Điều này đặt ra những yêu cầu mới của hệ thống giáo dục nước ta hiện nay là - “Xây dựng mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình , phương pháp giáo dục và đào tạo” Xuất phát từ những yêu
Trang 1I MỞ ĐẦU I.1 Lí do chọn đề tài
Nước ta đang trên con đường đổi mới toàn diện xây dựng một đất nước côngnghiệp hoá, hiện đại hoá với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ từ một nướcnông nghiệp về cơ bản trở thành nước công nghiệp,nông nghiệp hiện đại và hộinhập với cộng đồng quốc tế Để đạt được mục tiêu trên thì nhân tố tri thức khoahọc kỹ thuật của con người là nhân tố quyết định hàng đầu của viêc đổi mới đấtnước Điều này đặt ra những yêu cầu mới của hệ thống giáo dục nước ta hiện
nay là - “Xây dựng mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình , phương pháp giáo dục và đào tạo”
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế đó thì việc đổi mới nội dung và phươngpháp giáo dục là một việc làm mang tính cấp thiết, để đạt được hai mục tiêu cơbản: Một là phải phát huy được tính tích cực trong học tập, hình thành , pháttriển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề trong học tập cũng như trong đờisống của học sinh Hai là xuất phát từ yêu cầu xã hội hoá giáo dục là phải thựchiện tốt các mục đích dạy học đối với tất cả học sinh, đồng thời khuyến khíchphát triển tối đa năng lực phát huy tốt nhất sở trường của mỗi cá nhân học sinh Muốn đạt được các mục tiêu đó, trong quá trình dạy học phải lựa chọn phươngpháp phù hợp với nội dung dạy học cho từng đối tượng học sinh vùng ,miền vàđối tượng học sinh giỏi ,khá,trung bình và yếu kém nhằm tích cực hoá nhậnthức hình thành năng lực giải quyết vấn đề và năng lực hoạt động sáng tạo chomỗi đối tượng học sinh
Các mục đích đó sẽ đạt được nếu áp dụng một cách khoa học phương phápdạy học phân hoá nêu vấn đề Đây là một hình thức dạy học kết hợp hai phươngpháp dạy học là dạy học phân hoá và dạy học nêu vấn đề Trong đó, dạy học nêuvấn đề đáp ứng được mục tiêu thứ nhất, còn dạy học phân hoá nhằm đáp ứngđược mục tiêu thứ hai
Trong cùng một lớp học khả năng nhận thức của từng học sinh là khácnhau.Vì vậy việc truyền thụ kiến thức ở các mức độ cho từng đối tượng cho học
Trang 2sinh của giáo viên là vấn đề rất quan trọng Đây là lí do mà tôi lựa chọn đề tài: “ xây dựng - sử dụng bài giảng và bài tập theo hướng phân hoá – nêu vấn đề
để nâng cao hiệu quả giảng dạy bài Khái quát về nhóm halogen Hoá học lớp
10 THPT”
I.2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu “ xây dựng bài giảng và bài tập theo hướng phân hoá – nêu
vấn bài Khái quát về nhóm halogen hoá học 10 Qua đó làm tăng hướng thú tự
tin và nâng cao chất lượng dạy và học hoá học ở trường THPT
I.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
1 Nghiên cứu cơ sở lí luận và quy trình giảng dạy phân hoá nêu vấn đề trongdạy học ở trường THPT
2 Nghiên cứu nội dung cấu trúc chương trình hoá học THPT, chương trình hoáhọc 10 THPT
3 Xây dựng hệ thống bài giảng và bài tập theo hướng phân hoá nêu vấn đề phầnphi kim Hoá học lớp 10 THPT nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng dạy vàhọc
4 Thực tập sư phạm nhằm kiểm tra, đánh giá hiệu quả và tính khả thi của đề tài
