Năm 2009 là một năm “đáng nhớ” đối với ngành tôm Việt Nam. Khối lượng xuất khẩu đạt gần 210 nghìn tấn với kim ngạch đạt trên 1,67 tỷ USD, so với năm 2008, tăng 9,4% về khối lượng và 3% về giá trị. Trong các thị trường mà Việt Nam xuất khẩu sang thì Nhật Bản vẫn duy trì được vị trí nhập khẩu tôm số một nhưng năm 2009 lại là một năm “khá buồn” đối với nhiều nhà xuất khẩu tôm Việt Nam sang Nhật
Trang 1“ tác động của hiệp định song phương Việt- Nhật đến hoạt động xuất khẩu tôm của Việt Nam sang Nhật”
Trang 2CHƯƠNG I TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH SONG PHƯƠNG VIỆT - NHẬT ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT
KHẨU TÔM SANG THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN.
1.1.Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài.
Năm 2009 là một năm “đáng nhớ” đối với ngành tôm Việt Nam Khốilượng xuất khẩu đạt gần 210 nghìn tấn với kim ngạch đạt trên 1,67 tỷ USD, sovới năm 2008, tăng 9,4% về khối lượng và 3% về giá trị Trong các thị trường
mà Việt Nam xuất khẩu sang thì Nhật Bản vẫn duy trì được vị trí nhập khẩutôm số một nhưng năm 2009 lại là một năm “khá buồn” đối với nhiều nhàxuất khẩu tôm Việt Nam sang Nhật Sau quý I, xuất khẩu tôm sang thị trườngnày liên tục sụt giảm cho đến hết tháng 11 dẫn tới xuất khẩu cả năm giảm 3,3
% về khối lượng Nếu cứ giữ nguyên tình trạng trên, tôm Việt nam khó giữvững vị trí số một tại thị trường Nhật Bản Vì vậy cần tìm ra các giải pháp hữuhiệu để đẩy mạnh xuất khẩu tôm sang Nhật để giữ vững và củng cố vị trí củatôm Việt Nam trên thị trường này
Ngày nay, toàn cầu hoá diễn ra ngày càng mạnh mẽ Trong tiến trình
đó, Việt Nam đã chủ động tham gia hội nhập kinh tế quốc tế bằng việc ký kếtcác hiệp định song phương và đa phương nhằm tranh thủ những lợi ích màtoàn cầu hoá mang lại Gần đây nhất, Việt Nam đã ký kết thành công hiệpđịnh song phương với Nhật Bản Hiệp định được ký kết đã mở ra nhiều cơ hộicho tôm Việt Nam xuất khẩu sang Nhật nhờ việc giảm thuế nhập khẩu xuốngxấp xỉ 0% Đồng thời, hiệp định cũng gây ra nhiều khó khăn và thách thức chocác nhà xuất khẩu tôm Việt Nam Do đó, nghiên cứu về những tác động củahiệp định trên là vô cùng cấp thiết nhằm tận dụng được những cơ hội và khắcphục những hạn chế nhằm thúc đẩy xuất khẩu tôm sang Nhật Vì vậy, chúng
em chọn đề tài “ tác động của hiệp định song phương Việt- Nhật đến hoạtđộng xuất khẩu tôm của Việt Nam sang Nhật”, từ đó đề xuất những giải pháp
Trang 3phát triển xuất khẩu tôm Việt Nam Đề tài nghiên cứu là phù hợp với yêu cầuthực tế đề ra.
1.2 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu.
Xây dựng những nguyên tắc cơ bản trong phát triển xuất khẩu thuỷ sảnnói chung và đặc biệt đi sâu nghiên cứu những đặc điểm về thị trường NhậtBản về mặt hàng tôm nói riêng để có định hướng đúng đắn thúc đẩy hoạt độngxuất khẩu tôm Việt Nam sang Nhật
Tập trung đi sâu nghiên cứu thực trạng hoạt động xuất khẩu tôm sangthị trường Nhật Bản và đặc điểm về hoạt động nuôi trồng, chế biến tôm củaViệt Nam Qua đó, đưa ra những phát hiện nhằm đề xuất những giải pháp cótính hữu hiệu, thực thi cho phát triển xuất khẩu tôm cũng như xuất khẩu thuỷsản trong giai đoạn hội nhập hiện nay
1.3 Mục đích nghiên cứu.
Đề tài tập trung nghiên cứu về kết quả xuất khẩu tôm của Việt Namsang Nhật Bản trước khi ký kết hiệp định, thực trạng xuất khẩu hiện nay đểđánh giá tác động do hiệp định song phương mang lại những mặt tích cựccũng như những hạn chế mà các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Việt Nam còntồn tại và những yêu cầu mà thị trường Nhật Bản đặt ra Thông qua đó, đềxuất một số giải pháp về phía Nhà nước, các bộ nghành và các doanh nghiệpxuất khẩu tôm về nâng cao năng lực quản lý của Nhà nước, về khai thác vàphát triển nguồn nguyên liệu, xúc tiến thương mại với Nhật Bản và năng lựcthâm nhập thị trường của các doanh nghiệp xuất khẩu Như vậy, mục tiêunghiên cứu đó là tìm ra một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu tôm gắn liền vớicác điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta hiện nay
1.4 Phạm vi nghiên cứu.
Nghiên cứu thực trạng hoạt động xuất khẩu tôm của Việt Nam sangNhật Bản và những tác động do hiệp định song phương mang lại nhằm tìm ra
Trang 4Để có thể đánh giá tác động của hiệp định một cách chính xác, kháchquan, số liệu có liên quan đến hoạt động xuất khẩu tôm như kim ngạch xuấtkhẩu, giá cả, cơ cấu các mặt hàng,… được thu thập trong khoảng thời gian từnăm 2005 đến nay Từ đó, đề xuất các giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩucủa các doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2015.
1.5 Ý nghĩa nghiên cứu.
Đề tài nghiên cứu có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động xuất khẩu tômcủa các doanh nghiệp Việt Nam Từ việc đánh giá các cơ hội cũng như tháchthức mà doanh nghiệp Việt Nam gặp phải khi hiệp định chính thức có hiệu lựcnhằm đưa ra các đề xuất thúc đẩy xuất khẩu tôm trong thời gian tới, khắc phụcnhững hạn chế còn tồn tại
1.6 Kết cấu đề tài.
Ngoài phần tóm lược, lời cảm ơn, danh mục bảng biểu, danh mục từviết tắt, danh mục tài liệu tham khảo,… đề tài nghiên cứu gồm 4 chương:
Chương I Tổng quan đề tài nghiên cứu tác động hiệp định song
phương Việt-Nhật đến hoạt động xuất khẩu tôm của Việt Nam
Chương II Một số lý luận về xuất khẩu và Hiệp định song phương
Việt-Nhật
Chương III Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực
trạng tác động của hiệp định đến hoạt động xuất khẩu tôm của Việt Nam sangthị trường Nhật Bản
Chương IV Kết luận và những đề xuất nhằm thúc đẩy hoạt động xuất
khẩu tôm của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản
CHƯƠNG II MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
VÀ HIỆP ĐỊNH SONG PHƯƠNG VIỆT - NHẬT.
