Lựa chọn mô hình saocho phù hợp với điều kiện tự nhiên của rừng U Minh và thị hiếu của du khách._ Đưa ra mô hình thiết kế du lịch sinh thái rừng U Minh và các biện pháp quản lí chất thải
Trang 2I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Vấn đề môi trường đang là một vấn đề bức xúc của toàn thế giới Tuy nhiên, ởViệt Nam khái niệm môi trường và bảo vệ môi trường vẫn còn rất mới mẻ vàkhông được mọi người quan tâm Do đó, cần có những biện pháp và chương trìnhgiáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho người dân Du lịch sinh thái là một biệnpháp rất hữu hiệu Thông qua du lịch mọi người có thể nhận biết được giá trị củatài nguyên thiên nhiên và từ đó nâng cao được ý thức bảo tồn
II MỤC TIÊU
_ Khai thác được tiềm năng du lịch của U Minh
_ Đem lại nguồn lợi kinh tế cho người dân
_ Giúp cho người dân nhận thực được tầm quan trọng của tài nguyên thiênnhiên và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường
_ Quản lí tài nguyên thiên nhiên hợp lí
III NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI
_ Kết quả đạt được sau khi khảo sát, điều tra bao gồm các điều kiện tự nhiên,điều kiện kinh tế, xã hội và tiềm năng du lịch sinh thái tại rừng U Minh Cà Mau _ Trình bày một số mô hình thiết kế mà các tác giả trước đã làm Từ đó suy ramô hình thiết kế cho khu du lịch sinh thái rừng U Minh Lựa chọn mô hình saocho phù hợp với điều kiện tự nhiên của rừng U Minh và thị hiếu của du khách._ Đưa ra mô hình thiết kế du lịch sinh thái rừng U Minh và các biện pháp quản
lí chất thải pháp sinh từ hoạt động du lịch
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1)Phương pháp luận:
Trang 3Sự phát triển bền vững kinh tế, xã hội nói chung và bất kì ngành kinh tế nàocũng cần đạt ba mục tiêu cơ bản là bền vững kinh tế, bền vững tài nguyên và môitrường, bền vững về văn hóa và xã hội.
_ Sự bền vững tài nguyên và môi trường đòi hỏi khai thác, sử dụng tàinguyên để đáp ứng cho nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đápứng nhu cầu của các thế hệ tương lai Điều này được thể hiện qua việc sử dụngtài nguyên một cách hợp lí, đảm bảo đa dạng sinh học, không có những tác độngtiêu cực đối với môi trường
_ Đối với văn hóa, xã hội thì sự phát triển bền vững cần đảm bảo đem lạilợi ích lâu dài cho xã hội như tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phầnnâng cao mức sống của người dân và ổn định xã hội Đồng thời giữ gìn bản sắcvăn hóa dân tộc
Du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng đã và đang phá triển nhanhchóng trên phạm vi toàn thế giới, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế, bảotồn các giá trị văn hóa và có tác động đến mọi khía cạnh về tài nguyên và môitrường Trong xu thế phát triển ngày nay thì du lịch sinh thái ngày càng được sựquan tâm của nhiều người Bởi đó là một loại hình du lịch có trách nhiệm vớithiên nhiên và loại hình duy nhất hỗ trợ đắc lực cho công tác bảo tồn thiên nhiên,giữ gìn các giá trị văn hóa bản địa, phát triển cộng đồng, góp phần tích cực vào sựphát triển du lịch nói riêng và phát triển kinh tế xã hội nói chung
4.2)Phương pháp cụ thể:
_ Tham khảo, tổng hợp các tài liệu lý thuyết
_ Tìm kiếm một số mô hình thiết kế của các tác giả trước đã làm
_ Khảo sát hiện trạng, đi thực tế, điều tra, chụp hình tại U Minh
_ Tổng hợp các kết quả thu được Từ đó đưa ra mô hình thiết kế chung dựatrên các tài liệu đã thu thập được
Trang 4_ Lập phiếu điều tra thị hiếu của du khách gồm 17 câu hỏi được hỏi trong 50người Từ đó, suy ra được thị hiếu của du khách bao gồm thời gian lưu trú, sởthích, mục đích du lịch của du khách Trên cơ sở đó đưa ra mô hình phù hợp.
Trang 6I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ DU LỊCH SINH THÁI
1.1)Khái niệm du lịch sinh thái:
Du lịch sinh thái là một khái niệm tương đối mới và đã nhanh chóng thu hútđược sự quan tâm của nhiều người hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau Đâylà một khái niệm rộng, được hiểu theo nhiều cách khác nhau từ những góc độ tiếpcận khác nhau
Một số khái niệm về du lịch sinh thái theo quan điểm của những nước khácnhau:
_ Theo hiệp hội du lịch sinh thái Hoa Kì năm 1998 thì: “Du lịch sinh tháilà du lịch có mục đích với các khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịchsử tự nhiên của môi trường, không làm biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồngthời ta có cơ hội để phát triển kinh tế, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợiích tài chính cho cộng đồng địa phương.”
_ Theo hiệp hội du lịch sinh thái Australia thì: “ du lịch sinh thái là mộthình thức du lịch dựa vào thiên nhiên và định hướng về môi trường tự nhiên vànhân văn, được quản lí một cách bền vững và có lợi cho sinh thái.”
_ Riêng ở Việt Nam, trong lần hội thảo về xây dựng chiến lược phát triển
du lịch sinh thái ở Việt Nam từ ngày 7-9/9/1999 đã đưa ra định nghĩa về du lịchsinh thái: “du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào tự nhiên và văn hóa bảnđịa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triểnbền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương.”
Cho đến nay, khái niệm du lịch sinh thái vẫn còn được hiểu dưới nhiều gócđộ khác nhau, với những tên gọi khác nhau Tuy nhiên, có thể nói du lịch sinhthái là loại hình du lịch có những đặc điểm sau:
_ Loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên phát huy giá trị tài nguyên
_ Loại hình du lịch hướng tới giáo dục môi trường
Trang 7_ Loại hình du lịch mang lại nhiều nguồn lợi kinh tế và cải thiện phúc lợicho cộng đồng.
_ Loại hình du lịch phải chú trọng bảo tồn tài nguyên thiên nhiên
1.2)Du lịch sinh thái là công cụ quản lí môi trường:
Du lịch sinh thái không chỉ đem lại lợi ích cho cộng đồng địa phương mà nócòn là một công cụ để quản lí môi trường:
_ Du lịch sinh thái làm kích thích lòng yêu mến thiên nhiên và từ đó thôithúc được ý thức bảo tồn và phát triển tài nguyên thiên nhiên nhằm ngăn ngừacác tác động tiêu cực lên tự nhiên và xã hội
_ Du lịch sinh thái là một phương pháp giáo dục cộng đồng hữu hiệu vàtrực tiếp Thông qua các hoạt động du lịch, du lịch sinh thái giúp du khách hiểuđược những hoạt động của con người có tác động như thế nào đối với môi trườngvà sự khai thác bừa bãi làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên sẽ gây hậu quảnghiêm trọng như thế nào Từ đó, họ sẽ có ý thức điều chỉnh hợp lí, không sửdụng lãng phí tài nguyên thiên nhiên
_ Du lịch sinh thái giúp cộng đồng địa phương nhận biết được giá trị củatài nguyên bản xứ Từ đó sẽ nâng cao ý thức bảo tồn hướng tới phát triển bềnvững
1.3)Qui hoạch, thiết kế du lịch sinh thái:
1 3.1)Các yêu cầu cần thiết lựa chọn một khu vực để phát triển du lịch sinh thái:
Một khu vực được ưu tiên lựa chọn để phát triển du lịch sinh thái cần phảicó một số yêu cầu sau:
_ Có cảnh quan tự nhiên đẹp, hấp dẫn cùng với sự phong phú, độc đáocủa giá trị văn hóa bản địa, có tính đại diện cho một vùng
Trang 8_ Có tính đại diện cao cho một hoặc vài hệ sinh thái điển hình, với tính
đa dạng sinh học cao, có sự tồn tại của những loài sinh vật đặc hữu có giá trị khoahọc, có thể dùng làm nơi tham quan nghiên cứu
_ Gần với những khu du lịch khác trong vùng để có thể tổ chức một tour
du lịch trọn gói, trong đó khu vực được qui hoạch là một điểm du lịch sinh thái nổibật và quan trọng
_ Có những điều kiện đáp ứng được các yêu cầu của hoạt động du lịchsinh thái về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật…và có thể tiếp cận một cách dễdàng, thuận lợi
1.3.2 Các nguyên tắc của qui hoạch và thiết kế du lịch sinh thái:
