Từ năm 1986 đến nay, thực hiện đường lối đổi mới, Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách thể hiện rõ sự đổi mới trong tư duy kinh tế đặc biệt là kinh tế Nông nghiệp. Nhờ đó nền kinh tế nước ta đạt tốc độ tăng trưởng khá cao và phát triển toàn diện, cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế Nông nghiệp nói riêng có bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Thực tế phát triển Nông nghiệp, nông thôn nói chung, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng những năm qua đã khẳng định đường lối, chủ trương xây dựng kinh tế nông nghiệp của Đảng là đúng đắn. Song mức độ thành công của đường lối, chủ trương đó trên từng địa phương, từng giai đoạn còn phụ thuộc rất nhiều vào sự sáng tạo trong vận dụng và tổ chức thực hiện của các đảng bộ và chính quyền địa phương, gắn với đặc thù từng địa phương trong những hoàn cảnh cụ thể.Đảng bộ và nhân dân các tỉnh, thành phố trong cả nước cũng như Phú Thọ, trong những năm qua đã phát huy nội lực và thuận lợi, khắc phục và hạn chế những khó khăn thực hiện tốt nhất chủ trương phát triển kinh tế của Đảng, góp phần đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng.Phú Thọ là một tỉnh thuộc vùng trung du miền núi Bắc Bộ, có diện tích đất tự nhiên khá lớn, là vùng có thế mạnh phát triển nông nghiệp, đặc biệt là trồng trọt, chăn nuôi và lâm nghiệp. Trong quá trình xây dựng kinh tế từ năm 1997 đến năm 2010, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, nền nông nghiệp của tỉnh phát triển khá toàn diện, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao. Những thành tựu đó góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng kinh tế nông nghiệp còn chậm và thiếu bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế mà thiên nhiên đã ban tặng cho tỉnh. Phú Thọ còn gặp phải những khó khăn và đối mặt với nhiều vấn đề mới nẩy sinh trong quá trình lãnh đạo xây dựng kinh tế Nông nghiệp: tình trạng độc canh, sản xuất nhỏ manh mún, nông dân nghèo còn nhiều, trình độ dân trí thấp,… cản trở đưa kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp. Nguyên nhân của những thành quả cũng như những yếu kém nêu trên có phần xuất phát từ kết quả vận dụng đường lối, chủ trương của Đảng vào tình hình thực tế của tỉnh.Tìm hiểu quá trình Đảng bộ Phú Thọ lãnh đạo kinh tế Nông nghiệp của tỉnh trong những năm 1997 2010 là một trong những vấn đề quan trọng. Nó góp phần làm rõ những biến đổi trong Nông nghiệp, nông thôn của tỉnh trong quá trình thực hiện, đưa đường lối đổi mới của Đảng vào cuộc sống, cũng như những tác động bước đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của Đảng đối với Phú Thọ. Nguyên nhân của những thành quả cũng như những yếu kém trên có phần xuất phát từ kết quả vận dụng đường lối, chủ trương của Đảng vào tình hình thực tế của tỉnh.Nghiên cứu quá trình Đảng bộ Phú Thọ vận dụng thực hiện đường lối chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước để lãnh đạo kinh tế Nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010; đánh giá kết quả đạt được và những hạn chế yếu kém; từ đó rút ra những kinh nghiệm góp phần làm cho kinh tế Nông nghiệp của tỉnh phát triển mạnh trong thời gian tới là việc làm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.Với những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đối với kinh tế Nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010” làm luận văn thạc sỹ lịch sử, chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ năm 1986 đến nay, thực hiện đường lối đổi mới, Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách thể hiện rõ sự đổi mới trong tư duy kinh tế đặc biệt là kinh tế Nông nghiệp Nhờ đó nền kinh tế nước ta đạt tốc độ tăng trưởng khá cao và phát triển toàn diện, cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế Nông nghiệp nói riêng có bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Thực tế phát triển Nông nghiệp, nông thôn nói chung, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng những năm qua đã khẳng định đường lối, chủ trương xây dựng kinh tế nông nghiệp của Đảng là đúng đắn Song mức độ thành công của đường lối, chủ trương đó trên từng địa phương, từng giai đoạn còn phụ thuộc rất nhiều vào sự sáng tạo trong vận dụng và tổ chức thực hiện của các đảng bộ và chính quyền địa phương, gắn với đặc thù từng địa phương trong những hoàn cảnh cụ thể
Đảng bộ và nhân dân các tỉnh, thành phố trong cả nước cũng như Phú Thọ, trong những năm qua đã phát huy nội lực và thuận lợi, khắc phục và hạn chế những khó khăn thực hiện tốt nhất chủ trương phát triển kinh tế của Đảng, góp phần đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng
Phú Thọ là một tỉnh thuộc vùng trung du miền núi Bắc Bộ, có diện tích đất tự nhiên khá lớn, là vùng có thế mạnh phát triển nông nghiệp, đặc biệt là trồng trọt, chăn nuôi và lâm nghiệp Trong quá trình xây dựng kinh
tế từ năm 1997 đến năm 2010, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, nền nông nghiệp của tỉnh phát triển khá toàn diện, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao Những thành tựu đó góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng kinh tế nông nghiệp còn chậm và thiếu bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế mà thiên nhiên đã ban
Trang 2tặng cho tỉnh Phú Thọ còn gặp phải những khó khăn và đối mặt với nhiều vấn đề mới nẩy sinh trong quá trình lãnh đạo xây dựng kinh tế Nông nghiệp: tình trạng độc canh, sản xuất nhỏ manh mún, nông dân nghèo còn nhiều, trình độ dân trí thấp,… cản trở đưa kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp Nguyên nhân của những thành quả cũng như những yếu kém nêu trên có phần xuất phát từ kết quả vận dụng đường lối, chủ trương của Đảng vào tình hình thực tế của tỉnh.
Tìm hiểu quá trình Đảng bộ Phú Thọ lãnh đạo kinh tế Nông nghiệp của tỉnh trong những năm 1997 - 2010 là một trong những vấn đề quan trọng Nó góp phần làm rõ những biến đổi trong Nông nghiệp, nông thôn của tỉnh trong quá trình thực hiện, đưa đường lối đổi mới của Đảng vào cuộc sống, cũng như những tác động bước đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của Đảng đối với Phú Thọ Nguyên nhân của những thành quả cũng như những yếu kém trên có phần xuất phát từ kết quả vận dụng đường lối, chủ trương của Đảng vào tình hình thực tế của tỉnh
Nghiên cứu quá trình Đảng bộ Phú Thọ vận dụng thực hiện đường lối chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước để lãnh đạo kinh tế Nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010; đánh giá kết quả đạt được và những hạn chế yếu kém; từ đó rút ra những kinh nghiệm góp phần làm cho kinh tế Nông nghiệp của tỉnh phát triển mạnh trong thời gian tới là việc làm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đối với kinh tế Nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010” làm luận văn thạc sỹ lịch sử, chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng Sản
Việt Nam
Trang 32 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, các ngành kinh tế nước ta đã có bước phát triển mạnh Vì vậy, việc nghiên cứu quá trình lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực kinh tế nói chung và kinh tế Nông nghiệp nói riêng trở thành đề tài hấp dẫn được nhiều người quan tâm Trên phạm vi cả nước đã có nhiều công trình của các nhà khoa học đề cập đến vấn đề này ở những góc độ khác nhau Vấn đề kinh tế ở Phú Thọ cũng có một số công trình nghiên cứu
Có thể chia thành ba nhóm công trình sau:
Nhóm thứ nhất là các công trình chung, tiêu biểu là các cuốn sách: Những nguyên tắc Lêninnít trong công tác Đảng lãnh đạo xây dựng kinh
tế (Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1981); GS Đỗ Đình Giao: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa nền kinh tế quốc dân
(Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994); Phạm Nguyên Nhu:
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nước ta theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999); Đoàn Duy Thành: Đảng lãnh đạo kinh tế và Đảng viên làm kinh tế (Nhà xuất bản Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 2002); Nguyễn Minh Tú: Việt Nam trên chặng đường
đổi mới và phát triển kinh tế (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2002); Phát triển kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam (Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004);…vv Những tác phẩm này chủ yếu đề cập đến quan điểm, chủ trương, đường lối lãnh đạo xây dựng các ngành kinh tế, một vấn đề rất cần thiết mà luận văn có thể kế thừa được khi giải quyết đề tài
Nhóm thứ hai là những sách chuyên luận, chuyên khảo về vấn đề
xây dựng phát triển kinh tế nông nghiệp như: Đặng Văn Thắng và Phạm
Ngọc Dũng: Chuyển dịch cơ cấu công, nông nghiệp ở Đồng bằng Sông
Hồng thực trạng và triển vọng (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
Trang 42003); Nguyễn Sinh Cúc: Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi
mới (Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, 2003); Vũ Năng Dũng: Nông nghiệp Việt Nam 61 tỉnh thành phố (Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội,
2001); Chu Hữu Quý và Nguyễn Kế Tuấn: Con đường công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 2002); Lê mạnh Hùng: Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Việt Nam (Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, 1998); Trương Thị Tiến: Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp Việt Nam (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1990) …v.v Nhóm công trình này đã cung cấp cho đề tài tư liệu và sự nhìn nhận mang tính khái quát về xây dựng, phát triển kinh tế Nông nghiệp
Nhóm thứ ba là những công trình trực tiếp liên quan đến lãnh đạo
kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng ở Phú Thọ như: Lịch
Nhìn chung, các công trình nói trên là rất cần thiết đối với việc thực hiện đề tài, tác giả có thể kế thừa được nhiều nội dung quan trọng, đặc biệt là vấn đề về tư liệu Tuy nhiên, chưa có một công trình nào đề cập đến vấn đề nội dung của đề tài từ cách tiếp cận thuộc chuyên ngành Lịch
sử Đảng Vì vậy tôi chọn đề tài “Sự lãnh đạo của Đảng bộ Phú Thọ đối với kinh tế Nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010 ” làm luận văn thạc sĩ
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 5- Mục đích:
Mục đích nghiên cứu của luận văn là trình bày một cách hệ thống quá trình Đảng bộ Phú Thọ lãnh đạo xây dựng kinh tế Nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010 Thông qua đó, khẳng định sự vận dụng đúng đắn và sự chủ động sáng tạo đường lối kinh tế Nông nghiệp của Đảng vào địa phương từ khi tái lập tỉnh
- Nhiệm vụ:
Sưu tập và hệ thống hóa các tư liệu lịch sử liên quan đến vấn đề Đảng bộ Phú Thọ lãnh đạo xây dựng kinh tế Nông nghiệp trong những năm 1997-2010, trên cơ sở đó trình bày sự lãnh đạo của Đảng bộ Phú Thọ đối với vấn đề này
Nêu lên những thành tựu, hạn chế trong lãnh đạo xây dựng kinh tế Nông nghiệp của Đảng bộ Phú Thọ trong những năm 1997-2010 và rút ra một số kinh nghiệm để phục vụ nhiệm vụ xây dựng phát triển kinh tế Nông nghiệp ở Phú Thọ hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những nhận thức, chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ Phú Thọ trong lĩnh vực kinh tế Nông nghiệp và những thành tựu, hạn chế, kinh nghiệm trên lĩnh vực này của Đảng bộ Phú Thọ trong những năm 1997-2010
- Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: Nông nghiệp, nông thôn là lĩnh vực rộng lớn và gắn
bó chặt chẽ với nhau Phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ tập trung vào nghiên cứu chủ trương của Đảng bộ tỉnh trên lĩnh vực kinh tế nông nghiệp cũng như những kết quả, kinh nghiệm trong sự lãnh đạo của Đảng
bộ tỉnh
Trang 6Về thời gian: Nghiên cứu sự lãnh đạo, những kết quả, kinh nghiệm của tỉnh Phú thọ từ năm 1997 cho đến năm 2010.
