phan yên ngoại sử và Tiết phụ gian truân của Trương Duy Toản, Hoàng Tố Oanh hàm oan của Trần Chánh Chiếu Trong đó, Hoàng Tố Oanh hàm oan đã có tác động rất lớn đến ngòi bút Hồ Biểu Chánh: “Hoàng Tố Oanh hàm oan, một tiểu

thuyết phong tục với cốt truyện li kì và lời văn bình dị, tác giả theo thuyết nhân quả

mà cho người phải chung cuộc đời hiển vinh, kẻ quấy cuối cùng phải chịu quả báo,khiến Hồ Biểu Chánh quyết định viết tiểu thuyết theo đường lối ấy để cảm hoá quầnchúng mà đưa họ trở lại con đường nhân nghĩa chính trực”[10,tr.32-33] Năm 1921

Hồ Biểu Chánh viết Ai làm được- một tác phẩm tự sự bằng hình thức văn xuôi.

Nhưng mãi tới năm 1925 tác phẩm này mới được nhuận sắc và xuất bản Tiếp theotiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh có thể kể đến hàng loạt các tiểu thuyết ở giai đoạnnày Cùng với các tác phẩm này, nhiều tác phẩm tiểu thuyết văn xuôi chịu ảnh

hưởng của tiểu thuyết cố điển Trung Hoa tiếp tục ra đời như: Kim thời dị sử- Biến Ngũ Nhi, Nghĩa hiệp kỳ duyên- Nguyễn Chánh Sắt.

1.2.4 Từ năm 1925 đến 1930

Với sự phát triển nhảy vọt cả về số lượng và chất lượng, có thể coi đây làgiai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất của tiểu thuyết văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ.Dung lượng tiểu thuyết cũng ngày càng lớn hơn Chẳng hạn, ở chặng trước tác

phẩm thuộc loại dày dặn nhất như Oán hồng quần ngoại sử (Lê Hoằng Mưu) chỉ dày 292 trang Đến chặng này, độ dày tác phẩm lớn hơn nhiều Khối tình màu nhiệm của Dương Minh Đạt dày 492 trang Đội ngũ nhà văn viết tiểu thuyết ngày

càng đông, phong trào sáng tác ngày càng rầm rộ, nhiều loại tiểu thuyết khác nhauxuất hiện làm phong phú thêm cho văn đàn: tiểu thuyết nghĩa hiệp, tiểu thuyết trinhthám, tiểu thuyết ái tình, tiểu thuyết xã hội…

Trang 27

1.3 Sáng tác của Hồ Biểu Chánh trong tiến trình vận động, phát triển của văn học vùng Nam Bộ

1.3.1 Vài nét về tác gia Hồ Biểu Chánh

Hồ Biểu Chánh có thể coi là một nhà văn kỳ cựu nhất của làng văn ViệtNam Cuộc đời ông đã ít nhiều trải qua những biến cố quan trọng của lịch sử ViệtNam Năm kinh thành Huế thất thủ chính là năm ông ra đời (1885) rồi từ đó hếtbiến cố này đến biến cố khác trong thời kỳ thực dân chiếm đóng Việt Nam Ôngđược chứng kiến cuộc đảo chánh Nhật, cuộc cướp chính quyền của Việt Minh, cuộcchia đôi đất nước do hiệp định Giơnevơ, việc dân Bắc ào ạt di cư vào Nam lật đổchế độ quân chủ để thiết lập chế độ cộng hoà Như vậy, Hồ Biểu Chánh đã sống

“lợp qua” (chữ dùng của Thanh Lãng) cả chiều dài và chiều rộng trang lịch sử chiếnđấu của dân tộc Việt Nam

Hồ Biểu Chánh tên thật là Hồ Văn Trung sinh ngày 1 tháng 10 năm 1885, tạilàng Bình Thành, tỉnh Gò Công Theo lời của Hồ Văn Kỳ Trân, con trưởng của ôngthì ông vốn sinh trưởng trong một gia đình nghèo nhưng nội tổ hồi trước lập làngnên có bảng vị Tiên hiền thờ trong đình thần, và thân phụ được tham dự trong BanHội hương chánh lần tới chức Hương chủ và Chánh bái Đến năm lên tám, Hồ BiểuChánh mới học vỡ lòng chữ nho tại trường làng Năm ông lên mười hai, cha mẹ ôngrời quán về chợ Giồng ông Huê, lúc đó mới cho ông đi học chữ Quốc ngữ và chữPháp tại trường Vĩnh Lợi, rồi sau đó lại cho xuống học tại trường tỉnh Gò Công.Cuối năm 1905, ông thi đậu Thành chung Năm 1906 khi ông 21 tuổi, ông thi Ký-lục Soái phủ Nam Kỳ và từ đó cho tới năm 1945 ông sống cuộc đời bình thường củamột công chức, đi từ Ký lục lên tới Đốc phủ Sứ Từ 1906 đến 1912, tòng sự tại dinhHiệp Lý; từ 1912-1914 tòng sự tại Bạc Liêu, Cà Mau; năm 1914 tòng sự tại LongXuyên; năm 1919 tại Gia Định Năm 1920, làm tại văn phòng Thống Đốc Nam Kỳ;cuối năm 1921, thi đậu tri huyện; năm 1927 được thăng tri phủ quận Càng Long(Trà Vinh); năm 1932 chủ Quận Ô Môn (Cần Thơ); năm 1934, đổi đi Phụng Hiệp;năm 1935, về Sài Gòn lãnh chức phó chủ Phòng 3, kiểm soát ngân sách các tỉnh,thành phố Năm 1936 thăng Đốc Phủ Sứ Đến nửa năm 1935, tính ra đời công chức