Du lịch sinh thái là loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc thù làm đốitượng phục vụ cho khách du lịch yêu thiên nhiên, thưởng ngoạn cảnh quan haynghiên cứu hệ sinh thái Vì vậy, những nơi để phát triển du lịch sinh thái thườnglà những khu bảo tồn thiên nhiên, rừng phòng hộ Tuy nhiên, sự có mặt của khách
du lịch tại những nơi đây tác động đến sự cân bằng sinh thái, ảnh hưởng đến tàinguyên thiên nhiên Do đó, để có thể kết hợp hài hòa giữa mục tiêu kinh tế vàbảo vệ môi trường, hướng tới phát triển bền vững ti khi qui hoạch và thiết kế dulịch sinh thái cần tuân thủ 4 nguyên tắc sau:
* Yếu tố sinh thái môi trường:
Khu du lịch sinh thái cần phải đại diện cho một loại hình sinh tháinhất định, có đủ sức hấp dẫn khách du lịch Mặt khác, chúng ta cần xem xét thật
kĩ lưỡng đến các chỉ tiêu khác chứ không thể qua loa như các loại hình du lịchkhác như khả năng tự làm sạch của hệ sinh thái, khả năng gánh chịu tải lượng ônhiễm , khả năng chịu sức ép của du khách của một số thành phần môi trườngchủ yếu trong hệ sinh thái…
Trang 9* Yếu tố thẩm mĩ sinh thái:
Những vấn đề về thẩm mĩ sinh thái trong du lịch sinh thái cần phảiđược nêu ra và giải quyết trọn vẹn trước khi qui hoạch và triển khai hành động.Nếu thẩm mĩ sinh thái bị phá hoại thì du khách sẽ dễ chán và bỏ đi Nhưng nếumuốn tăng sự hấp dẫn thì phương pháp tốt nhất là làm phong phú hơn các loạihình du lịch Điều này lại dẫn đến sự xâm hại đến mỹ quan sinh thái Do đó, cầnphải xem xét thật kĩ các yếu tố này
Các biện pháp để đảm bảo mĩ quan sinh thái:
_ Dự tính và khống chế lượng rác do du khách và người phục vụthải ra, không để rác xả bừa bãi trong khu du lịch
_ Phân loại khách du lịch nghiên cứu , thưởng ngoạn hay vui chơi.Thậm chí kể cả xác định lượng khách tối đa cho mỗi lần tham quan để không gâyxáo trộn mĩ quan sinh thái, số người quá đông sẽ làm giảm sự hứng thú nghiêncứu, thưởng thức, tính thiên nhiên
* Yếu tố kinh tế:
Việc xác định lợi ích kinh tế của du lịch sinh thái không chỉ dựa vàotổng thu nhập mà còn phải chịu nguyên tắc chi trả phí tài nguyên và phí sinh thái
Ví dụ, nếu chặt một cây thì phải trả phí giá trị tài nguyên của cây đó, cùng vớiphí làm cảnh quan môi trường ở đó xuống cấp Mặt khác, du lịch sinh thái cũngnhằm mục đích nâng cao đời sống kinh tế của cư dân bản địa nên cũng cần tínhđến việc huấn luyện dân địa phương biết chuyên môn về sinh thái du lịch, tạocông ăn việc làm cho họ
* Yếu tố xã hội:
Khi biến một khu bảo tồn hoăc rừng phòng hộ thành một khu du lịchsinh thái cần xem xét đến vấn đề là những tập tục sinh hoạt, truyền thống vănhóa của cư dân địa phương bị du khách, nhất là những du khách chưa có ý thứccao làm xáo trộn, tổn hại Do đó, cần phải gắn hoạt động của du lịch với việc
Trang 10nâng cao nhận thức xã hội cho các cư dân địa phương Vì vậy cần khai thác trêntheo cơ cấu du lịch sinh thái như sau:
_ Tăng cường nỗ lực bảo vệ lợi ích của du lịch sinh thái ở khu vựcđó bằng cách mời đại diện địa phương tham gia vào các dự án bảo tồn khu vực
_ Tôn trọng nền văn hóa bản địa
_ Sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên tại khu du lịch mộtcách bền vững và có hiệu quả
_ Hạn chế tối đa những tác động môi trường do rác và các chấtthải gây nên, làm mất vẻ mỹ quan của khu du lịch và gây ô nhiễm môi trường tạinhững nơi khai thác du lịch sinh thái
_ Tận dụng các hình thức tiếp thị, kích thích các nhu cầu của dukhách tìm về khu du lịch đó
_ Đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên du lịch sinh thái để có thể hiểubiết sâu sắc về văn hóa, lịch sử và các vấn đề về kinh tế – xã hội tại địa phương,nhất là kiến thức về sinh thái
_ Tránh buôn bán các loài động thực vật thuộc phạm vi khu dulịch Tăng cường số lượng động vật bằng cách thả vào đó những động vật đặctrưng, có thể kiểm soát
_ Tìm hiểu những nội qui và cách thức bảo vệ cho một khu du lịch._ Qui hoạch hệ thống giao thông, tránh tạo ra quá nhiều đường sákhông cần thiết, tránh gây ra những tác động xấu đối với môi trường do hoạt độnggiao thông đem lại
_ Tạo khoảng cách an toàn đối với những loài động vật trong khuvực
Trang 11II HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI Ở
VIỆT NAM 2.1)Các loại hình du lịch sinh thái ở Việt Nam:
Nước Việt Nam có nhiều danh lam thắng cảnh từ rừng xanh sâu thẳm đếnbiển cả êm đềm Bên cạnh đó còn có những nét tín ngưỡng đặc sắc, những di tíchkhảo cổ, di tích văn hóa lịch sử… gợi lên trí tò mò, ham hiểu biết của con người.Tất cả tạo nên một nước Việt Nam rất gần gũi, độc đáo nhưng lại rất hiền hòa,duyên dáng, là điểm du lịch sinh thái đầy hấp dẫn, quyến rũ du khách trong vàngoài nước Nhưng mỗi nơi, mỗi vẻ thích hợp cho từng loại hình du lịch sinh tháitừ tham quan, nghiên cứu, học tập đến hội họp và giải trí
Các loại hình du lịch sinh thái ở Việt Nam hiện nay:
2.1.1)Du lịch dã ngoại, tham quan, giải trí:
Đây là loại hình phục vụ khách du lịch thuần túy đơn giản là tìm về vớithiên nhiên, nơi có không khí trong lành, tươi mát Du khách đến đây để được hòaminh với thiên thiên hoang dã, rừng xanh suối mát, bãi biển mênh mông, thư giãntâm hồn sau những ngày làm việc và học tập vất vả Loại hình du lịch này thu hútmọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, du khách trong và ngoài nước
2.1.2)Du lịch tìm hiểu,nghiên cứu theo chuyên đề sinh thái, lịch sử, khảo cổ, văn hóa :
Loại hình này dành cho các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học, sinhviên học sinh…Du khách tham gia loại hình này thường đến các khu bảo tồn thiênnhiên có hệ sinh thái đặc biệt, có các loài động thực vật quí hiếm hay các khu ditích lịch sử, các khu di sản văn hóa
2.1.3)Du lịch hội nghị, hội thảo:
Là các khu du lịch sinh thái thu hút các nhà đầu tư thế giới hoặc cácnhà nghiên cứu đến để bàn luận về các vấn đề mà cả thế giới đang quan tâm và
Trang 122.1.4)Du lịch về thăm chiến trường xưa:
Loại hình du lịch này dành cho du khách là những chiến sĩ đã từngsống, chiến đấu trong chiến tranh Sau một thời gian muốn trở vế nơi xưa để ônlại những kỉ niệm một thời Hoặc những du khách ngưỡng mộ cuộc chiến đấu củadân tộc, đến đây để được nghe kể về những cuộc chiến đấu và chiến công hiểnhách của quân dân ta
2.1.5)Du lịch sinh thái rặn san hô:
Là một loại hình du lịch khá mới mẻ, có tính hấp dẫn cáo và thu đượcnhiều lợi nhuận Việc tận dụng các rặn san hô cho phát triển du lịch sinh thái làhình thức bảo tồn không chỉ cho các tảng đá san hô mà còn cho cả những sinh vậtbiển sống nhờ các bãi đá này
2.2)Tình hình phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam:
Chính sự phát triển nhanh của ngành du lịch nên Việt Nam cũng đang tậptrung đẩy mạnh du lịch và có những bước đầu tư để đa dạng các loại hình du lịchđặc biệt là du lịch sinh thái Do đó, du lịch sinh thái đã trở thành ngành côngnghiệp không khói đang được nhà nước quan tâm đầu tư phát triển vừa để bảo vệhệ sinh thái vừa phát triển bền vững Tuy nhiên,trong quá trình phát triển cũnggặp không ít khó khăn, thử thách
2.2.1)Thuận lợi:
_ Nước Việt Nam ta có vị trí thuận lợi được thiên nhiên ưu đãi, có rừng,có núi, có sông biển giàu đẹp với hệ sinh thái đa dạng, phong phú, đặc trưng tậptrung các loài động thực vật quí hiếm được ghi vào sổ đỏ thế giới hoặc có những
di sản văn hóa thế giới Ngoài ra, còn có các đình chùa, di tích lịh sử, di tích khảocổ, lễ hội…
_ Nhà nước tiếp tục nâng cấp các khu bảo tồn thiên nhiên thành vườnquốc gia để tạo điều kiện cho sự phát triển của du lịch sinh thái
2.2.2)Khó khăn:
Trang 13_ Tại các khu bảo tồn thiên nhiên, công việc xây dựng các khu vực theotừng chức năng chưa được rõ ràng, chi tiết, cụ thể.