I.4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
I.4.1 Khách thể nghiên cứu:
Quá trình dạy học hoá học ở trường THPT
I.4.2 Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân hoá nêu vấn đề trong giảng dạy vàhọc tập phần halogen Hoá học lớp 10 THPT
I.5 Phạm vi nghiên cứu
Xây dựng hệ thống bài giảng và bài tập theo hướng phân hoá nêu vấn đềKhái quát về nhóm halogen Hoá học lớp 10 THPT
I.6 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận về nhận thức và tính tích cực nhận thức
Trang 3- Nghiên cứu nội dung các chương hoá học vô cơ lớp 10 ban cơ bản
- Điều tra thực tiễn: điều tra cơ bản về năng lực tư duy của học sinh
- Trao đổi kinh nghiệm với giáo viên hoá học trong và ngoài tỉnh
-Xây dựng hệ thống bài giảng và bài tập theo hướng phân hoá nêu vấn đềphần phi kim Hoá học lớp 10 THPT cơ bản nhằm nâng cao chất lượng giảngdạy
- Thực nghiệm sư phạm và xử lí kết quả
I.7 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng hệ thống bài giảng và bài tập phân hoá nêu vấn đề đảm bảotính khoa học, lôgic về nội dung và cấu trúc, phù hợp với từng đối tượng họcsinh sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học Hoá học nói chung, phần phi kimHoá học lớp 10 THPT nói riêng
II NỘI DUNG II.1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT VỀ DẠY HỌC PHÂN HOÁ -NÊU VẤN ĐỀ II.1.1 Dạy học phân hoá
II.1.1.1 Khái niệm:
Dạy học phân hoá xuất phát từ mối quan hệ biện chứng giữa sự thống nhất
và sự phân hoá, tức là thể hiện sự kết hợp giữa hoạt động “đại trà” với giáo dục
“mũi nhọn” giữa “phổ cập” với “nâng cao” trong dạy học ở trường phổ thông
và nó được tiến hành theo tư tưởng chủ đạo sau:
a) Lấy trình độ phát triển chung của học sinh làm nền tảng Nội dung và phươngpháp trước hết phải phù hợp với trình độ và điều kiện chung của từng đối tượnghọc sinh
b) Sử dụng những biện pháp phân hoá giúp học sinh yếu kém vươn lên trình độchung, khích lệ được các học sinh khá giỏi có khả năng tìm tòi phát hiện một số
vấn đề cụ thể Các cách dạy học này dựa vào “vùng phát triển gần nhất” của
học sinh tức là chỉ cần gợi ý nhỏ là học sinh có thể giải được bài toán tương đốikhó khăn hơn so với sức của học sinh
Trang 4c) Đưa ra nội dung bổ sung và biện pháp phân hoá nhằm giúp học sinh khá giỏiđạt đựợc những yêu cầu nâng cao trên cơ sở đã đạt được những yêu cầu cơ bảnđặt ra từ mục tiêu của bài học.
Như vậy, dạy học phân hoá vừa đảm bảo tính vừa sức và khuyến khích họcsinh phát huy tối đa trí lực vốn có của mỗi cá nhân khi vượt qua chướng ngạinhận thức Nếu vấn đề đưa ra quá khó thì học sinh sẽ thấy không hứng thú, lúcbấy giờ học tập như là một chướng ngại khó khắc phục, học sinh sẽ không đượcđặt vào tình huống có vấn đề nên không thấy sự hấp dẫn lôi cuốn khi tìm kiếm,phát hiện nhanh kiến thức Ngược lại vấn đề đưa ra quá dễ sẽ gây cho học sinh
sự nhàm chán, không kích thích tư duy tích cực của học sinh Đây là một nguyêntắc quan trọng mà giáo viên cần phải hết sức lưu ý trong quá trình dạy học theo xuhướng đổi mới nhằm khơi gợi, kích thích, đòi hỏi người nghiên cứu suy nghĩ,tìm tòi và phát huy đến mức cao nhất
II.1.1.2 Các phương pháp phân hoá
Quan điểm xuất phát