Trang 28

đã chẵn 30 năm, ông đệ đơn xin về hưu trí Ông được chính phủ Pháp cho hồi hưu

kể từ đầu tháng giêng năm 1937, nhưng vì chưa có người thay thế nên ông phải ởtại chức cho đến năm 1941 Pháp lại cử ông làm Nghị viện Hội Đồng Liên BangĐông Dương, rồi 26 tháng đó lại kiêm cả nghị viên thành phố Sài Gòn với chức PhóĐốc Lý Cuối năm 1941 Sài Gòn và Chợ Lớn được sát lập làm một ông lại phải làmNghị viên trong Ban Quản trị Sài Gòn, Chợ Lớn cho đến năm 1945 Năm 1946, khiNguyễn Văn Thinh làm Thủ tướng Nam Kỳ Quốc, có mời Hồ Biểu Chánh làm cốvấn Từ năm 1946 Hồ Biểu Chánh về hưu tại Gò Công là chốn cố hương Ngày 4tháng 11 năm 1958, Hồ Biểu Chánh chết tại biệt thự Biểu Chánh, hưởng thọ 73tuổi

1.3.2 Sự nghiệp văn học của Hồ Biểu Chánh

Với 50 năm sáng tác, bên cạnh sự nghiệp chính trị, Hồ Biểu Chánh đã để lạicho đời một sự nghiệp văn học gồm nhiều thể loại như tiểu thuyết, hồi ký, biênkhảo, dịch thuật, phê bình văn học, thơ, truyện thơ, tùy bút, truyện ngắn… Trong

đó, tiểu thuyết là lĩnh vực mà nhà văn thành công hơn cả Các tiểu thuyết của ôngđược bạn đọc yêu mến, trong đó có mười tiểu thuyết được dựng thành phim bao

gồm: Ngọn cỏ gió đùa, Cay đắng mùi đời, Nợ đời, Con nhà nghèo, Chúa tàu Kim Quy, Đại nghĩa diệt thân, Tân phong nữ sĩ, Tại tôi, Khóc thầm.

Hồ Biểu Chánh có tới 64 tiểu thuyết kể từ tiểu thuyết đầu tay Ai làm được

(viết năm 1912) cho tới tiểu thuyết cuối cùng còn dang dở là Hy sinh (viết năm1958) Ngoài ra còn có 8 đoản thiên, 4 truyện ngắn, 2 truyện dịch, 12 tuồng hát, 5tập thơ và truyện thơ, 8 tập ký, 28 tập khảo cứu và phê bình

Với 18 tiểu thuyết đặc biệt viết vào thời kỳ 1912- 1932, Hồ Biểu Chánh được

đánh giá là “có đóng góp quan trọng trong tiến trình hình thành văn học Việt Nam hiện đại” Trong giai đoạn này, có năm tiểu thuyết tiêu biểu, thể hiện rõ nhất sự kế

thừa và tiếp thu kinh nghiệm tiểu thuyết truyền thống và phương Tây (mà luận văn

sẽ khảo sát) là: Ai làm được, Thầy thông ngôn, Ngọn cỏ gió đùa, Khóc thầm, Cha con nghĩa nặng.

Trang 29

Ai làm được: (viết ở Cà mau, năm 1912, đến năm 1922 được chỉnh lý) là tiểu

thuyết đầu tay của Hồ Biểu Chánh, mô phỏng cuốn André Cornrlis của PaulBourget Tiểu thuyết thuật chuyện một cô gái con một vị quan phủ, cô Bạch Tuyếtnuôi chí báo thù cho mẹ - bị vợ bé của cha đầu độc Nhờ một người lão bộc thân tín,Bạch Tuyết mới 12 tuổi mới biết chính người dì ghẻ giết mẹ nàng Từ đấy, nàng âmthầm tìm mưu cơ để trả thù trong khi người dì ghẻ lại hết sức chiều chuộng nàngnhằm chiếm đoạt gia tài kếch xù mà Bạch Tuyết sẽ được thừa kế của ông ngoạinàng Nhờ sự đa mưu và sự giúp sức của ông ngoại, người chồng mà Bạch Tuyết đãthoát chết và đem nội vụ ra làm sáng tỏ, trả thù được cho mẹ

Thầy thông ngôn: tác phẩm là chuyện đời thầy thông ngôn Trần Văn Phong,

từ khi thầy đỗ hạng nhì vào ngạch Soái phủ Nam kỳ đến lúc thầy được bổ nhiệmlàm thông ngôn qua các tỉnh Cà Mau, Long Xuyên, Châu Đốc… Ở mỗi nơi, thầy lolàm thông ngôn thì ít mà lo tìm kiếm người con gái chưa chồng giàu sang để cưới

về làm vợ thì nhiều Vì thầy và bố mẹ thầy mong muốn thầy lấy được cô vợ giàu để

mở mày mở mặt Khi còn ở quê, thầy có hứa hẹn với cô Hai Liền nhưng khi đỗ làmthầy thông rồi thì thầy bỏ rơi vì chê cô ta nghèo Tại Cà Mau, thầy yêu cô Sáu Lýnhưng cha mẹ thầy không cho cưới vì gia đình cô ta chưa phải loại cự phú ĐếnLong Xuyên, thầy định kết thân với cô Diệu Anh – là gái góa mà giàu có nhưng bị

Lê Trường Sanh đánh ghen, phải chịu nhục nhã mà chuyển đi nơi khác Tại ChâuĐốc, thầy gặp và cưới Như Hoa, tuy không xinh đẹp nhưng giàu có Khi về ra mắt

bố mẹ chồng, nàng tỏ ý khinh nhà chồng vì nghèo Sau khi sinh con, Như hoa lạitrai gái với người khác, nên hai người bỏ nhau Thầy Phong đưa con về quê, muốncưới cô Hai Liền nhưng cô không chịu, vì thầy là người vong ân bạc nghĩa Thầy bịcảm mưa, ốm chết vì hối hận Ngoài phần truyện chính còn có “truyện sau” kể vềđứa con của thầy Thông, học hành đỗ đạt, lấy vợ nghèo nhưng sống hạnh phúc

Ngọn cỏ gió đùa: (xuất bản năm 1926, in 7 lần, đây là một tiểu thuyết phóng tác nhưng sử dụng bối cảnh lịch sử cận đại Việt Nam ở Nam kỳ) mô phỏng Les

Misérsbles của Victo Hugo, thuật chuyện một người dân quê cùng khổ oán ghét nhàgiầu, bất mãn với xã hội, nhưng nhờ sự cảm hoá phi thường của hòa thượng Chánh

Trang 30

Tâm mà giác ngộ từ bi, nghĩa hiệp chướng, nên về sau đem cả cuộc đời ra làm hạnhphúc cho người khác.