Trang 52.1 Lý luận chung về xuất khẩu
2.1.1 Khái niệm về xuất khẩu.
Xuất khẩu là một nội dung của hoạt động ngoại thương, trong đó hànghoá và dịch vụ được bán cho người nước ngoài nhằm thu được ngoại tệ, tạo rasức mạnh vật chất cho kinh tế của mỗi quốc gia và thoả mãn nhu cầu nhậpkhẩu, đồng thời tạo điều kiện cho phát triển cơ sở hạ tầng
Xuất khẩu là hoạt động trao đổi hàng hoá và dịch vụ cho nước ngoàidưới hình thức mua bán thông qua quan hệ hàng hoá - tiền tệ, quan hệ thịtrường nhằm mục đích lợi nhuận
2.2.1 Vai trò của hoạt động xuất khẩu đến nền kinh tế quốc dân.
a Vai trò chung
Xuất khẩu là nội dung chính của hoạt động ngoại thương và là hoạtđộng đầu tiên của thương mại quốc tế Do đó, nó có vai trò đặc biệt quan trọngtrong quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia cũng như toàn thế giới
Thứ nhất, xuất khẩu tạo vốn cho nhập khẩu CNH-HĐH với bước đi
thích hợp là con đường tất yếu để khắc phục tình trạng nghèo nàn, lạc hậu củamột quốc gia Để tiến hành CNH-HĐH đòi hỏi có lượng vốn lớn để nhập khẩumáy móc, thiết bị, kỹ thuật tiên tiến, hiện đại Nguồn vốn quan trọng nhất là từxuất khẩu, quyết định mọi quy mô, tốc độ phát triển của nhập khẩu
Thứ hai, xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, định hướng
sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất vàchuyển dịch cơ cấu kinh tế Một là, xuất khẩu chỉ tiêu thụ những hàng hoá dưthừa do sản xuất vượt quá nhu cầu trong nước Nếu như vậy thì quy mô xuấtkhẩu thấp và tăng trưởng chậm chạp Hai là, coi thị trường thế giới là hướngquan trọng để tổ chức sản xuất Điều này có tác động tích cực đến chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển
- Trong nền kinh tế, đầu vào của ngành này là đầu ra của ngành sản xuấtkhác Quan hệ kinh tế ở đây là tái sản xuất liên ngành, tức là quy mô, cơ cấu,hoạt động phát triển của ngành sản xuất này phụ thuộc vào các biến số trong
Trang 6sự phát triển của ngành sản xuất khác Do đó khi ngành này mở rộng, đẩymạnh xuất khẩu sản phẩm thì cũng đồng nghĩa với việc ngành sản xuấtnguyên liệu của ngành đó sẽ có điều kiện phát triển mạnh mẽ.
- Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, góp phần chosản xuất phát riển và ổn định
- Xuất khẩu tạo tiền đề kinh tế kỹ thuật, nhằm nâng cao năng lực sảnxuất trong nước hay nói cách khác tạo thêm vốn, kỹ thuật công nghệ tiên tiếnphục vụ cho hiện đại hoá ngành công nghiệp của đất nước
Thứ ba, xuất khẩu góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, tạo
thu nhập, tăng mức sống và thoả mãn nhu cầu của người Tác động của xuấtkhẩu đến đời sống bao gồm nhiều mặt Trước hết, sản xuất hàng xuất khẩu thuhút hàng triệu người lao động vào làm việc Bên cạnh đó, xuất khẩu còn tạonguồn vốn để nhập khẩu các vật phẩm tiêu dùng thiết yếu mà trong nước chưasản xuất hoặc sản xuất chưa đủ để đáp ứng nhu cầu của người dân
Thứ tư, xuất khẩu là điều kiện thúc đẩy và mở rộng quan hệ kinh tế đối
ngoại Xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại tác động qua lại và phụthuộc lẫn nhau Xuất khẩu là hoạt động cơ bản của kinh tế đối ngoại và tạođiều kiện thúc đẩy các quan hệ này phát triển Chẳng hạn, xuất khẩu thúc đẩyquan hệ tín dụng, đầu tư, vận tải…giữa các quốc gia Khi đó, các quan hệ kinh
tế đối ngoại này lại là điều kiện để mở rộng cho xuất khẩu
b Vai trò hoạt động xuất khẩu Tôm đ ối với Việt Nam.
- Tăng KNXK, thu ngoại tệ, tạo vốn nhập khẩu, phục vụ tiến trìnhCNH- HĐH nước nói chung và ngành thuỷ sản nói riêng
- Góp phần đẩy mạnh phát triển ngành thuỷ sản Việt Nam theo địnhhướng chiến lược đến năm 2010
- Tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi, kíchthích các ngành khác hoạt động nhiều hơn, mạnh hơn, thúc đẩy toàn bộ nềnkinh tế vận động theo xu hướng tốt Chẳng hạn kéo theo các ngành sản xuấtchế biến, công nghiệp bao bì, bưu chính viễn thông… phát triển nhằm phục vụnó
Trang 7- Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, vùng duyên hải venbiển, theo hướng đa dạng hoá nghề khai thác, hình thức nuôi trồng với nhiềuloại quy mô lớn, vừa, nhỏ, phù hợp với từng vùng sinh thái, kết hợp giữa tậptrung và phân tán, tận dụng mọi nguồn tài nguyên để khai thác và chế biến đạthiệu quả cao.
- Tác động tích cực đến việc giải quyết việc làm cho cư dân, cải thiệnđời sống cho những người dân sống bằng nghề tôm Do đặc điểm sử dụngnhiều lao động nên nó có vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm mang lạilợi ích xã hội to lớn như đảm bảo trật tự an ninh, giảm bớt tệ nạn xã hội
- Là cơ sở mở rộng và thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta,góp phần hội nhập thương mại khu vực và thế giới, nâng cao sức cạnh tranhcủa mặt hàng tôm, của nền kinh tế đối nội trên thị trường quốc tế Mặt khác,chính các quan hệ kinh tế đối ngoại kể trên lại tạo tiền đề cho mở rộng thịtrường xuất khẩu nói chung và xuất khẩu mặt hàng tôm nói riêng
Tóm lại, hoạt động xuất khâu tôm không những tạo nguồn thu ngoại tệphục vụ nhập khẩu, mà còn góp phần giải quyết việc làm, nâng cao đời sốngdân cư…
2.2 Hiệp định song phương Việt- Nhật và hoạt động xuất khẩu tôm của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản.