_ Việc xây dựng cơ sở vật chất như đường sá, nhà nghỉ… chưa đáp ứngđầy đủ các nhu cầu ngày càng cao của du khách
_ Thiếu nguồn nhân sự về chuyên môn, quản lí
_ Thiếu nguồn vốn đầu tư trong nước cũng như nước ngoài cho việc quihoạch các dự án khu du lịch và công tác xây dựng hệ sinh thái rừng ở các khu dulịch sinh thái
_ Chưa có luật về du lịch sinh thái
_ Đầu tư vào phát triển cho việc bảo tồn và chăm sóc các khu du lịchsinh thái chưa ngang tầm với nhiệm vụ được giao
_ Thiếu sự tư vấn để kêu gọi đầu tư phát triển, nghiên cứu khoa học vàtổ chức khoa học trong và ngoài nước để phục vụ cho việc bảo tồn và phát triểncác hệ sinh thái rừng cũng như hoạt động du lịch sinh thái
_ Thu nhập của cán bộ, nhân viên phục vụ khách du lịch, nhân viên bảovệ và chăm sóc còn thấp
_ Người dân có trình độ dân trí thấp lại nghèo nàn, lạc hậu
_ Lực lượng kiểm lâm còn ít so với diện tích rừng quá lớn ở các khu dulịch sinh thái hiện nay
_ Qui hoạch và phát triển du lịch mà không phá vỡ các cảnh quan thiênnhiên hiện chưa được quan tâm đến tác hại sau này
2.3)Định hướng phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam:
2.3.1)Phát triển các loại hình du lịch sinh thái:
Các khu du lịch sinh thái ở Việt Nam có hệ sinh thái đa dạng, phongphú và mang nhiều sắc thái độc đáo Do đó, tùy theo điều kiện mà tổ chức hướngdẫn, giới thiệu các loại hình du lịch sinh thái phù hợp
2.3.2) Phát triển các tuyến điểm du lịch sinh thái:
Trang 14Các tuyến du lịch được tổ chứa dựa vào vị trí địa lí của các khu du lịchsinh thái có giá trị gần nhau hay thuận tiện giao thông
2.3.3)Phát triển du lịch sinh thái tại các khu bảo tồn thiên nhiên:
Các khu bảo tồn thiên nhiên là nơi tập trung cao về sự đa dạng sinhhọc Do đó, những nơi này sẽ được tập trung để phát triển du lịch sinh thái
2.3.4) Phát triển các đại lí, các nhà điều hành tour du lịch:
Phát triển các đại lí du lịch khắp nơi trong nước, tăng cường quảng cáo,giới thiệu và phát triển các nhà điều hành tour du lịch cho khách nước ngoài tạicác thành phố lớn
2.3.5) Phát triển mạng lưới thông tin liên lạc và phương tiện giao thông:
Tăng cường các loại xe hiện đại có máy lạnh, tàu cao tốc và cả máybay với thủ tục đơn giản, dễ dàng, tin cậy
Phát triển mạng lưới thông tin liên lạc, mở rộng vùng phủ sóng điệnthoại trên toàn quốc, đưa internet về đến vùng sâu, vùng xa
2.3.6)Nâng cao các dịch vụ phục vụ hoạt động du lịch sinh thái:
Nâng cao trình độ nghiệp vụ và quản lí đối với các nhân viên, hướngdẫn viên du lịch và các nhà điều hành tour, giáo dục thái độ văn minh lịch sự, vuivẻ, hòa nhã cho nhân viên để thu hút khách du lịch và tạo cảm giác thoải mái chohọ
2.3.7)Phát triển cộng đồng:
Phát triển du lịch sinh thái cần có sự tham gia của cộng đồng địaphương Tăng thu nhập kinh tế, tạo công ăn việc làm cho người dân địa phươngnhằm làm giảm các hoạt động phá hoại môi trường vì nguồn lợi kinh tế như phárừng, khai thác gỗ trái phép…
III TỔNG QUAN VỀ CÀ MAU
3.1)Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên:
Trang 15Cà Mau là tỉnh tận cùng phía Nam của nước Việt Nam, được tách ra từ tỉnhMinh Hải tháng 1 năm 1997 Hình dạng Cà Mau giống chữ V, có 3 mặt giáp biển
* Tọa độ địa lí:
+ Điểm cực Nam 8o30’ vĩ độ Bắc
+ Điểm cực Bắc 9o33’ vĩ độ Bắc
+ Điểm cực Đông 105o24’ kinh Đông
+ Điểm cực Tây 104o43’ kinh Đông
* Ranh giới lãnh thổ:
+ Phía Bắc giáp tỉnh Kiên Giang
+ Phía Nam giáp biển Đông
+ Phía Đông giáp tỉnh Bạc Liêu
+ Phía Tây giáp vịnh Thái Lan
Trang 16BẢN ĐỒ ĐỊA LÝ TỈNH CÀ MAU
* Diện tích:
Diện tích tự nhiên tỉnh Cà Mau là 5.211 km2, bằng khoảng 13,1% diệntích ĐBSCL và bằng 1,57% diện tích của cả nước
* Về hành chính:
Cà Mau được chia thành 8 tỉnh và 1 thành phố
Bảng 1: Diện tích, dân số và đơn vị hành chính tỉnh Cà Mau
STT Tên đơn vị hành chính Diện tích
(Nguồn niên giám thống kê Cà Mau năm 2004)
3.1.2)Khí hậu - thủy văn:
* Điều kiện chung:
Khí hậu Cà Mau mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa cậnxích đạo, có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô
+ Mùa mưa: từ tháng 5 đến tháng 11
+ Mùa khô: từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau
* Nhiệt độ không khí:
+ Nhiệt độ trung bình năm là 26,5oC
+ Nhiệt độ trung bình cao nhất năm là 27,6oC (vào khoảng tháng 4),nhiệt độ trung bình thấp nhất năm là 25oC (vào khoảng tháng 1)
* Chế độ mưa:
Trang 17+ Lượng mưa tập trung chủ yếu vào mùa mưa (chiếm 90% tổng lượngmưa cả năm).
* Độ ẩm không khí:
+ Độ ẩm tương đối trung bình năm là 85,9%
+ Độ ẩm cao nhất trên 90% (tháng 9,10), độ ẩm thấp nhất là 80%(tháng 3)
* Lượng bốc hơi trung bình năm vào khoảng 1022 mm/năm
* Chế độ gió:
Hướng gió ở đây hoàn toàn không chịu sự chi phối của địa hình Chế độhoàn lưu mùa đã quyết định chế độ gió
+ Gió mùa hạ: từ tháng 06 đến tháng 09, hướng gió ưu thế là Tây vàTây Nam với tần suất tương đương, chiếm khoảng 70%
+Gió mùa mùa Đông : từ tháng 11 đến tháng 04 năm sau, hướng gióchính vào mùa đông là gió Đông Tần suất trung bình là 43% Tháng 05 là thời kỳchuyển tiếp giữa hai mùa từ gió mùa mùa Đông sang gió mùa mùa Hạ, xuấthiện gió Tây Nam 59% và Đông Bắc 41%
Tháng 10 là thời kỳ chuyển tiếp từ gió mùa mùa Hạ sang gió mùa mùaĐông Ngoài chế độ gió hoàn lưu trong khu vực lớn,Cà Mau còn có chế độ gióđịa phương:gió đất, gió biển do sự chênh lệch khí áp giữa lục địa và biển trongngày
Mùa gió chướng Đông Bắc (vào khoảng tháng 10 – 4) thường gây ratình trạng dâng triều làm ngập và xâm nhập mặn vào sâu trong các vùng có địahình trũng
* Thủy văn:
Chế độ thủy triều Cà Mau chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ bán nhậttriều không đều biển Đông và chế độ nhật triều không đều biển Tây Triều Đông
Trang 18có khuynh hướng đẩy nước vào, còn triều bên vịnh Thái Lan có khuynh hướng hútnước ra.
