Bên cạnh lợi ích kinh tế, rất nhiều vấn đềvề chất lượng môi trường nảy sinh, đe doạ sức khoẻ của cộng đồng dân địaphương, làm chết sinh vật nước và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ sinh thái tự
Trang 1CHƯƠNG I GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI
1.1/ CƠ SỞ HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI
Sản xuất nông nghiệp vẫn là hoạt động kinh tế chủ yếu ở hầu hết các Tỉnh
ở Việt Nam Ngoài các hoạt động canh tác trồng trọt truyền thống, chăn nuôi làmột ngành rất quen thuộc, gắn liền với cuộc sống như một nhu cầu thiết yếu.Ngày nay, ngành chăn nuôi đã phát triển ở mức độ sản xuất hàng hóa với quy môngày càng lớn nhằm cung cấp một số lượng lớn thực phẩm động vật cho nhu cầusử dụng ngày càng cao của con người Bên cạnh lợi ích kinh tế, rất nhiều vấn đềvề chất lượng môi trường nảy sinh, đe doạ sức khoẻ của cộng đồng dân địaphương, làm chết sinh vật nước và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ sinh thái tự nhiên.Đặc biệt nước thải chăn nuôi từ các nông hộ có thể được coi là nguồn gây ônhiễm chủ yếu ở các vùng nông thôn Việt Nam do có mang theo nhiều chất rắn
lơ lửng, amoni, thành phần hữu cơ cũng như vô số vi khuẩn và virus gây bệnh.Hiện nay, phần lớn loại nước thải này vẫn chưa được xử lý trước khi xả vào môitrường đất, môi trường nước (sông, hồ…) do các địa phương thiếu kinh phí và chưanhận thấy lợi ích của việc bảo vệ môi trường
Chăn nuôi nông hộ thuộc đặc điểm kinh tế trang trại Tuy nhiên các vấn đềmôi trường về trang trại luôn được quan tâm và nghiên cứu mà mọi người quênlãng đi các vấn đề môi trường về chăn nuôi nông hộ Chăn nuôi nông hộ bêncạnh những tác động có lợi, quá trình hình thành và hoạt động của các hộ gia đình
Trang 2đã và đang gây ra những tác động tới môi trường Chính vì vậy, vấn đề bảo vệmôi trường tại các nông hộ cần đuợc quan tâm.
Ở Huyện Nhơn Trạch, khía cạnh môi trường của ngành chăn nuôi mới chỉđược quan tâm trong một vài năm trở lại đây khi ngành chăn nuôi hàng hóa đangngày càng gia tăng Tuy nhiên, chưa có những nghiên cứu đánh giá toàn diệnhiện trạng ô nhiễm môi trường do chăn nuôi nhằm xây dựng các chính sách quảnlý, các giải pháp kỹ thuật giảm thiểu ô nhiễm Do đó, việc xây dựng các biệnpháp nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của các hệ thống chăn nuôi đếnmôi trường đang là vấn đề cấp thiết
Mặt khác, các hộ gia đình chăn nuôi với quy mô nhỏ do đó việc xử lý nướcthải bằng các phương pháp hoá học, sinh học, cơ học… tốn kém nên việc xử lý làkhông thể Vì vậy xử lý nước thải chăn nuôi bằng đầm lầy nhân tạo (đất ngậpnước) có thể là một giải pháp hữu hiệu vì phương pháp này rất thích hợp với điềukiện tự nhiên và điều kiện kinh tế_xã hội ở các vùng nông thôn Việt nam cụ thểlà xã Phước Khánh - Huyện Nhơn Trạch- Đồng Nai
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trên, Luận văn “Tác động môi trường nước
do nước thải chăn nuôi nông hộ và đề xuất phương thức xử lý bằng đất ngập nước cho xã Phước Khánh - Nhơn Trạch - Đồng Nai” nhằm phát triển một ngành
chăn nuôi bền vững theo đúng mục tiêu Huyện đã đề ra
Trang 31.2/ MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Tìm hiểu tác động môi trường khu vực nghiên cứu do nước thải chăn nuôi
- Đề xuất phương thức xử lý bằng hệ thống đất ngập nước cho xã PhướcKhánh – Nhơn Trạch- Đồng Nai nhằm bảo vệ môi trường cho khu vực và hướngđến một ngành nông nghiệp phát triển bền vững
1.3/ NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI
Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung sau:
- Tìm hiểu tình hình áp dụng các mô hình xử lý nước thải bằng hệ thốngĐNN tại Việt Nam và trên thế giới thích hợp với điều kiện địa phương
- Nghiên cứu nội dung xử lý NTCN nông hộ bằng hệ thống đất ngập nước
- Nghiên cứu tính chất và chức năng của TV trong hệ thống đất ngập nước
- Đề xuất phương thức xử lý NTCN bằng ĐNN phù hợp với điều kiện tựnhiên xã Phước Khánh - Huyện Nhơn Trạch
- Đánh giá khả năng áp dụng mô hình xử lý NTCN bằng hệ thống ĐNN
1.4/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ĭ Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp các tư liệu, tài liệu về chănnuôi gia súc từ các cơ quan lưu trữ và quản lý dữ liệu như: sách báo, thưviện, internet…
ĭ Phương pháp điều tra, phỏng vấn, khảo sát
ĭ Phương pháp thực địa
ĭ Phương pháp tính toán, thống kê
ĭ Phương pháp chuyên gia
Trang 41.5/ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Chăn nuôi gia súc nông hộ trên địa bàn xã Phước Khánh- Huyện NhơnTrạch- Đồng Nai
- Chất lượng môi trường đặc biệt là môi trường nước trên địa bàn xã PhướcKhánh- Huyện Nhơn Trạch
- Thực vật trong hệ thống ĐNN thuộc xã Phước Khánh- Huyện NhơnTrạch- Đồng Nai
- ĐNN
1.6/ PHẠM VI CỦA ĐỀ TÀI
- Về nội dung: đề tài chỉ tập trung về nước thải chăn nuôi gia súc nông hộ
vì đây là nguồn gây ô nhiễm nhất cho nông hộ mà ít được mọi người quan tâm.Ngoài ra đề xuất phương thức xử lý nước thải chăn nuôi bằng hệ thống đất ngậpnước nhằm bảo vệ môi trường cho các nông hộ đồng thời tiết kiệm chi phí chocác nông hộ trong vấn đề xử lý
- Về thời gian: đề tài được thực hiện trong khoảng thời gian 12 tuần(1/10/2006 – 27/12/2006)
Trang 5CHƯƠNG II GIỚI THIỆU KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1/ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
2.1.1/ VỊ TRÍ ĐỊA LÝ
HUYỆN CẦN GIỜ
Trang 6 Phía Bắc giáp Tp.HCM và Long Thành.