Về không gian: Nghiên cứu lĩnh vực kinh tế Nông nghiệp tại địa bàn tỉnh Phú Thọ bao gồm các thành phố, thị xã, huyện, xã trong những năm 1997-2010
5 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận:
Cơ sở lý luận của việc thực hiện luận văn là dựa vào những quan điểm lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về vấn đề xây dựng kinh
tế Nông nghiệp
-Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic, phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgic Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp phân tích, so sánh kết hợp với phương pháp thống kê, phương pháp khảo sát thực tế để đánh giá tình hình với những số liệu đã được khẳng định
- Nguồn tư liệu:
Quá trình thực hiện luận văn, tác giả sử dụng các nguồn tài liệu sau: các văn kiện, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, các văn kiện, báo cáo của Tỉnh ủy Phú Thọ, Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Ngoài ra luận văn còn sử dụng tài liệu của các công trình đã trình bày ở trên
6 Đóng góp của luận văn
Trình bày một cách có hệ thống quá trình lãnh đạo kinh tế Nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010 của Đảng bộ Phú Thọ
Trang 7Nêu lên một số kinh nghiệm của Đảng bộ Phú Thọ trong lãnh đạo kinh tế Nông nghiệp những năm 1997-2010.
Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo cần thiết cho việc nghiên cứu lịch sử Đảng bộ tỉnh Phú Thọ nói riêng và lịch sử Đảng nói chung trên lĩnh vực lãnh đạo kinh tế Nông nghiệp
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ ĐỐI VỚI KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2005
Chương 2: ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO XÂY
DỰNG, PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2010
Chương 3: MỘT VÀI NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH TRONG LÃNH ĐẠO KINH TẾ NÔNG NGHIỆP (1997 - 2010)
Trang 8CHƯƠNG 1
SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ PHÚ THỌ ĐỐI VỚI KINH TẾ
NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2005
1.1 Đặc điểm, tình hình kinh tế Nông nghiệp Phú Thọ trước năm 1997
1.1.1 Vài nét về tỉnh Phú Thọ và Đảng bộ Phú Thọ
* Về tỉnh Phú Thọ
Phú Thọ là một tỉnh thuộc vùng Trung du miền núi Bắc Bộ, nằm tiếp giáp giữa vùng Đông Bắc, Đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc, cửa ngõ phía Tây của thủ đô Hà Nội, là cầu nối giữa các tỉnh Đồng bằng Bắc
Bộ với các tỉnh miền núi phía Tây Đông Bắc; phía Bắc giáp tỉnh Yên Bái
và Tuyên Quang, phía Nam giáp tỉnh Hòa Bình, phía Đông giáp tỉnh Vĩnh Phúc và Hà Tây, phía Tây giáp tỉnh Sơn La
Phú Thọ là một trong những cái nôi của loài người Hàng nghìn năm qua, từ khi vua Hùng dựng nước Văn Lang cho đến ngày nay, địa bàn Phú Thọ đã trải qua biết bao thay đổi về địa danh và địa giới hành chính
Thời Hùng Vương, địa bàn Phú Thọ nằm trong bộ Văn Lang, trung tâm của nước Văn Lang Thời Thục An Dương Vương với Nhà nước Âu Lạc, Phú Thọ nằm trong huyện Mê Linh
Dưới thời Bắc thuộc (từ năm 111 trước Công nguyên đến thế kỷ X ), Phú Thọ nằm trong địa bàn quận Mê Linh, Tân Xương, Phong Châu
Đến thời kỳ phong kiến độc lập, đơn vị hành chính là các đạo (lộ, trấn, xứ, tỉnh), dưới là các phủ, châu, huyện thay thế cho chế độ quận, huyện thời Bắc thuộc, Phú Thọ thuộc lộ Tam Giang Đến triều Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam, địa bàn phú Thọ nằm trong tỉnh Hưng Hóa và sơn Tây
Trang 9Sau khi đánh chiếm Bắc Kỳ, hoàn thành việc xâm lược toàn bộ Việt Nam, thực dân Pháp thi hành chính sách chia để trị, lập ra các tỉnh mới địa bàn nhỏ hơn trước để dễ dàng và chủ động trong việc đàn áp các phong trào kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta Thực dân pháp lập
ra các quân khu, đạo quan binh, các tiểu quân khu Một số huyện của tỉnh Sơn Tây và Hưng Hóa nằm trong tiểu quân khu Yên Bái
Ngày 5 tháng 5 năm 1903, Toàn quyền Đông Dương ký nghị định chuyển tỉnh lỵ của tỉnh Hưng Hóa lên làng Phú Thọ thuộc tổng Yên Phú huyện Sơn Vi và từ đây tỉnh Hưng Hóa đổi tên thành tỉnh Phú Thọ
Từ năm 1903 đến cách mạng tháng Tám năm 1945, về cơ bản đơn
vị hành chính trong tỉnh không có những thay đổi lớn, chỉ có thay đổi tên gọi một số phủ huyện và thêm một số làng xã mới
Cách mạng tháng Tám thành công, về mặt hành chính, Nhà nước ta thống nhất gọi các châu, phủ, huyện là huyện bỏ cấp tổng và tiến hành hợp nhất các làng nhỏ thành xã lớn Đợt liên xã đầu tiên, thực hiện năm
1946, tỉnh Phú Thọ từ 467 làng cũ hợp nhất thành 106 xã mới Nhưng vì
xã mới quá lớn nên giữa năm 1947 lại điều chỉnh từ 106 xã lên 150 xã
Thời kỳ cải cách ruộng đất và sửa sai (1955 - 1957), các xã lại có
sự điều chỉnh, chia tách, từ 150 xã lên 271 xã Bước vào thời kỳ miền Bắc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, tháng 1-1968, theo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tỉnh Phú Thọ được hợp nhất với tỉnh Vĩnh Phúc hợp thành tỉnh Vĩnh Phú, thành phố Việt Trì là tỉnh lỵ của tỉnh Vĩnh Phú Tháng 11 năm 1996 Quốc hội khóa IX ra Nghị quyết tách tỉnh Vĩnh Phú thành hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc Tỉnh Phú Thọ chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1 tháng 1 năm 1997
Tỉnh Phú Thọ tái lập năm (1997) có diện tích đất tự nhiên là 3528
km2, trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm 27,6%, đất lâm nghiệp chiếm 41% Phú Thọ có 13 đơn vị hành chính, gồm 01 thành phố, 01 thị
Trang 10xã và 11 huyện Dân số năm 2007 là 1.350.565 người; mật độ dân số trung bình 383 người/km2 Phú Thọ có trên 20 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm 85,7%, dân tộc mường chiếm 12,9%, các dân tộc khác (Dao, Sán chay, Tày, H’ mông, Thổ, Nùng, Thái, …) chiếm 1,4% [13, tr 27].