Khóc thầm: cô Đoàn Thu Hà học sinh trường Nữ học đường vừa đỗ đip-lôm

và brơ-vê về nhà nghỉ hè, được cha (ông Hôi đồng chánh) gã cho Vĩnh Thái là mộtthanh niên du học ở Pháp về, đậu tú tài Tây học Vĩnh Thái gian hiểm và đê tiện,miệng nói khai hóa quốc dân, thương xót đồng bào, song từ khi được ông Hội đồng

đi vắng, giao cho quản lý gia tài thì áp dụng chính sách bóc lột tận xương tủy táđiền tá thổ Sau y lại quyến rũ vợ một tá điền, nên bị đánh chết Cô Thu Hà từ khibiết rõ tư cách chồng thì ngày ngày chỉ biết “khóc thầm” Cái chết của Vĩnh Thái đãgiải thoát cho cô Cô chán bọn đàn ông chỉ biết khua môi múa mép, xin với chasang Pháp học để mở rộng kiến thức

Cha con nghĩa nặng (1929): Trần Văn Sửu là một nông dân cần cù chất phác

có vợ là Thị Lựu, gian xảo dâm đãng, với hai con là thằng Tý con Quyên, vợ Sửuthông dâm với Hương hào Hội Sửu bắt được đánh vợ không dè, quá tay vợ chết.Sửu bỏ trốn đi biệt Hai đứa con sống dựa vào ông ngoại song nhà nghèo quá, nênthằng Tý phải đi ở đợ cho một nhà giàu có lòng tốt là bà Hương quản Tồn; conQuyên cũng được bà nuôi, chúng lớn lên đều có tư cách Dân làng hầu như quêncâu chuyện ngày xưa, bà Hương quản định cưới con Quyên cho con trai bà là cậu baGiai Hương giáo Cân cũng sắp gả con cho thằng Tý Trần Văn Sửu bỗng nhiên trở

về sau 19 năm lẩn trốn, vì nhớ con muốn gặp chúng nhưng người ông ngoại lại đuổiSửu đi vì sợ làm hỏng hạnh phúc của hai cháu Sửu cũng đành hy sinh định bỏ đi,nhưng thằng Tý biết được, chạy níu cha lại Con trai, con gái đều thương cha, đượcdâu, rể nhìn nhận và Sửu lại được tòa tha, sống cuộc sống xum họp, vui vẻ

Nhìn chung tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh có nhiều thể loại khác nhau từtình ái đến phiêu lưu, từ lịch sử đến xã hội nhưng đều hướng tới hai chủ đề chính là:

mô tả đời sống xã hội và quảng bá đạo lý Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh có sự kết hợpgiữa cổ điển và hiện đại, truyền thống và cách tân Tính cổ điển thể hiện ở quanniệm đạo đức, quan niệm thẩm mỹ mang tính dân chủ và nhân văn của văn họctrung đại Tính hiện đại thể hiện qua việc tiếp thu những thành tựu của kỹ thuật tiểu

Trang 31

thuyết phương Tây như ngôn ngữ, nghệ thuật xây dựng nhân vật và kết cấu (cácyếu tố này sẽ được tìm hiểu trong chương II và chương III của luận văn).

Giá trị tư tưởng trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh: Điều mà Hồ Biểu

Chánh quan tâm sâu xa và thể hiện đậm nét trong tác phẩm của mình là “làm thếnào cho xã hội có được phong hóa lành mạnh” (Giáo sư Nguyễn Lộc) Tuy nhiên,cái mới, cái giá trị tư tưởng trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh không đơn thuần chỉ

là nói chuyện đạo lý, mô tả phong tục của đất nước Việt Nam mà cái hay của ôngchính là “ông nói đạo lý kèm với chuyện đời, kể lại những cảnh đời khác nhau cóthể là không gắn gì với các biến động chính trị, kinh tế của xã hội nhưng lại gắnchặt với đời người, lại là nội dung của đời sống hàng ngày” (Tiến sĩ Lê Ngọc Trà)

Giá trị hiện thực của tác phẩm Hồ Biểu Chánh nằm ở chính những cảnh đời

của người nông dân với cuộc sống vất vả, cực nhọc đói cơm, rách áo, bị đàn áp,nhục mạ dưới chế độ thực dân nửa phong kiến Bên cạnh đó, Hồ Biểu Chánh cònkhắc họa được nhiều khuôn mặt tình nghĩa, với những chuẩn mực đạo lý làm người,với cách sống, phong tục của gia đình, của dân tộc Việt Nam

Giá trị nghệ thuật trong tác phẩm Hồ Biểu Chánh được thể hiện ở hầu hết

các bình diện của nghệ thuật tiểu thuyết Đó là cách sử dụng ngôn ngữ nhuần nhị từcác khẩu ngữ của người dân Nam bộ thành ngôn ngữ văn chương Đó là lối kết cấuchuyện theo kỹ thuật tiểu thuyết Phương Tây nhưng lại mang bối cảnh Việt Nam

Đó còn là những trăn trở, giằng co trong nội tâm nhân vật hay những suy nghĩ sâukín, chân thật, tự nhiên của người dân Nam Bộ… tất cả cùng góp phần truyền tảicác giá trị hiện thực, nội dung tư tưởng của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh

Có thể nói, với sự nghiệp văn học đồ sộ, nhất là những tiểu thuyết đặc sắcvào giai đoạn 1912 -1932, Hồ Biểu Chánh đã xây nên chiếc cầu nối giữa Văn họcTrung đại và văn học hiện đại, giữa tiểu thuyết Việt Nam và tiểu thuyết PhươngTây, mở ra con đường mới cho tiểu thuyết hiện đại

1.3.3 Vai trò của Hồ Biểu Chánh trong nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại

Gần đây, do đất nước có nhiều biến động, các tác phẩm của Hồ Biểu Chánhmới được nhìn nhận và đánh giá một cách cởi mở hơn Đặc biệt, việc Hồ Biểu

Trang 32

Chánh được chính thức đưa vào Từ điển văn học với những đánh giá đúng mức vềnhững đóng góp và hạn chế của tác giả đã giúp bạn đọc có cái nhìn tổng quan hơn

về vai trò của Hồ Biểu Chánh trong tiểu thuyết Nam Bộ nói riêng và nền tiểu thuyếtViệt Nam hiện đại nói chung