Phía Đông giáp Tỉnh Bà rịa – Vũng tàu
Phía Tây giáp Huyện Nhà Bè
Phía Nam giáp Huyện Cần GiơHuyện có 12 xã:
1 Phước An 4 Phú Hữu 7 Long Thọ 10 Vĩnh Thanh
2.Phước Khánh 5 Phú Đông 8 Phú Thạnh 11 Phú Hội
3 Long Tân 6 Đại Phước 9 Hiệp Phước 12 Phước Thiền
Trong đó: 7 xã đầu tiên là các xã vùng ven với hệ thống kênh rạch tươngđối chằng chịt
2.1.2/ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH, ĐỊA CHẤT
Dạng địa hình thấp, trũng: nằm bao bọc khu trung tâm theo ranh giới củahuyện, với độ dốc dưới 3o; thường bị chia cắt bởi hệ thống sông, rạch nên
Trang 7nông nghiệp như: trồng lúa, nuôi trồng thuỷ sản; khu vực phía Nam vàĐông Nam huyện có thể phát triển lâm nghiệp kết hợp với nuôi trồng thuỷsản.
2.1.3/ ĐẶC TRƯNG CỦA CÁC YẾU TỐ KHÍ HẬU
Nằm trong vùng khu vực nhiệt đới gió mùa, cận xích đạo
2.1.3.1 Nắng
Nắng nhiều, trung bình khoảng 2600 – 2700 giờ/năm Nhiệt độ cao đềutrong năm, trung bình 260C, tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là tháng 12(250C), tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất cũng chỉ là 28 – 290C
2.1.3.2 Mưa
Lượng mưa khá, trung bình từ 1800 – 2000 mm/năm, nhưng phân hóa sâusắc theo mùa Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm trên 90% tổng lượng mưacả năm, và 10% tổng lượng mưa cả năm mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 nămsau
Trang 8Do đặc điểm mưa mùa nên sản xuất nông nghiệp của Huyện bị phân hoámạnh
Bảng 1: Lượng mưa trung bình tháng-2005 [2]
ẩm, nhất là trong các tháng cuối mùa khô.
Bảng 2: Nhiệt độ trung bình tháng- năm 2005 [2]
Ghi chú: T: tháng; t: nhiệt độ ; R(mm) : lượng mưa ; r (%) : độ ẩm
Nhìn chung khí hậu trên địa bàn thuận lợi cho phát triển nông nghiệp dướihình thức đa dạng hoá cây trồng Song, những năm gần đây thời tiết lại xuất hiệnnhững đột biến về chế độ mưa, nắng như ngày nắng nhiệt độ lên quá cao, ngàymưa thì lượng mưa tập trung lớn và kéo dài dẫn đến tình trạng năng suất một số
Trang 9theo hướng tăng giá trị hàng hoá, vì vậy cần có những nhận định chính xác nhằmgiải quyết những khó khăn hiện tại và xây dựng kế hoạch phát triển nông nghiệpcho những năm tới.
2.1.3.4 Chế độ gió
Hướng gió chủ đạo trong năm là Tây Nam và Đông Bắc Gió Tây Namthổi vào mùa mưa (tháng 6 đến tháng 10) với tần suất 70% Gió Đông Bắc thổivào mùa khô (tháng 11 đến tháng 2 năm sau) Với tần suất 60% Từ tháng 3 đếntháng 5 là hướng Đông–Nam, tốc độ gió trung bình 2m/s
Bảng 4: Tần suất gio ù- huyện Nhơn Trạch [2]
Các sông rạch nằm trong một hệ thống nối liền nhau, đồng thời chịu ảnhhưởng của chế độ bán nhật triều, hầu hết nước sông đều bị nhiễm mặn
2.1.4.2 Chế độ thủy văn
Trang 10Nhơn Trạch có nhiều sông lớn bao bọc, là ranh giới với các Huyện và Tỉnhlân cận Bao gồm: sông Đồng Nai, sông Sâu, sông Nhà Bè, sông Lòng Tàu, sôngThị Vải, sông Đồng Tranh… , phần lớn các sông này đều thông với nhau, chịu ảnhhưởng của chế độ bán nhật triều và thường bị nhiễm mặn, nên có phần hạn chếtrong việc cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt, nhưng có khả năng phát triểngiao thông thuỷ.
Sông Đồng Nai đoạn chảy qua Huyện dài 25km, rộng 1,5km, sâu 5 – 10m
phía hạ lưu có thể lưu thông được tàu có trọng tải 3000 tấn, đoạn phía trên do cónhiều cồn cát ngầm nên chỉ lưu thông được tàu có trọng tải dưới 1000 tấn
Sông Thị Vải, chảy từ Nhơn Trạch xuống Vũng Tàu, đoạn chảy qua
Huyện dài 27,5km đoạn phía trên sâu 9 – 12m có thể lưu thông tàu 10.000 tấnnhưng do ảnh hưởng của khúc cong nên chỉ lưu thông đuợc tàu 3000 tấn Đoạnphía dưới sâu 15 – 17m, có thể lưu thông tàu 30.000 tấn
Sông Đồng Tranh đoạn qua Huyện dài 21 km, sâu 7 m, có thể lưu thông
tàu 5000 tấn nhưng chiều rộng sông chỉ có 250 m nên hạn chế trong việc quaytàu
Sông Đồng Môn, là sông nhỏ bắt nguồn từ vùng đồi huyện Long Thành,
chảy qua địa phận các xã Phước Thiền, Phú Hội, Long Tân, đổ về Sông Đồng Nai
ở khu vực giữa của Long Đại và Cát Lái Độ sâu của sông 3 -5m, có nước ngọtquanh năm
- Chế độ thủy văn hệ thống sông Đồng Nai trong phạm vi huyện NhơnTrạch bị chi phối bởi 4 yếu tố: Chế độ mưa nội vùng; ảnh hưởng của thủy triều,ảnh hưởng điều tiết của hệ thống thủy điện Trị An; khả năng giữ nước và bổ sung
Trang 113,6m (tháng 2 – 1989), thấp nhất 1,05m (tháng 9), có tác dụng rất lớn đến khảnăng tiêu nước của từng khu vực.