Là một tỉnh miền núi, nhưng địa hình Phú Thọ vừa có tính chất miền núi, trung du, vừa có tính chất đồng bằng Đoạn sông Hồng chảy qua Phú Thọ (sông Thao) đã chia Phú Thọ thành hai miền có những đặc điểm khác nhau
Miền tả ngạn sông Hồng, gồm đất đai các huyện Đoan Hùng, một phần đất Hạ Hòa, Thanh Ba, Phù Ninh, Lâm Thao và ngoại thành Việt Trì, có nhiều đồi gò nối tiếp nhau san sát như bát úp, rất phù hợp cho phát triển cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày, cây nguyên liệu giấy, cây
ăn quả, v.v…Nhờ nằm ven sông Hồng, sông Lô, sông Chảy, nên miền này hàng năm được phù sa bồi đắp, đất tốt, có nhiều cánh đồng lớn, vựa lúa của tỉnh
Miền hữu ngạn sông Hồng, chiếm tới hai phần ba diện tích toàn tỉnh, gồm đất đai các huyện Thanh Sơn, Yên Lập, Thanh Thủy, Tam Nông, Tân Sơn và một phần huyện Hạ Hòa, chủ yếu là đồi núi.Tuy vậy ven sông Hồng, sông Bứa, sông Đà, cũng có những cánh đồng, đất bãi trồng lúa, hoa màu, cây công nghiệp, nhưng không lớn Vì đây là miền núi nên các căn cứ chống Pháp thời kỳ Cần Vương, các chiến khu thời kỳ tiền khởi nghĩa, các kho tàng của Trung ương thời kỳ kháng chiến chống Pháp, v.v đều xây dựng ở vùng này
Tính chất địa hình và cấu tạo địa chất trên đây đã tạo cho Phú Thọ
có khá nhiều khoáng sản phân bổ ở hầu khắp các huyện, nhưng tập trung
ở các huyện phía hữu ngạn sông Hồng Các khoáng sản đã được phát hiện
ở Phú Thọ có sắt, than đá, vàng, mica, cao lanh,… hiện nay các mỏ như
Trang 11zít, pirit, phenpat, cao lanh,…đang được khai thác phục vụ công nghiệp trong tỉnh
Phú Thọ có vị trí là điểm trung chuyển giữa các cửa khẩu Lào Cai,
Hà Giang, Lạng Sơn và cảng biển Hải Phòng, sân bay quốc tế Nội Bài (Hà Nội)… trong tương lai, Phú Thọ sẽ là điểm kết nối hành lang kinh tế quốc tế Hải Phòng - Hà Nội - Côn Minh, với nhiều điểm giao kết, trung chuyển cả giao thông đường sắt và đường bộ trong hành trình xuyên Á Đây là những điều kiện rất thuận lợi để Phú Thọ phát triển cả nông nghiệp, công nghiệp và đặc biệt là phát triển các ngành kinh tế dịch vụ, tiến tới xây dựng, phát triển một nền kinh tế toàn diện
Phú Thọ là tỉnh có truyền thống yêu nước và cách mạng; Đảng bộ
và nhân dân trong tỉnh có truyền thống đoàn kết, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế Những truyền thống quý báu đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế của tỉnh trong mọi thời kỳ Trong giai đoạn hiện nay, sự đồng thuận nhất trí của Đảng
bộ và nhân dân trong tỉnh là điều kiện quan trọng để Phú Thọ tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp, nhằm phục vụ thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế của cả nước
* Vài nét về Đảng bộ Phú Thọ
Phát huy truyền thống cách mạng của quê hương, cha ông, trước khi Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời, với sự giúp đỡ của tổ chức Việt Nam Quang Phục Hội, tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng phong trào cách mạng theo khuynh hướng tư sản đã sớm xuất hiện và diễn ra rất mạnh mẽ
Từ sau khi Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời (1930) đến năm 1939
là những năm xây dựng cơ sở đầu tiên của Đảng bộ với sự ra đời của các chi bộ đầu tiên trên địa bàn tỉnh: chi bộ Cát Trù - Thạch Đê (Cẩm Khê), Thái Ninh (Thanh Ba), Phú Hộ (Lâm Thao) và chi bộ Nhà máy giấy Việt
Trang 12Trì Với sự lãnh đạo của những chi bộ đó, trong thời kỳ mặt trận dân chủ Đông Dương, phong trào đấu tranh công khai, hợp pháp đòi quyền dân sinh, dân chủ đã diễn ra sôi nổi, rộng khắp từ thị xã đến nông thôn với nhiều hình thức đấu tranh phong phú và đa dạng trên địa bàn tỉnh.
Mùa xuân năm 1940, Xứ ủy Bắc Kỳ quyết định thành lập Ban cán
sự Đảng tỉnh Phú Thọ gồm 5 đồng chí, do đồng chí Đào Duy Kỳ làm bí thư Ban cán sự tỉnh Phú Thọ ra đời là mốc son lịch sử quan trọng, đánh dấu bước trưởng thành của phong trào đấu tranh cách mạng tỉnh Phú Thọ
Từ đây, dưới sự lãnh đạo thống nhất của một cơ quan lãnh đạo cấp tỉnh, là Ban cán sự tỉnh, các phong trào đấu tranh chính trị rộng lớn đã diễn ra có
tổ chức hơn Qua những cuộc đấu tranh đó, Đảng bộ đã xây dựng được đội quân chính trị rộng lớn ở khắp thành thị và nông thôn trong tỉnh
Tháng 4 năm 1945, Hội nghị quân sự Bắc Kỳ do đồng chí Trường Chinh, Tổng bí thư Đảng chủ trì, đã đề ra chủ trương: “Trong những vùng
có đủ điều kiện về địa hình, cơ sở quần chúng, lương thực, về so sánh giữa ta và địch, chúng ta phải xây dựng những căn cứ địa kháng Nhật” [3,
tr 30] Thực hiện chủ trương này của Đảng, Xứ ủy Bắc Kỳ quyết định thành lập Ban cán sự Đảng liên tỉnh Phú Thọ - Yên Bái để lãnh đạo phong trào cách mạng ở hai tỉnh Mặt trận Việt Minh, các đoàn thể cứu quốc được thành lập và không ngừng mở rộng Khi thời cơ đến họ vùng lên đấu tranh, cùng với nhân dân cả nước tiến hành cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi, giành chính quyền về tay nhân dân
Bước vào thời kỳ độc lập, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Đông Dương, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Phú Thọ đã đẩy mạnh công cuộc xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng; đấu tranh chống quân Tưởng và tay sai; không ngừng xây dựng lực lượng, vừa kháng chiến kiến quốc, bước đầu chống địch càn quét Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nhân dân Phú Thọ đã giành được những thắng lợi to lớn như
Trang 13trận Khoan Bộ trong chiến dịch Việt Bắc - Thu đông năm 1947, giành thắng lợi to lớn trong chiến dịch Tổng phá tề năm 1950… Đặc biệt, Đảng
bộ và nhân dân Phú Thọ đã góp phần quan trọng cùng quân dân cả nước giành thắng lợi trong chiến dịch Điện Biên Phủ (1954), kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
Sau khi miền Bắc được giải phóng hoàn toàn, Đảng bộ Phú Thọ đã lãnh đạo nhân dân tiến hành khôi phục kinh tế, văn hóa - xã hội theo hướng xã hội chủ nghĩa Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhân dân phú Thọ đã vừa sản xuất, vừa chiến đấu, góp phần đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên địa bàn tỉnh Bên cạnh đó, cùng với nhân dân miền Bắc, Phú Thọ đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, đầu năm 1968, hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc được hợp nhất lấy tên là tỉnh Vĩnh Phú Cùng với quá trình hợp nhất tỉnh, hai Đảng bộ cũng được tiến hành hợp nhất lấy tên là Đảng bộ Vĩnh Phú
Sau khi đất nước được hoàn toàn giải phóng, Đảng bộ và nhân dân hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc trước đây với nỗ lực xây dựng tỉnh Vĩnh Phú đã cùng nhân dân cả nước đạt được những thành tựu to lớn trong công cuộc khôi phục phát triển kinh tế Với tinh thần chỉ đạo của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng bộ tỉnh đã lãnh đạo nhân dân bước đầu thực hiện thành công công cuộc đổi mới trên địa bàn tỉnh
Bước vào thời kỳ đất nước đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, ngày 1-1-1997, tỉnh Vĩnh Phú được tách làm hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc Theo đó, sau hơn 29 năm sáp nhập, Đảng bộ Phú Thọ lại được tái lập
Thực tế quá trình lãnh đạo đấu tranh cách mạng và xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội trong những thập kỷ qua của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ
là sự vận dụng một cách sáng tạo đường lối, chủ trương, chiến lược và
Trang 14sách lược của Đảng vào thực tiễn địa phương qua từng thời kỳ lịch sử Quá trình hình thành và phát triển của Đảng bộ đã ghi nhận sự cống hiến
và hy sinh của nhiều cán bộ đảng viên như: Bùi Đình Cư, Đinh Văn Mẫu, Nguyễn Hoài Xuân, Chu Minh Tua, Trần Minh Sung,… Đồng thời qua quá trình đó đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, xứng đáng với lòng tin cậy của nhân dân các dân tộc trong tỉnh
Bước vào thế kỷ XXI, phát huy truyền thống yêu nước và cách mạng của quê hương, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đã lãnh đạo nhân dân bước đầu thu được nhiều thành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế, từng bước thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.1.2 Đặc điểm, tình hình kinh tế Nông nghiệp Phú Thọ trước năm 1997
Sau 10 năm cả nước cùng quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Việt Nam
đã đạt được những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Tuy nhiên, khủng hoảng kinh tế xã hội vẫn chưa được khắc phục, trong khi đó, các thế lực đế quốc lại tăng cường bao vây cấm vận, thực hiện âm mưu “Diễn biến hòa bình” làm cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta càng thêm khó khăn
Trong bối cảnh đó, từ ngày 15 đến ngày 18-12-1986, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng chính thức khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, trọng tâm là đổi mới cơ chế quản lý kinh tế: chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế Đồng thời, Đại hội đã nêu ra phương hướng, mục tiêu chủ yếu để phát triển kinh tế xã hội trong 5 năm (1986-1990) Sau 5 năm thực hiện đường lối đổi mới trong lĩnh vực phát triển kinh tế, đất nước ta đã thu được những thắng lợi bước đầu hết sức quan trọng, góp phần từng bước đưa
Trang 15nước ta thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng; ổn định được thị trường trong nước, từng bước hướng tới xuất khẩu Nhằm bổ sung, hoàn thiện và phát triển đường lối đổi mới kinh tế được vạch ra từ Đại hội VI, trong hoàn cảnh mới Đảng ta đã thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” và “Chiến lược ổn định
và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000 ” trong Đại hội lần thứ VII 1991) của Đảng
(6-Thực hiện đường lối đổi mới đất nước, quán triệt quan điểm, chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường của Đại hội VI, VII, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ, nền kinh tế trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trước khi tái lập đã có những bước chuyển biến rất mạnh mẽ, bước đầu thu được những kết quả quan trọng trên tất cả các ngành kinh tế, trong đó
có ngành kinh tế nông nghiệp
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng lên, nông lâm nghiệp giảm xuống Cơ cấu GDP giữa nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ năm 1990 là 45,91% - 27,6% - 26,5% đến năm 1995 là 36,72% - 31,67% - 32,19%
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh có sự chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng chăn nuôi, giảm tỷ trọng cây trồng Do nông nghiệp phát triển nên đã căn bản giải quyết được nhu cầu lương thực của tỉnh, không còn tình trạng thiếu đói giáp hạt Tổng sản lượng lương thực quy ra thóc của tỉnh năm 1995 đạt 57,8 vạn tấn Bình quân lương thực đạt 255 kg/người/năm
Cây công nghiệp dài ngày như chè, sơn,… từng bước được mở rộng cả về diện tích và sản lượng trong năm 1995, diện tích chè trồng mới được 528 ha, nâng tổng số diện tích chè trên địa bàn là 7.521 ha, trong đó diện tích chè cho sản phẩm là 6.156 ha Diện tích cây sơn toàn tỉnh là 485 ha Sông thao và Đoan Hùng,… Các loại cây ăn quả chủ lực
Trang 16như chuối, cây có múi, hồng đã phát triển tập trung chủ yếu ở Đoan Hùng, Thanh Hòa, Phong Châu và Việt Trì Phong trào cải tạo vườn tạp thành các vườn cây ăn quả có giá trị kinh tế cao được cấp ủy tiếp tục chỉ đạo đối với các địa phương trong tỉnh Chương trình vườn đồi, nông trại, trang trại được mở rộng với quy mô ngày càng lớn.