Trong một lớp học, một khối học cũng vậy có nhiều học sinh với nhữngđặc điểm giống nhau ví dụ như lứa tuổi, trình độ phát triển tâm sinh lý tương đốiđồng đều… sự thống nhất này là cơ bản, nhờ đó ta mới có thể dạy học cùng mộtchương trình Tuy nhiên vẫn có nhiều em trình độ nhận thức cao hơn nhiều sovới các bạn cùng lứa do đó việc áp dụng phương pháp dạy học phân hoá có tácdụng rất lớn Trong thực tiễn có thể có hai phương pháp phân hoá chính ápdụng cho việc giảng dạy ở trường phổ thông là:
- Phân hoá trong cùng một lớp học
- Phân hoá trong cùng một khối học (lớp chọn) hoặc theo trường (trường điểm,trường chuyên)
*Phân hoá trong cùng một lớp:
Trong một lớp gồm nhiều cá thể khác nhau, khác nhau về trình độ nhận thức,khác nhau về đặc điểm tâm sinh lý, mỗi học sinh là một chủ thể nhận thức khi
có cùng tác động sư phạm vào các học sinh khác nhau sẽ có các phản ứng khác
Trang 5nhau Sự phản ứng khác nhau đó có thể có tác động tích cực hoặc tiêu cực ảnhhưởng đến quá trình dạy học Do đó người giáo viên cần có sự “phân biệt hoá,
cá thể hoá” làm trong quá trình dạy học phát huy được tính tích cực, hạn chế tối
đa mặt tiêu cực của sự khác nhau đó, đồng thời tạo điều kiện để học sinh pháthuy ở mức độ cao nhất Muốn vậy người giáo viên cần nắm và hiểu tâm lý củamỗi học sinh, của từng lứa tuổi học sinh
Tóm lại từ yêu cầu xã hội đối với người lao động là giống hoặc khác nhau,
từ sự giống và khác nhau về trình độ và việc phát triển nhân cách từng học sinhđòi hỏi quá trình dạy học thống nhất cùng với những biện pháp phân hoá nội tại.dạy học phân hoá cần phải xây dựng kế hoạch lâu dài, cụ thể
*Phân hoá bài nội dung bài giảng : Khi phân hóa các bài giảng trên lớp
cần lưu ý một số đặc điểm sau:
- Phân hoá nội dung, phương pháp phù hợp với trình độ của mỗi đối tượng học sinh
- Phân hoá yêu cầu về khả năng tư duy độc lập, bài giảng dành cho đốitượng học sinh yếu kém chứa nhiều yếu tố dẫn dắt để học sinh dễ tiếp nhận kiếnthức
*Phân hoá bài tập về nhà: Khi phân hoá bài tập về nhà cần lưu ý một số điểm sau :
- Phân hoá về số lượng bài tập cùng loại phù hợp với đối tượng để đạt cùng mộtyêu cầu
- Phân hoá nội dung phù hợp với trình độ của mỗi học sinh
- Phân hoá yêu cầu về mặt tính độc lập, bài tập cho đối tượng học sinh yếu kémchứa nhiều yếu tố dẫn dắt để học sinh suy nghĩ làm bài tập ở mức cao hơn
- Ra riêng bài tập tạo tiền đề xuất phát cho học sinh yếu kém để chuẩn bị nhữngbài sau và ra riêng bài tập nâng cao cho học sinh khá giỏi
* Phân hoá theo khối học, theo trường học:
II.1.2 Dạy học nêu vấn đề
II.1.2.1 Khái niệm
Trang 6Dạy học nêu vấn đề là kiểu dạy học mà thầy tạo ra những tình huống có vấn đề,điều khiển học sinh phát hiện vấn đề, để hoạt động tự giác và tích cực và để giảiquyết vấn đề mà thông qua giải quyết những vấn đề đó học sinh có khả nănglĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng và đạt được những mục đích học tập khác.
- Dạy học nêu vấn đề là một hệ phương pháp dạy học phức tạp, đa năng tức
là nó có thể được áp dụng vào nhiều phương pháp dạy học khác nhau, trong đóphương pháp xây dựng bài toán ơrixtic (tình huống có vấn đề) giữ vai trò chủđạo, gắn bó phương pháp khác tập hợp thành một hệ thống toàn vẹn
II.1.2.2 Mối quan hệ giữa dạy học nêu vấn đề và dạy học phân hoá
a Sự phân hoá trong dạy học nêu vấn đề.