2.1.4.3 Dòng chảy
Dòng chảy tổng hợp trong vịnh Gềnh Rái chủ yếu là dòng chảy hai chiều,vector vận tốc dòng chảy trong pha triều rút gần như ngược hướng với vectơ vậntốc lúc chảy vào Tốc độ dòng chảy trung bình ở bề mặt trong Vịnh Gềnh Ráikhoảng 30-50m/s
2.1.5/ HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN SINH VẬT VÀ HỆ SINH THÁI
2.1.5.1 Tài nguyên trên cạn
Thống kê được 106 loài thuộc 32 họ và 68 chi thực vật Đây là đại diệncủa ngành thực vật bậc cao, ngành hạt kín lớp hai lá mầm và một lá mầm
Các loài thực vật này đều tập trung theo một số kiểu sinh thái như sau:
Hệ sinh thái các cây rừng ngập mặn ven sông, bao gồm những cây ưa nướclợ, lợ ngọt và Dừa Nước (Nifa futica) Oârô (Acanthus ilicfolius), Bần Chua(Sonneratia caseolaris), Bần Oâi (S.Ovata)… các loài Bần Chua và Mắm đãtạo thành một đai nhỏ phòng hộ ven sông
Hệ sinh thái các cây chịu ngập quanh năm hoặc trong các đầm lầy, cácthuỷ vực ven sông
Hệ sinh thái cây trồng lâm nghiệp như bạch đàn, tràm cừ, xen vào đó làcác cây trồng ăn quả quanh năm như mãng cầu xiêm, dừa trong vùng códân cư sinh sống
Hệ sinh thái các cây chịu ngập theo mùa trên vùng úng phèn bị bỏ hoangnhư thảm cây Cỏ năng, xen lẫn là Lúa ma và Sen súng
Trang 12Các họ thực vật sau đây có số loài nhiều nhất trong tổng số các loài: HọHoà Thảo (15 loài), Họ Cói (14 loài), Họ Đậu (12 loài), Họ Sim (6 loài) [2]Nếu phân tích theo phân dạng sống của các loài cho thấy:
25 loài cây có dạng thân bụi chiếm 23,5% tổng số các loài
19 loài cây có dạng thân gỗ, chiếm 17% trên tổng số các loài
47 loài cây thân thảo, chiếm 44.3% tổng các loài
4 loài cây thân leo, chiếm 3% tổng số các loài
Cây trồng chỉ có khoảng 12 loài chiếm 11.3% không mang tính chất đặc trưngcho toàn vùng mà bị xáo trộn do con người
2.1.5.2 Tài nguyên thuỷ sinh
Thực vật phù du có 77 loài, ngành tảo silic chiếm ưu thế với 74 loài giốngCoscinodiscus spp Có tần số gặp > 90%, chiếm ưu thế về số lượng, chúngquyết định mật độ trung bình và chiếm hơn 80% Chỉ có 2 loài Tảo Giáp vàmột loài Tảo Kim
Động vật phù du có khoảng 59 loài bao gồm 2 nhóm chính Nhóm loài nướclợ điển hình có tần số xuất hiện cao ở vùng cửa sông, chủ yếu là những loàinước lợ, thích nghi với điều kiện nhiệt độ, độ muối tương đối rộng, có sốlượng khá lớn như: Acartiella sinensis, Sinocalanus laevidactylus, Schmackkria dubia… nhóm có tần số xuất hiện thấp gồm những loài ở biển, có khảnăng thích nghi với độ muối rộng và phạm vi phân bố rộng nên chúng cóthể ở vùng cửa sông vào mùa khô như: Euchaeta Conciirna, Eucalanusssubcruss, Acartia spincauda… Số lượng động vật phù du bình quân đạt 110
Trang 13 Động vật đáy có 4 nhóm chính trong đó nhóm thân mềm có khối lượng caonhất, tiếp đến là giun nhiều tơ, da gai và giáp xác Số lượng động vật đáybình quân đạt 1,25g/m2 và 256 con/m2.
2.2/ ĐIỀU KIỆN KINH TẾ
2.2.1/ Giao thông
a Đường thủy
Có 4 tuyến đường sông có thể lưu thông tàu trọng tải lớn, trong đó 2 tuyếncó thể lưu thông tàu 3.000 tấn, 1 tuyến có thể lưu thông tàu 5.000 tấn, 1 tuyến cóthể lưu thông tàu 1.000 tấn Nếu đầu tư cải tạo luồng lạch có thể lưu thông cácloại tàu 10.000 – 30.000 tấn Hiệân nay đã có 3 cảng là: Cảng Tuy Hạ (Quân độiquản lý), cảng Gò Dầu (thuộc Bà Rịa – Vũng Tàu), cảng GiDo (thuộc nhà máydăm gỗ) Cơ sở vật chất ở các cảng này chưa có gì đáng kể, phạm vi phục vụ hẹp
b Đường bộ
Mạng lưới đường bộ đã được chú trọng xây dựng nhưng còn chậm Các chỉtiêu về mật độ còn thấp
o Mật độ đường: 0,26km/km2
o Chiều dài quốc lộ: 0,354 km/1.000 dân
o Chiều dài tỉnh lộ, liên tỉnh lộ: 0,332km/1.000 dân
o Chiều dài huyện lộ: 0,782 km/1.000 dân
o Chất lượng đường nhìn chung là xấu, còn thấp hơn nhiều so với yêu cầuphát triển kinh tế của Huyện cũng như toàn khu vực
Trang 142.2.3/ Mạng điện
a Nguồn điện
o Nguồn điện được dẫn từ mạng quốc gia 110 KV qua các trạm biến ápsau:
o Trạm Nhơn Trạch (T1): cấp điện cho khu công nghiệp Nhơn Trạch
o Trạm Long Bình: Công suất 1*40 MAV – 110/15KV, cấp điện chothành phố Biên Hòa, huyện Long Thành, huyện Nhơn Trạch
b Lưới điện
o Đường dây 110KV: hiện có đường dây mạch kép rẽ nhánh từ đườngdây 110 KV Bà Rịa Long Khánh đến trạm Nhơn Trạch dài 5km (dây A– 185)
o Lưới 15KV: bao gồm 3 tuyến với tổng chiều dài 100km, cấp điện chocác trạm biến áp 15KV/04 KV với tổng dung lượng 4220 KVA Riêngkhu công nghiệp Nhơn Trạch đã được cấp riêng từ trạm biến áp T1.Nhìn chung mạng điện cấp cho sinh hoạt chất lượng còn tốt, nhưng dophải dẫn từ nguồn ở xã lên thất thoát nhiều Hiện nay, tất cả các xãtrong huyện đều có điện, trong đó có khoảng trên 50% hộ đã sử dụngđiện
Trang 152.2.4/ Thông tin bưu điện
o Đã lắp đặt 1 tổng đài điện tử Starex 384 số ở trung tâm huyện và 1tổng đài Panasonic 32 số ở xã Đại Phước
o Thiết bị truyền dẫn: lẵp đặt thiết bị truyền dẫn Viba AWA 1504 – 60kênh và đặt ở Đại Phước thiết bị Viba ít kênh loại văn hóa-601-1kênh
o Máy điện thoại: hiện đã lắp được 200 máy điện thoại, bình quân 425người mới có 1 máy
Trang 16CHƯƠNG III
TỔNG QUAN NGÀNH CHĂN NUÔI GIA SÚC
3.1/ TỔNG QUAN NGÀNH CNGS TẠI HUYỆN NHƠN TRẠCH
Trong đồ án này, nông hộ được xem là đối tượng trung tâm, là đơn vị sảnxuất và sử dụng chất thải
Các loại hộ chăn nuôi [7]
- Hộ nuôi nái: người dân nuôi nái và bán lợn con sau cai sữa (7-10kg)
- Hộ nuôi lợn gột: người dân nuôi lợn con sau cai sữa đến khoảng 25kg, sau đólợn được bán cho người nuôi lợn thịt để tiếp tục được vỗ béo hoặc giết mổ
- Hộ nuôi lợn thịt: hô chăn nuôi lợn con sau cai sưã hoặc lợn gột khoảng 25kgthành lợn thịt Khối lượng bán đạt >45kg
Huyện Nhơn Trạch, với diện tích khoảng 41,0891km2, tổng số dân 118.859người có tổng đàn gia súc của Huyện 26.238 con (2005) Trong đó:
+ Trâu, bò 691 con
+ Tổng đàn heo là 25.547 con, trong đó heo nái chiếm 872 con
Hiện nay vấn đề chăn nuôi gia súc đối với người làm nghề nông là mộttrong những việc đem lại hiệu quả kinh tế đáng kể, và được phát triển ở tất cảcác xã trên địa bàn Huyện Nhơn Trạch