Trong thời kỳ này chăn nuôi gia súc, gia cầm ở các địa phương trong tỉnh được đẩy mạnh Năm 1991, tỉnh có 10,5 vạn con trâu, trong đó trâu cày kéo là 8,6 vạn con, 14,4 vạn con bò, 44,7 vạn con lợn; 40 vạn con gia cầm các loại và 4.812 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản Việc tận dụng diện tích mặt nước vào nuôi trồng thủy sản đã mang lại hiệu quả kinh tế cao Nhiều diện tích ao hồ, đầm sau khi đấu thầu, sản lượng cá đều tăng 40-50% so với trước đây Trong 3 năm 1993-1995, chăn nuôi phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng Đàn lợn, đàn trâu và đàn gia cầm đều tăng khá [12, tr70] Sản lượng thịt hơi xuất chuồng năm 1995 đạt 49.649 tấn, riêng thịt lợn hơi chiếm 3,6 vạn tấn Nuôi thả cá phát triển mạnh ở tất cả các diện tích mặt nước sẵn có và một phần diện tích mặt nước bị ngập úng Do đó sản lượng cá thịt tăng gấp 2 lần so với trước đây, đáp ứng một phần nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trong tỉnh
Thực hiện chương trình phủ xanh đất chống đồi núi trọc, mặc dù số vốn đầu tư chưa nhiều, nhưng nhân dân ở các địa phương trong tỉnh đã tích cực trồng chăm sóc và bảo vệ rừng Trong 5 năm 1991-1995, toàn tỉnh trồng được trên 5 nghìn hécta rừng tập trung và trên 5 triệu cây phân tán Năm 1996, trồng rừng được 3.785 ha rừng tập trung và 2665 ha rừng phân tán Việc giao đất, giao rừng đến từng hộ giúp cho việc khoanh vùng nuôi dưỡng rừng tự nhiên được chăm sóc và bảo vệ tốt hơn, góp phần từng bước cải tạo môi trường sinh thái Trong 3 năm 1993 - 1995, sản phẩm lâm nghiệp khai thác gồm: 38,7 vạn m3 gỗ các loại, 4,59 vạn tấn củi, 2.807 tấn nguyên liệu giấy và hàng ngàn tấn măng tươi, mộc nhĩ,
Trang 17nấm…Phú Thọ bước đầu đã có nông sản xuất khẩu như chè: hàng năm xuất khẩu từ 2-3 ngàn tấn chè khô.
Những tồn tại hạn chế
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong xây dựng và phát triển kinh tế, các ngành kinh tế nói chung và ngành kinh tế nông nghiệp nói riêng của Phú Thọ trước khi được tái lập (năm 1997) còn có nhiều tồn tại, hạn chế
Đến trước năm 1997, về cơ bản kinh tế Phú Thọ vẫn chủ yếu là sản xuất Nông nghiệp, thu nhập thấp, đời sống nhân dân nông thôn còn nghèo Kinh tế tuy có tăng trưởng nhưng tốc độ chưa đạt mức bình quân chung của cả nước Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội tuy phát triển khá nhưng chất lượng kém, xuống cấp nhanh, tích lũy từ nội bộ nền kinh tế còn rất hạn hẹp Tỉnh đang trong hoàn cảnh được tái lập, nhu cầu đầu tư xây dựng rất lớn
Việc áp dụng các tiến bộ khoa học vào sản suất nông nghiệp còn manh mún, nhỏ lẻ, tình trạng độc canh vẫn còn diễn ra triên nhiều địa bàn của địa phương Sản xuất lương thực và chăn nuôi vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của nhân dân Việc phủ xanh đất trống đồi núi trọc chưa được đầu tư thỏa đáng nên chưa đem lại hiệu quả cao…
Nhìn chung những hạn chế nêu trên là những thách thức không nhỏ được đặt ra buộc Đảng bộ và nhân dân Phú Thọ phải có những chủ trương, quyết sách đúng đắn để đưa kinh tế nông nghiệp của tỉnh phát triển xứng với tiềm năng vốn có Là một tỉnh có nhiều thuận lợi về mặt địa lý, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của khu vực phía Bắc là những điều kiện quan trọng để Phú Thọ phát triển kinh tế nền nông nghiệp Với đường lối, chủ trương và những biện pháp phát triển kinh tế đúng đắn của Đảng bộ sau khi tái lập, kinh tế Phú Thọ đã căn bản khắc phục được những hạn chế, yếu kém nêu trên, nền kinh tế, trong đó có kinh tế nông
Trang 18nghiệp từng bước đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần đưa Phú Thọ ngày càng phát triển.
1.2 Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đối với kinh tế Nông nghiệp theo đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn của Đảng (1997 -2005)
1.2.1 Chủ trương của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nông nghiệp nông thôn
Sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nước ta đã thu được nhiều thành tựu quan trọng, vượt qua nhiều khó khăn thử thách, giữ vững sự ổn định về chính trị, đất nước ta đã cơ bản ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội Tuy nhiên cho đến nay về cơ bản Việt Nam vẫn là nước nông nghiệp, nền kinh tế nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế đất nước
Tháng 6 năm 1996, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII quyết định đưa nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đại hội xác định trong những năm còn lại của thập kỷ 90 phải đặc biệt coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn
Đại hội đã đề ra chương trình phát triển nông nghiệp với mục tiêu:
Phát triển một nền nông nghiệp toàn diện hướng vào đảm bảo lương thực quốc gia trong mọi tình huống tăng nhanh nguồn thực phẩm
và hoa quả, cải thiện chất lượng bữa ăn, giảm suy dinh dưỡng.
Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn có hiệu quả Trên cơ sở đảm bảo vững chắc nhu cầu lương thực, chủ yếu là lúa, mở rộng diện tích trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, tăng nhanh đàn gia súc, gia cầm, gắn nông nghiệp với công nghiệp chế biến và xuất khẩu, mở rộng thị trường nông thôn, tăng thu nhập của nông dân Đẩy mạnh việc xây dựng, nâng cấp kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội [24, tr 174].
Trang 19Với chủ trương đó, Đại hội đã đưa ra nhiệm vụ và giải pháp phát triển Nông nghiệp và kinh tế nông thôn như sau:
Tăng nhanh sản lượng lương thực hàng hóa vùng đồng bằng có năng suất cao và hiệu quả cao Bố trí lại mùa vụ để né tránh thiên tai, chuyển sang các vụ có năng suất cao, phẩm chất tốt, thích ứng với từng vùng sinh thái, đặc biệt là giống lúa lai, ngô lai Quy hoạch và phát triển vùng sản xuất nông nghiệp có giá trị cao Dự kiến đến năm 2000, sản lượng lương thực đạt khoảng 30 triệu tấn, bình quân đầu người đạt 360-
370 kg.
Phát triển mạnh các loại cây công nghiệp, cây ăn quả, rau đậu có hiệu quả kinh tế cao, hình thành những vùng sản xuất tập trung gắn với công nghiệp chế biến tại chỗ.
Hình thành và phát triển các vùng chăn nuôi tập trung với công nghiệp chế biến thực phẩm Khuyến khích và nhân rộng các hộ chăn nuôi giỏi, các nông trại chăn nuôi Đổi mới hệ thống giống có năng suất cao, chất lượng tốt Thực hiện nạc hóa đàn lợn, cải tạo đàn bò, mở rộng hệ thống dịch vụ cho chăn nuôi Phấn đấu đến năm 2000 đưa tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp lên khoảng 30 - 40 %.
Chuyển một số vùng trũng thường bị úng lụt, năng suất thấp sang nuôi trồng thủy sản Cải tạo con giống, từng bước áp dụng cách thức nuôi công nghiệp.
Khôi phục, sửa chữa, nâng cấp và mở rộng hệ thống thủy lợi.
Đảm bảo hệ thống dịch vụ cho nông nghiệp, phát triển hệ thống khuyến nông, chuyển giao kỹ thuật Thực hiện chính sách bảo hiểm và khuyến khích về giá đối với nông sản, đặc biệt là cây công nghiệp xuất khẩu [24, tr 175].
Ngày 17/10/1998, Hội nghị Trung ương 6 (lần 1), khóa VIII đã họp
bàn về “Nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 1999 và vấn đề phát triển nông
Trang 20nghiệp, nông thôn” Hội nghị khẳng định: “Tập trung sức cao hơn nữa
cho nhiệm vụ phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cơ sở vững chắc cho sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội trong mọi tình huống, ưu tiên phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp, điều chỉnh cơ cấu, đổi mới cơ chế các ngành công nghiệp nhằm tháo gỡ khó khăn, tăng nhanh khả năng cạnh tranh của sản phẩm” [25, tr 194]
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (lần 1), khóa VIII của Đảng có nhiều nội dung mới, trong đó quan trọng nhất là khẳng định vai trò, vị trí của sản xuất nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Lần đầu tiên vấn đề kinh tế trang trại được thừa nhận trong Nghị quyết của Đảng
Đặc biệt , tháng 11 năm 1998 Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 06/NQ
- TW về “Một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn” với quan
điểm: Coi trọng thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn, củng cố liên minh giai cấp nông dân với giai cấp công nhân và trí thức Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn kinh tế nông nghiệp với công nghiệp chế biến, gắn sản xuất với thị trường
Nghị quyết cũng nêu rõ: Kinh tế hợp tác xã dần trở thành nền tảng
hướng dẫn kinh tế tư nhân phát triển tiếp tục phát triển nhiều hình thức kinh tế hợp tác, các loại hình hợp tác xã dịch vụ cho kinh tế hộ nông dân, chú trọng liên kết kinh tế nông nghiệp với các thành phần kinh tế khác, khuyến khích những người có khả năng đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh nông nghiệp
Mục tiêu Nghị quyết đưa ra: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, tăng nhanh khối lượng sản phẩm hàng hóa, nhất là hàng nông phẩm qua chế biến tăng kim ngạch
Trang 21xuất khẩu, giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp tăng tỉ trọng công nghiệp, dịch vụ trong kinh tế nông thôn [26].