Nói chung tính phân hoá nên có cho mọi hình thức dạy hoc Vì trong mỗi lớphọc, ngoài những đặc điểm chúng ta mỗi cá thể học sinh là một đối tượng riêngbiệt với mức độ tư duy khác nhau, với sự định hướng khác nhau Cho nên xuhướng dạy học mới phải khêu gợi, kích thích, đòi hỏi con người suy nghĩ, tìm tòi
và phát huy đến mức cao nhất Đối với dạy học nêu vấn đề, tính phân hoá của nólại càng cần thiết để phát huy ưu thế của nó Vì nếu vấn đề đưa ra không vừa sứchoặc khó khăn thì học sinh sẽ không được đặt vào tình huống có vấn đề để lôicuốn họ và việc tìm kiếm, phát hiện kiến thức nhanh Từ đó, học sinh sẽ thấyhọc tập như là một hướng ngại khó khắc phục Ngược lại vấn đề đưa ra quá dễ
sẽ gây cho học sinh nhàm chán, không kích thích tư duy tích cực của học sinh
Sự phân hoá trong dạy học nêu vấn đề được thể hiện ở hai hình thức:
- Phân hóa về mặt tổ chức của dạy học nêu vấn đề, đó là các mức độ củadạy học nêu vấn đề gồm: Thuyết trình nêu vấn đề, Đàm thoại nêu vấn đề,Nghiên cứu nêu vấn đề
- Phân hoá về nội dung và mức độ phức tạp của vấn đề nghiên cứu Mỗivấn đề nghiên cứu có thể được phân hoá thành các câu hỏi và bài tập có mức độkhó tăng dần để phù hợp với từng đối tượng và cá thể học sinh, đó là các mứcđộ:
+ Tái hiện kiến thức
Trang 7+ Phân tích - so sánh
+ Vận dụng sáng tạo kiến thức trong tình huống mới
b.Yếu tố nêu vấn đề trong dạy học phân hoá
Ưu điểm chính của dạy học nêu vấn đề là phát huy tính tích cực, tự lực tìm kiếmtri thức của học sinh thông qua quá trình hình thành kỹ năng phát hiện và giảiquyết vấn đề học tập Còn ưu điểm của dạy học phân hoá là vừa sức và sát đốitượng trong giáo dục Vai trò của dạy phân hoá và việc sử dụng các bài tập phânhoá sẽ được phát huy tính tích cực hơn nhiều nếu biết áp dụng các yếu tố củadạy học nên vấn đề Bởi vì, nếu như đặc tính nêu vấn đề của dạy học thúc đẩyhoạt động hoá tư duy của học sinh thì việc phân hoá trong dạy học sẽ tạo điềukiện thuận lợi để áp dụng dạy học nêu vấn đề vào việc nghiên cứu tài liệu và cả
những bài ôn tập tổng kết “nếu như tính vấn đề của việc dạy học làm hoạt động hoá nhận thức của học sinh, kích thích các trạng thái tâm lý như ham muốn hiểu biết và ham học hỏi thì việc phân hoá trong dạy học sẽ tạo điều kiện để sử dụng các cảm xúc tích cực này vào thực tiễn của quá trình dạy học” Và nếu
như trong dạy học truyền thống việc tổ chức giờ học chỉ giúp học sinh tái hiệnkiến thức, học thuộc nội dung chương trình SGK hoặc rèn luyện kỹ năng giảibài tập theo các mẫu bài quen thì việc tổ chức dạy học nêu vấn đề có sử dụngcác bài tập phân hoá trong giờ học sẽ dẫn học sinh vào tình huống mà học cầnkhái quát hoá kiến thức ở mức độ mới Kết luận mang tính suy luận trong phạm
vi toàn bộ chương trình và ở những bài mang tính chất nghiên cứu