Đối với văn học vùng Nam Bộ thì tiểu thuyết văn xuôi quốc ngữ giai đoạn sơkhởi (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX) với sự góp mặt Hồ Biểu Chánh với 18 tiểuthuyết đặc sắc đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của bộ phận văn học quốc ngữ ởNam Bộ Không những thế, Hồ Biểu Chánh cùng các tác gia cùng thời đã đưa vănhọc Nam Bộ tiến vào con đường hiện đại và đóng vai trò tiên phong trong việc thayđổi diện mạo chung của văn học Nam Bộ, góp phần làm cho văn học nơi miền đấtmới này hòa nhập vào sự vận động chung của văn học cả nước Thông qua các tácphẩm của Hồ Biểu Chánh, người đọc cả nước được tiếp cận với một thứ ngôn ngữ,một phong cách sống rất riêng, thể hiện cá tính riêng của người dân Nam Bộ

Toàn bộ tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh được xem như cuốn “bách khoa toànthư” về đời sống xã hội và con người Nam Bộ đầu thế kỷ XX Đọc tiểu thuyết củaông, ta như đang trở về với những gì đã xảy ra tại xã hội Miền Nam Việt Nam thời

ấy, để chứng kiến cuộc sống cực khổ của nhân dân ta, để ngậm ngùi đau xót trướcnhững vết thương nhức nhối của xã hội Miền Nam Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc.Qua việc xây dựng kết cấu, ngôn ngữ và nhân vật, nhà văn đã góp phần chuyển tiểuthuyết Việt Nam từ phạm trù văn học trung đại sang phạm trù văn học hiện đại Nói

về đóng góp của Hồ Biểu Chánh, tác giả cuốn Từ điển văn học tập 1, Nguyễn Huệ Chi cũng khẳng định “mạnh dạn sử dụng tất cả những hiện tượng xã hội vượt quá khuôn khổ đạo lý thông thường làm chất liệu chính cho tiểu thuyết Đó là bước biến đổi của thể truyện, dưới ngòi bút của ông”.

Trải qua hơn một thế kỷ, cho tới nay, tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh vẫn cònnguyên vẹn giá trị và được đông đảo bạn đọc yêu quý Trong những năm hai mươicủa thế kỷ hai mươi, văn học dân tộc ta thực sự chuyển sang giai đoạn hiện đại, và

Hồ Biểu Chánh đã góp phần tích cực vào việc chuyển giai đoạn cho tiểu thuyết nói

chung và cho văn học Việt Nam nói riêng Có thể nói, Hồ Biểu Chánh là “một trong

Trang 33

những tiểu thuyết gia hàng đầu ở Miền Nam mà các tác phẩm từng được phổ biến rộng rãi, trở thành món ăn tinh thần quen thuộc của đa số quần chúng trên vùng đất phương Nam tổ quốc” Tác phẩm của ông có nhiều loại người, bắt đầu từ cuộc

sống đời thường của tầng lớp nhân dân, từ những người thấp cổ bé họng cho đếnnhững kẻ cao sang quyền quý, từ nông thôn đến thành thị, với những thói quen sinhhoạt, những niềm vui nỗi buồn của người dân vùng đất Nam Bộ… Nhà nghiên cứuPhan Cự Đệ cho rằng ưu điểm nổi bật nhất trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh làtrực tiếp tố cáo những thủ đoạn lột tô tức của địa chủ, vạch được sự tha hoá củađồng tiền trong xã hội thực dân phong kiến Đề cao những người nghèo tiền bạcnhưng giàu lòng nhân nghĩa, tinh thần phản kháng của những người lao động,khuynh hướng hiện thực của Hồ Biểu Chánh gắn liền với khuynh hướng cải lương

và khuynh hướng đạo lý Rõ ràng không có một nhà văn nào có khả năng bao quáthiện thực được như tác phẩm của Hồ Biểu Chánh Đặt trong tình hình văn học 30năm đầu thế kỷ XX, Hồ Biểu Chánh là một trong số ít nhà văn có công đầu trongviệc đặt nền móng cho thể loại tiểu thuyết ngay trong thời kỳ chưa ổn định của vănxuôi quốc ngữ

Theo nhiều nghiên cứu, các nhà phê bình đều thống nhất ở một điểm: HồBiểu Chánh là nhà văn sung sức nhất của miền Nam Ở một chừng mực nhất định,tiểu thuyết của ông đã đạt được giá trị hiện thực Hồ Biểu Chánh đã đi tiên phong vàlập công đầu trong việc đưa tiểu thuyết mới từ tình trạng phôi thai đến giai đoạntrưởng thành Tiểu thuyết Việt Nam từ Hồ Biểu Chánh mới bắt đầu nhưng bước đivững chắc Ông là một tác giả quan trọng ở giai đoạn văn học 1912- 1932 Chẳng

thế mà Vũ Ngọc Phan đã nhận định rằng: “Nếu đã đọc những tiểu thuyết của các nhà văn đi tiên phong, từ Nguyễn Bá Học trở lại, ai cũng phải nhận ra rằng từ Hoàng Ngọc Phách và Hồ Biểu Chánh, tiểu thuyết nước ta mới bắt đầu đến bước vững vàng, để dần dần đi tới ngày nay là lúc đã có thể chia ra nhiều ngả, phân ra nhiều loại.” [26, 336] Sau này, trong cuốn Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (tập 1), Phan Cự Đệ cũng đã có những đánh giá về Hồ Biểu Chánh: “Nếu như trước 1930 Hoàng Ngọc Phách nổi tiếng ở ngoài Bắc thì ở Nam bộ, Hồ Biểu Chánh lại là tác

Trang 34

giả được nhiều người yêu thích Đứng về phía khối lượng và chất lượng tác phẩm

mà nói thì Hồ Biểu Chánh là nhà viết tiểu thuyết đáng chú ý nhất của thời kỳ này.”