Những quan điểm đúng đắn của Đảng về phát triển Nông nghiệp, nông thôn nêu trên đã tạo điều kiện cho các ngành các địa phương, các chủ trang trại yên tâm đầu tư phát triển sản xuất hàng hóa, làm giàu chính đáng
Tiếp tục phát triển đường lối các Đại hội Đảng toàn quốc và Hội nghị Trung ương trước đây vào điều kiện những năm đầu thế kỷ XXI, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, khi nêu định hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn đã đưa ra những nội dung cơ bản:
Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn theo hướng hình thành nền Nông nghiệp hàng hóa lớn phù hợp với nhu cầu thị trường, phù hợp với điều kiện sinh thái từng vùng; chuyển dịch cơ cấu ngành, nghề, lao đông; tạo việc làm thu hút nhiều lao động ở nông thôn
Xây dựng hợp lý cơ cấu sản xuất Nông nghiệp
Tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ trong nông nghiệp, nhất là công nghệ sinh học kết hợp với công nghệ thông tin
Phát triển mạnh nông nghiệp và dịch vụ ở nông thôn
Cụ thể hóa đường lối Đại hội IX, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX ban hành nghị quyết “về đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 - 2010” Nghị quyết đã nêu lên một số nội dung tổng quát, quan điểm và mục tiêu phát triển của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn:
Nghị quyết đưa ra định nghĩa hoàn chỉnh về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, phản ánh trên cả ba mặt: lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội Trong đó phát triển lực lượng sản xuất được nhấn
Trang 22mạnh trước hết với các giải pháp thực hiện cơ giới hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị, kỹ thuât và công nghệ hiện đại vào sản xuất, tạo nên quá trình chuyển địch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa theo hướng quy mô lớn và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ Nghị quyết đã làm rõ hơn những quan điểm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn mới:
Một là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nông nghiệp, nông thôn là
một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Phát triển công nghiệp và dịch vụ phải gắn bó chặt chẽ, hỗ trợ đắc lực và phục vụ có hiệu quả cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Hai là, ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, chú trọng phát huy
nguồn lực con người, ứng dụng rộng rãi thành tựu khoa học, công nghệ, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát huy lợi thế của từng vùng gắn với thị trường để sản xuất hàng hóa quy mô lớn với chất lượng
và hiệu quả cao, bảo vệ môi trường, phòng chống, hạn chế, giảm nhẹ thiên tai, phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững
Ba là, dựa vào nội lực là chính đồng thời tranh thủ tối đa các nguồn
lực bên ngoài, phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc, phát triển mạnh mẽ kinh tế hộ sản xuất hàng hóa, các loại hình doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nông thôn
Bốn là, kết hợp chặt chẽ các vấn đề kinh tế và xã hội trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nhằm giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội và phát triển kinh tế,
Trang 23nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của người dân ở nông thôn, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, cùng giữ gìn, phát huy truyền thống văn hóa và thuần phong mỹ tục.
Năm là, kết hợp chặt chẽ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nông
nghiệp, nông thôn với xây dựng tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thể hiện trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch,
dự án phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của các ngành, các địa phương…
Mục tiêu tổng quát lâu dài của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là “Xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa, hiệu quả và bền vững, có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao,… Xây dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh,
có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại” [28, tr 96]
Từ nội dung tổng quát, quan điểm và mục tiêu phát triển đó, Nghị quyết đưa ra những chủ trương và giải pháp lớn Trong đó, chủ trương quan trọng hàng đầu là ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế Công tác quy hoạch được nhấn mạnh, nhất là quy hoạch những vùng sản xuất hàng hóa tập trung, quy hoạch kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội, quy hoạch phát triển khu dân cư, xây dựng làng xã, thị trấn, gắn kết chặt chẽ với an ninh - quốc phòng, phòng chống, hạn chê, giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao khoa học, công nghệ cho sản xuất được xác định là khâu đột phá quan trọng nhất để thúc đẩy phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn…
Hội nghị Trung ương 5 khóa IX còn ban hành Nghị quyết “Về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể” Nghị quyết thống nhất nhận thức: “phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông
Trang 24thôn phải trên cơ sở đảm bảo quyền tự chủ của kinh tế hộ, trang trại, hỗ trợ đắc lực cho kinh tế hộ, kinh tế trang trại phát triển” [28, tr 30-31] Đây là đổi mới căn bản trong nhận thức của Đảng về kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn.
Quá trình thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn theo tinh thần Nghị quyết Đại hội IX và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX đạt nhiều kết quả quan trọng Đến đầu năm 2004, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX bổ sung một số giải pháp cụ thể: “Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng tạo ra các vùng sản xuất hàng hóa tập trung chuyên canh, thâm canh, có năng suất, chất lượng cao, áp dụng tiến bộ và công nghệ mới, nhất là công nghệ sinh học, gắn với chế biến, tiêu thụ; phát triển mạnh các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ nhỏ và vừa” [29, tr 90]
Đường lối Công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nông nghiệp, nông thôn bắt đầu từ nghị quyết Trung ương 5 khóa VII, trải qua các Đại hội VIII,
IX, đến Nghị quyết Trung ương 9 khóa IX là một quá trình lâu dài, liên tục và ngày càng hoàn thiện Quá trình này thể hiện nhất quán quan điểm, mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; đưa hệ thống giải pháp cơ bản theo hướng ngày càng sát với thực tiễn và thâm nhập ngày càng sâu hơn vào thực tiễn nông nghiệp, nông thôn Những quan điểm chỉ đạo trên của Đảng và Nhà nước không chỉ đảm bảo cho việc phát triển hài hòa giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa thành thị và nông thôn, giữa kinh tế với an ninh xã hội, an ninh, quốc phòng, môi trường, tăng cường khối liên minh công nhân - nông dân và đội ngũ trí thức xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, bảo đảm cho nước ta phát triển nhanh và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 251.2.2 Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh
tế Nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.
1.2.2.1 Giai đoạn 1997 - 2000
Sau 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã thu được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, trong đó nổi bật là những kết quả đã đạt được trong lĩnh vực kinh tế Tình trạng đình đốn trong sản xuất, rối ren trong lưu thông đã được khắc phục Kinh
tế tăng trưởng nhanh Nhiều công trình thuộc kết cấu hạ tầng và cơ sở công nghiệp trọng yếu được xây dựng, tạo thêm sức mạnh vật chất và thế cân đối mới cho bước phát triển tiếp theo Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xây dựng một cách đồng
bộ và có hiệu quả hơn Về cơ bản đất nước đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng kéo dài hơn 15 năm Những kết quả đó đã tạo tiền đề cần thiết để nước ta chuyển sang thời kỳ phát triển mới - thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Thực hiện Nghị quyết kỳ họp Quốc hội thứ 10 (khóa IX) về việc phân chia địa giới hành chính của một số tỉnh, tỉnh Phú Thọ được tái lập
và đi vào hoạt động từ ngày 1-1-1997 sau gần 29 năm hợp nhất Nằm trong bối cảnh chung của đất nước, sau khi được tái lập, Phú Thọ có những điều kiện thuận lợi căn bản để phát triển kinh tế: sớm có cơ chế khoán hộ, phát triển kinh tế đồi rừng; là một tỉnh trung du, miền núi có tiềm năng về đất đai sông ngòi thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp; nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa bước đầu được phát triển, giao thông nông thôn phát triển khá; nhân dân bước đầu có kinh nghiệm về lãnh đạo, quản lý và sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường…
Trang 26Bên cạnh những thuận lợi trên, trong điều kiện một tỉnh mới được tái lập, trước yêu cầu nhiệm vụ cách mạng ngày một nặng nề, Đảng bộ và nhân dân Phú Thọ cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách: Phú Thọ vẫn là một tỉnh nghèo, vị trí địa lý hạn chế cho giao lưu phát triển kinh tế - xã hội, tích lũy từ nội bộ nền kinh tế thấp; đội ngũ cán bộ còn thiếu; số lao động đã qua đào tạo thấp, nhất là đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên gia đầu ngành, công nhân kỹ thuật đang rất thiếu so với yêu cầu đặt ra; thu nhập bình quân đầu người chỉ bằng dưới 50% mức thu nhập bình quân cả nước, lao động thiếu việc làm còn nhiều.