Trang 17Ngành chăn nuôi dần dần cải thiện đđược tỷ trọng trong cơ cấu nôngnghiệp,
100 con khá nhiều
Ngành chăn nuôi phát triển tạo ra sự cân đối trong cơ cấu ngành nôngnghiệp, sản phẩm của chăn nuôi sẽ cung cấp cho các nhu cầu tại chỗ đối với ngườiđịa phương và các đối tượng đang làm việc trên địa bàn Huyện Ngoài ra, tậndụng được các sản phẩm của ngành trồng trọt, nâng giá sản phẩm của ngành
Phấn đấu đến năm 2006 đưa tỷ trọng chăn nuôi chiếm 35%; trong đó đànheo 30.000 con, trâu bò 7.500 con Thực hiện đồng bộ việc cung ứng giống vàthức ăn có chất lượng cao cho chăn nuôi
Nhơn trạch là Huyện thuộc tỉnh Đồng Nai- một trong những Tỉnh có ngànhchăn nuôi phát triển trong nước Trong những năm gần đây, cùng với xu thế côngnghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước, phong trào chăn nuôi của Huyện đangtrên đà phát triển mạnh, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội bên trong vàngoài Huyện
Bên cạnh những mặt tích cực của việc phát triển chăn nuôi, vấn đề môitrường do ngành này gây ra đang được xã hội và các nhà làm công tác môi trườngquan tâm vì lượng NH3 có nguồn gốc từ chăn nuôi đưa vào khí quyển khoảng
Trang 1822.1012 (gN/năm) (chiếm 48,9% tổng lượng NH3 đưa vào khí quyển hằng năm),nhiều hơn bất kỳ nguồn nào khác [6]
3.2/ THÀNH PHẦN VÀ TÍNH CHẤT CỦA CHẤT THẢI NGÀNH CHĂN NUÔI GIA SÚC NÔNG HỘ
3.2.1 Chất thải rắn
a Phân
Trong phân gia súc có một phần rất nhỏ rác, chất độn và thức ăn thừa.Lượng phân thải ra tùy thuộc vào giống, loài, tuổi, khẩu phần ăn và trọng lượnggia súc
Bảng 5: Lượng phân thải ra hằng ngàyTrọng lượng gia súc Lượng phân (kg/ngày)
(Nguồn: Hill và Toller)
Bảng 6: Thành phần hóa học của phân gia súc
Trang 19Các axit béo mạch ngắn 3,83 – 4,47 g/kg
(Nguồn: Trương Thanh Cảnh & cộng tác viên, 1997-1998)
Ngoài ra trong phân gia súc còn chứa rất nhiều virus, vi trùng, ấu trùng,trứng giun sán … có hại cho sức khỏe của con người và gia súc Các loại này cóthể tồn tại từ vài ngày đến vài tháng trong phân, trong nước thải và trong đất
(Nguồn: Hill và Toller)
Nước tiểu gia súc có thành phần chủ yếu là nước (chiếm trên 90% tổngkhối lượng nước tiểu), ngoài ra còn có hàm lượng N và urê khá cao nên có thểdùng để bổ sung đạm cho đất và cây trồng
Bảng 8: Thành phần hóa học của nước tiểu gia súc
Trang 20pH 6,77 – 8,19
(Nguồn: Trương Thanh Cảnh & cộng tác viên, 1997,1998)
Như vậy, tính sơ bộ cho một nông hộ có khoảng 10 con gia súc thì hàngngày phát sinh khoảng 30 – 50 kg phân, 20 – 50 kg nước tiểu Đây là nguồn gây ônhiễm môi trường và gây bệnh nếu không có các biện pháp quản lý phù hợp
3.2.2 Nước thải
Nước thải từ hoạt động chăn nuôi có nguồn gốc từ việc tắm rửa gia súc, vệsinh chuồng trại, máng ăn uống … và nước thải do vật nuôi bài tiết Lượng nướcthải này còn chứa một phần phân của vật nuôi và có hàm lượng chất rắn lơ lửngkhá cao cũng như bị ô nhiễm hữu cơ rất lớn Đây là một nguồn ô nhiễm rất nặng,chứa các chất hữu cơ, vô cơ có trong phân, nước tiểu và thức ăn Các thành phầnhữu cơ trong nước thải chăn nuôi đều dễ phân hủy, chiếm 70 – 80% gồm xenlulo,protit, axit amin, chất béo, hydrat cacbon và các dẫn xuất của chúng có trongphân, trong thức ăn thừa Các thành phần vô cơ chiếm 20 – 30% gồm cát, đất,muối, ure, amoni, muối Clorua… (Nghiên cứu của Trung tâm Công Nghệ Môitrường– ENTEC)
Nước thải chăn nuôi không chứa các chất độc hại như nước thải công nghiệp(acid, kiềm, kim loại nặng, chất ôxy hóa…) nhưng chứa rất nhiều loại ấu trùng, vitrùng, trứng giun sán có trong phân Có thể nói đặc trưng ô nhiễm của nước thảichăn nuôi là hàm lượng chất rắn lơ lửng, chất hữu cơ hòa tan và vi sinh vật gâybệnh
Trang 21Bảng 9: Tính chất nước thải chăn nuôi gia súc
(Nguồn: Trương Thanh Cảnh & cộng tác viên, 1997,1998)
Huyện Nhơn Trạch có nhiều cơ sở chăn nuôi, hầu hết các cơ sở chưa có hệthống xử lý nước thải mà được thải bỏ trực tiếp ra sông rạch, ao, hồ …Hầu hết dễphân huỷ thành acid amin, acid béo, CO2, H2O, NH3, H2S… Sự phân hủy sinh họcnày chính là nguyên nhân gây ô nhiễm mùi hôi tại các nông hộ chăn nuôi
Ngoài ra, nước thải tại các nông hộ chăn nuôi chính là nguyên nhân gây ônhiễm các nguồn nước mặt, nước ngầm trong khu vực
Lượng nước sử dụng cho một đầu gia súc dao động khoảng 30–80lit/con/ngày tùy thuộc vào đặc điểm hệ thống chuồng trại, quy trình nuôi dưỡngchăm sóc, mùa mưa hay mùa khô
Trang 223.3/ CHĂN NUÔI VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN CỦA HUYỆN NHƠN TRẠCH
3.3.1/ Dân số và vấn đề chăn nuôi
Trong những năm trước đây, dân số huyện Nhơn Trạch phát triển với tốcđộ cao từ các nguồn tăng tự nhiên và tăng cơ học, riêng năm 2000 tốc độ tăngdân số cơ học (1,75%) cao hơn tốc độ tăng dân số tự nhiên (1,7%) tại thời điểmtháng 10 năm 2000 toàn huyện có 114.352 người, bao gồm 21 dân tộc, trong đódân tộc kinh chiếm 99,4%, hiện đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế –xã hội của Huyện
Tính đến năn 2005, dân số toàn huyện là 118.859 người với 25.109 hộ.Hiện dân số trong độ tuổi lao động là 68.970 người, trong đó có việc làm là56.617 người, bao gồm lao động nông-lâm nghiệp 29.507 người chiếm 52,1%,công nghiệp-xây dựng 12.369 người chiếm 21,9%, dịch vụ 14.741 người chiếm26%
Theo tài liệu của Ủy ban nhân dân huyện Nhơn Trạch mật độ dân số trungbình toàn huyệân 265 ngươiø/km2 Dân cư phân bố không đều, thường tập trungchuyển tiếp giữa địa hình đồi và đồng bằng ven sông, các xã phía Bắc có mật độdân số cao hơn nhiều so với phía Nam Xã có mật độ dân số cao nhất là PhướcThiền (700 người/km2) Thấp nhất là Phước An và Vĩnh Thanh (40 – 50người/km2)
Trang 23Bảng 10: Dân số trung bình phân theo xã tại Huyện Nhơn Trạch 2005
Trang 24Mặt khác, ngành chăn nuôi chỉ cần được đào tạo cơ bản hoặc có nhiềungười nghề truyền nghề chưa qua tập huấn hoặc bất cứ một trường lớp đào tạonào mà vẫn theo ngành chăn nuôi bao đời.