Tính chất giao thời trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh cũng chính là đặc điểm của nềnvăn học giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với sự dung hợp của các yếu tốtruyền thống và hiện đại, bản xứ và ngoại lai, phương Đông và Phương Tây Trongtiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, đã trở thành những thử nghiệm quan trọng, chuẩn bị cho

sự trỗi dậy của văn xuôi tự sự nói chung và tiểu thuyết nói riêng ở giai đoạn sau

1932 trên phạm vi cả nước Những thể nghiệm trong việc kế thừa và cách tân vềhình thức tiểu thuyết trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh đã trở thành những bài họcquý giá cho nghệ thuật tự sự Việt Nam hiện đại

Như vậy, cùng với những nghiên cứu của nhiều nhóm tác giả (đã được luận

văn trình bày tại mục 2.2 Lịch sử nghiên cứu tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh – phần

mở đầu), người viết có thể khẳng định: Hồ Biểu Chánh là một trong những người

mở đường cho văn xuôi Việt Nam hiện đại Và với việc tìm hiểu “Sự tiếp thu và

kế thừa kinh nghiệm tiểu thuyết trong sáng tác Hồ Biểu Chánh”, người viết hy vọng

sẽ góp thêm tiếng nói trong việc khẳng định hơn vai trò của nhà văn trong tiến trìnhphát triển văn học Việt Nam hiện đại

CHƯƠNG 2: SỰ KẾ THỪA TRUYỀN THỐNG VĂN XUÔI NƯỚC NHÀ

Trong văn học cổ Việt Nam, bộ môn tiểu thuyết chưa có vị trí vinh quangnhư trong văn học hiện đại Khác với thơ, bề dày truyền thống của tiểu thuyết Việt

Trang 35

Nam được xây dựng từ những di sản rất ít ỏi của cha ông Tuy nhiên, đó cũng lànhững di sản hết sức quý trọng và đáng trân trọng giúp cho các tiểu thuyết gia hiệnđại và tạo đà cho sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.

Nếu nói về nguồn gốc, tiểu thuyết truyền thống Việt Nam có lẽ phải kể đến

những truyện ký như Lĩnh Nam chích quái, Truyền kỳ Mạn lục, những tiểu thuyết chữ Hán như: Hoàng Lê nhất thống chí, truyện ký dài như Thượng Kinh ký sự, và cả những Vũ Trung tùy bút, Mai Đình mộng ký Các truyện Nôm, văn vần lục bát hay song thất lục bát đặc biệt riêng của Việt Nam như Trinh Thử, truyện Trê Cóc, truyện Song Tinh, Lục Vân Tiên, Truyện Kiều là những tác phẩm có ảnh hưởng

không nhỏ tới sự hình thành của thể loại tiểu thuyết Việt Nam hiện đại

Bên cạnh đó, truyền thống văn học ở Nam Bộ cho đến cuối thế kỷ XIX, như

đã nói, chưa có được một bề dày đáng tự hào như ở Bắc Bộ và Trung Bộ nhưngcũng có những thành tựu đáng ghi nhận Hai bộ phân văn học viết và văn học dângian cùng tồn tại song hành, thâm nhập và ảnh hưởng lẫn nhau, trong đó văn họcdân gian phát triển khá mạnh, đặc biệt là các loại hình thơ ca, hò vè, các hình thứctruyện kể Đặc biệt, người bình dân Nam Bộ thường sống với truyện thơ thông quahình thức nói thơ, kể chuyện Văn học viết ở Nam Bộ với các nhà thơ tiêu biểu nhưNguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt đã góp phầnkhông nhỏ, trước hết cung cấp chất liệu hiện thực cho tiểu thuyết văn xuôi quốc ngữNam Bộ Sau nữa, những đặc điểm như truyền thống sáng tác bằng chữ Nôm, ảnhhưởng của nghệ thuật sân khấu, nguyên lý thẩm mỹ “vì đời – vì đạo” đã được tiếpthu và kết thừa trong hầu hết các tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh và nhiều tác giảtiểu thuyết cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Theo nhiều nghiên cứu gần đây, từ sự xuất hiện của tiểu thuyết Thầy Lazro Phiền (1987) của Nguyễn Trọng Quản và hàng loạt các tiểu thuyết cho tới năm

1930, ở Miền Nam nói riêng và ở Việt Nam nói riêng đã hình thành nên một nềntiểu thuyết mới, có sự kết hợp giữa tiểu thuyết truyền thống Việt Nam và kỹ thuậtviết tiểu thuyết Phương Tây Chính tiểu thuyết giai đoạn này đã góp phần hìnhthành và tạo đà cho sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Để làm được

Trang 36

điều đó, các tác gia tiểu thuyết cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã không ngừng nỗlực tìm kiếm, học hỏi và kế thừa kinh nghiệm tiểu thuyết truyền thống của cha ôngqua các tiểu thuyết chữ Hán, truyện dài, truyện ký và cả những truyện Nôm songthất lục bát, những truyên thơ lục bát được kể ở trên.

Tuy số lượng các tác phẩm được xem là tiểu thuyết trong văn học cổ rất hiếmhoi, thậm chí chỉ là những truyện dài, tiểu thuyết chữ Hán hay những truyện thơNôm, nhưng các nhà tiểu thuyết thời kỳ đầu như Nguyễn Trọng Quản, Trần ChánhChiếu, Trương Duy Toản Nguyễn Chánh Sắt, Hồ Biểu Chánh đã chọn lọc, kế thừa

và tích lũy được những nét tinh hoa nhất về nghệ thuật viết tiểu thuyết truyền thốngcủa Việt Nam Cùng với nhiều tác giả, Hồ Biểu Chánh đã từng bước cách tân truyệnthơ Nôm, cải biến từng phần hình thức cũ để truyền tải những nội dung mới Nhữngtinh hoa của tiểu thuyết truyền thống Việt Nam được các tác gia tiểu thuyết hiện đại

kế thừa và phát huy ở nhiều bình diện về cả hình thức như kết cấu, cốt truyện, nhânvật, thời gian nghệ thuật và ngôn ngữ qua đó phản ánh những nội dung sâu sắc vềđạo lý, con người, xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