Chế độ thủy văn của hệ thống sông rạch chịu ảnh hưởng trực tiếp củatriều quanh năm, với nhiều cửa sông rộng thông ra biển Phía ngoài cửa sông, ảnhhưởng của thủy triều mạnh, càng vào sâu trong nội địa biên độ triều càng giảm,vận tốc lan triều trên sông rạch nhỏ dần Thông qua hệ thống sông ngòi, kênhrạch nối liền nhau tạo thành những dòng chảy đan xen trong nội địa, hình thànhnên những vùng đất ngập nước và môi sinh đặc trưng
3.2)Điều kiện xã hội:
3.2.1)Dân số:
_ Dân số trung bình của tỉnh Cà Mau là 1.200.000 người Có 20 dân tộckhác nhau sinh sống trên địa bàn tỉnh Cà Mau gồm:
+ Người Kinh chiếm 97,16%
+ Người Khơme chiếm 1,86%
+ Còn lại là người Hoa và các dân tộc ít người khác_ Mật độ dân số trung bình của tỉnh Cà Mau là 230 người/km2, thấp hơnmật độ dân số trung bình cả nước và các tỉnh trong khu vực Thành phố Cà Maucó mật độ dân số cao nhất với 797 người/km2, kế đến là huyện Cái Nước 357người/km2 và Trần Văn Thời 273người/km2, mật độ dân cư thấp là huyện U Minh
120 người/km2 và Ngọc Hiển 109 người/km2
_ Tốc độ tăng dân số trung bình 1,6%/năm, tỉ lệ nữ chiếm 50,9% dân số _ Dân số đô thị toàn tỉnh hiện nay là 20%, trong đó thành phố Cà Mau có tỉlệ dân đô thị là 65%
_ Số người trong độ tuổi lao động là 730.000 người, chiếm 60% dân số.Chất lượng lao động của tỉnh xét theo học vấn và chuyên môn kĩ thuật còn thấp.Số lao động được đào tạo và lao động có tay nghề, kĩ thuật khoảng 110.000người, chiếm 18% so với lực lượng lao động Trong đó, sơ cấp, học nghề 30.000
Trang 19người; trung học chuyên nghiệp 15.000 người; cao đẳng, đại học, trên đại học6.500 người; còn lại là lao động có kĩ thuật, tay nghề
Bảng 2: dân số tỉnh Cà Mau phân theo đơn vị hành chính
STT Tên đơn vị hành chính Dân số
4 Huyện Trần Văn Thời 191.718
(Nguồn niên giám thống kê Cà Mau năm 2004)
3.2.2)Tình hình an toàn trật tự xã hội:
Tỉnh Cà Mau rất quan tâm chỉ đạo công tác bài trừ các tệ nạn xã hội, côngtác giáo dục tuyên truyền nâng cao ý thức quần chúng
Riêng đối với ngành du lịch, công tác an ninh trật tự đảm bảo an toàn cho các dukhách được chú tâm thực hiện, được lên kế hoạch phối hợp với sở Du Lịch TỉnhCà Mau
Lực lượng công an tỉnh kết hợp với các cơ quan chức năng, thực hiện tốtcông tác bảo vệ tuyệt đối an toàn cho người nước ngoài, Việt Kiều đến địa bàntỉnh Cà Mau, không để các đối tượng tội phạm gây mất trật tự với người nướcngoài Cơ quan chức năng giải quyết nhanh.Gọn các thủ tục, hồ sơ tạo điều kiệnthuận lợi cho người nước ngoài, Việt Kiều trong việc đi lại, tạm trú và các hoạtđộng khác đảm bảo đúng qui định của Nhà Nước
Trang 20Nhìn chung tình hình trật tự an toàn xã hội 3 năm qua (1999-2001) chưa cótrường hợp vụ việc gì gây thiệt hại tài sản và tính mạng đối với khách nướcngoài đến du lịch, thăm thân nhân và làm ăn kinh tế trên địa bàn tỉnh Cà Mau.
Cà Mau là tỉnh có công tác an ninh trật tự an toàn xã hội tốt, số lượng ănxin rất ít, hiếm có cảnh xin đểu, bám lấy khách… như ở thành phố Hồ Chí Minh
3.3)Cơ sở hạ tầng:
3.3.1)Giao thông vận tải:
* Đường thủy:
Hệ thống giao thông đường thủy tỉnh Cà Mau có 1.886 sông, kênh, rạchvới tổng độ dài gần 6.000 km
Có trên 88.000 phương tiện giao thông đường thủy gồm:
+ 6.414 chiếc vận tải hàng hóa, 2.920 chiếc vận chuyển hành kháchcó trọng tải từ 10 người trở lên
+ 78.651 xuồng máy, vỏ máy có trọng tải chở dưới 10 người, trongđó 94% phục vụ cho sinh hoạt gia đình
+ Đối với canô có 450 chiếc, trong đó 71 chiếc canô tảiCác con sông lớn đồng thời cũng là tuyến đường thủy quan trọng nhưtuyến đường thủy phía Nam từ Cần Thơ về tới thành phố Cà Mau rồi về NămCăn-Mũi Cà Mau, tuyến Cà Mau-Sông Đốc, Cà Mau-cửa Gành Hào…Giao thôngđường thủy ở Cà Mau phát triển mạnh và là một đặc thù của miền sông nước CàMau, từ thành phố Cà Mau có thể đi tới tất cả trung tâm các huyện lị, xã, thị trấn,các cụm dân cư băng đường thủy
Do mạng lưới sông ngòi Cà Mau lớn nên phương tiện di chuyển chínhvẫn là tàu, vỏ lãi, ca nô (còn gọi là taxi dưới nước), xuồng, ghe … để đi vào cácđiểm, khu du lịch sinh thái
Hiện nay Cà Mau đang xây dựng những bến cảng lớn vừa làm dịch vụhậu cần cho nghề cá vừa thông thương đường biển để có thể trực tiếp xuất nhập
Trang 21khẩu, giao lưu với bên ngoài như cảng Năm Căn, cảng cá Cà Mau, cảng cá HònKhoai, cảng cá Sông Đốc, cửa biển Gành Hào…Từ đây có thể đi thẳng ra nướcngoài và các tỉnh miền Trung, miền Bắc bằng đường biển rất thuận lợi
* Đường bộ:
Giao thông đường bộ tỉnh Cà Mau có tổng chiều dài 2.177 km, chiềurộng bình quân 4 m Trong đó có 100 km đường nhựa và 291 km đường bêtông-nhựa
+ Tuyến quốc lộ 1A trên địa phận Cà Mau là tuyến quan trọng nhất,dài gần 70 km chạy từ cửa ngõ phía Đông thành phố Cà Mau về tới huyện NămCăn Từ đây có nhiều tuyến liên huyện và nhánh rẽ đi về các huyện, các xã, thịtrấn trong tỉnh
+ Tuyến quốc lộ 63 từ thành phố Cà Mau nối liền với tỉnh KiênGiang đang được nâng cấp, xây dựng và là tuyến đường quan trọng ở phía Bắctỉnh Cà Mau
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 475 ôtô vận tải hàng hóa, 747 ôto vậnchuyển hành khách và sinh hoạt, trên 82.000 xe gắn máy các loại, trong đó chủyếu phục vụ cho sinh hoạt gia đình
* Đường hàng không:
Đường hàng không có sân bay Cà Mau Hiện nay tuyến bay Cà thành phố Hồ Chí Minh đang hoạt động, mỗi tuần có 4 ngày bay và sẽ nâng lênđáp ứng yêu cầu phục vụ đi lại và phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh
Mau-Các tuyến đường bộ, đường thủy, đường hàng không từ Cà Mau đi CầnThơ, đi thành phố Hồ Chí Minh đang được nâng cấp sẽ rất thuận lợi và rút ngắnthời gian vận chuyển hành khách, hàng hóa phục vụ đi lại và phát triển kinh tếcủa tỉnh, nâng cao sức cạnh tranh hàng hóa cho các doanh nghiệp và các nhà đầutư
3.3.2)Hệ thống điện:
Trang 22Hệ thống cung cấp điện năng của tỉnh những năm qua không ngừng pháttriển, điện khí hóa nông thôn được quan tâm đầu tư Điện lưới quốc gia đã về đếntrung tâm tất cả các xã Mức độ tiêu thụ điện trên địa bàn tỉnh tăng nhanh, tổngsản lượng điện thương phẩm năm 2000 là 136 triệu kwh; gấp 2,4 lần sản lượngđiện thương phẩm năm 1995, năm 2005 là 360 triệu kwh Tỉ lệ số hộ được sửdụng điện tăng từ 7,2% năm 1995 lên 36% năm 2002 và 80% vào cuối năm 2005.Tỉnh có nhà máy điện dự phòng với công suất 2.100 kw Khi tổ hợp công trìnhkhí-điện-đạm Cà Mau hoàn thành sẽ có đủ khả năng cung cấp điện cho nhu cầusinh hoạt, sản xuất kinh doanh trong tỉnh và cho các tỉnh của vùng trong tương lai.