II.2 THỰC TRẠNG CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI GIẢNG – BÀI TẬP THEO PHƯƠNG PHÁP PHÂN HÓA NÊU VẤN ĐỀ Ở CÁC
TRƯỜNG THPT
Phần lớn giáo viên chỉ xây dựng và thiết kế bài giảng một cách chung chungcho mức học sinh trung bình chứ chưa thực sự xây dựng và sử dụng một cáchphân loại bài giảng cho nhiều đối tượng học sinh,dẫn đến còn nhiều sự bất cậptrong quá trình nhận thức của học sinh Để giải quyết vấn đề trên tôi thấy rằng
việc: “ xây dựng - sử dụng hệ thống bài giảng và bài tập theo hướng phân
Trang 8hoá – nêu vấn đề để nâng cao hiệu quả giảng dạy phần phi kim hoá học 10 ”
là rất cần thiết
II.3 PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG BÀI GIẢNG VÀ BÀI TẬP THEO
HƯỚNG PHÂN HOÁ NÊU VẤN ĐỀ
II.3.1 Nguyên tắc xây dựng
II.3.1.1 Nguyên tắc chung
Trên cơ sở thực hiện việc phân hoá chất lượng học sinh (khả năng nhận thức và
tư duy) chúng ta có thể chuẩn bị hệ thống các bài giảng và bài tập với mức độkhác nhau
Đối với một bài giảng, tùy thuộc vào đối tượng dạy học chúng ta có thể thiết kếthành các mức độ khác nhau phù hợp với khả năng tư duy nhận thức của từngđối tượng HS
* Đối với mức độ thấp: tức là khả năng nhận thức và tự lập thấp Với đối tượng
này thì giáo viên nên sử dụng phương pháp :
- Phương pháp thuyết trình – giải thích để nhằm diễn giải nội dung dạy họcmột cách dễ hiểu nhất Hoặc sử dụng phương pháp thuyết trình thông báo
- Khi dạy các tiết luyện tập thì giáo viên nên đưa ra các bài tập cơ bản tươngđối dễ và hướng dẫn học sinh một cách cụ thể
- Sử dụng phương pháp trực quan (dùng thí nghiệm đơn giản dễ nhận thấynhư chứng minh các tính chất vật lý của các chất )
* Mức độ trung bình: Tức là năng lực nhận thức và khả năng tự lập trung bình.
Đối với đối tượng học sinh này thì giáo viên có thể sử dụng các phương pháp sau:
- Sử dụng các phương pháp thuyết trình tái hiện - thông báo và thuyết trìnhgiải thích để dạy các nội dung khó và phức tạp
- Sử dụng phương pháp trực quan (thí nghiệm ở mức độ đơn giản) với hìnhthức minh hoạ hoặc diễn dịch chỉ đòi hỏi trò hoạt động nhận thức thụ động, lờinói của thầy là nguồn thông tin chủ yếu
- Sử dụng phương pháp đàm thoại tái hiện vì phương pháp này chỉ đòi hỏi trò
nhớ lại và trả lời các câu hỏi do thầy đặt ra
Trang 9- Sử dụng phương pháp đàm thoại giải thích - minh họa có kèm theo thínghiệm Nội dung giải thích sẽ cấu tạo thành hệ thống câu hỏi - lời giải đáp.Như vậy sẽ giúp người học dễ nhớ hay rất phù hợp với đối tượng dạy học này Tóm lại với 2 đối tượng dạy trên thì vấn đề cơ bản là giáo viên phải tìm rađúng nguyên nhân học kém để có biện pháp xử lý thích hợp nhất, luôn khuyếnkhích, động viên, kiên trì giúp đỡ, đặc biệt là phải chú ý bồi dưỡng phương pháphọc tập, phương pháp tư duy, phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của họcsinh chứ không làm thay họ.