2.2.1 Khái niệm về hiệp định đối tác kinh tế.
Trước khi đi đến khái niệm hiệp định song phương, chúng em xin đưa
ra hai khái niệm có liên quan là hội nhập kinh tế và hiệp định thương mại tựdo
Theo quan niệm đơn giản nhất và phổ biến nhất trên thế giới, hội nhậpkinh tế là việc các nền kinh tế gắn kết lại với nhau Hội nhập kinh tế hiểu theomột cách chặt chẽ hơn, là việc gắn kết mang tính thể chế giữa các nền kinh tếvới nhau Nói một cách rõ hơn hội nhập kinh tế là quá trình chủ động thực
Trang 8hiện đồng thời hai việc: một mặt gắn nèn kinh tế và thị trường từng nước vớithị trường khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực thực hiện mở cửa, thúcđẩy tự do hóa nền kinh tế quốc dân, mặt khác gia nhập và góp phần xây dưngcác thể chế kinh tế khu vực và toàn cầu.
Hội nhập kinh tế có thể là song phương – tức là giữa hai nền kinh tếhoặc khu vực – tức là giữa một nhóm nền kinh tế hoặc đa phương – tức là cóquy mô toàn thế giới, giống như những gì mà tổ chức thương mại thế giớiđang hướng tới
Hiệp định thương mại tự do là hiệp định theo đó các nước ký cam kếtbãi bỏ thuế quan cho tất cả hoặc hầu như tất cả hàng hóa của nhau Có nhữngdòng thuế sẽ được bãi bỏ chậm hơn và người ta thường đưa các dòng thuế nàyvào “ danh sách nhạy cảm” Chỉ một số ít dòng thuế sẽ không được bãi bỏ vàđược liệt kê trong “danh sách loại trừ” Quy tắc xuất sứ là một phần quantrọng của các hiệp định thương mại tự do, nhằm đảm bảo chỉ những hàng hóađược sản xuất toàn bộ hoặc tối thiểu ở những tỷ lệ nhất định tại các nướcthành viên hiệp định mới được buôn bán tự do nhằm tránh tình trạng nướckhông tham gia hiệp định sử dụng cách tái xuất hoặc chỉ lắp ráp tại một nướctham gia hiệp định có thể xuất khẩu sang nước còn lại của hiệp định mà khôngphải chịu thuế
Hiệp định đối tác kinh tế là cấp độ hội nhập kinh tế sâu hơn hiệp địnhthương mại, theo nghĩa là ngoài là ngoài việc tự do hóa thương mại hàng hóathông qua bãi bỏ thuế quan và hàng rào phi thuế quan, lại còn bao gồm cả tự
do hóa dịch vụ, bảo hộ đầu tư, thúc đẩy thương mại điện tử giữa các nước kýkết hiệp định
Nhật Bản là quốc gia có xu hướng thích các hiệp định đối tác kinh tế vì
nó cho phép quốc gia này thâm nhập toàn diện vào các thị trường của nướcđối tác Hiện Nhật Bản đã kí kết 8 hiệp định đối tác kinh tế song phương vàmột hiệp định đối tác với ASEAN, đang đàm phán để ký kết 5 hiệp định khác,
Trang 9trong đó có Việt Nam Có 15 quốc gia, lãnh thổ đang có nguyện vọng đàmphán và ký kết hiệp định đối tác kinh tế với Nhật Bản.
2.2.2 Khái quát chung về hiệp định song phương Việt – Nhật.
Hiệp định song phương Việt – Nhật (JVEPA) là một hiệp định tự dohóa thương mại, dịch vụ, bảo hộ đầu tư và khuyến khích thương mại điện tửgiữa Việt Nam và Nhật Bản Đây là hiệp định tự do hóa thương mại songphương đầu tiên của Việt Nam và là hiệp định đối tác kinh tế thứ mười củaNhật Bản
Hai nước có ý định thành lập hiệp định này ngay từ năm 2005 và bắtđầu tiến hành đàm phán về hiệp định này từ tháng 1/ 2007, ngay sau khi ViệtNam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO)
Sau chín phiên đàm phán chính thức và nhiều phiên đàm phán khôngchính thức, hai bên đã hoàn tất thỏa thuận nguyên tắc vào tháng 9/2008 vàchính thức ký hiệp định vào ngày 25/12/22008
Qúa trình đàm phán được tóm tắt như sau:
Tháng 12/2005: tại phiên họp cấp cao Việt Nam – Nhật Bản, trongchương trình Hội nghị cấp cao Đông Á, hai bên đã thành lập ủy ban chung đẻbàn về việc thành lập hiệp định đối tác kinh tế giữa hai nước
Tháng 2/2006: Ủy ban nói trên họp phiên đầu tại Hà Nội
Tháng 4/2006: Ủy ban trên họp phiên thứ hai tại Tokyo
Tháng 1/2007: đàm phán chính thức lần tứ nhất, bắt đầu đàm phán vềnội dung hiệp định
Tháng 9/2008: đàm phán chính thức lần thứ 9 , kết thúc thỏa thuậnnguyên tắc
Ngày 25/12/2008: Lễ ký kết hiệp định diễn ra tại Tokyo, giữa Bộtrưởng Bộ Công nghiệp và Thương mại Việt Nam Vũ Huy Hoàng và Bộtrưởng Bộ Ngoại giao Nhật Bản Nakasone Hirofumi
Hiệp định đã ký kết nhưng còn phải chờ Quốc hội hai nước thông quamới có hiệu lực Ngày 13/8/2009 trong buổi hội thảo của doanh nghiệp hainước Việt Nam và Nhật Bản về Hiệp định đối tác kinh tế giữa hai nước(VJEPA) diễn ra tại TPHCM do Ban Xúc tiến Đầu tư – Hiệp hội Doanh
Trang 10Tài chính Việt Nam tổ chức, các chuyên gia của Bộ Công Thương và Bộ Tàichính Việt Nam trình bày các nội dung: “Việc giảm thuế nhập khẩu của ViệtNam và Nhật Bản”, “Thủ tục cấp giấy Chứng nhận nguồn gốc xuất xứ”; “Quytắc xuất xứ trong Hiệp định giữa Việt Nam- Nhật Bản về đối tác kinh tế” Kếtquả của buổi hội thảo là Việt Nam và Nhật Bản sẽ chính thức thực hiện việcgiảm thuế theo Hiệp định đối tác kinh tế giữa hai nước (VJEPA) vào đầutháng 10/2009.