Ngoài ra dân số ngày càng tăng thì nhu cầu về thực phẩm cũng ngày càngcao, chất lượng bữa ăn cũng chất lượng hơn vì thế giá bán sản phẩm thịt trên thịtrường hiện ở mức cao, có lợi cho người chăn nuôi, vì thế chăn nuôi trên địa bànhuyện vẫn đang trên đà phát triển góp phần làm cơ cấu nông nghiệp chuyển dịchtheo đúng định hướng đề ra
3.3.2/ Tài nguyên đất
Bảng 11: Nhu cầu đất cho phát triển đô thị và dân cư nông thôn[2]
Hạng mục Đơn vị Năm 1997 Năm 2010 Năm 2020Toàn Huyện
Ngườiha
Ngườiha
110.700626
110.700626
265.0001.950
160.000950
105.0001.000
600.0004.000
450.0002.700
150.0001.300
Trang 25Như vậy nhu cầu đất cho phát triển đô thị và dân cư nông thôn ngày càngcao Do đó diện tích mặt nước (đất ngập nước) ngày càng bị thu hẹp Vì vậy chấtthải chăn nuôi chưa được xử lý sẽ gây ra tình trạng ô nhiễm mùi, ô nhiễm môitrường nước sông rạch Mặt khác, do ảnh hưởng của thuỷ triều nên chất thải chănnuôi được thải trực tiếp xuống sông rạch sẽ bùng nhùng tại chỗ không thoát được,
ứ đọng tại chỗ gây ô nhiễm cục bộ cho khu vực xung quanh
Chính vì thế giải pháp xử lý nước thải chăn nuôi bằng đất ngập nước đanglà vấn đề cần được xem xét Và trong 12 xã thì diện tích đất ngập nước của xãPhước khánh là cao nhất 575,53; Phú Đông 457,325; Long Tân 314,36
3.4/ CHĂN NUÔI VÀ VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG CỦA HUYỆN NHƠN TRẠCH 3.4.1 Hiện trạng chất lượng nguồn nước sông
Toàn huyện gồm hai hệ thống sông chính: hệ thống sông Đồng Nai và hệthống sông ông Kèo Hiện trạng ô nhiễm của hai hệ thống sông này do:
- Aûnh hưởng do hoạt động công nghiệp và chăn nuôi Trong đó ảnh hưởnghoạt động công nghiệp tới chất lượng nước sông thuộc hệ thống sông ông Kèo,đặc biệt là hệ thống sông Thị Vải với các thông số DO thấp, các chỉ tiêu BOD, N-
NH3 có giá trị cao ở cả hai mùa
- Aûnh hưởng nước hệ thống sông Đồng Nai chủ yếu bởi các hoạt động chănnuôi, nhất là tình hình chăn nuôi tại xã long Tân, chỉ với hình thức xử lý là phângia súc làm Biogas và bón vườn, còn nước thải từ chuồng trại thải trực tiếp xuốngcác kênh rạch thuộc hệ thống sông Đồng Nai
- Hệ thống sông Đồng Môn được dùng làm nguồn cung cấp nước cho KCNNhơn Trạch cũng bị ô nhiễm chất hữu cơ do các nguồn thải của các khu dân cưlân cận và các xã thuộc thượng nguồn Các biểu hiện ô nhiễm thông qua hàm
Trang 26lượng DO giảm khoảng 5-6mg/l thấp hơn tiêu chuẩn loại A (DO≥ 6mg/l), BOD,COD, N-NH3 đều vượt tiêu chuẩn từ 1-29 lần
- Hệ thống sông Thị Vải chịu ảnh hưởng do các hoạt động công nghiệp, dovậy hiện nay một số khu vực như ấp 3, ấp 4 xã Long Thọ không thể hoạt độngnuôi tôm
- Do ý thức người dân còn kém, chưa ý thức được vấn đề bảo vệ môitrường là bảo vệ sức khoẻ của chính mình, vì thế hầu hết các kênh rạch ở đâyđều được người dân tận dụng triệt để làm nơi tiểu tiện, đại tiện, xả nước thải bẩnvà rác thải một cách vô cùng bừa bãi
3.4.2 Hiện trạng và dự báo tải lượng ô nhiễm do nước thải chăn nuôi
a Hiện trạng
Theo báo cáo của sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, toàn tỉnhhiện nay có khoảng 177.000 hộ chăn nuôi có chuồng trại Số hộ có chuồng hợpvệ sinh khoảng 61.000 hộ (khoảng 35%) Trong đó 6.900 chuồng trại có trang bịhầm, túi ủ biogas (11% số hộ có chuồng trại hợp vệ sinh và chỉ 3,9% tổng số hộcó chuồng trại chăn nuôi)-thống kê trên toàn tỉnh
Ô nhiễm môi trường do hoạt động chăn nuôi gia súc chủ yếu là chăn nuôiheo Các hoạt động chăn nuôi này hàng năm đem lại giá trị kinh tế rất lớn, gópphần xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân Tuy nhiên bên cạnh đóchất thải ngành chăn nuôi gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nhất là môitrường nước, và môi trường không khí
Trang 27b Dự báo chất thải chăn nuôi
Năm Số lượng các
loại hộ CNGS
Số lượng giasúc (con)
Lượngphân (kg)
Lượng nướctiểu (kg)
Nhơn Trạch có số lượng gia súc 26.238 con, lượng chất thải hằng ngày thảivào môi trường nước Huyện trung bình khoảng 78.714kg phân (3kg * 26.238 con),52.476kg nước tiểu (2kg * 26.238 con) và một lượng lớn nước thải sinh ra từ việctắm gia súc, rửa chuồng Con số này sẽ tăng lên gấp đôi vào năm 2010 và sẽ làmột nguồn ô nhiễm đáng kể cho môi trường của Huyện Nhơn Trạch – một thànhphố trong tương lai
3.4.3 Aûnh hưởng thuỷ triều và vấn đề ô nhiễm trong lưu vực
Thuỷ triều biển Đông xâm nhập sâu vào đất liền thông qua các cửa sôngtrong lưu vực sông Đồng Nai-Sài Gòn, do đó đóng vai trò quan trọng trong việcgây xâm nhập mặn, lan truyền và pha loãng ô nhiễm nước
Biểu hiện dễ thấy nhất của hiện tượng thuỷ triều là dao động mực nước.Chế độ dao động mực nước liên quan trực tiếp đến phát tán và pha loãng ô nhiễmnước Dòng chảy là dòng chảy hai chiều, chảy vào và chảy ra Vectơ vận tốcdòng chảy trong pha triều rút gần như ngược hướng với vectơ vận tốc lúc chảyvào Các yếu tố góp phần quan trọng vào vấn đề ô nhiễm môi trường nước nhưlưu lượng thượng nguồn vào mùa khô, tính chất hoá lý của chất gây ô nhiễm vàtác động của khí quyển thông qua gió, sóng và nhiệt độ không khí Đối với các xãnằm ở vùng ven sông, ven biển, cửa sông như Phước Khánh, Long Tân, Phú Hữu,Phú Đông, Đại Phước thì gió góp phần làm tăng thêm 3% vận tốc lan truyền ô
Trang 28nhiễm và làm tăng sự phân tán chất ô nhiễm vào khối nước.