* Mức độ khá - giỏi: Tức là năng lực nhận thức và khả năng tự lập cao Do đặc
điểm về trình độ nhận thức khá cao nên đối với đối tưọng dạy học này giáo viênnên sử dụng các phương pháp sao cho có thể phát huy được tính tích cực nhậnthức của học sinh tức là phải hướng học sinh tích cực tự lực giành lấy kiến thứcbằng cách tìm hiểu, khám phá và giành sáng tạo Cụ thể, giáo viên nên sử dụngcác phương pháp sau:
- Rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học, tự lực làm việc độc lập với sáchgiáo khoa
- Đàm thoại nêu vấn đề, đặt học sinh vào các tình huống có vấn đề và hướngdẫn họ cách tự lực tìm ra phương hướng giải quyết
- Thí nghiệm theo hình thức qui nạp hoặc sử dụng thí nghiệm có tính chấtnghiên cứu
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu để giúp học sinh phát hiện một tính chấtmới, một khái niệm mới hoặc nghiên cứu một nội dung hay một vấn đề dướidạng bài tập nghiên cứu Muốn vậy giáo viên cần phải gây được động cơ hứngthú học tập của học sinh cũng như nhu cầu nhận thức của họ
- Bên cạnh đó có thể sử dụng phương pháp thuyết trình nêu vấn đề
Như vậy khi dụng các phương pháp trên áp dụng cho học sinh khá - giỏi thìkiến thức phải được trình bày trong dạng động, phát triển và mâu thuẫn vớinhau Các vấn đề quan trọng, các hiện tượng then chốt có lúc diễn ra mội cáchđột ngột, bất ngờ
Trang 10Tương tự, đối với nội dung của mỗi bài tập chúng ta thiết kế thành 3 vấn đềtheo ba mức độ với mục đích hướng đến việc phát triển khả năng tìm tòi tự học
và cụ thể hoá mức độ kiến thức của học sinh
* Vấn đề thứ nhất: (mức độ 1) cần hướng học sinh nêu ra đựơc các tínhchất riêng biệt của các tính chất ,các hiện tượng, cách lý giải những nguyên nhânđơn giản nhất, trình bày lại những kiến thức cơ bản dựa vào trí nhớ
* Vấn đề thứ hai: (mức độ 2) học sinh biết vận dụng kiến thức vào điềukiện mới, sử dụng kiến thức vào điều kiện thức tế Để hoàn thành vấn đề nàycần có sự phân tích so sánh để nêu ra được các điều kiện cơ bản đối với một sốlớn các chất, các hiện tượng
* Vấn đề thứ ba: (mức độ 3) là mức độ cao nhất trong ba mức độ, mức độnày yêu cầu không chỉ phân tích, so sánh mà còn khái quát hoá các số liệu thuđược sử dụng chúng trong điều kiện mới phức tạp hơn
II.3.1.2 Các kiểu phân hóa cụ thể đối với bài giảng và bài tập phân hoá
a Đối với các bài giảng, trên cơ sở mối quan hệ giữa mục đích nội dung phương pháp dạy học và các yếu tố chi phối phương pháp dạy học để thực hiệnphân hóa trong bài giảng hóa học phù hợp với đối tượng học sinh theo quy trìnhsau:
-* Nghiên cứu nội dung tài liệu sách giáo khoa
Trong suốt quá trình giảng dạy của một người giáo viên, để có được mộtbài dạy hay, lôi cuốn học sinh thì người giáo viên cần phải có một sự chuẩn bịchu đáo từ nhiều phía, trước tiên cần phải nắm rõ được mục tiêu và nội dung củabài dạy Muốn vậy người giáo viên không chỉ nghiên cứu kỹ nội dung tài liệusách giáo khoa mà còn phải tìm hiểu và nghiên cứu qua các tài liệu tham khảokhác có liên quan đến bài học đó Trên cơ sở đó giáo viên sẽ xác định được mụcđích cần dạy, cũng như nội dung cốt lõi, nền tảng bài đó là gì., từ đó lựa chọnphương pháp dạy học thích hợp nhất Quan trọng nhất đối với sự thành công của
Trang 11một bài lên lớp là sự kết hợp các phương pháp dạy học sao cho phù hợp với từngđối tượng học sinh.
Xác định chính xác những mục đích của bài học:
- Tìm hiểu những yêu cầu của chương trình: Những tài liệu tham khảo liênquan đến nội dung bài học Đánh giá kiến thức, kỹ năng, thái độ học tập cũngnhư trình độ năng lực nhận thức của từng đối tượng HS
- Từ đó xác định hệ thống những mục đích của bài
+ Yêu cầu về nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cần có
+ Yêu cầu về giáo dục tình cảm, thái độ, cách nhìn nhận đánh giá sự vật
+ Yêu cầu phát triển năng lực nhận thức như so sánh khái quát cũng như cáckhả năng sáng tạo, đổi mới
Xây dựng nội dung bài học
Từ mục đích giảng dạy giáo viên sẽ xây dựng nội dung bài học cụ thể:
-Xác định mục đích tư tưởng chính của bài
- Xây dựng mô hình cấu trúc nội dung bằng một sơ đồ Grap và xác định
rõ thời gian hợp lý tương ứng với nội dung, phân hoá nội dung dạy học sao chophù hợp với các đối tượng học sinh
* Xác định và phân loại đối tượng dạy học
- Giữa các lớp
- Trong một lớp
* Quy trình phân hóa
Trang 12Quy trình trên được cụ thể hoá qua bảng sau:
b/ Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm có lập luận Tức là lí thuyết vàthực nghiệm gắn bó với nhau làm sáng tỏ và sâu sắc bản chất, hiện tượng củacác quá trình hóa học Vì vậy phân hoá các bài tập hoá học có thể theo nguyêntắc khác nhau, theo đặc thù nguyên tắc khoa học
Bài tập lý thuyết: Là những bài tập chỉ dựa vào kiến thức lý thuyết loại này
phân hoá thành 3 mức độ:
- Mức độ 1: Tái hiện kiến thức lý thuyết
- Mức độ 2: Tái hiện và giải thích
- Mức đô 3: Vận dụng sáng tạo và suy luận linh hoạt kiến thức ở điều kiện mới
* Nội dung bài tập: Khái quát các nguyên tắc thu khí trên cơ sở tính chất vật
lý và đặc điểm cấu tạo
* Thiết kế theo kiểu phân hoá- nêu vấn đề
- Mức độ 1: Viết cấu hình electron của clo? ( Z=17)
- Mức độ 2: Từ cấu hình electron của clo nêu các số oxihoá có thể?