2.2.3 Nội dung cơ bản của hiệp định song phương Việt – Nhật.
Theo cam kết của phía Nhật Bản, thuế suất bình quân đánh vào hànghóa của Việt Nam nhập khẩu vào Nhật Bản sẽ giảm dần xuống 2,8 % vào năm
2018 Nhật Bản cam kết sẽ giảm thuế suất cho 95% tổng số dòng thuế, trong
đó khoảng vài ngàn dòng thuế xuống 0% Nếu hiệp định được kí kết và cóhiệu lực ít nhất sẽ có 86% hàng nông thủy sản và 97% hàng công nghiệp xuấtsang Nhật được hưởng ưu đãi thuế Riêng đối với mặt hàng khoáng sản sẽđược hưởng thuế nhập khẩu là 0% ngay lập tức kể từ khi hiệp định có hiệulực Các mặt hàng tôm sẽ được giảm thuế nhập khẩu ròng xuống còn 1% đến2% ngay lập tức, còn các mặt hàng chế biến từ tôm được giảm xuống còn3,2% đến 5,3%, cũng ngay lập tức Mặt hàng mực đông lạnh được giảm xuốngcòn 3,5% trong vòng 5 năm Đây là mức cam kết cao nhất của Nhật Bản đốivới một nước thành viên ASEAN cho phép con người, vật phẩm, tiền vốn luânchuyển tự do dựa trên những nguyên tắc căn bản là hiệp định mậu dịch tự dogiữa hai nước
Theo thông tin từ Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam(VASEP), trong thời gian tới, các mặt hàng tôm xuất khẩu vào thị trường NhậtBản có thể được hưởng thuế suất 0% Ông Trương Đình Hòe – Tổng thư kýVASEP nhận định việc miễn thuế mở ra cơ hội lớn cho con tôm Việt Nam vàothị trường Nhật Bản Theo đó, tôm Việt Nam sẽ là lựa chọn ưu tiên của cácnhà nhập khẩu trong năm tới Đặc biệt, tôm là mặt hàng chiếm KNXK chínhtrong nhóm hàng thủy sản với tổng giá trị kim ngạch trong năm 2009 đạt 1,5
Trang 11tỷ USD, chiếm gần 40% tổng GTXK thủy sản của Việt Nam Hiện nay, NhậtBản cũng đang gia tăng nhập khẩu tôm TCT, chiếm 18% khối lượng tôm nhậpkhẩu.
Trong khi đó, thuế suất bình quân đánh vào hàng của Nhật Bản vào ViệtNam sẽ giảm còn 7% vào năm 2018 Khoảng 88% tổng số dòng thuế nhậpkhẩu từ Nhật Bản vào Việt Nam sẽ được giảm trong vòng 10 năm và 93%tổng số dòng thuế được giảm trong vòng 16 năm Các linh kiện sản xuất mànhình phẳng và DVD sẽ được giảm thuế suất nhập khẩu xuống còn 3% trongvòng 2 năm Máy ảnh kỹ thuật số sẽ được giảm xuống 10% trong vòng 4 năm,tivi màu sẽ được giảm còn 40% trong vòng 8 năm Thuế suất nhập khẩu từNhật Bản vào đối với các linh kiện sản xuất ôtô như hộp số sẽ được giảmxuống còn 10% đến 20% trong vòng 10 năm, động cơ và các linh kiện sảnxuất động cơ ôtô sẽ được giảm xuống còn 3% đến 12% trong vòng 15 năm.Các mặt hàng thếp tấm cũng là đối tượng được giảm thuế suất nhập khẩu,xuống còn 0% đến 15% trong vòng 10 năm
Một nội dung khác trong hiệp định là việc Nhật Bản hỗ trợ Việt Namxây dựng và phát triển ngành công nghiệp phụ trợ Trên thực tế nội dung này
đã được hai bên triển khai Điều đó giúp cho hàng hóa Việt Nam không chỉ làcác sản phẩm gia công mà còn là hàng hóa có chất lượng cao để xuất khẩusang thị trường Nhật Bản và các nước khác
Tuy nhiên, vì đây là một hiệp định đối tác kinh tế toàn diện chứ khôngđơn thuần là một hiệp định thương mại tự do nên ngoài việc hàng hóa còn códịch vụ cũng sẽ được tự do hóa Đầu tư của nước này vào nước kia cũng sẽđược bảo hộ và còn nhiều nội dung hợp tác kinh tế khác
2.3 Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới
Trước khi chúng em tiến hành nghiên cứu đề tài này đã có rất nhiều đềtài khoa học, công trình nghiên cứu và các bài viết có liên quan đến xuất khẩuthuỷ sản Việt Nam ra thị trường thế giới Có thể kể đến các công trình như:
Trang 12- Đề án “Những giải pháp về thị trường cho sản phẩm thuỷ sản xuấtkhẩu của Việt Nam” Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ/ PGS-TS:Võ ThanhThu chủ biên…
- Đề án “ Một số giải pháp vượt rào cản kỹ thuật và dịch tễ trong xuấtkhẩu hàng thuỷ sản nước ta vào thị trường Hoa Kỳ” Đề tài nghiên cứu khoahọc cấp bộ/ Doãn Kế Bôn chủ nhiệm, Nguyễn Đức Khiên - trường Đại họcThương Mại (2006)
- Đề tài “ Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng thuỷ sản ViệtNam sang thị trường Nhật Bản” Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường/Dương Hoàng Anh- Đại học Thương Mại (2004)
…
Trong đề án “ Những giải pháp về thị trường cho sản phẩm thuỷ sảnxuất khẩu của Việt Nam”, tác giả đã đề cập đến thực trạng xuất khẩu thuỷ sảnViệt Nam qua các thị trường lớn như: Mỹ, Nhật, EU…, nghiên cứu nhữngnhân tố tác động đến khả năng duy trì và mở rộng thị trường xuất khẩu thuỷsản Qua đó nhận diện thị trường xuất khẩu chủ lực Đ ồng thời, tác giảcũng đề xuất những giải pháp để giữ vững và gia tăng KNXK thuỷ sản trêntừng thị trường cụ thể
Còn trong đề án “ Một số giải pháp vượt rào cản kỹ thuật và dịch tễtrong xuất khẩu hàng thuỷ sản nước ta vào thị trường Hoa Kỳ”, tác giả đãphân tích toàn diện thị trường thuỷ sản Hoa Kỳ từ nhu cầu của người tiêudung, tình hình cung ứng các sản phẩm thuỷ sản, giá cả đến những yêu cầu kỹthuật và VSATTP Đồng thời, đề án cũng nhận định tình hình xuất khẩu thuỷsản của Việt Nam tại thị trường này cả về phía thành tựu cũng như hạn chế,đặc biệt là hạn chế trong việc đáp ứng những kỹ thuật và VSATTP Từ đó tácgiả đã đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm vượt qua nhũng hạn chế đó, đẩymạnh xuất khẩu hàng thuỷ sản của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ
Ngoài ra, còn rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề xuất khẩu thuỷsản của Việt Nam Tuy nhiên, các đề án trên mới chỉ tập trung phân tích tìnhhình xuất khẩu cũng như đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu đối
Trang 13với mặt hàng thuỷ sản nói chung, chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể vềhoạt động xuất khẩu tôm của Việt Nam Hầu hết các công trình nghiên cứuđều tiến hành trước thời điểm hiệp định được ký kết Do đó đều chưa phảnánh được chính xác và kịp thời những biến động của môi trường kinh doanh
và sự thay đổi của những nhân tố tác động đến xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam.Đặc biệt là những tác động của hiệp định song phương Việt - Nhật vừa mớiđược ký kết giữa hai nước đến hoạt động xuất khẩu tôm sang thị trường Nhật
Bản Vì vậy đề tài nghiên cứu “ Tác động của hiệp định song phương Việt
-Nhật đến hoạt động xuất khẩu tôm của Việt Nam sang -Nhật ” mà chúng em
đang nghiên cứu đảm bảo tính thực tiễn, tính thời sự và không trùng lặp so vớicác đề tài trước đó