Đặc điểm dao động mực nước trong vùng hàng ngày có hai lần nước lên vàhai lần nước xuống với biện độ hai lần lên và xuống không đều nhau là phổ biến
Trước ngày trăng tròn hoặc trăng non khoảng 3 ngày và kéo dài khoảng 5ngày, hàng ngày hai lần nước lên và hai lần nước xuống với thời gian nước lên vànước xuống khá đều nhau, trung bình khoảng 5 giờ Độ cao nước lơn thấp hơn độcao nước lớn cực đại trong vòng nửa tháng khoảng 10-15cm độ cao nước ròngcao hơn độ cao nước ròng cực tiểu khoảng 30-40cm
Trong dạng dao động này khi nước ra, lượng chất ô nhiễm rút ra cùng vớidòng nước Nhưng dòng nước chưa kịp rút ra thì khối nước dòng vào được đẩyvào Do đó, lượng chất ô nhiễm trong dòng vẫn còn tồn đọng trong các kênh rạchnhỏ, gây ô nhiễm với nồng độ ngày càng lớn
Đặc trưng mực nước này cho thấy ảnh hưởng của thuỷ triều lên các quátrình ô nhiễm nước đáng kể hơn vào các tháng 6 và tháng 7 là những tháng bắtđầu mùa mưa và giảm đi một ít vào tháng 12, tháng 1, tháng 2
Dòng ra có chất
Trang 29trong hệ thống lưu vực trong vùng phụ thuộc rất nhiều vào thuỷ triều, nhất làtrong chu kỳ nửa tháng, về cả biên độ lẫn thời điểm xảy ra sự ô nhiễm và do đặcđiểm này nên việc đề xuất biện pháp xử lý nước thải chăn nuôi bằng phươngpháp đất ngập nước nhằm phòng chống và khắc phục ô nhiễm môi trường nướcsông là đáng quan tâm.
3.5/ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG CỦA NGÀNH CHĂN NUÔI
3.5.1 Aûnh hưởng chăn nuôi đến chất lượng không khí
Có nhiều loại khí sinh ra trong chuồng nuôi gia súc và bãi chứa chất thải
do quá trình phân hủy kỵ khí chất thải chăn nuôi (chủ yếu là phân và nước tiểu)và quá trình hô hấp của vật nuôi Thành phần chất thải chăn nuôi có thể chiathành 3 nhóm: Protein, cacbohydrate và dầu mỡ Quá trình phân hủy kỵ khí chấtthải chăn nuôi tạo nhiều sản phẩm trung gian và sản phẩm cuối khác nhau
NH3
Protein indole, schatole, phenole
Acid hữu cơ mạch ngắn Alcohol Ketones
H2O, CO2 và và cácCarbonhydrates Các chất hữu cơ Hydrocarbon mạch ngắn
Acid béo H2O, CO2 và CH4
Mỡ
Trong 3-5 ngày đầu, mùi hôi sinh ra ít, do vi sinh vật chưa kịp phân hủyphân và nước tiểu gia súc NH3 được tạo thành nhiều nhất vào ngày thứ 3 và 21.Khi để phân bị phân hủy lâu, hỗn hợp các khí sinh ra trong quá trình phân hủy kỵkhí phân và nước tiểu gia súc (có thành phần chủ yếu là NH3, H2S, CH4) tạo thànhmột mùi rất khó chịu, đặc biệt đối với người chưa quen tiếp xúc Quá trình hô hấp
Trang 30của gia súc thải ra một lượng lớn CO2 Tất cả các khí này tồn tại trong môi trườngkhông khí của khu vực chăn nuôi tạo nên một mùi đặc trưng hôi thối rất khó chịu.
Ở nồng độ cao chúng có thể gây ngạt, kích thích niêm mạc mắt và mũi, gâychoáng váng nhức đầu Mức độ nguy hại của các khí này tăng cao khi tồn tạiđồng thời trong không khí hoặc tích tụ lại với nồng độ cao, gây khó chịu và có thểnguy hiểm cho người và gia súc
3.5.2/ Aûnh hưởng chăn nuôi đến môi trường đất
Khi chất thải được thải ra trên nền đất sau chuồng nuôi sẽ tạo ra các đám
sinh Nếu nông hộ nằm trong trung tâm làng xã thì hiện tượng ô nhiễm này càngtrở nên đáng lo ngại
Trong chất thải chăn nuôi có chứa rất nhiều chất dinh dưỡng cần thiết chođất, cho cây trồng nên thường được dùng để bón cho cây, tăng độ màu mỡ chođất Tuy nhiên nếu lượng chất hữu cơ này đưa vào môi trường đất quá nhiều, câytrồng trong đất không hấp thụ hết sẽ dẫn đến hai tác hại chính như sau:
Phú dưỡng hóa đất: lượng chất hữu cơ dư thừa trong đất làm cho đất bãohòa và quá bão hòa dinh dưỡng, gây mất cân bằng sinh thái và thoái hóa đất Đây
Trang 31dẫn đến hiện tượng rửa trôi và thấm làm ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm.Khi trong thức ăn gia súc có chất kích thích sinh trưởng mà thành phần chủ yếu làcác hợp chất đồng và kẽm sẽ làm tích tụ trong đất một lượng kim loại nặng làmảnh hưởng đến cây trồng và cuối cùng ảnh hưởng đến người và gia súc (Bos and
de Wit, 1996).