- Mức đô 3: Giải thích các số ôxi hoá của clo dựa vào cấu hình electron của clo?
Nhận xét: về mức độ phân hoá và tính chất phức tạp của vấn đề nghiên cứu
+ Ở mức độ 1: ở mức độ này chỉ yêu cầu học sinh tái hiện kiến thức cũkiến thức ở đây cần chính xác, chỉ cần học sinh hiểu cơ bản
+ Ở mức độ 2: Đòi hỏi khó hơn, ở mức độ này cần đòi hỏi học sinh không những hiểu mà còn phải biết dự đoán một số yếu tố khác từ các yếu tố cơ bản
Trang 13Là những bài tập có nội dung đòi hỏi học sinh phải có kỹ năng quan sát, giải thích hiện tượng, thực hiện những thao tác, thực hành.
* Thiết kế theo kiểu phân hoá- nêu vấn đề
- Mức độ 1: Tái hiện các bước của loại bài tập thực hành đó
- Mức độ 2: Vạch ra các công đoạn thực hành dựa trên sự hướng dẫn nhấtđịnh, dự đoán hiện tượng xảy ra và giải thích
- Mức độ 3: Học sinh tự vạch ra các công đoạn thực hành, dự đoán hiệntượng và giải thích
Ví dụ:
*Nội dung bài tập: Phân biệt các muối KCl, KBr, KI và chứng minh quy
luật hoạt động hoá học của các halogen?
* Thiết kế theo kiểu phân hoá- nêu vấn đề
Mức độ 1: Có 3 ống nghiệm đựng các muối KCl, KBr, KI
Hãy dùng phản ứng trao đổi để phân biệt 3 chất này Biết rằng AgCl kết tủatrắng, AgBr kết tủa vàng nhạt, AgI kết tủa màu vàng
Mức độ 2: Có 3 ống nghiệm đựng các muối KCl, KBr, KI Hãy đề xuất phươngpháp phân biệt các muối trên bằng cách tách các halogen ở dạng khí
Mức độ 3: Có 3 ống nghiệm đựng các muối KCl, KBr, KI Hãy nêu các phươngpháp nhận biết các muối trên Đề xuất quy trình nhận biết
Nhận xét về mức độ phân hoá và tính phức tạp của vấn đề nghiên cứu
+ Mức độ 1: Học sinh thực hiện các thao tác theo chỉ dẫn rõ ràng của giáoviên, theo đó để giải quyết yêu cầu của bài toán
+ Mức độ 2: Chỉ gợi ý hoá chất còn các bước thao tác và giải thích thì họcsinh tự tìm hiểu
+ Mức độ 3: Tự tìm hoá chất, các bước vạch ra quy trình và quá trình tiếnhành, mức độ này khó hơn mức độ 1, 2
Bài tập tổng hợp: Những bài tập này có thể phân hoá bằng cách: Phân hoá
theo mức độ giải quyết sự phức tạp hoá hoặc phức tạp hoá điều kiện bài toán
- Giảm sự phức tạp hoá hoặc phức tạp hoá yêu cầu bài toán