2.4 Kinh nghiệm xuất khẩu tôm của một số nước khác vào thị trường Nhật Bản.
Các nước xuất khẩu tôm hàng đầu vào Nhật Bản là Inđônêsia, Ấn Độ,Trung Quốc, Thái Lan… Các nước trên đều tập trung vào một mặt hàng làtôm nên nhìn chung có nhiều điểm tương đồng Vậy bí quyết gì khiến cho cácnước này có thể giành được vị trí cao trong xuất khẩu tôm vào thị trường NhậtBản so với những đối thủ khác? Đó chính là những kinh nghiệm thâm nhập vàphát triển thị trường của riêng từng nước Dưới đây là kinh nghiệm của banước: Trung Quốc, Thái Lan, Inđônêsia mà Việt Nam cần nghiên cứu và họchỏi
2.4.1 Trung Quốc.
Hiện nay Trung Quốc đứng thứ 5 trong danh sách các nước xuất khẩutôm vào Nhật Bản với kim ngạch 15 triệu JPY Trung Quốc cũng mới chỉhướng xuất khẩu thuỷ sản sang Nhật Bản trong vài năm gần đây nhưng đã đạtđược những thắng lợi nhất định nhờ áp dụng hàng loạt các chính sách và biệnpháp phát triển sản xuất cũng như thâm nhập và mở rộng thị trường
Về sản xuất, hàng năm chính phủ Trung Quốc đã bỏ ra một khoản tiềnkhá lớn để đầu tư cho ngành đánh bắt và nuôi tôm Các cơ sở sản xuất, lai tạo
Trang 14giống của Trung Quốc đã lai tạo thành công nhiều giống tôm có năng suất cao,chất lượng tốt, có khả năng thoả mãn cao nhu cầu của không chỉ thị trườngNhật Bản mà nhiều thị trường khác như Mỹ, EU… Trung Quốc đã tận dụngtriệt để các tiềm năng và ngồn lực sẵn có của Nhà nước và nhân dân để tậptrung vào sản xuất Cùng với đó là chính sách cho vay vốn với mức lãi suất ưuđãi để nông dân có vốn đầu tư phát triển các vùng nuôi trồng tôm Nhờ vậy
mà Trung Quốc đã trở thành nước có sản lượng nuôi trồng lớn hơn sản lượngđánh bắt và hình thành được nguồn cung cấp nguyên liệu lớn với giá rẻ, phục
vụ cho xuất khẩu
Ngoài ra, chính phủ Trung Quốc còn có những chính sách hỗ trợ tíndụng cho các doanh nghiệp xuất khẩu để giúp các doanh nghiệp này có đủ vốn
để đầu tư vào kinh doanh và thâm nhập vào thị trường Nhật Bản sâu và rộnghơn Quan trọng hơn, điều làm cho con tôm Trung Quốc dễ dàng đi vào thịtrường Nhật Bản hơn là các doanh nghiệp đã đề ra các chến lược marketingkhá đa dạng, có sự thay dổi nhanh chóng, phù hợp với sự thay đổi nhu cầu củathị trường này, nhất là trong điều kiện nền kinh tế có sự biến động mạnh nhưhiện nay
2.4.2 Inđônêsia.
Inđônêsia hiện nay là nước xuất khẩu tôm lớn nhất vào thị trường NhậtBản, KNXK ở mức trên dưới 55 triệu JPY một năm Nhờ có hệ thống dâychuyền công nghệ cùng với những kho bảo quản hiện đại, Inđônêsia có khảnăng sản xuất ra nhiều loại sản phẩm đa dạng về chủng loại, chất lượng đảmbảo tốt cả trước-trong và sau chế biến Do đó, giá trị gia tăng trong mỗi mộtđơn vị sản phẩm gia tăng
Cùng với chất lượng cao thì những sản phẩm của Inđônêsia thường cóbao bì rất đẹp và thường xuyên được đổi mới nên được người tiêu dùng NhậtBản ưa chuộng Ngoài ra, các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu củaInđônêsia ý thức được sự phức tập trong khâu phân phối của thị trường nàynên đã lựa chọn nhiều phương thức để đưa hàng hoá của mình vào Nhật như:
Trang 15xuất khẩu trực tiếp, liên doanh liên kết với các công ty bản xứ, bán hàng trênmạng… Hơn thế nữa, một số tập đoàn lớn của Inđônêsia đã có văn phòng đạidiện tại Nhật Bản để giúp họ tuyên truyền, quảng bá về sản phẩm của công tyđến với người tiêu dùng Nhật Bản Đồng thời, các công ty lại thu thập cácthông tin về nhu cầu thị trường, ý kiến phản hồi của khách hàng để có nhữngchỉnh sửa cho phù hợp Đó cũng là những cách làm để các doanh nghiệp ViệtNam học tập và áp dụng.