Vi sinh vật và mầm bệnh: phân và nước tiểu của gia súc có chứa rấtnhiều loại vi trùng, ấu trùng, trứng giun sán… tồn tại vài năm trong đất có thể gâybệnh cho người và gia súc Các tác nhân gây bệnh này phát tán vào không khí,nước ngầm, nước mặt theo chuỗi thức ăn nguy cơ nhiễm bệnh cho người và giasúc cũng tăng cao
3.5.3/ Aûnh hưởng chăn nuôi đến sức khoẻ con người
Con người và môi trường có mối quan hệ gắn bó với nhau, bảo vệ môitrường chính là bảo vệ chính chúng ta, ngược lại môi trường bị đe doạ thì conngười cũng bị đe doạ theo Chính vì thế, nếu như các môi trường thành phần bị ônhiễm thì đây chính một trong những nguyên nhân gây tổn hại đến sức khoẻ conngười Không ngoại lệ, nếu như môi trường không khí và môi trường nước trongkhu vực chăn nuôi bị ô nhiễm thì kéo theo tình trạng sức khoẻ của người dântrong khu vực không tốt là điều tất nhiên
Trang 32Bảng 12: Tính chất và tác hại của một số khí sinh ra khi phân phân hủy kỵ khí
20 ppm Kích thích mắt và đường hô
hấp trên, gây ngạt ở nồng độcao, dẫn đến tử vong
CO2 Không
mùi
Nặng hơnkhông khí
1.000ppm Gây uể oải, nhức đầu, có thể
gây ngạt, dẫn đến tử vong ở
nồng độ cao
H2S Mùi trứng
thối
Nặng hơnkhông khí
10 ppm Khí độc: gây nhức đầu, chóng
mặt, buồn nôn, bất tỉnh, tử
vong
CH4 Không
mùi
Nhẹ hơnkhông khí
1.000ppm Gây nhức đầu, ngạt Gây nổ ở
nồng độ 5 – 15% trong không
khí
(Nguồn: Ohio State University, USA)
3.5.4 / Aûnh hưởng chăn nuôi đến diện tích mặt nước
Các quan sát tại địa phương cho thấy nước thải chăn nuôi chảy ra ngoàichuồng nuôi trực tiếp xuống ao, mương, kênh rạch làm ảnh hưởng đến môi trườngđất, môi trường nước xung quanh… khi xem ô nhiễm nguồn nước là một nguy cơlớn nhất tác giả [7] đã xác định hệ số tiếp nhận như sau:
- Thải chất thải trực tiếp ra các dòng chảy mang nguy cơ lớn nhất, hệ số 1
Trang 33- Chất thải thải ra đất, hệ số 0,5
Tuy nhiên, hệ thống thuỷ lợi rất phức tạp khiến rất khó có thể xác địnhđược chính xác điểm đến của các dòng chảy Thực vậy, một số dòng chảy đượcsử dụng để tưới tiêu cho ruộng đồng, ngược lại một số khác có thể đổ trực tiếp rasông Khi đó nguy cơ môi trường là không thể tránh khỏi
Diện tích mặt nước ở đây có thể là các ao cá hoặc dòng chảy như sôngngòi, mương máng, rãnh nước, kênh rạch… Rãnh nước công cộng dẫn nước đổvào mương rồi mương đổ vào sông ngòi Những ao cá kết hợp với chăn nuôi lợnlà đối tượng của ô nhiễm dạng này Bón phân quá mức cho ao sẽ gây nên hiệntượng phú dưỡng hóa Một trong những dấu hiệu đầu tiên của ô nhiễm có thểquan sát thấy là hiện tượng cá bị ngạt Nếu không thay nước ao và vẫn duy trì chochất thải xuống ao thì ô nhiễm sẽ ngày càng trầm trọng hơn Khi đó nước ao sẽđục mờ và gây mùi khó chịu, các loại thực vật và sinh vật sẽ không thể sốngtrong môi trường nước này Vì thế nông hộ sẽ chịu sẽ mất mát về kinh tế dongừng khai thác ao Hơn nữa, khi ao ô nhiễm như vậy nếu không kịp thời khắcphục thì ao bây giờ trở thành nơi chứa chất thải và trở thành nguồn gốc lây nhiễmcác yếu tố ô nhiễm đất, nước và ao lân cận Vào mùa mưa, ao này sẽ bị ngập trànvà là nguyên nhân gây ô nhiễm các dòng chảy
Hiện tượng ô nhiễm các dòng chảy là rất phổ biến, đặc biệt là trong khuvực làng xã Khi không được sử dụng, chất thải lỏng sẽ chảy ra rãnh sau chuồngnuôi rồi dẫn vào các mương, các kênh rạch…
Trang 343.6/ ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI GIA SÚC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NHƠN TRẠCH
Tình trạng chăn nuôi gia súc ở quy mô gia đình nên đã nảy sinh ra vần đề
ô nhiễm môi trường đặc biệt là nguồn nước do nước thải chăn nuôi chưa được xửlý đạt tiêu chuẩn trước khi thải
Ngoài ra, về biện pháp xử lý nước thải thì vẫn chưa được quan tâm như :+ Chưa xây dựng bể tự hoại để chứa nước thải chăn nuôi
+ Nước thải từ chuồng heo được thải trực tiếp hoặc gián tiếp xuống sôngngòi, kênh rạch mà chưa được qua thiết bị hạn chế ô nhiễm môi trường
- Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, nhưng chủ yếu là do:
+ Nhận thức về môi trường trong cộng đồng chưa cao
+ Việc xử phạt các trường hợp vi phạm luật bảo vệ môi trường còn lỏnglẻo, mức phạt còn quá thấp chưa đủ sức để buộc các đối tượng vi phạm nỗ lựcthực hiện các giải phá bảo vệ môi trường hoặc thay đổi hành vi gây ô nhiễm
+ Việc phân cấp quản lý không rõ ràng và cụ thể dẫn đến việc đùn đẩytrách nhiệm giữa các cơ quan quản lý
Trang 35Các định nghĩa về đất ngập nước theo nghĩa rộng như định nghĩa của côngước Ramsar, định nghĩa theo chương trình điều tra đất ngập nước của Mỹ,Canada, New Zealand và Ôxtrâylia.