2.1 Nhân vật

Văn học lấy nhân vật làm đơn vị nghệ thuật cơ bản để phản ánh hiện thực vàthể hiện quan niệm của nhà văn về con người Gắn với thực tiễn sáng tác của mỗithời đại khác nhau việc thể hiện nhân vật cũng đánh dấu những xu hướng tiến hóariêng của tư duy nghệ thuật Nhân vật văn học có thể ví như chiếc chìa khóa dẫn dắtngười đọc khám phá thế giới nghệ thuật của tác phẩm văn chương Nghệ thuật xâydựng nhân vật của văn học trung đại một phương diện tiêu biểu để các nhà văn quốcngữ học tập và kế thừa

Quan niệm con người và thế giới nhân vật: Mặc dù vào cuối thế kỷ XIX,

Nho học đã thoái trào nhưng những bài học về đạo lý làm người trong hoàn cảnhmới vẫn còn nguyên những giá trị sâu sắc trong cách hành xử và trong quan niệmcủa người dân Do vậy, hầu hết các sáng tác giai đoạn này, kể cả các tiểu thuyếttheo khuynh hướng kết cấu chương hồi hay kết cấu của chuyện thơ Nôm đều mangcảm hứng đạo lý Mặt khác, quan niệm “văn dĩ tải đạo” đã thịnh hành hàng chục thế

Trang 37

kỷ trong văn chương Việt Nam đã ảnh hưởng sâu sắc tới tới thế hệ các nhà văn giaiđoạn này Sự kế thừa, tiếp nối cảm hứng tải đạo được các nhà văn giai đoạn này thể

hiện rõ nét trong cách xây dựng nhân vật Đó trước hết là sự đối lập giữa hai tuyến nhân vật: chính –tà, thiện -ác Những nhân vật chính diện là những nhân vật thuộc

phạm trù Cái Thiện: tốt, nghĩa hiệp, xả thân vì nghĩa Những nhân vật phản diện lànhững kẻ xấu xa, tham tiền, hám lợi, làm hại người

Quan niệm “Văn dĩ tải đạo”, “Ở hiền gặp lành”, “tình cảm gia đình, cha con”trong văn học truyền thống được tái hiện trong văn học giai đoạn này tạo nên một

hiệu ứng nữa trong việc xây dựng nhân vật đó là cuộc đời các nhân vật chính được miêu tả theo sự trải dài của số phận Nhân vật thiện, trải qua nhiều bể dâu, nếm trải

nhiều khổ ải được trở về sống hạnh phúc, đoàn viên cùng gia đình Sự trải dài của

số phận nhân vật chính cũng là sự nhất quán của kiểu kết truyền thống với mô típGặp gỡ - tai biến – lưu lạc – đoàn viên và trật tự tuyến tính đơn nhất của thời gian

trần thuật trong các tiểu thuyết giai đoạn này: Khóc thầm, Tiền bạc bạc tiền, Thầy thông ngôn (Hồ Biểu Chánh), Tây phương mỹ nhân (Huỳnh Thị Bảo Hòa), Lửa lòng (Phúc Đức), Người bán ngọc (Lê Hoằng Mưu)

Một nét tinh hoa trong nghệ thuật xây dựng nhân vật mà các nhà văn giao

thời đã chú ý, ghi nhận và tiếp thu từ các nhà Nho trước kia chính là nghệ thuật miêu tả ngoại hình và ngôn ngữ của nhân vật Miêu tả ngoại hình nhân vật chính là

cách thể hiện tính cách số phận nhân vật theo quan niệm cổ xưa “nhìn mặt mà bắthình dong”, “người làm sao, của chiêm bao làm vậy” (Những nét đẹp của Kiều dựbáo một cuộc sống nhiều bể dâu, sóng gió, trong khi những nét đẹp của Thúy Vânlại gợi ra sự đầy đặn, an bình) Nhà văn giai đoạn này vừa theo nguyên tắc tư duykiểu nhà Nho, sử dụng các yếu tố thiên nhiên để khắc họa chân dung nhân vật chínhdiện, vừa hướng đến quan niệm hiện đại xây dựng nhân vật gần gũi với cuộc sốngthực bằng các chi tiết cụ thể, đời thường, vốn có của con người Vẻ đẹp tâm hồn củacác nhân vật được số ít các tiểu thuyết gia chú ý tới Việc miêu tả tính cách nhân vậtthông qua hành động và đối thoại cũng được các nhà văn tiếp thu, học hỏi từ vănhọc truyền thống Hầu hết các lời đối thoại mang theo âm hưởng của lối trình diễn

Trang 38

của các nhân vật trong các loại hình sân khấu dân gian nên đôi khi còn hạn chếtrong việc biểu lộ sắc thái tình cảm của nhân vật.

Một thủ pháp xây dựng nhân vật quen thuộc của văn học truyền thống cũngđược nhiều tác giả văn xuôi quốc ngữ đầu thế kỷ XX thường xuyên sử dụng đó là:

lấy cảnh tả tình, dùng ngoại cảnh thiên nhiên để miêu tả nội tâm nhân vật Việc

miêu tả nội tâm nhân vật dù ít, dù nhiều cũng đã được các tác giả giai đoạn này sửdụng và bút pháp dùng cảnh để tả tình – “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” củavăn học trung đại đã được văn học hiện đại tiếp thu, mở rộng nhờ giai đoạn văn họcgiao thời 1900 -1930 này

Như vậy, nghệ thuật xây dựng nhân vật theo tuyến nhân vật và theo miêu tảngoại hình, hành động, lời nói của nhân vật đã được các tiểu thuyết gia đầu thế kỷ

XX ghi nhận, kế thừa và đưa vào những yếu tố mới, tạo nên những nhân vật vớinhiều biến động về số phận, nhiều đổi thay trong tính cách, hành động và lời nói.Thế giới nhân vật trong truyện của Hồ Biểu Chánh hiện lên rất đa dạng phongphú Nhu cầu phản ánh hiện thực đời sống cũng như phản ánh những ước muốn củatác giả đã thôi thúc nhà văn khám phá, phát hiện, đưa vào tác phẩm những bức chândung sinh động, mới mẻ Gần như những tinh hoa của kỹ thuật tiểu thuyết về miêu

tả nhân vật “từ điểm nhìn bên ngoài” của tiểu thuyết thuyết truyền thống đều được