Nhận thức rõ những thuận lợi và khó khăn trong tình hình mới, quán triệt chủ trương phát triển kinh tế giai đoạn 1996-2000 do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (8-1996) đề ra, Đại hội lần thứ XIV của Đảng bộ Phú Thọ (diễn ra từ ngày 11 đến ngày 13-11-1997) đã
đề ra nhiệm vụ và phương hướng phát triển kinh tế giai đoạn 1997-2000 là: “Xây dựng Phú Thọ trở thành tỉnh có nền kinh tế phát triển với tốc độ khá ổn định, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và truyền thống quê hương Đất tổ; giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc phòng vững mạnh; công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân được củng cố và phát triển vững chắc” [31, tr 40]
Các mục tiêu và chỉ tiêu chủ yếu được xác định là: Nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân 1998 - 2000: đạt 10% trở lên GDP bình quân đầu người khoảng 290 - 300 USD; giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân hàng năm: 15 - 17%; giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng bình quân hàng năm là: 16 - 18%; giá trị sản xuất nông , lâm nghiệp tăng bình quân 4,5% trở lên, sản lượng lương thực đạt: 31- 32 vạn tấn/năm Tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt: 73,8 triệu USD vào năm 2000 (trong đó xuất khẩu địa phương đạt khoảng 30 triệu USD) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trang 27theo hướng: tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông, lâm nghiệp, cụ thể: công nghiệp và xây dựng 36,5%; dịch vụ 34,5%; nông, lâm nghiệp 29% Cơ bản xóa hộ đói, giảm hộ nghèo và tăng
hộ giàu vào năm 2000 [31, tr.41-42]
Trên cơ sở phương hướng chung và các mục tiêu trong phát triển kinh tế đã đề ra, Đại hội lần thứ XIV của Đảng bộ Phú Thọ đã đề ra những chủ trương, giải pháp nhằm phát triển ngành kinh tế nông nghiệp
Phát triển nông, lâm nghiệp theo hướng công nghiệp hóa đảm bảo
an toàn lương thực, nâng cao hiệu quả và tạo hệ sinh thái bền vững Hướng chủ yếu trong những năm tới là: phát triển một nền nông nghiệp toàn diện, bền vững gồm sản xuất lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp, cây ăn quả và các cây có giá trị kinh tế, tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa tập trung, phù hợp với môi trường sinh thái và thị trường Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi và mùa vụ theo hướng giảm tỷ trọng ngành trồng trọt, tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi Tập chung đầu tư nhanh chóng tạo ra sản phẩm hàng hóa có hiệu quả cao trên một đơn vị diện tích; không ngừng nâng cao mức sống của nông dân Trước mắt, tăng cường đầu tư chiều sâu cho vùng sản xuất lương thực tập trung, gắn với nâng cao năng suất đồng đều trên địa bàn toàn tỉnh Nhanh chóng ổn định về lương thực, lấy lương thực làm cơ sở để phát triển các cây con khác Cùng với phát triển sản xuất phải xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất trong nông thôn phù hợp với công cuộc đổi mới nền nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đưa nhanh công nghệ sinh học vào sản xuất trên tất cả các lĩnh vực Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, cơ
sở chế biến, tiêu thụ nông sản Phát triển trồng trọt với chăn nuôi Giải quyết tốt việc làm cho người lao động Chỉ đạo và khuyến khích phát triển kinh tế nông trại, lâm trại coi đây là một trong những hướng cơ bản làm giàu từ đồi rừng, phát triển kinh tế nông thôn miền núi
Trang 28Từ định hướng trên, mục tiêu phấn đấu đến năm 2000 đạt bình quân lương thực 230 - 240kg/người/năm Giữ vững đàn trâu cày kéo 90 ngàn con, phát triển đàn bò đạt 115 ngàn con, đàn lợn 460 ngàn con, khuyến khích phát triển chăn nuôi gia cầm, thủy sản theo phương pháp công nghiệp, cây ăn quả tập trung theo hướng hàng hóa có khối lượng lớn, chất lượng cao Tích cực tìm nguồn tiêu thụ và đầu tư để kích thích phát triển cây sơn ở những vùng có truyền thống.
Từng bước khôi phục và phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng bằng cơ cấu cây bản địa nhằm tạo hệ sinh thái bền vững kết hợp với hiệu quả kinh tế Coi trọng việc tái sinh bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng phòng
hộ, kết hợp với trồng rừng, làm giàu rừng tự nhiên hiện có Phấn đấu đến năm 2000 khoanh nuôi bảo vệ, phục hồi 48.000 ha, trồng và chăm sóc 30.000 ha Thực hiện trồng rừng nguyên liệu theo quy hoạch, khai thác theo quy trình phù hợp với yêu cầu cung cấp nguyên liệu cho chế biến công nghiệp
Trong 4 năm, kể từ sau ngày tái lập tỉnh, theo đường lối đổi mới toàn diện của Đảng, trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Tỉnh ủy đã lãnh đạo Đảng bộ và nhân dân Phú Thọ ra sức phấn đấu, kiên trì vượt qua mọi khó khăn, thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội Đảng
1999, hạn hán nặng kéo dài làm cho cây trồng thiếu nguồn nước Năm
Trang 291998 và năm 2000, sâu bệnh phá hoại mùa màng trên diện rộng Khó khăn do thời tiết, khí hậu khắc nghiệt, làm trầm trọng thêm những khó khăn vốn có của tỉnh Phú Thọ.
Trước tình hình như vậy, hàng năm, Tỉnh ủy đã có nhiều nghị quyết lãnh đạo toàn diện và nghị quyết chuyên đề để chỉ đạo sâu sát từng ngành triển khai nghị quyết của Đại hội Đảng bộ tỉnh Về kinh tế nông, lâm nghiệp, các nghị quyết trên của Tỉnh ủy nêu rõ: Phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tiếp tục chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn gắn với phân công lại lao động; thực hiện cơ cấu giống, cơ cấu mùa vụ, cây trồng, thâm canh cây lúa, mở rộng diện tích ngô đông; đưa nhanh công nghệ sinh học
và tiến bộ kỹ thuật vào nông nghiệp; thực hiện cấp I hóa giống lúa; cải tạo đàn bò, đàn lợn; đảm bảo an toàn lương thực; phòng ngừa, khoanh nuôi dịch bệnh, chống thiên tai và bảo vệ môi trường Tập trung xây dựng và sửa chữa hệ thống thủy lợi hợp lý, mở rộng diện tích tưới tiêu, chú trọng thủy lợi vùng đồi; đẩy mạnh giao đất, giao rừng, chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp, khắc phục tình trạng manh mún
Ngày 31-10-1998, Ban thường vụ tỉnh ủy ra Nghị quyết chuyên đề
“Về tiếp tục đẩy mạnh kinh tế trang trại đến năm 2000” đã xác định: Tiềm năng phát triển kinh tế trang trại còn rất lớn Toàn tỉnh hiện còn 150.000
ha đất chưa sử dụng, trong đó đất đồi núi còn 120.000 ha, đất mặt nước còn 2.700 ha Phấn đấu đến năm 2000 có từ 2.500 đến 3000 trang trại, trong đó 60% số hộ trở lên làm kinh tế giỏi; phấn đấu thu nhập bình quân của người làm kinh tế trang trại đạt 5 triệu đồng/ người/ năm, góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống người lao động
Ngày 27-3-1999, Ban thường vụ Tỉnh ủy ra Nghị quyết 15-NQ/TU
“Về tiếp tục đẩy mạnh công tác khuyến nông trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” Nghị quyết nêu rõ phương hướng chung là: Tiếp tục củng cố kiện toàn tổ
Trang 30chức, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ khuyến nông từ tỉnh đến cơ sở Công tác khuyến nông phải được tiến hành sâu rộng đến từng hộ nông dân, tập trung vào bồi dưỡng kiến thức, kinh nghiệm, chuyển giao tiến bộ
kỹ thuật để nông dân sản xuất, kinh doanh đạt hiệu quả cao Xã hội hóa công tác khuyến nông, lấy tổ chức khuyến nông Nhà nước làm nòng cốt, phối hợp chặt chẽ với các tổ chức xã hội, đoàn thể nhân dân, tổ chức khuyến nông chuyên ngành và đa dạng hóa nội dung và hình thức khuyến nông
Ngày 15-10-1999, Ban Thường vụ Tỉnh ủy có Nghị quyết số NQ/TU “Về chương trình phát triển kinh tế - xã hội 31 xã đặc biệt khó khăn, giai đoạn 1999-2005” Tư tưởng chỉ đạo của Tỉnh ủy trong Nghị quyết là: phát triển kinh tế - xã hội trước hết phải phát huy nội lực của từng hộ gia đình, của cộng đồng, đồng thời có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước để khai thác có hiệu quả các tiềm năng lao động, đất đai, tài nguyên
17-và các điều kiện kinh tế, xã hội, tạo ra bước chuyển biến mới về sản xuất, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của đồng bào các dân tộc Nhà nước tạo môi trường pháp lý và chính sách phát triển kinh tế xã hội,
ưu tiên bố trí vốn đầu tư, lồng ghép từ các nguồn vốn: Ngân sách Nhà nước, vốn ủng hộ giúp đỡ các doanh nghiệp, của các tổ chức kinh tế - xã hội, vốn tranh thủ các nguồn viện trợ, tài trợ của các tổ chức quốc tế Chương trình 135 (phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn) phải được thực hiện trong kế hoạch hàng năm, 5 năm của tỉnh, của các ngành, của huyện, xã và phải có các giải pháp toàn diện Trước hết tập trung ưu tiên phát triển nông, lâm nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, thúc đẩy phát triển giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội…v.v
Nhờ vậy sản xuất Nông, Lâm nghiệp tiến bộ hơn trước, nhất là sản xuất lương thực, bảo vệ và phát triển rừng, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh Diện tích, năng suất, sản lượng
Trang 31các loại cây trồng chủ yếu đều tăng Chương trình sản xuất lương thực trong 4 năm (1997-2000) đạt tốc độ tăng trưởng nhanh Năng suất lúa từ 29,2 tạ/ha năm 1997 lên 38-40 tạ/ha gieo trồng tính bình quân chung cả tỉnh đến năm 2000, vượt xa những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Năng suất ngô đạt 30 tạ/ha Sản lượng lương thực năm 1997 đạt 27,5 vạn tấn, năm 1998 đạt 28 vạn tấn, năm 1999 đạt 32 vạn tấn (đạt trước mục tiêu Đại hội XIV một năm) và năm 2000 đạt tới 36,3 vạn tấn (vượt năm
1996 là 12,3 vạn tấn, tăng 5%) Do đó bình quân lương thực đầu người trong tỉnh đã tăng từ 191 kg/người (1996) lên 284 kg/người (năm 2000)
Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến kết quả trên là
do tỉnh đã chỉ đạo đưa nhanh tiến bộ kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp Đây là một giải pháp có tính quyết định tạo ra những bước đột phá quan trọng về sản xuất lâm nghiệp Các giống cây lương thực có năng suất cao, chất lượng tốt được đưa vào sản xuất Các địa phương trong tỉnh đã có sự chuyển biến tích cực về chuyển dịch cơ cấu mùa vụ , cơ cấu các trà lúa, các giống lúa phù hợp với tình hình khí hậu và thời tiết ở từng vùng Chương trình canh tác trên đất dốc, đất lầy thụt, là một yếu tố dần dần làm thay đổi tập quán canh tác và chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu giống và cơ cấu mùa vụ ở vùng đồi Đưa vụ đông trở thành vụ sản xuất chính là một vấn đề rất quan trọng trong việc thay đổi