3.3.3)Hệ thống cung cấp nước sạch:
Hệ thống cung cấp nước sạch cũng luôn được cải tạo và nâng cấp nhằmnâng cao công suất, chất lượng phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất Khảnăng cung cấp nước tại khu vực thành phố Cà Mau mỗi năm trên 10 triệu m3.Hiện nay tỉnh đang triển khia dự án cải tạo nâng cấp hệ thống cấp nước cho khuvực thành phố Cà Mau nâng công suất lên 12 triệu m3/năm vào năm 2005 – 2006và xây dựng trạm cung cấp nước độc lập cho khu khí điện đạm và cho khu đô thịmới Khánh An với công suất giai đoạn 1 là 12.000 m3/ngày đêm
Ở các thị trấn huyện lỵ, nước sinh hoạt đã cung cấp với tổng công suất15.500 m3/ngày đêm Những năm qua hệ thống cấp nước sinh hoạt thành thị vànông thôn được cải thiện Riêng địa bàn nông thôn 68% số hộ dân sử dụng nướcsạch sinh hoạt Với công suất trên, hệ thống cung cấp nước sạch đủ khả năng đápứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất
3.3.4)Hệ thống thông tin liên lạc:
Được sự quan tâm đầu tư phát triển mạng lưới của Tổng công ty bưu chính– viễn thông, hệ thống thông tin liên lạc của tỉnh Cà Mau hiện nay khá phát triển
Ngành viễn thông:
Trang 23+ Toàn tỉnh được trang bị các thiết bị hiện đại bao gồm 2 may chủ, 58vệ tinh, 12 tổng đài kĩ thuật số độc lập, dung lượng lắp đặt tổng đài 65.072 lines,100% huyện có tổng đài tự động số, 19 trạm di động Vinaphone và 9 trạm diđộng Mobifone phủ sóng trên hầu hết địa bàn tỉnh đảm bảo thông tin liên lạctrong nước và thế giới
+ Theo thống kê năm 2004, tổng doanh thu của ngành đạt 193 tỉ đồng,tăng 24,42% so với năm 2003, phát triển mới máy điện thoại tăng 56,8% Mật độtrung bình 9,7 máy/100 dân
Ngành bưu chính:
Hệ thống đường thư đã được thiết lập hoàn chỉnh ở tất cả các huyệntrong tỉnh và luôn được rút ngắn về thời gian phát-nhận Hệ thống bưu cục, bưuđiện tại các khu dân cư đều có Hiện nay toàn tỉnh có 51 bưu cục, 112 bưu điệnlớn nhỏ
3.3.5)Định hướng phát triển cơ sở hạ tầng:
Phát triển kết cấu hạ tầng phù hợp với qui mô và tốc độ tăng trưởng củanền kinh tế và từng ngành, từng lĩnh vực Gắn giao thông với phát triển các côngtrình thủy lợi trọng điểm, vùng sản xuất và du lịch, rừng tràm và rừng ngập mặn
Ưu tiên tập trung đầu tư các công trình hạ tầng có tính quyết định đến sựphát triển kinh tế xã hội nhanh tạo sức bật cho toàn xã hội Đồng thời phát triểnhạ tầng có tính chiến lược lâu dài
Về giao thông:
_ Tập trung cải tạo, nâng cấp một số tuyến giao thông trọng yếu.Trong đó, chú trọng giao thông đường bộ Đối với quốc lộ, tranh thủ hoàn chỉnhquốc lộ 1A đi Năm Căn kéo dài đến Đất Mũi Tranh thủ dự án đường Hồ ChíMinh trên địa bàn Cà Mau theo 2 hướng:
+ Hướng thứ nhất: đi từ huyện An Minh tỉnh Kiên Giang theo venbiển đấu nối vào quốc lộ 1A tại Đồng Cùng theo đê biển đến Gành Hào
Trang 24+ Hướng thứ hai: từ Kiên Giang qua Cái Bát theo sông Trẹm quaThới Bình về thành phố Cà Mau.
_ Đồng thời khai thác thế mạnh của giao thông nội tỉnh và liên tỉnh.Phát triển hệ thống giao thông do địa phương quản lí: hệ thống đường tỉnh, đườnghuyện và giao thông nông thôn đảm bảo ô tô lưu thông trong cả 2 mùa Phấn đấuxóa bỏ cầu khỉ nông thôn Khẩn trương đầu tư một số tuyến quan trọng từ trungtâm tỉnh đến các cụm kinh tế quan trọng, nhất là kinh tế cửa biển Phát triển cáctuyến giao thông ven biển phục vụ kinh tế xã hội và phòng thủ ven biển Đầu tưxây dựng, nâng cấp hệ thống bến xe, bến tàu Thực hiện nhựa hóa các tuyếnđường tỉnh, liên huyện đến trung tâm các huyện, cụm kinh tế, nối quốc lộ 1A đếnMũi Cà Mau
_ Bêtông hóa các tuyến đến trung tâm các xã có thể lưu thông bằng
ô tô cả 2 mùa mưa và mùa khô
_ Đến năm 2010 có 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã,đường bộ đến tận Mũi Cà Mau
_ Phát triển giao thông đường thủy Nạo vét một số tuyến đườngthủy quan trọng đấu nối liên tỉnh, đấu nối với cảng Năm Căn và các cảng ở cửasông lớn, đảm bảo phục vụ vận tải hàng hóa và an ninh quốc phòng
_ Hoàn thành đưa vào sử dụng cảng Năm Căn, phục vụ xuất khẩuhàng hóa và khai thác có hiệu quả
_ Nâng cấp, mở rộng, nối dài một số tuyến giao thông nội ô thànhphố, thị trấn theo qui hoạch
_ Xây dựng đồng bộ hệ thống bến xe, bến tàu đảm bảo lưu thônghành khách và hàng hóa
_ Xây dựng các công trình hạ tầng kết nối với các khu công nghiệp,khu khí điện đạm Khánh An
Trang 25_ Phát triển các loại hình phương tiện vận tải thủy, bộ đáp ứng nhucầu tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.
Về hệ thống lưới điện:
_ Nguồn cung cấp điện tới năm 2010 chủ yếu từ hệ thống lưới điệnquốc gia và khu khí điện đạm Cà Mau
_ Mục tiêu là phải đảm bảo cấp điện áp an toàn, liên tục cho cácphụ tải công nghiệp, nông nghiệp, thủy sản, dịch vụ và nhu cầu sinh hoạt củanhân dân, có nguồn điện dự phòng 10 – 20% Giảm tổn thất điện năng trên lướiphân phối xuống 9% vào năm 2010
Về hệ thống cấp thoát nước: hoàn thành một số dự án sau
_ Hệ thống cấp nước:
+ Dự án nâng cấp, mở rộng hệ thống cấp nước thành phố CàMau (30.000 m3/ngày đêm) nhu cầu vốn 81 tỷ đồng, trong đó vốn ODA của Italia
52 tỷ đồng, vốn đối ứng của tỉnh 29 tỳ đồng
+ Hệ thống cấp nước nối mạng nông thôn: phấn đấu đến năm
2010 có 85% dân số nông thôn được dùng nước sạch sinh hoạt Cần đầu tư pháttriển hệ thống cấp nước tập trung tại các thị trấn, các trung tâm xã, các cụm kinhtế kĩ thuật Các cụm dân cư thực hiện cấp nước nối mạng tập trung (khoảng 129hệ thống cấp nước tập trung), cải tạo các giếng nước hiện có thành các trạm cấpnước nối mạng qui mô 3 – 5 hộ/mạng
_ Hệ thống thoát nước và xử lí nước thải thành phố Cà Mau Nhucầu vốn ước khoảng 30 tỷ đồng
_ Dự án bãi rác và xử lí rác thành phố Cà Mau và các thị trấn,huyện
Về hệ thống bưu chính viễn thông: một số dự án
_ Hệ thống chuyển mạch và phụ trợ trong toàn tỉnh_ Xây dựng mạng cáp nội tỉnh
Trang 26_ Xây dựng mới tuyến cáp quang Cà Mau đến các huyện trong tỉnh_ Đầu tư nâng cấp hệ thống bưu điện trung tâm và bưu điện tại cáchuyện, thị trấn, thị tứ
3.4)Hiện trạng phát triển du lịch sinh thái tại tỉnh Cà Mau:
3.4.1)Tiềm năng du lịch sinh thái:
Cà Mau là vùng đất trẻ được khai phá vào cuối thế kỉ XVII, là địa phươngduy nhất ở Việt Nam có biển Đông và biển Tây bao bọc Quá trình bồi tụ củabiển đã tạo nên bán đảo Cà Mau với những cảnh quan tuyệt đẹp và hệ sinh thái
đa dạng
Nhìn chung, tỉnh Cà Mau không có nhiều danh lam thắng cảnh di tích lịchsử văn hóa, song bù lại thiên nhiên đã ban tặng ưu đãi cho Cà Mau hệ sinh tháirừng ngập mặn và rừng tràm – thứ tài nguyên vô giá mà trên thế giới chỉ một vàinơi có được như rừng U Minh, rừng đước Năm Căn…Rừng có nguồn tài nguyênsinh vật phong phú với nhiều loài lưỡng cư, bò sát, động vật có vú và nhiều loàichim quí được ghi vào sách đỏ thế giới rất thích hợp cho việc phát triển du lịchnghiên cứu, tham quan dã ngoại…
Bên cạnh đó, thiên nhiên đã ban tặng cho Cà Mau một vùng đất màu mỡvà trù phú Những cư dân nhiều đời nối tiếp định cư đã để lại cho Cà Mau hệthống địa danh với những tên gọi như cồn Ông Trang, đầm Thị Tường, sông ÔngĐốc…làm tăng thêm vẻ đẹp sinh động và bí ẩn cho vùng đất này
Có thể nói Cà Mau là vùng đất có tiềm năng du lịch rất lớn, đặc biệt là dulịch sinh thái Tiềm năng to lớn này cần phải được khai thác trong quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Bên cạnh đó cũng cần quân tâmđến những vấn đề giáo dục và bảo vệ môi trường để ngành du lịch sinh thái cóthể phát huy trở thành một ngành kinh tế quan trọng trong phát triển kinh tế-xãhội địa phương hướng tới phát triển bền vững