Hồ Biểu Chánh tiếp thu và sáng tạo, đem đến một thế giới nhân vật nhiều màu sắc

2.1.1 Xây dựng nhân vật theo tuyến chính – tà với biên độ sống trải rộng

Hồ Biểu Chánh đã chú ý xây dựng trong tác phẩm của ông một hệ thốngnhân vật gồm hai loại người khác nhau, theo hai tuyến nhân vật của văn học truyềnthống: chính – tà, thiện - ác Một bên là đại diện cho cái thiện - nhân vật chính diện,một bên là đại diện cho cái ác - nhân vật phản diện Nhân vật của ông chủ yếu xuấtthân từ tầng lớp nông dân nghèo khó nhưng cũng có những nhân vật xuất thân từtầng lớp trung lưu, giàu có Ông luôn có ý định dùng quan niệm đạo lý của dân gian

“Ở hiền gặp lành” để giáo dục con người Điều này có thể thấy rất rõ trong Ngọn cỏ gió đùa: những người đại diện cho cái thiện như Lê Văn Đó, Ánh Nguyệt, Vương

Trang 39

Thể Hùng, Vương Thể Phụng, Thu Vân, ông Sáu Thới còn những kẻ đại diện chocái ác có Phạm Kỳ, vợ chồng Đỗ Cẩm, Đỗ Hải Yến có những lúc tưởng như cái ác

đã chiến thắng, lấn át cái thiện như khi Lê Văn Đó bị bắt trở lại vì muốn cứu mộtngười tù oan hay trên đường trốn cùng Thu Vân lại gặp Phạm Kỳ nhưng cuốicùng thì Lê Văn Đó vẫn được hưởng cuộc sống cuối đời thanh thản, hạnh phúc, ThuVân lấy được người chồng giàu có, hiểu biết Những nhân vật phản diện phải nhậnnhững kết cục thích đáng: vợ chồng Đỗ Cẩm chết trong nghèo khó, Đỗ Hải Yếnchết không toàn thây

Đoàn Thu Hà, người con gái trong trắng, thánh thiện, giàu tình yêu thương

trong Khóc thầm chẳng may lấy phải tên Vĩnh Thái đểu giả, ti tiện, ích kỉ Tưởng

hắn là trí thức Tây học biết yêu thương dân nghèo, lo cho vận nước Nhưng nào ngờhắn chỉ là một kẻ giả tạo, lấy được nàng rồi bộ mặt thật của hắn mới lộ diện Hắntrắng trợn thay đổi mọi chính sách của cha Thu Hà nhằm bóc lột nông dân, thu lợicho mình Không chỉ vậy hắn còn ngoại tình với Thị Lựu, vợ một người nông dânthân tín của gia đình Thu Hà Nhưng rồi cuối cùng thì mọi âm mưu của hắn cũng bị

lộ tẩy, hắn và Thị Lựu phải chết trong nhục nhã, ê chề Thu Hà lại được sống hạnhphúc bên cha và em trai để hàng ngày cùng chăm lo cho những người nông dân hiềnlành, tốt bụng

Trong Ai làm được Khiếu Nhàn, Bạch Tuyết, Chí Đại, Băng Tâm, Trường

Khanh đại diện cho những con người tốt bụng, trọng nghĩa, nhân đạo luôn phải tìmcách để chống đỡ lại những âm mưu của bà dì ghẻ Bạch Tuyết, được sự hậu thuẫncủa ông quan phủ Và cũng giống như những câu chuyện cổ tích, những người hiềnlành tốt bụng thì được hưởng hạnh phúc, những kẻ độc ác thì bị trừng phạt Kết thúctruyện, Bạch Tuyết được sống hạnh phúc bên người chồng hiểu biết, hết lòngthương yêu vợ và ông ngoại giàu lòng từ bi cùng những người bạn trọng nghĩa Còn

bà vợ hai của ông quan phủ thì bị trừng phạt đích đáng cho những gì bà đã gây ra

Khuynh hướng đạo đức của văn học truyền thống trong việc xây dựng tuyếnnhân vật được thể hiện rõ trong nhiều tác phẩm khác của Hồ Biểu Chánh Những

vấn đề thuộc về đạo đức được tác giả bàn nhiều đến như chữ trung trong Ngọn cỏ

Trang 40

gió đùa, chữ hiếu trong Cha con nghĩa nặng chữ tiết trong Thầy thông ngôn, chữ nghĩa trong Ai làm được Chữ trung trong Ngọn cỏ gió đùa được thể hiện rất rõ

trong nhân vật Vương Thể Hùng Thói đời, người ta hay nói: “Phù thịnh chứ ai phùsuy”, nhưng Thể Hùng thì khác, dù Gia Long đã mất, Lê Văn Duyệt cũng khôngcòn nhưng anh vẫn quyết theo Lê Văn Khôi để đòi lại chính nghĩa, danh dự cho Tảquân Lê Văn Duyệt Anh biết rằng quân triều đình mạnh hơn quân của Lê Văn Khôirất nhiều, theo Khôi là đi đến cái chết nhưng anh vẫn quyết theo, qua lời tranh luận

với cha vợ, có thể thấy rất rõ chí nguyện của Thể Hùng “Ông Khôi đương là đại nghĩa, sao cha kêu lại kêu là đồ ngụy? Phàm đứng anh-hùng, sự nên hư, còn mất,

có gì Mình muốn luận phái quấy, thì xét ở sở hành mà thôi, cần gì xét đến sự kết quả Ví dầu ông Khôi không thành công đi nữa, danh thơm tiếng tốt của ông vẫn còn roi dấu đời đời, con cháu ngày sau vẫn khen cái giận anh hùng của ông lắm chớ Người nghĩa sĩ lo là lo cho tròn cái danh tiết, chớ lo chi sự mất còn” Dù có

chết, Thể Hùng cũng quyết bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ lý tưởng, chí nguyện củamình Trung ở đây không có nghĩa là phải trung thành với vị vua đương nhiệm mà

là trung với chính nghĩa, lý tưởng với những điều mình cho là đúng cho dù vị vuahay triều đình mình thờ đã suy vong, không còn Vì vậy dù có phải hy sinh tínhmạng thì Thể Hùng cũng quyết tâm ra đi chiến đấu bảo vệ lẽ phải của mình

Có một điểm cũng cần nhấn mạnh đó là bên cạnh mô hình hệ thống nhân vậtphân chia thành hai tuyến chính – tà với nhân vật chính là đại diện cho cái thiệnđược kế thừa từ tiểu thuyết và truyện thơ Nôm truyền thống thì Hồ Biểu Chánh đã

có sự sáng tạo khi đưa vào tiểu thuyết của mình những kiểu nhân vật chính – phảndiện – những nhân vật điển hình cho con người bị lầm lạc, tội lỗi Đó là nhân vật

thầy Thông ngôn trong tiểu thuyết cùng tên, hay Trần Văn Sưu trong Cha con nghĩa nặng cũng vậy Có thể coi đây như “biểu hiện cho sự rạn vỡ của mô hình tiểu thuyết truyền thống trước một thời đại mới” theo tác giả Phạm Xuân Thạch.