2.4.3 Thái Lan.
Thái Lan hiện nay là nước xuất khẩu tôm lớn thứ tư vào Nhật Bản Cácsản phẩm tôm của Thái Lan xuất sang Nhật bao gồm cả những sản phẩm caocấp và những sản phẩm cấp trung bình phục vụ nhu cầu tiêu dùng của mọitầng lớp dân cư Sự thành công của các doanh nghiệp Thái Lan trước hết xuấtphát từ chỗ các doanh nghiệp đã tiến hành phân đoạn thị trường Nhật Bản mộtcách chính xác Do việc nghiên cứu và tìm hiểu kĩ về nhu cầu, thị hiếu tiêudùng mặt hàng tôm trên thị trường Nhật Bản, các doanh nghiệp xuất khẩu tômcủa Thái Lan đã phát hiện ra rằng bên cạnh những sản phẩm có chất lượng caophục vụ cho những đối tượng có thu nhập cao, thị trường cũng rất cần nhữngsản phẩm tôm đã chế biến các sản phẩm cấp trung bình để đáp ứng nhu cầucủa những đối tượng có thu nhập trung bình và thấp Chính vì vậy họ đã sảnxuất các mặt hàng tôm đã qua chế biến, giá cả không cao lắm, phù hợp với thunhập của tầng lớp này
Một điều nữa là do ý thức rõ thị hiếu của người Nhật Bản là ưa chuộngnhững sản phẩm đa dạng, mẫu mã phong phú nên các doanh nghiệp xuất khẩuThái Lan đã không ngừng thay đổi mẫu mã bao bì sản phẩm Nhờ vậy sảnphẩm tôm của Thái Lan dần có chỗ đứng trên thị trường Nhật Bản được coi làthị trường rất khó tính
Trang 162.4.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Từ kinh nghiệm xuất khẩu tôm thành công vào thị trường Nhật Bản củacác nước trên có thể rút ra một số bài học cho Việt Nam như sau:
Thứ nhất, cần có sự quan tâm thích đáng đến nguồn nguyên liệu phục
vụ cho hoạt động xuất khẩu Giữa các bộ, ngành, doanh nghiệp xuất khẩu vànhững người nuôi trồng và chế biến phải có sự phối hợp nhịp nhàng để đảmbảo chất lượng nguồn nguyên liệu, đáp ứng được được nhu cầu của thị trườngNhật Bản
Thứ hai, cần có chiến lược xuất khẩu ở cả cấp độ vĩ mô và vi mô, trong
đó chiến lược vĩ mô là cơ sở, chiến lược vi mô là động lực để đẩy nhanh hoạtđộng xuất khẩu
Thứ ba, cần đầu tư hơn nữa cho ngành chế biến thuỷ sản nói chung vàchế biến tôm nói riêng nhằm đảm bảo việc sản xuất ra được nhiều loại sảnphẩm có chất lượng cao, giảm chi phí sản xuất hay nói cách khác là tăng sứccạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, nhất là trong điều kiện cạnh tranhtrên thị trường Nhật Bản gay gắt như hiện nay
Thứ tư, phải nghiên cứu kĩ nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng tôm của thịtrường cũng như sự thay đổi của nó để có những chiến lược kinh doanh chophù hợp Đặc biệt là phải có chiến lược đối với tôm có kích cỡ nhỏ khi mà thịtrường Nhật Bản còn ít quan tâm đến tôm loại này
Thứ năm, không ngừng thay đổi mẫu mã, đa dạng hoá phương thứcphân phối tôm vào thị trường Nhật Người tiêu dùng Nhật ưa thích những sảnphẩm đa dạng về chủng loại và phong phú về mẫu mã nên điều đó là rất quantrọng
Trang 17CHƯƠNG III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU TÔM
CỦA VIỆT NAM SANG NHẬT BẢN.
3.1 Phương pháp hệ nghiên cứu vấn đề.
3.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu.
Có thể chia ra hai loại tài liệu là tài liệu sơ cấp và tài liệu thứ cấp Do đócũng có hai phương pháp thu thập dữ liệu là thu thập dữ liệu sơ cấp và thuthập dữ liệu thứ cấp
a Thu thập dữ liệu sơ cấp.
Là cách thu thập tài liệu ban đầu mà người nghiên cứu tự thu thập thôngqua phỏng vấn trực tiếp hoặc các nguồn tài liệu cơ bản, còn ít hoặc chưa được
xử lý Người nghiên cứu cần phải tổ chức, thiết lập phương pháp để ghi chép,thu thập số liệu
Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp bao gồm: lập phiếu điều tra vàphỏng vấn trực tiếp Phương pháp lập phiếu điều tra là một bảng câu hỏi vàcác câu trả lời được sắp xếp theo một logic nhất định Bảng câu hỏi gồm dạng
mở, đóng hoặc kết hợp
Tuy nhiên, ở đây chúng tôi sử dụng hầu hết là phương pháp phỏng vấntrực tiếp Ở đây chúng tôi tiến hành xin ý kiến các chuyên gia, cụ thể ở đây làlấy ý kiến của các nhà lãnh đạo một số doanh nghiệp xuất khẩu tôm, củangười quản lý các bộ, ban ngành về xuất khẩu thuỷ sản, các chuyên viên củacục kiểm tra VSATTP, và của chính những người dân tham gia nuôitôm….Từ đó có những được số liệu ban đầu, phục vụ cho quá trình nghiêncứu
Trang 18qua báo kinh tế,tạp chí thương mại, các trang web tin cậy như trang Web củatổng cục thống kê, của Bộ thuỷ sản, để từ đó đưa ra các kết luận và đề xuấtcác giải pháp phù hợp.
3.2.2 Phương pháp phân tích dữ liệu.
a Phương pháp phân tích thống kê
Phương pháp này sử dụng các số liệu thống kê thích hợp từ kết quả thuthập dữ liệu thứ cấp để phân tích và đánh giá khái quát thực trạng kim ngạchxuất khẩu tôm của Việt Nam sang Nhật, đánh giá cung và cầu về tôm trên thịtrường Nhật Bản…
so sánh ta biết được giá tôm vào thị trường Nhật có xu hướng tăng hay giảmtrong thời gian qua hay là về cơ cấu mặt hàng thì mặt hàng nào xuất khẩunhiều nhất…
Tất cả các phương pháp trên đều dựa trên quan điểm duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử để phân tích, đánh giá và dự báo cho các vấn đề nghiên cứu.Phương pháp duy vật biện chứng thể hiện ở việc nghiên cứu hoạt động xuấtkhẩu tôm trong mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản, đồngthời xem xét trong mối quan hệ đầu tư, quan hệ chính trị, văn hoá- xã hội giữahai nước Còn phương pháp duy vật lịch sử lại dựa trên chuỗi sự kiện diễn ratrong giai đoạn từ năm 2000 đến nay để đưa ra những nhận xét và khái quátthành những quy luật biến đổi, phù hợp với tình hình hiện nay
3.2.Những nhân tố môi trường ảnh hưởng tới xuất khẩu tôm của Việt Nam.