3.4.2)Mạng lưới điểm và tuyến du lịch sinh thái:
Trang 27Các điểm du lịch sinh thái ở Cà Mau có thể kể đến như:
Đất Mũi:
Điểm quan tâm đầu tiên của du khách đến Cà Mau là hỏi về Đất Mũi,có gì để xem? Đất mũi Cà Mau không có sự uy nghi hùng vĩ của núi cao, rừnggià, không có cảnh trầm mặc ưu tư của phố cổ cung đình, lại không có sự ồnào náo nhiệt của chốn phồn hoa đô hội Vậy Đất Mũi có gì? Có biển Đến MũiCà Mau, du khách sẽ thấy biển trước mặt, biển bên trái, bên phải Nhưng khôngphải biển xanh mà biển nơi đây lúc nào cũng đục ngầu như phù sa Có bãichạy dài bát ngát tầm mắt mỗi khi triều cạn; nhưng không phải bãi cát trắng,cát vàng mà là bãi bồi phú sa sình lầy Có rừng nhưng không phải rừng già vớinhững cây cổ thụ cao vút, mà là những mảng rừng mắm mọc xanh non ngoài bãibồi, nhưng ô rừng Đước mơn mởn xen kẽ những vuông tôm…
Mũi Cà Mau ở phần cuối cùng cực Nam của tổ quốc, có mũi nhọnthẳng ra biển Vịnh Thái Lan , ở 104043’30’ Kinh độ Đông ; 8030’ Vĩ độ Bắc.Cách trung tâm thành phố Cà Mau 110 km bằng phương tiện đường thủythuộc xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển.Mũi Cà Mau nơi dược gọi là “ngón châncái chưa khô bùn vạn dặm” của Tổ Quốc - ngày càng được bồi ra (80-100 m /năm) nhờ Đất phù sa từ thượng nguồn Tây Tạng đổ xuống qua chín cửa sông CửuLong và được thủy lưu đưa về hướng Tây, dồn lại hình thành nên
Cũng trên bãi bồi kia, mỗi khi Đông về, du khách có cơ hội ngắm tậnmắt thấy từng đàn chim di trú tránh Đông, trên đường bay từ Siberia lạnh giá vềphương Nam ấm áp, sẽ dừng chân lại đây nghỉ ngơi, tìm thức ăn rồi lại tiếp tụchành trình thiên lý đến mãi Uùc Châu
Đến với điểm du lịch Mũi CàMau du khách sẽ được viếng thăm cộtmốc quốc gia là điểm cuối trên bản đồ Việt Nam, ngắm biển trên chòi cao, thamquan khu mô phỏng làng rừng kháng chiến Đặt biệt, đứng tại Mũi Cà Mau dukhách sẽ nhìn thấy mặt trời mọc lên ở Biển Đông và lặn ở biển Tây trong ngày
Trang 28 Bãi biển Khai Long:
Là bãi cát rồng uốn lượn dọc theo bờ biển có hình dáng đẹp thuộc ấpKhai Long xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển cách Mũi Cà Mau 12km dọc theo bờbiển, có diện tích khoảng 150 -180 ha, phía Tây giáp Rạch Thọ, phía Nam giápbiển Đông Đứng ở bãi Khai Long có thể phóng tầm mắt ngắm nhìn trọn vẹn vẻđẹp hoang sơ của cụm đảo Hòn Khoai lịch sử
Khai Long có bãi biển tương đối bằng phẳng đáy biển dài cường độsóng ở khu vực này không lớn có điều kiện tốt cho việc tổ chức tắm biển Bãibiển này rất màu mỡ, giàu nguồn đạm thích hợp cho việv trồng các loại cây ăntrái để phát triển loại hình du lịch miệt vườn
Bãi Khai Long là một trung tâm nghỉ dưỡng vui chơi, giải trí, tắmbiển… và sẽ là nơi hậu cần phục vụ du khách để tham quan Mũi Cà Mau và đảoHòn Khoai
Từ thị xã Cà Mau, chỉ một giờ là đến bãi biển Khai Long bằng ca nô,nếu đi bằng tắc ráng hoặc võ lãi là 3 giờ
Cụm đảo Hòn Khoai:
Là cụm đảo gồm các Hòn: Hòn Khoai là đảo lớn nhất của cụm, HònTượng, Hòn Sao, Hòn Đồi Mồi và Hòn Khô Hòn Khoai Có diện tích 4,2 km2,đỉnh cao là 318 m, cách bờ biển nơi gần nhất 14,6 km Nằm về phía Tây Nam thịtrấn Năm Căn thuộc huyện Ngọc Hiển Không giống như các đảo ở ĐBSCL,Hòn Khoai là đảo đá, đồi và rừng còn nguyên vẹn với nhiều loại cây gỗ quý,nhiều nhất là gỗ sao với motä quần thể thực vật phong phú, phong cảnh tựnhiên luôn lôi kéo du khách
Hòn Khoai có hai suối nước ngọt, có bãi tắm rất đẹp Thảm thực vậttrên đảo phong phú và đa dạng, vừa là các loại cây rừng mưa nhiệt đới vừa mangnét đặc trưng của rừng ngập mặn Hòn Khoai có nhiều động thực vật quý hiếm đa
Trang 29số còn rất nguyên sinh, về thực vật có: Lim sến, trắc… còn động vật thì có trăn, kỳđà, heo rừng.
Hòn Khoai được bộ Văn Hóa Thông Tin công nhận là di tích danh lamthắng cảnh của tỉnh Cà Mau năm 1994.Đây là nơi diễn ra cuộc khởi nghĩa do thầygiáo Phan Ngọc Hiển lãnh đạo ngày 13 tháng 12 năm 1940
Đảo Hòn Khoai cón có ngọn Hải Đăng uy nghi tỏa sáng trên 30 hảilý Ngọc Hải Đăng được xây dựng vào năm 1990 và là một trong 3 ngọn HảiĐăng lớn trong hệ thống 34 ngọn Hải Đăng quốc gia
Với điệu kiện tự nhiên trên sẽ tạo cho Hòn Khoai có được lợi thế khaithác loại hình du lịch nghỉ dưỡng, tắm biển, leo núi, nghiên cứu…
Hòn Khoai đang trong giai đoạn khảo sát để xây dựng khu du lịch.Vấn đề nan giải là đến với Hòn Khoai là phải theo mùa (nghịch mùa có nhiềusóng to) Nếu được đầu tư về phương tiện vận chuyển an toàn cho du khách vàdịch vụ vui chơi nghỉ dưỡng … thì trong tương lai loại hình du lịch xanh gắn liềnvới văn hóa lịch sử sẽ thành tiềm năng cho du lịch Cà Mau
Hòn Đá Bạc:
Thuộc xã Khánh Bình Tây, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau Cáchthành phố Cà Mau 50 km đường thủy, là cụm đảo đẹp gồm 3 đảo nhỏ nằm sát bờbiển với diện tích 6,43 ha Cách đất liền 640m nên khi nước triều xuống có thể lộitừ bờ biển ra Hòn Đá Bạc Cảnh quan Hòn Đá bạc có 4 khối nhô cao, đỉnh caonhất là 24m so với mặt nước biển
Hòn Đá Bạc là một đảo đá, những tảng đá ở đây rất to như được xếpchồng khéo léo, có những hình dáng ngộ nghĩnh Điều lạ ở đây, nước biển sóngvỗ từng giờ không làm đá bị mài mòn mà ngược lại mỗi năm kích cỡ càng lớn lênrất rõ rệt
Nơi đây thích hợp với các loại hình thể thao dưới nước, leo núi, tắmbiển, nghỉ dưỡng, tham quan, pic nic…
Trang 30 Cồn Ông Trang:
Thuộc xã Viên An, huyện Ngọc Hiển, cách Mũi Cà Mau 18 km bằngđường thủy Cồn Ông Trang là cồn cát nổi giữa biển Cồn Ông Trang gồm haicồn với diện tích 212 ha bao gồm:
+ Cồn ngoài có diện tích 92 ha, gồm có hai phần: phần nổi trênmặt nước với diện tích 30 ha, thảm thực vật trên còn chủ yếu là cây mắm và phầnchìm dưới nước có diện tích 62 ha
+ Cồn trong có diện tích 120 ha, có chiều dài khoảng 3.800
m, chỗ lớn nhất gần 400 m Rừng tự nhiên ở đây chủ yếu là cây mắm và cây đướctạo nên bức tranh thủy mạc rừng biển sông nước hữu tình
Cửa Ông Trang là cửa biển hiện đang có tốc độ bồi lắng rất mạnh, vìthế hai bờ đều có bãi bồi sình lầy chìm dưới mặt nước Cảnh quan tự nhiên củaCồn Ông Trang là sinh thái tự nhiên độc đáo của hệ sinh thái đất ngập nước vùngven biển cửa sông, thích hợp với các loại hình ngắm cảnh du thuyền cửasông, đưa du khách về với thiên nhiên hoang sơ
Rừng tràm đặc dụng Vồ Dơi:
Hệ sinh thái rừng tràm Vồ Dơi là khu bảo vệ nằm ở huyện Trần VănThời, tỉnh Cà Mau,cách thành phố Cà Mau 20km về phíaĐông và cáchVịnhTháiLan20km, rộng 3.945 ha, nằm ở độ cao 0,4-0,5m so với mặt nước biển- làkhu rừng nguyên sinh duy nhất của lâm phần U Minh Hạ
Rừng tràm là rừng phát sinh trên đất than bùn, có điểm cao vồng lênthấy rõ trong một mặt cắt, nên mới có tên là Vồ, và những vồ cây được khoanhlại để bảo vệ trong các lâm trường Ở đây chẳng những cây cối được bào tồnmà cả những động vật dưới rừng và trên đất than bùn, trên các sông rạch cũngđược bảo vệ không cho săn bắt
Khu đặc dụng Vồ Dơi có 12 loài lưỡng cư, 32 loài bò sát, 100 loàichim, 18 loài động vật có vú Ngoài ra khu rừng tràm cón có những loài chim
Trang 31thú quý hiếm như : nai, heo rừng, khỉ … U Minh thường là nơi trú ngụ rất tốt củachim muôn dã thú, nơi đây còn có nhiều nước và có nhiều tôm cá nên nhiềuđàn chim lớn như Giang Sen, Cù Đèn (Lông Ô), Khoang Cổ đã bay về làm tổ trêncác nhánh rừng tràm; chưa kể có nhiều sân chim đầy dẫy những cò, Diệc, BồNông, Gà Đãi…Đặc biệt có nhiều loài chim trú đông , di trú từ phương Bắc nhưsếu đầu đỏ.Đây là điểm du lịch rất hấp dẫn của Cà Mau hiện nay nhất là dukhách nước ngoài.