Các câu chuyện kết thúc luôn có hậu, những người hiền lành được hưởnghạnh phúc, những kẻ gian ác bị trừng trị thích đáng Đây chính là kinh nghiệm xâydựng nhân vật theo hai tuyến chính – tà của truyện thơ Nôm và tiểu thuyết văn học

Ngày đăng: 18/07/2014, 16:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bằng Giang (1992), Văn học quốc ngữ ở Nam kỳ 1865-1930, NXB Trẻ, tp HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học quốc ngữ ở Nam kỳ 1865-1930
Tác giả: Bằng Giang
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 1992
2. Cao Xuân Mỹ, Mai Quốc Liên (1999), Văn xuôi Nam bộ nửa đầu thế kỷ XX, tập 1, NXB Văn nghệ tp HCM- Trung tâm nghiên cứu văn học, tp HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Nam bộ nửa đầu thế kỷ XX
Tác giả: Cao Xuân Mỹ, Mai Quốc Liên
Nhà XB: NXB Văn nghệ tp HCM- Trung tâm nghiên cứu văn học
Năm: 1999
3. Cù Đình Tú (2003), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt
Tác giả: Cù Đình Tú
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2003
4. Đại học sư phạm Hà Nội (1965), Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam, tập IV B, Văn học viết, NXB Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử văn học Việt Na
Tác giả: Đại học sư phạm Hà Nội
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1965
5. Hoài Anh (2010), Chân dung văn học: Tiểu luận- phê bình, NXB Hội nhà văn, tp HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân dung văn học: Tiểu luận- phê bình
Tác giả: Hoài Anh
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2010
6. Hoài Anh, Thành Nguyên, Hồ Sĩ Hiệp (1988), Văn học Nam Bộ từ đầu thế kỷ XX (1900-1954): Sơ thảo, NXB Thành phố HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: học Nam Bộ từ đầu thế kỷ XX(1900-1954): Sơ thảo
Tác giả: Hoài Anh, Thành Nguyên, Hồ Sĩ Hiệp
Nhà XB: NXB Thành phố HCM
Năm: 1988
7. Hoàng Như Mai (2005), Sự tái hồi của hai cuốn tiểu thuyết, NXB giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tái hồi của hai cuốn tiểu thuyết
Tác giả: Hoàng Như Mai
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 2005
8. Hoàng Xuân Việt (2007), Tìm hiểu lịch sử chữ quốc ngữ, NXB văn hoá thông tin, tp HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu lịch sử chữ quốc ngữ
Tác giả: Hoàng Xuân Việt
Nhà XB: NXB văn hoá thông tin
Năm: 2007
9. Hữu Nhuận (2005), Văn xuôi lãng mạn Việt Nam (1887-1932), Quyển hai, NXB tp HCM- NXB Văn hoá Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi lãng mạn Việt Nam (1887-1932)
Tác giả: Hữu Nhuận
Nhà XB: NXBtp HCM- NXB Văn hoá Sài Gòn
Năm: 2005
10. Mai Quốc Liên (chủ biên) (2002), Văn học Việt Nam thế kỷ XX (văn xuôi đầu thế kỷ), Quyển một, Tập III, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX (văn xuôi đầuthế kỷ)
Tác giả: Mai Quốc Liên (chủ biên)
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2002
11. Nghiêm Toản (1956), Việt Nam văn học sử trích yếu, Vĩnh Bảo xuất bản, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử trích yếu
Tác giả: Nghiêm Toản
Năm: 1956
12. Nguyễn Khuê (1999), Chân dung Hồ Biểu Chánh, NXB tp HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân dung Hồ Biểu Chánh
Tác giả: Nguyễn Khuê
Nhà XB: NXB tp HCM
Năm: 1999
13. Nguyễn Quang Thắng (2003), Văn học miền Nam, NXB VHTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học miền Nam
Tác giả: Nguyễn Quang Thắng
Nhà XB: NXB VHTT
Năm: 2003
14. Nguyễn Quang Thắng (1998), Tiến trình văn nghệ miền Nam (Văn học Việt Nam nơi miền đất mới), NXB Văn học, tp HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến trình văn nghệ miền Nam (Văn học ViệtNam nơi miền đất mới)
Tác giả: Nguyễn Quang Thắng
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1998
15. Nguyễn Thái Hoà (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, NXB Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của truyện
Tác giả: Nguyễn Thái Hoà
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
16. Nguyễn Văn Trung (1974), Chữ quốc ngữ thời kỳ đầu Pháp thuộc, Nhà in Nam Sơn, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chữ quốc ngữ thời kỳ đầu Pháp thuộc
Tác giả: Nguyễn Văn Trung
Năm: 1974
17. Nhiểu tác giả (2004), Văn học Việt Nam 1900-1945, Phần thứ nhất: Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời (1900-1930), NXB Gíáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam 1900-1945
Tác giả: Nhiểu tác giả
Nhà XB: NXB Gíáo dục
Năm: 2004
18. Nhiều tác giả (2003), Từ điển văn học (Bộ mới), NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học (Bộ mới)
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2003
19. Phạm Thế Ngũ (1965), Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập 3, Anh Phương ấn quán, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử giản ước tân biên
Tác giả: Phạm Thế Ngũ
Năm: 1965
20. Phan Cự Đệ (2005), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, NXB Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w