3.2.1 Môi trường tự nhiên và sự hình thành, phát triển các vùng nuôi trồng, sản xuất, chế biến tôm xuất khẩu.
Trang 19Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố như vị trí địa lý, khí hậu, đấtđai, tài nguyên thiên nhiên sông, biển…luôn là yếu tố quan trọng hàng đầuảnh hưởng đến kết quả sản xuất, chế biến và xuất khẩu tôm Tuy nhiên, muốnkhai thác triệt để các lợi thế của môi trường tự nhiên để phục vụ cho sản xuất,chế biến tôm xuất khẩu thì cần phải có định hướng về sự phát triển vùngnguyên liệu.
Ngoài ra, phát triển vùng nguyên liệu tập trung đối với các sản phẩmtôm xuất khẩu còn tạo điều kiện cho đầu tư đồng bộ từ cơ sở hạ tầng, đường
xá, giao thông…đến công nghệ chế biến, bảo quản và hệ thống tiêu thụ sảnphẩm Trên cơ sở đó mới tạo ra khối lượng hàng hóa, có chất lượng cao, đápứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
3.2.2 Chất lượng mặt hàng tôm.
Chất lượng tôm là nhân tố quan trọng trong việc xuất khẩu Giá trị củasản phẩm tôm sẽ được nâng cao hơn khi qua các khâu sản xuất, chế biến Mặtkhác, tôm là động vật tươi sống nên việc chế biến sớm bao nhiêu thì giá trịcàng được nâng cao và ngược lại
Ngoài ra sản phẩm tôm nước ta muốn thâm nhập vào thị trường thế giớithì sản phẩm cần phải được sản xuất, chế biến theo một số tiêu chuẩn chấtlượng đã được công nhận như: Hệ thống tiêu chuẩn ISO 900, ISO 14000,
3.2.3 Giá cả.
Đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu của doanh nghiệp vàtốc độ chu chuyển hàng hóa Định giá mặt hàng tôm thấp trong một số trườnghợp sẽ làm tăng sức cạnh tranh, thu hút khách hàng Nhưng định giá thấp sẽảnh hưởng tới doanh thu và hiệu quả kinh doanh do giá bán không bù đắp chiphí sản xuất Ngoài ra còn gây ra những bất lợi: làm giảm giá trị hàng hóa,người tiêu dùng nghi ngờ chất lượng sản phẩm Nhưng định giá quá cao trongkhi chất lượng sản phẩm tôm chưa thật tốt sẽ làm cho sản phẩm tôm mất sứccạnh tranh Do đó cần đưa ra một mức giá phù hợp
3.2.4 Thị hiếu tiêu dùng và nhu cầu về tôm của người dân Nhật.
Trang 20Nhật Bản ngày nay là một thị trường mở, quy mô lớn với số dân 127,8triệu dân (tính đến tháng 9 năm 2006) có mức sống khá cao (GDP theo đầungười năm 2006 là 35.7557 USD/người) Thị hiếu tiêu dùng của người NhậtBản bắt nguồn từ truyền thống văn hoá và điều kiện kinh tế, nhìn chung họ có
độ thẩm mỹ cao, tinh tế do có cơ hội tiếp xúc với nhiều loại hàng hóa dịch vụtrong và ngoài nước
Nhật Bản được coi là một trong những thị trường đòi hỏi cao về chấtlượng sản phẩm Xét về mặt chất lượng, người tiêu dùng Nhật Bản có yêu cầukhắt khe nhất Họ đặt ra những tiêu chuẩn đặc biệt chính xác về chất lượng, độbền, độ tin cậy và sự tiện dụng của sản phẩm Họ sẵn sàng trả giá cao hơn mộtchút cho những sản phẩm có chất lượng tốt Bởi vậy cần có sự quan tâm đúngmức tới khâu hoàn thiện, vệ sinh sản phẩm
Người tiêu dùng Nhật Bản ưa chuộng sự đa dạng của sản phẩm: Hànghóa có mẫu mã đa dạng phong phú thu hút được người tiêu dùng Nhật Bản.Vào một siêu thị của Nhật Bản mới hình dung được tính đa dạng của sảnphẩm đã phổ biến đến mức nào ở Nhật Bởi vậy nhãn hiệu hàng có kèm theonhững thông tin hướng dẫn tiêu dùng là rất quan trọng để đưa hàng của cácdoanh nghiệp tới người tiêu dùng
Tại Nhật Bản, thuỷ sản là món ăn không thể trong bữa ăn của ngườiNhật.Bình quân tiêu thụ thuỷ sản đầu người của Nhật đạt 72kg/người/năm,cao hơn so với Mỹ chỉ đạt 68kg/người/năm và của Việt Nam là13,8kg/người/năm Mặc dù là thị trường tôm lớn thứ hai sau Mỹ nhưng tiêuthụ tôm theo đầu người của Nhật đạt hơn 2,5kg trong khi Mỹ chỉ đạt 1,9 kg
Đó là do thói quen tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản và nghệ thuật chế biến món ăn
từ thuỷ sản có từ lâu đời của người dân Nhật Bản Trong đó, tôm sushi là món
ăn truyền thống được yêu thích nhất, thường được tiêu thụ nhiều vào dịp cuốinăm và những ngày Tết hay dịp lễ hội Bon trong tháng 8 Trong tương laiNhật Bản vẫn tiếp tục nhập khẩu tôm với khối lượng lớn
3.2.5 Các quy định pháp lý
Trang 21Tôm nhập khẩu không bị hạn chế bởi quota nhập khẩu nhưng lại chịu
sự chi phối của Luật kiểm dịch và Luật vệ sinh thực phẩm
Luật kiểm dịch quy định tôm nhập khẩu từ nước có nguy cơ dịch tả sẽphải kiểm dịch Nếu phát hiện thấy vi khuẩn hàng sẽ bị huỷ hoặc trả lại
Nhãn hiệu hàng hoá: Luật vệ sinh thực phẩm yêu cầu sản phẩm phải cóđầy đủ các thông tin sau:
- Tên sản phẩm
- Hạn sử dụng
- Tên, địa chỉ nhà sản xuất ( hoặc nhà nhập khẩu)
- Tên chất phụ gia nếu có
- Cách bảo quản
- Hãng nhập khẩu (nếu là nhập khẩu)
- Xuất xứ
- Ngoài ra còn kích cỡ, trọng lượng bao gói
Thuế nhập khẩu thường ở mức 4% (với nước thành viên WTO là 1%)