cơ cấu mùa vụ và làm tăng tổng sản lượng lương thực của tỉnh
Cây công nghiệp có mức tăng khá Cây chè, cây mía được phục hồi
và phát triển cả về diện tích, năng suất và sản lượng Cây chè là một loại cây công nghiệp có từ lâu đời ở địa phương, đứng thứ 3 về diện tích, thứ
4 về sản lượng so với cả nước Tổng diện tích chè đến năm 2000 có 8.000
ha, trong đó 7.000 ha kinh doanh Năng suất chè bình quân cả tỉnh từ 34 tạ/ha (năm 1996) lên 45 tạ/ha (năm 2000) Một số nơi trong tỉnh đã đạt năng suất chè bình quân 70-80 tạ/ha, cá biệt có diện tích đạt 150-200
Trang 32tạ/ha Sản lượng chè búp tươi đạt trên 31.000 tấn Hàng năm tỉnh có 3 đến
4 ngàn tấn chè khô tham gia xuất khẩu Cây chè trên đất Phú Thọ được coi là một chương trình kinh tế mũi nhọn, diên tích không ngừng được
mở rộng và đầu tư thâm canh để có năng suất cao, tạo sản phẩm hàng hóa xuất khẩu
Chương trình cây ăn quả bước đầu có sự phát triển trên địa bàn tỉnh Không phải chỉ ở vùng nông thôn, miền núi, mà cả ở thành phố, thị
xã, vùng đô thị, hầu như nhà nào có đất vườn dù ít hay nhiều cũng trồng cây ăn quả Một số địa phương đã tập trung chỉ đạo cải tạo vườn tạp như
ở Thanh Ba, Tam Nông, Thanh Thủy, Lâm Thao và Phù Ninh Toàn tỉnh
có gần 6 nghìn héc ta cây ăn quả với các loại cây chủ yếu như chuối, vải, nhãn, xoài, bưởi, hồng … Một số trang trại của hộ nông dân đã phát triển cây ăn quả có giá trị kinh tế cao Song, do đặc điểm của một tỉnh miền núi, địa hình phức tạp, bị chia cắt nên khó tạo ra những vùng cây ăn quả tập trung Mặt khác, nông dân Phú Thọ nói chung còn nghèo, chưa có vốn đầu tư, thị trường tiêu thụ rất khó khăn nên việc phát triển cây ăn quả bị hạn chế Diện tích vườn tạp của nông dân còn trên 20 ngàn héc ta chưa được cải tạo Một số điển hình tốt về trồng cây ăn quả chưa được nhân ra diện rộng Tỉnh chủ trương đưa công nghệ sinh học vào để tiến tới tạo ra một số cây ăn quả đặc sản truyền thống có phẩm cấp cao Vấn đề quan trọng là giải quyết đầu ra cho nông dân yên tâm mở rộng sản xuất
Chăn nuôi ở các địa phương trong tỉnh được đẩy mạnh Nhân dân tích cực thực hiện chủ trương cải tạo, nâng cao chất lượng đàn gia súc, gia cầm, mở rộng nuôi trồng thủy sản, tăng tỷ lệ đàn bò lai và nạc hóa đàn lợn; đến năm 2000, đàn bò tăng 7%, đàn lợn tăng 19% so với năm 1996 Năm 2000, toàn tỉnh có gần 90 nghìn con trâu, trên 102 nghìn con bò, hơn
440 nghìn con lợn và trên 6 triệu gia cầm Sản phẩm chăn nuôi đã tham gia xuất khẩu, năm cao nhất đạt 500 tấn thịt lợn Chăn nuôi đã trở thành
Trang 33ngành sản xuất chính đang được đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm, cung cấp ra thị trường và đem lại một nguồn thu nhập không nhỏ cho nông dân Công tác phòng chống dịch bệnh chủ động phát hiện sớm
và xử lý kịp thời không để lây lan Tỉnh đang nghiên cứu xây dựng các dự
án chăn nuôi quy mô lớn tạo ra vùng sản xuất tập trung để có sản phẩm xuất khẩu với chất lượng cao
Về lâm nghiệp, theo phương hướng, nhiệm vụ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV đề ra, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã đề ra Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 15/4/1998 về phát triển vùng nguyên liệu giấy đến năm
2010 và tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý thu mua, tiêu thụ nguyên liệu giấy Trong những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, rừng
và đất rừng được bảo vệ, khai thác ngày càng có hiệu quả Năm 2000, diện tích rừng toàn tỉnh có 130.000 ha, độ che phủ rừng đạt 36%; chất lượng và hiệu quả kinh tế - xã hội ngày càng được nâng lên; công tác phòng chống cháy rừng tốt hơn
Tuy vậy, tốc độ trồng rừng hàng năm còn chậm, diện tích rừng tăng thêm chưa nhiều, chưa tương xứng với tiềm năng đất rừng của tỉnh Đến tháng 5/1999, đất trống, đồi núi trọc còn chiếm tới 1/3 diện tích tự nhiên của tỉnh với 120.000 ha (chủ yếu tập trung ở hai huyện Thanh Sơn và Yên Lập) Nguyên nhân chính của những tồn tại trên là do địa hình phức tạp, thiếu vốn đầu tư, giao đất rừng chậm và công tác chỉ đạo ở một số cơ sở còn buông lỏng
Xuất phát từ đánh giá hiện trạng về rừng, Ban Thường vụ Tỉnh ủy
đã ra Nghị quyết số 16/NQ-TU ngày 5/5/1999, xác định các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể để triển khai kế hoạch trồng mới 80.000 ha rừng giai đoạn 1999-2000: Từ nay đến năm 2010, trồng, khoanh nuôi, tạo mới rừng trên toàn bộ diện tích đất trống, đồi núi trọc có khả năng phát triển lâm nghiệp để góp phần bảo vệ môi trường, giảm nhẹ thiên tai, tăng khả năng
Trang 34sinh thủy, bảo vệ tồn gen và tính đa dạng sinh học của rừng Tiến hành quy hoạch phát triển rừng tạo thành các vùng tập trung, đáp ứng nhu cầu nguyên liệu giấy, ván nhân tạo, gỗ, củi, lâm sản khác cho xây dựng, sản xuất hàng xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng, đưa lâm nghiệp trở thành ngành kinh tế quan trọng, góp phần tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, thực hiện xóa đói, giảm nghèo, thúc đẩy kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển Thực hiện khẩu hiệu: người ở vùng núi phải phát triển rừng để sống bằng nghề rừng Chăm sóc và bảo vệ tốt rừng hiện có; tập trung các nguồn vốn, nguồn lực đầu tư cho 40.000 ha rừng phòng hộ, đặc dụng Trồng mới 40.000 ha rừng tập trung để cung cấp nguyên liệu cho các Công ty giấy Bãi Bằng và Việt Trì; đảm bảo khi định hình, hàng năm cho khai thác 4-5 ngàn héc ta với sản lượng 320-400 ngàn m3 gỗ nguyên liệu.
Các Nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phát triển kinh tế trang trại (năm 1998), về công tác khuyến nông (3/1999) và chương trình phát triển kinh tế - xã hội 31 xã đặc biệt khó khăn giai đoạn 1999-2005 (5/1999) cùng với hai Nghị quyết trên về trồng rừng đã tác động mạnh mẽ đến việc chăm sóc, bảo vệ và khai thác rừng trong tỉnh Do đó chương trình phát triển cây Lâm nghiệp 4 năm qua đã có bước phát triển khá Năm 2000, diện tích trồng rừng toàn tỉnh có trên 130 ngàn hécta, độ che phủ rừng đạt 36%, trữ lượng rừng đã tăng 25 lần so với năm 1990 Trồng rừng hàng năm đạt trên dưới 4 nghìn héc ta rừng tập trung và 150 ngàn héc ta rừng phân tán Việc chăm sóc, khoanh nuôi, tái sinh được đẩy mạnh đã làm cho hàng chục ngàn héc ta rừng được tái sinh Kế hoạch phát triển cây lâm nghiệp của tỉnh được Nhà nước chú trọng đầu tư thông qua các chương trình 327, 264 Lâm nghiệp xã hội, 661 chương trình trồng cây nguyên liệu giấy Công tác bảo vệ rừng có nhiều tiến bộ, tệ nạn phá rừng được ngăn chặn và xử lý kịp thời
Trang 35Công tác Thủy lợi là một biện pháp quan trọng trong việc đưa tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông lâm nghiệp Tỉnh ủy đã xây dựng quy hoạch Thủy lợi đến năm 2000, trong đó có nhiệm vụ cải tạo nâng cấp một số công trình Thủy lợi ở các huyện; có chính sách cho không xi măng
để khuyến khích các huyện, các xã hoặc hợp tác xã thực hiện kiên cố hóa kênh mương Nhiều công trình thủy lợi đã và đang được cải tạo nâng cấp như hệ thống thủy lợi 12 xã phía bắc Hạ Hòa, Lò Lợn (thị xã Phú Thọ), Sông Bứa (Cẩm Khê), Yến Mao, Phượng Mao (Thanh Thủy), Thượng Nông, Hương Nộn (Tam Nông)
Kết quả sản xuất nông nghiệp của tỉnh trong thời gian qua chứng tỏ việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là đúng hướng Tỷ trọng ngành trồng trọt giảm từ 77,6% xuống 76,5% và nâng tỷ trọng ngành chăn nuôi từ 22,4% lên 23,5% [2, tr 305]
Kinh tế nông nghiệp, nông thôn có chuyển biến tích cực, bước đầu khai thác được lợi thế của mỗi vùng; khuyến khích phát triển kinh tế hộ, kinh tế đồi rừng, kinh tế trang trại Toàn tỉnh từng bước hoàn thành việc phân công lao động từ nông nghiệp sang làm dịch vụ và các ngành nghề tiểu thủ công, nâng cao thu nhập, nâng hộ giàu, giảm hộ nghèo, làm thay đổi bộ mặt nông thôn
Trang 36Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ XV (12/2000) nêu phương hướng: “Phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa, đảm bảo an toàn lương thực, chú trọng đầu tư phát triển các chương trình trọng điểm, tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, nâng cao hiệu quả và tạo hệ sinh thái bền vững” [32, tr.57] Để đạt được mục tiêu trên, Đảng bộ đề ra các định hướng và giải pháp cụ thể cho nhiệm kỳ 2001-2005:
Phấn đấu đến năm 2005: diện tích lúa, ngô 91.200 ha, diện tích chè 12.000 ha, đạt sản lượng 71-73 ngàn tấn búp tươi; đàn bò tăng 13%, đàn lợn tăng 30% so với năm 2000, diện tích rừng đạt 168 ngàn ha, phủ xanh 60-65% đất trống đồi núi trọc
Thực hiện từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nông nghiệp, nông thôn trên cơ sở nâng cao trình độ kỹ thuật và chất lượng phát triển
nông nghiệp, phát triển ngành nghề, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội và xây dựng các điểm thị trấn, thị tứ … nâng cao chất lượng cuộc sống ở nông thôn
Đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo định hướng: Điều chỉnh lại quy hoạch chuyên ngành sản xuất nông
nghiệp phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển nông nghiệp, nông thôn đến năm 2010 Tập trung sản xuất hàng hóa, ưu tiên cho hàng xuất khẩu, nâng cao sức cạnh tranh trong quá trình hội nhập của các sản phẩm mũi nhọn: chè, nguyên liệu giấy và sản phẩm chăn nuôi để tạo khâu đột phá phát triển nhanh kinh tế nông nghiệp, nông thôn Nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp theo hướng: đa canh, thâm canh, sản xuất hàng hóa có giá trị thu nhập cao trên một đơn vị diện tích và an toàn môi trường sinh thái Tập trung đầu tư để tăng nhanh sản lượng lương thực ở vùng sản xuất trọng điểm Phát triển đàn gia súc theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, mở rộng quy mô sản xuất, đảm bảo an toàn để xuất khẩu phù
Trang 37hợp với nhu cầu thị trường khuyến khích phát triển đàn bò sữa, chăn nuôi gia cầm, nuôi trồng thủy sản, sản xuất và chế biến thức ăn đáp ứng yêu cầu chăn nuôi.