Rừng tràm Ong Mật U Minh:
U Minh ở phía Tây Nam Bộ, sát ven vịnh Thái Lan, trải ra trên mộtkhu đất mênh mông từ Cà Mau cho đến Kiên Giang Phần trên là U Minhthượng ( Kiên Giang) và phần dưới là U Minh Hạ ( Cà Mau ) Giữa U MinhThượng và U Minh Hạ là sông Trẹm và sông Cái Tàu Nơi đây thiên nhiên hùng
vĩ và hoang sơ, chủ yếu là cây tràm mọc khắp nơi, xen vào đó là ít cây thân thảohoang dại
Trong những cánh rừng tràm bạt ngàn, hoa tràm tỏa hương quyến rũnhững đàn ong mật, ong ruồi, ong bầu đến làm tổ.Hàng vạn héc ta rừng tràm đemlại nguồn lợi lớn về mật ong, sáp, sữa chúa, phấn hoa Và thu hút dân gác kèoong đến cư trú; trên 1 ha có thể gác 3-5 kèo ong và thu hoạch 15-20 lít mật ongvà 1 kg sáp ong trong một năm
Cây tràm có thể sống 20-30 năm Lúc đó, trở thành cây cổ thụ, gỗ cóthể dùng làm nhà Hạt tràm có thể nằm tại khu đất cháy 5-10 năm sau nếu cóđiều kiện có thể nảy mầm thành cây non
Khu đa dạng sinh học rừng ngập mặn (Lâm trường 184):
Thuộc lâm trường công ích 184, ở xã Tam Giang, huyện Ngọc Hiểncó qui mô 262.5 ha,bao gồm 2 khu vực: khu vực nghiêm ngặt 86 ha,khu đệm sinhthái 166.5 ha Khu đa dạng sinh thái là một bộ sưu tập khoảng 100 loài thực vật,
Trang 32trong đó có 32 loài chính thức đặc trưng cho rừng ngập mặn như: cá sấu, kỳ đà,khỉ… và các loài động vật đặc trưng như: chim, thú, lưỡng thê, bò sát…
Xung quanh có hệ thống đê bao, bên trong có hệ thống kênh phântuyến Ở đây có 3 ao nuôi các loại đặc sản với diện tích khoảng 1500m2 được bốtrí ven kênh Chà Là.Phục vụ tham quan, giáo dục tuyên truyền bảo vệ môi trườngsinh thái
Sân chim Đầm Dơi:
Nằm cách thành phố Cà Mau 45 km về phía Đông Nam, thuộc huyệnĐầm Dơi Vườn chim là nơi tụ tập của đàn cò đông đúc nhất và cũng là nơidễ quan sát chim nhất Cò làm tổ trên cao và buổi sáng đi tìm thức ăn, dukhách có thể lại gần quan sát và chụp ảnh…
Đây là sân chim lớn nhất của phía Nam Nơi ở của chim là rừng ngậpmặn với cây trong rừng Khu rừng hình thành năm 1960 và chim về đây làm tổnăm 1964 Tổng lượng chim lên đến 100.000 con vào năm 1984 Hiện nay tồnglượng chim quan sát được chỉ gồm 62 loài thuộc 24 họ
Ngoài sân chim rộng với 129 ha, Đầm Dơi còn có 08 sân chim khác
Chợ nổi trên sông:
Chợ nổi trên sông được hình thành trên dòng sông Gành Hào, dàikhoảng 300m, gần dưới chân cầu Gành Hào cho đến bến tàu B, đường đi thamquan Đất Mũi
Chợ nổi Cà Mau cung cấp tất cả các mặt hàng, nói chung cái gì có ởchợ phố thì cũng có ở trên chợ sông này
Những chiếc ghe buôn hàng hóa chở từ các tỉnh vùng trên như: CầnThơ, Châu Đốc, Long Xuyên … đến chợ nổi Cà Mau nối hàng nhau tạo thành mộtphiên chợ, họ bán những loại rau cu û chu û yếu ở vùng trên mà Cà Mau khôngtrồng được, ngược lại khách hàng đi chợ cũng kết hợp việc mua hàng hóa,
Trang 33họ cũng đem những loại như : rắn, rùa, đem ra bán lại cho ghe lái buôn để trởlên vùng trên.
Những ghe buôn này treo hàng hóa của họ bán lên một cây sào: bắpcải, cà rốt dưa leo, củ sắn, trái mãng cầu, trái mận, trái cóc và cả quả dưa hấutreo lủng lẳng để cho người mua dễ nhận thấy những mặt hàng họ bán
Chợ nổi Cà Mau cũng như bao chợ nổi khác của vùng sông nước CửuLong, con nước lên thì chợ họp, con nước ròng thì chợ tan…
Để tham quan các địa điểm trên, hiện nay có các mạng lưới tuyến du lịch
Lên bờ xe sẽ đón du khách viếng chùa Bà Thiên Hậu, thăm công viênVăn Hóa Cà Mau – sân chim Cà Mau, thời gian thích hợp nhất để tham quan sânchim là 8:30 – 6 giờ sáng hoặc 5:30 – 6:30 chiều, vì đây là lúc chim bay đi tìmmồi vào buổi sáng, và trở về tổ vào buổi chiều
Tuyến rừng tràm đặc dụng Vồ Dơi – Hòn Đá Bạc – Nhà Bác Ba Phi
(Hệ sinh thái rừng tràm):
Nội dung: Tuyến du lịch này du khách đi bằng đường thủy, du kháchsẽ được tham quam các điểm du lịch: rừng tràm đặc dụng nổi tiếng Vồ Dơi,thưởng thức đặc sản rừng: ong mật rắn rùa… câu cá trong rừng tràm, tham quannhà Bác Ba Phi, tắm biển và tham quan Hòn Đá Bạc
Trang 34 Tuyến Cồn Ông Trang – Mũi Cà Mau – Khu bảo tồn đa dạng sinh học (lâm trường 184):
Nội dung: Tuyến du lịch này du khách sẽ đi tham quan Mũi Cà Mauđiểm cực Nam của tổ quốc, nơi hàng năm phù sa lấn biển từ 80-100m mộtnăm.Tham quan vùng đất bồi tụ Cồn Ông Trang , len lỏi vào khu bảo tồn đadạng sinh học bằng hệ thống cầu xuyên rừng tham quan hệ sinh thái rừng ngậpmặn, ngắm các loại động vật hoang dã, tham quan làng rừng chiến, vuông tôm,thưởng thức đặc sản biển, rừng và tham quan sân chim Ngọc Hiển
Tuyến Khai Long – Mũi Cà Mau – Hòn Khoai:
Nội dung: Đi Rạch Gốc bằng ca nô, chuyển tàu đi biển Hòn Khoai,tham quan tượng đài Phan Ngọc Hiển, Hải Đăng, tắm biển, du thuyền, leo núi.Vào đất liền du khách sẽ tham quan Mũi Cà Mau, tượng đài Đất Mũi, làng rừng,thưởng thức đặc sản biển Tham quan bãi biển còn nguyên vẻ hoang sơ KhaiLong, du khách sẽ tắm biển, bắt ốc biển, chơi thể thao trên bãi biển… Đặc biệt, dukhách sẽ rất thích thú tham quan khám phá sân chim rộng lớn Đầm Dơi, với cácloài chim quý hiếm
3.4.3)Hiện trạng du khách:
Là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, được sự quan tâm rấtlớn nên trong những năm qua, du lịch Cà Mau đã có nhiều khởi sắc Hạ tầng dulịch từng bước được đầu tư xây dựng, nhiều khu du lịch như Đất Mũi, Khai long,hòn Đá Bạc…được hình thành và phát triển thu hút nhiều du khách đến tham quanvà du lịch
Trong những năm qua số lượng du khách tăng khá đáng kể Nếu trong năm
1997 số lượng du khách là 57.666 thì trong năm 2005 đã tăng lên 320.000 lượtkhách/năm Tuy số lượng khách đến tỉnh là khiêm tốn so với các tỉnh khác nhưngđáng mừng là đã có chiếu hướng tăng rõ rệt Nhất là trong điều kiện hiện nay, CàMau đã được nhiều người biết đến qua quảng bá bằng nhiều hình thức: tổ chức
Trang 35hội chợ, trên phim ảnh, lễ hội Đất Phương Nam… và quan trọng là việc đầu tưphát triển du lịch sinh thái đang vươn mình tăng tốc – thì số lượng khách đến CàMau sẽ tăng là điều có thể khẳng định.