3.2.6 Tiêu chuẩn về tôm xuất khẩu vào thị trường Nhật.
Tôm tươi sống, ướp đá được phân phối qua nhà bán buôn, do đó cầnchú ý tới việc giao hàng sớm Trong thực tế, chi phí lưu thông cộng thêm cướcphí vận chuyển bằng máy bay có thể đội giá hàng lên rất cao Ta có thể lựacách bỏ qua chợ bán buôn mà thoả thuận trực tiếp với nhà phân phối và bán
lẻ
Việc kiểm dịch chất lượng hàng hoá nhất là thực phẩm tươi sống đượcNhật Bản tiến hành rất chặt chẽ Người ta cũng tiến hành kiểm tra xem trongtôm còn có hàm lượng chất tẩy trắng hay chất kháng sinh kháng khuẩn thừahay không
Hầu hết tôm đông lạnh được vận chuyển bằng tàu biển, thời gian nàyphải tính đến lãi suất chi phí lưu kho trong khi chờ đợi để giải quyết hàng
Các nhà xuất khẩu cũng nên nhận thức rằng thị trường Nhật rất khắt khevới chất lượng sản phẩm và các tiêu chuẩn liên quan Phải đảm bảo rằng hàngđáp ứng được yêu cầu của thị trường về kích cỡ cũng như độ tươi, phải đảmbảo đã mua đủ bảo hiểm phòng những rủi ro có thể xảy ra
Tôm nhập khẩu với số lượng dưới 10kg thì được miễn làm thủ tục kiểmdịch theo Luật vệ sinh thực phẩm Hàng nhập khẩu từ Việt Nam là nước bị coi
Trang 22là có nguy cơ dịch tả cần phải hoàn tất thủ tục kiểm dịch trước khi nhập khẩuvào Nhật để tránh mất thời gian, làm ảnh hưởng tới chất lượng hàng
3.3 Thực trạng hoạt động xuất khẩu tôm sang thị trường Nhật Bản.
3.2.1 Kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam sang Nhật.
Tôm là mặt hàng đạt giá trị cao nhất trong tổng KNXK thuỷ sản củaViệt Nam sang Nhật Bản Trong mấy năm gần đây(2001-2004), nhập khẩutôm của Nhật Bản từ Việt Nam có xu hướng tăng Đặc biệt là vào năm 2004,lượng tôm Việt Nam xuất khẩu vào Nhật tăng đột biến Việt Nam trở thànhnhà cung tôm lớn thứ hai tại Nhật Bản
Bảng 3.1: Kim ngạch xuất khẩu tôm Việt Nam sang Nhật giai đoạn
Nhưng đến năm 2005, cả KNXK và GTXK đều giảm nhẹ, khoảng 0,8%
về khối lượng và 0,7% về giá trị Sự sụt giảm này chủ yếu là do nhu cầu nhậpkhẩu tôm của Nhật Bản có sự thay đổi khá lớn Họ tăng cường nhập khẩu tôm
cỡ trung bình, tôm chế biến giá trị gia tăng và tôm TCT trong khi tôm của ViệtNam chủ yếu là tôm cỡ lớn và tôm sú
Năm 2006, GTXK tăng lên 571,292 triệu USD, tăng 10,32 % so vớinăm 2005 Nguyên nhân là do Việt Nam đã có một số điều chỉnh về cơ cấutôm xuất khẩu cũng như các biện pháp xúc tiến thương mại giữa 2 nước Việt
Trang 23Nam- Nhật Bản Năm 2007 là một năm đầy khó khăn đối với xuất khẩu thuỷsản của Việt Nam nói chung cũng như đối với mặt hàng tôm nói riêng vào thịtrường Nhật Bản KNXK giảm 16,2% tương ứng với 5% về GTXK vì cónhiều doanh nghiệp xuất khẩu vi phạm luật VSATTP sửa đổi của Nhật Cụ thểnhư sau:
Từ 29/5/2006 Nhật đã áp dụng Luật VSATTP mới, có thể nói là rất khắtkhe, trong đó có yêu cầu loại kháng sinh chloramphenicol, nitrofurans-AOZ
và một số loại khác không được phép tồn tại trong thực phẩm được nhập khẩuvào Nhật Bản Đây là điểm mấu chốt nhất của vấn đề
Việc Nhật Bản làm mạnh vấn đề dư lượng kháng sinh đối với thựcphẩm nhập khẩu, theo tôi chủ yếu là do quy định của luật rất khắt khe, trongkhi đó, hàng XK của ta có nhiều lô vi phạm Hàng của các nước khác cũng có
vi phạm và cũng bị siết chặt kiểm tra
Từ tháng 11/2006, cơ quan chức năng Nhật Bản ban hành lệnh mới,chuyển mức độ kiểm tra từ 50% các lô hàng tôm nhập khẩu từ Việt Nam sanglệnh kiểm tra 100% Nếu tình hình không được cải thiện, lệnh cấm nhập khẩutôm từ Việt Nam sẽ được ban hành Do đó có rất nhiều lô hàng của Việt Nam
đã bị trả lại do phát hiện ra dư lượng chất kháng sinh trong đó Vì vậy KNXKtrong năn 2007 sụt giảm mạnh Tuy nhiên, trên thị trường Nhật Bản giá tômlại tăng do nguồn cung tôm từ Việt Nam cũng như các nước khác (Ấn Độ,Thái Lan, Inđônêsia) đều khan hiếm, làm cho GTXK chỉ giảm 5% trong khiKNXK giảm tới 16,2%
10 tháng đầu năm 2009, xuất khẩu tôm của Việt Nam sang Mỹ và Nhậtgiảm mạnh, nhưng sang các thị trường khác lại tăng đáng kể Theo tin từVASEP, 10 tháng qua, toàn ngành đã xuất khẩu được trên 170 nghìn tấn tômcác loại, trị giá khoảng 1,35 tỉ USD, tăng 7,4 % về khối lượng và giá trị so vớicùng kỳ năm trước Tuy nhiên, trong ba thị trường truyền thống của tôm ViệtNam là Mỹ, Nhật và EU thì chỉ có EU là tăng trưởng dương với mức tăng22,2% về khối lượng, đạt gần 33 nghìn tấn và 15% về giá trị, đạt trên 228,4