Ưu tiên bố trí các trương trình trọng điểm: Triển khai có hiệu quả
dự án chè liên doanh, ứng dụng tiến bộ về giống, công nghệ, thâm canh
để đáp ứng nhu cầu thị trường và xuất khẩu Thực hiện đầu tư thâm canh, điều chỉnh chính sách thu mua để giữ ổn định và phát triển vùng nguyên liệu giấy, đáp ứng nhu cầu nguyên liệu, mở rộng quy mô và nâng công suất của các nhà máy giấy gắn với quy hoạch trồng rừng Xác định rõ các loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, chế biến
và xuất khẩu để cải tạo vườn tạp, quy hoạch trồng cây ăn quả vùng đồi đạt 7.200 ha vào năm 2005 Đầu tư cho chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường, phấn đấu năm 2005 có 80% số dân nông thôn được dùng nước sạch Thực hiện tốt công tác định canh định cư, cơ bản chấm dứt tình trạng du canh du cư tự do vào năm 2005
Phát triển vốn rừng, đẩy mạnh áp dụng biện pháp khoanh nuôi, tái sinh rừng tự nhiên Đầu tư trồng rừng theo các chương trình dự án, quản
lý khai thác phù hợp với tốc độ tăng trưởng của rừng Tăng cường công tác kiểm lâm, trú trọng đầu tư kết cấu hạ tầng, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho vùng sản xuất lâm nghiệp để “người làm rừng sống được bằng nghề rừng”
Đổi mới và nâng cao năng lực tổ chức, quản lý của các doanh nghiệp quốc doanh nông, lâm nghiệp để thực hiện tốt vai trò là trung tâm
chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, dịch vụ cho sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm trong vùng Tăng cường đào tạo nguồn lực, chú trọng đào tạo cán bộ khuyến nông, khuyến lâm và đội ngũ nông dân chủ chốt ở cơ sở để
có đủ năng lực đáp ứng yêu cầu của sản xuất
Trang 38Tăng cường quản lý Nhà nước trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp;
xem xét, bổ sung kịp thời các chính sách; lồng ghép tốt các chương trình mục tiêu, các nguồn lực để kinh tế nông nghiệp, nông thôn phát triển ngày càng hiệu quả Ứng dụng rộng rãi thành tựu khoa học công nghệ mới, nhất là ưu thế giống lai trong trồng trọt, chăn nuôi Đảm bảo diện tích sử dụng giống lúa lai 70%, ngô lai 90%; đẩy mạnh chăm sóc bảo vệ cây trông, vật nuôi, bảo quản, chế biến, nâng cao chất lượng nông sản; sản xuất các sản phẩm nông nghiệp sạch; quy hoạch đồng cỏ để phát triển chăn nuôi; chặn đứng một số dịch bệnh nguy hiểm hạn chế rủi ro cho sản xuất nông nghiệp Ưu tiên đầu tư các công trình đầu mối, thủy lợi vùng đồi, kiên cố hóa kênh mương, áp dụng công nghệ tưới phun, tưới thấm cho các loại cây hàng hóa Phát triển kinh tế trang trại, khuyến khích liên kết, hợp tác các thành phần kinh tế đầu tư vào công nghiệp chế biến, đổi mới hợp tác xã, tạo điều kiện cho hợp tác xã tiêu thụ nông sản Nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước về sản xuất và tiêu thụ nông sản hàng hóa cho nông nghiệp [32, tr.58-61]
Đường lối Đại hội Đảng bộ lần thứ XV trong lãnh đạo chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp giai đoạn 2001-2005 có điểm nổi bật so với trước là đã chú trọng đến các chương trình trọng điểm, phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, những định hướng đưa ra có cơ sở thực tiễn, rất phù hợp với đặc điểm tự nhiên, xã hội từng địa phương trong tỉnh… Điều đó thể hiện Đảng bộ ngày càng trưởng thành trong tư duy lãnh đạo kinh tế nông nghiệp Nghị quyết của Đảng bộ nhanh chóng được các Đảng bộ địa phương quán triệt đến các cán bộ đảng viên và nhân dân trong toàn tỉnh, là cơ sở để Đảng bộ các huyện vận dụng sáng tạo trong thực tế chỉ đạo từng địa phương Từ năm 2001 đến năm 2005 nông nghiệp, nông thôn Phú Thọ có những bước phát triển mạnh mang
Trang 39tính chất đột phá tạo tiền đề cho những năm tiếp theo thực hiện công nghệp hóa, hiện đại hóa nông thôn.
Về Nông nghiệp: Trong giai đoạn 2000 - 2005; giá trị sản xuất nông
nghiệp (giá so sánh năm 1994) tăng bình quân tăng 7,92% năm đạt 1.928,9 tỷ đồng năm 2005 Trong đó sản xuất trồng trọt đạt tốc độ tăng trưởng 6,61%/năm; ngành chăn nuôi 10,2%/năm
Về chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực: giảm tỷ trọng trồng trọt (từ 71,9% trong
cơ cấu năm 2000 xuống còn 62,98% năm 2005), tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi (từ 25,6% năm 2000 lên 33,99% năm 2005) Kết quả so với mục tiêu quy hoạch nông nghiệp đặt ra đã đạt và vượt trước thời gian quy hoạch (mục tiêu năm 2005 là trồng trọt 62 % và chăn nuôi 31%)
Sản xuất trồng trọt và chăn nuôi đang từng bước chuyển dần từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá và nâng cao thu nhập trên đơn
vị diện tích
Về ngành trồng trọt: Những năm sau 2000 vấn đề an ninh lương
thực về cơ bản đã được giải quyết, xu thế phát triển ngành trồng trọt chuyển sang sản xuất hàng hoá, cung cấp nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu (như chè), cho chế biến lương thực - thực phẩm như chế biến bún bánh, đậu phụ và các nông sản khác đáp ứng tiêu dùng nội địa Cơ cấu giá trị sản xuất ngành trồng trọt có sự thay đổi:
Tỷ trọng nhóm cây lương thực giảm 3,96%, từ 68,15% năm 2000 xuống 64,19% năm 2005
Tỷ trọng nhóm cây nông sản có giá trị hàng hoá tăng như cây công nghiệp lâu năm tăng 1,28%, từ 5,46% năm 2000 lên 6,74% năm 2005; nhóm cây rau, đậu thực phẩm tăng 1,71%, từ 7,22% năm 2000 lên 8,93% năm 2005; nhóm cây ăn quả tăng 0,5%, từ 10,64% năm 2000 lên 11,16%
Trang 40năm 2005.
Về ngành chăn nuôi: Chăn nuôi lợn và bò phát triển, chiếm tới trên
60% giá trị sản xuất ngành chăn nuôi Đặc biệt là những năm sau 2001 tập trung đầu tư phát triển chăn nuôi lợn theo hướng nạc phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng nội địa, chăn nuôi bò sữa đã được khởi động, tuy nhiên còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế Tập trung chuyển hướng phát triển đàn bò theo hướng đàn bò thịt (lai Zebu, lai sind), đó là hướng đi tích cực để đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành chăn nuôi
Năm 2005 tổng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi đạt 588,05 tỷ đồng (giá so sánh 1994) đạt và vượt chỉ tiêu năm 2005 (mục tiêu quy hoạch năm 2005 là 500 tỷ) Trong cơ cấu ngành nông nghiệp, ngành chăn nuôi chiếm tỷ trọng 33,99% (giá TT), mục tiêu quy hoạch năm 2005 là 31,0% Trong đó: Chăn nuôi gia súc chiếm tỷ trọng 63,1% toàn ngành chăn nuôi, chăn nuôi gia cầm chiếm 21,6% và sản phẩm chăn nuôi khác chiếm 15,3%
Về chuyển đổi cơ cấu giống: Tỷ lệ lợn ngoại và lợn lai hướng nạc tăng từ 10,0% tổng đàn (năm 2000) lên 38 - 40% tổng đàn (năm 2005);
đàn lợn nái ngoại tăng lên đạt 10% tổng đàn (năm 2005); Tỷ lệ đàn bò lai
sind đến năm 2005 đã đạt 20 – 23%
Cơ cấu sản xuất Nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tích cực, nâng cao thu nhập trên đơn vị diện tích Chân cao không chủ động nước lâu nay trồng lúa, một số nơi mạnh dạn chuyển sang trồng cây khác hiệu quả hơn
Đối với sản xuất lúa đã chuyển dịch mạnh cơ cấu các trà lúa, vụ chiêm xuân giảm xuân sớm và chính vụ (có nơi như Việt Trì, Lâm Thao không còn xuân chính vụ), tăng trà xuân muộn để hạn chế bất lợi của thời tiết, đến nay trà xuân muộn toàn tỉnh chiếm trên 50% diện tích lúa vụ