Bảng 3: số lượng du khách đến Cà Mau và doanh thu qua các năm
Kết quả kinh doanh
2 Nộp ngân sách Triệu đồng 1.440 2.387 4.512 5.640
3 Tổng số khách
_ Khách quốc tế
_ Khách nội địa
Lượt người 57.666
4.63053.036
100.0004.000 96.000
295.9006.780 289.120
320.0009.000
311.000(Nguồn Sở thương mại-dịch vụ Cà Mau)
3.4.4)Hiện trạng cơ sở lưu trú và dịch vụ ăn uống:
_ Cơ sở lưu trú:
+ Đến nay cả tỉnh đã có 400 phòng khách sạn, trong đó có 180 phòng đạttiêu chuẩn đón khách quốc tế, 5 khách sạn được xếp hạng từ 2 đến 3 sao theo tiêuchuẩn của Tổng Cục Du Lịch Ngoài hệ thống khách sạn, nhà hàng – cơ sở dịchvụ của doanh nghiệp nhà nước và tư nhân, còn có nhà khách tỉnh ủy, nhà kháchủy ban nhân dân tỉnh, đáp ứng nhu cầu của khách du lịch quốc tế và nội địa, phụcvụ tốt nhiều hội nghị của địa phương và trung ương
+ Hầu hết các cơ sở lưu trú, ăn uống đều được chỉnh trang, bổ sung thiết
bị, chấn chỉnh công tác vệ sinh, tinh thần thái độ phục vụ của tiếp tân, tiếp viên,kỹ thuật viên về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu phục vụ cho du khách
_ Về dịch vụ vui chơi giải trí: các khu vui chơi giải trí được xây dựng nhằmđáp ứng nhu cầu khách tham quan và nhân dân địa phương Và đàn ca tài tử cũngthường được tổ chức trên sông
_ Đặc sản: thông qua các kỳ hội thi liên hoan văn hóa ẩm thực Cà Mau lần I,
Trang 36Món ăn của Cà Mau mang đậm đà hương vị biển và chất Nam Bộ: tôm, cua, bakhía, bồn bồn, mật ong, bún mắm, bánh tằm, khô các loại…
_ Các phương tiện vận chuyển khách: được tăng cường theo hướng hiện đại,
an toàn, kiểu dáng đẹp Các phương tiện đường bộ được thay thế bằng các xe
16 chỗ ngồi hiệu Mercedes, phương tiện đường thủy : ca nô, tàu cao tốc, võ lãi…Ngoài ra, trong nội ô tỉnh Cà Mau có đội xe taxi, lớn nhất là hệ thống xe MaiLinh
3.4.5)Tồn tại và hạn chế về du lịch sinh thái:
Hoạt động du lịch Cà Mau những năm qua đạt được nhiều kết quả đángkhích lệ, tạo điều kiện và tiền đề thúc đẩy ngành du lịch Cà Mau phát triển vớitốc độ nhanh hơn Bên cạnh đó còn có nhiều hạn chế Cần được giải quyết vàtháo gỡ để thúc đẩy ngành du lịch Cà Mau tiếp tục phát triển và tăng trưởng._ Cơ sở hạ tầng, đường xá tuy đã phát triển nhưng tại một số huyện đườgnhựa vẫn chưa thể đến được Giao thông đường thủy là chủ yếu Do đó, chi phícho việc đi lại cho du lịch là rất cao
_ Các điểm du lịch chưa được đầu tư đúng mức, chưa nêu bật những nét đặctrưng sinh thái tại nơi đó Du khách chỉ được ngắm cảnh biển, rừng một cách đơn
sơ, lặng lẽ không để lại ấn tượng trong lòng du khách Hơn thế nữa, các sản phẩm
du lịch trong tỉnh đều quá đơn thuần, không mang tính đặc thù riêng biệt màthường na ná nhau
_ Mặt khác, sự tham gia quá mức trong việc xây dựng các công trình kiếntrúc, bêtông hóa làm các khu du lịch vốn mang tính đặc trưng sinh thái trở nênquá thô ráp, cứng nhắc
_ Lượng du khách chỉ tập trung ở một số nơi như Hòn Đá Bạc, Đất Mũi…cònnhững khu sinh thái hấp dẫn khác tuy có tiềm năng nhưng chưa được khai thácnhư Lâm Ngư Trường 184, sông Trẹm, vườn chim Chà Là…thì vắng hoe hoặckhông có khách
Trang 37_ Trình độ năng lực của đội ngũ nhân viên du lịch, đặc biệt là hướng dẫnviên du lịch chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, vừa thiếu về số lượng, yếu vềchất lượng (nhất là về trình độ ngoại ngữ và nghiệp vụ chuyên môn).
_ Công tác tuyên truyền quảng bá về hình ảnh du lịch Cà Mau chưa đượcđầu tư đúng mức, hình thức, nội dung không phong phú nên chưa gây được ấntượng với du khách
3.4.6)Định hướng phát triển du lịch sinh thái đến năm 2010:
Để từng bước đưa du lịch trở thành một trong những ngành kinh tế mũinhọn của tỉnh, ngành du lịch Cà Mau xác định mục tiêu phát triển trong thời giantới, nhất là trong giai đoạn 2006 – 2010
_ Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch, tạo yếu tốhấp dẫn, tăng cường thu hút du khách du lịch quốc tế và nội địa Phấn đấu đạtmức tăng trưởng bình quân về lượng khách trên 20%/năm, doanh thu trên15%/năm Phấn đấu đến năm 2010 đón 796.000 lượt khách, trong đó có 22.400khách quốc tế và trên 773.000 khách nội địa, với tổng doanh thu du lịch thuần túyđạt 145 tỷ đồng Tạo đà tăng trưởng cho những năm tiếp theo, góp phần chuyểndịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng dịch vụ trong cơ cấu GDP củatỉnh
_ Nâng cao vị thế của ngành du lịch Cà Mau trong khu vực cả nước,trên cơ sở đẩy mạnh xúc tiến du lịch và nâng cao nhận thức xã hội về du lịch Đểlàm tốt vấn đề này, việc tận dụng cơ chế, chính sách của Nhà nước là quan trọng,qua đó khai thác tốt tiềm lực của các thành phần kinh tế đầu tư phát triển du lịch.Phấn đấu đến năm 2010 hoàn thành đầu tư khu du lịch quốc gia sinh thái rừngngập mặn Cà Mau, khu du lịch Mũi Cà Mau, dự án vườn quốc gia U Minh Hạ,khu du lịch đầm Thị Tường, chợ nổi trên sông …nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan,giải trí, nghiên cứu của du khách
Trang 38_ Giới thiệu đậm nét hình ảnh thiên nhiên và giá trị nhân văn tỉnh CàMau với khách tham quan và nhân dân trong tỉnh ; đẩy mạnh sự phối hợp chặtchẽ liên ngành và địa phương, tạo điều kiện cho sự phát triển du lịch của tỉnh,trên cơ sở khai thác tốt tiềm năng thế mạnh của tỉnh trước mắt và các năm tiếptheo.
_ Đa dạng hóa các sản phẩm du lịch Bên cạnh đó, phát triển những sảnphẩm du lịch mang nét đặc trưng cho từng vùng
III THAM KHẢO MỘT SỐ MÔ HÌNH THIẾT KẾ
3.1)Mô hình du lịch sinh thái Tuyền Lâm:
Mô hình du lịch sinh thái Tuyền Lâm được xây dựng bám theo những khuvực có địa hình đẹp và nguồn tài nguyên động thực vật phong phú để phục vụnhững đối tượng du khách yêu thiên nhiên Theo dự kiến, dự án sinh thái sẽ cómột số loại hình du lịch như:
_ Dã ngoại, tham quan nghiên cứu, đi bộ trong rừng, du thuyền, câu cáven hồ, trượt thác
_ Leo núi: khu vực hồ Tuyền Lâm có các đỉnh núi khá cao thích hợp chohình thức đi bộ leo núi để chinh phục các đỉnh núi cao Tại thác Đatanla có cáchẻm vực thích hợp cho hình thức leo núi mạo hiểm với các dụng cụ chuyên dụng.Đây là loại hình du lịch được khách quốc tế ưa thích, mục đích là chinh phục cácđỉnh núi cao và hiểm trở
_ Tham quan bản làng dân tộc: tại đây du khách có thể tham gia vào các lễhội sinh hoạt văn hóa đặc sắc của đồng bào bản địa
_ Quan sát chim thú: các chòi quan sát được thiết kế riêng phục vụ cho nhucầu của du khách
Việc xây dựng dự án du lịch sinh thái không chỉ nhằm mục đích kinh tế màquan trọng hơn sẽ góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên thông qua việc