Theo công ước Ramsar( năm 1971) đất ngập nước được định nghĩa như sau:
“Đất ngập nước được coi là các vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước dùlà tự nhiên hay nhân tạo, ngập nước thường xuyên hoặc từng thời kỳ, là nước tĩnh,nước chảy, nước ngọt, nước lợ hay nước mặn, bao gồm cả những vùng biển mà độsâu mực nước khi thủy triều ở mức thấp nhất không vượt quá 6m”
Theo chương trình quốc gia về điều tra đất ngập nước của Mỹ:
“Về vị trí phân bố, đất ngập nước là những vùng chuyển tiếp giữa những
Trang 36hệ sinh thái trên cạn và những hệ sinh thái thuỷ vực Những nơi này mực nướcngầm thường nằm sát mặt đất hoặc thường xuyên được bao phủ bởi lớp nướcnông Đất ngập nước phải có một trong ba thuộc tính sau:
+ Có thời kỳ nào đó, đất thích hợp cho phần lớn các loài thực vật thủy sinh.+ Nền đất hầu như không bị khô
+ Nền đất không có cấu trúc rõ rệt hoặc bảo hòa nước, bị ngập nước ở mứccạn tại một số thời điểm nào đó trong mùa sinh trưởng hàng năm
Theo các nhà khoa học Canada:
“ Đất ngập nước là đất bão hòa nước trong thời gian dài đủ để hổ trợ cácquá trình thủy sinh Đó là những nơi khó tiêu thoát nước, có thực vật thuỷ sinh vàcác hoạt đông sinh học thích hợp với môi trường ẩm ướt
Theo các nhà khoa học New Zealand:
“Đất ngập nước là một khái niệm chung để chỉ những vùng đất ẩm ướttừng thời kỳ hoặc thường xuyên Những vùng đất ngập nước ở mức cạn và nhữngvùng chuyển tiếp giữa đất và nước Nước có thể là nước ngọt, nước lợ hoặc nướcmặn Đất ngập nước ở trạng thái tự nhiên hoặc đặc trưng bởi các loại thực vật vàđộng vật thích hợp với điều kiện sống ẩm ướt”
Theo các nhà khoa học Ôxtrâylia:
“Đất ngập nước là những vùng đầm lầy, bãi lầy than bùn, tự nhiên hoặcnhân tạo, thường xuyên, theo mùa hoặc theo chu kỳ, nước tĩnh hoặc nước chảy,nước ngọt, nước lợ hoặc nước mặn, bao gồm những bãi lầy và những khu rừngngập mặn lộ ra khi thuỷ triều xuống thấp”
Trang 37“Đất ngập nước là những vùng đất bị ngập hoặc bão hoà bởi nước bề mặthoặc nước ngầm một cách thường xuyên và thời gian ngập đủ để hỗ trợ cho tính
ưu việt của thảm thực vật thích nghi điển hình trong điều kiện đất bão hoà nước.Đất ngập nước nhìn chung gồm: đầm lầy, đầm phá, đầm lầy cây bụi và nhữngvùng đất tương tự”
Hiện nay định nghĩa theo công nước Ramsar là định nghĩa được nhiềungười sử dụng
4.1.2/ CHỨC NĂNG VÀ GIÁ TRỊ CỦA HỆ THỐNG ĐẤT NGẬP NƯỚC4.1.2.1/ Chức năng sinh thái của hệ thống đất ngập nước
a./ Nạp nước ngầm
Nước được thấm từ các vùng đất ngập nước xuống các tầng ngập nướctrong lòng đất, nước được giữ ở đó và điều tiết dần thành dòng chảy bề mặt ởvùng đất ngập nước khác cho con người sử dụng
b./ Hạn chế ảnh hưởng của lũ lụt
Bằng cách giữ và điều hoà lượng nước mưa như bồn chứa tự nhiên, giảiphóng nước lũ từ từ, từ đó có thể làm giảm hoặc hạn chế lũ ở vùng hạ lưu
c./ Ổn định vi khí hậu
Do chu trình trao đổi chất và nước trong các hệ sinh thái, nhờ lớp phủ thựcvật của đất ngập nước, sự cân bằng giữa O2 và CO2 trong khí quyển làm cho vikhí hậu địa phương được ổn định, đặc biệt là nhiệt độ và lượng mưa ổn định
d./ Chống sống, bão, ổn định bờ biển và chống xói mòn
Nhờ lớp phủ thực vật, đặc biệt là rừng ngập mặn ven biển, thảm cỏ… có tácdụng làm giảm sức gió của bão và bào mòn đất của dòng chảy bề mặt
Trang 38Xử lý, giữ lại chất cặn, chất độc, chất ô nhiễm : vùng đất ngập nước được coi nhưlà bể lọc tự nhiên, có tác dụng giữ lại các chất lắng đọng và chất độc( chất thảisinh hoạt và công nghiệp).
e./ Giữ lại chất dinh dưỡng
Làm nguồn phân bón cho cây và thức ăn của các sinh vật sống trong hệsinh thái đó Cá và các loài chim nước sinh sống trong các bãi lau sậy cung cấpmột lượng đạm giá trị
f./ Sản xuất sinh khối
Rất nhiều vùng đất ngập nước là nơi sản xuất và xuất khẩu sinh khối làmnguồn thức ăn cho các sinh vật thủy sinh, các loài động vật hoang dã cũng nhưvật nuôi
g./ Giao thông thủy
Hầu hết sông, kênh, rạch, các vùng hồ chứa nước lớn, vùng ngập lụtthường xuyên hay theo mùa,… đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long, vậnchuyển thủy đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống cũng như phát triểnkinh tế của các cộng đồng dân cư địa phương
h./ Giải trí, du lich
Các khu bảo tồn đất ngập nước đem lại điều kiện giải trí rất quan trọng nhưTràm Chim ( Tam Nông, Đồng Tháp), và Xuân Thuỷ (Nam Định), nhiều vùngcảnh quan đẹp như Bích Động và Vân Long, cũng như nhiều đầm phá ven biểnmiền Trung… thu hút nhiều du khách đến tham quan, bơi thuyền và câu cá, thuthập vỏ sò, ốc, xem ngắm chim bay lượn, bơi lội và lặn, săn bắt và đua thuyền
Trang 394.1.2.2/ Chức năng kinh tế
a./ Tài nguyên rừng
Giữ vai trò là đê chắn sóng tự nhiên bảo vệ sự sống Rừng ngập mặn nhiệtđới phục vụ các cộng đồng người theo nhiều cách phong phú khác Tài nguyênrừng cung cấp một loạt các sản phẩm quan trọng như : gỗ, than, củi và các sảnphẩm khác như nhựa, tinh dầu, tanin, dược liệu.Chúng tạo ra chất đốt để nấu ăn,lá để lợp nhà, sợi thớ để dệt và làm giấy, gỗ… Vỏ cây, lá và quả dùng để làmthuốc, và rừng ngập mặn cũng cung cấp chất tanin và thuốc nhuộm được sử dụngrất nhiều trong công nghệ thuộc da
Các loài động vật thường rất phong phú ở các vùng đất ngập nước, tạo nênnguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, có thể khai thác để phục vụ lợi ích kinhtế Nhiều vùng đất ngập nước rất giàu động vật hoang dã đặc biệt là các loàichim nước, cung cấp nhiều loại sản phẩm, trong đó có nhiều loại có giá trị thươngmại cao( da cá sấu, đồi mồi)
b./ Thuỷ sản
Các vùng đất ngập nước là môi trường sống và là nơi cung cấp thức ăn chocác loài thủy sinh có giá trị kinh tế cao như cá, tôm, cua, động vật thân mềm…
c./ Tài nguyên cỏ và tảo biển
Nhiều diện tích đất ngập nước ven biển có những loại tảo, cỏ biển lànguồn thức ăn của nhiều loài thủy sinh vật và còn được sử dụng làm thức ăn chongười và gia súc, làm phân bón và dược liệu…
d./ Sản phẩm nông nghiệp
Đất ngập nước ở Châu Á, Tây phi và Mỹ là nơi gạo được trồng và cung
Trang 40cấp lương thực cho hơn 3 tỉ người_ chiếm nửa dân số thế giới.
Cây cọ bột cũng quan trọng tương tự, nó cung cấp tinh bột để làm thànhbột cọ Và các loài cọ ở các vùng đất ngập nước ở Châu Phi tạo ra rất nhiều loạidầu có giá trị dùng để nấu ăn và làm xà phòng
Các ruộng lúa nước chuyên canh hoặc xen canh với các cây hoa màu khácđã tạo nên nhiều sản phẩm quan trọng khác của vùng đất ngập nước
e./ Cung cấp nước ngọt
Đất ngập nước đóng góp một phần không nhỏ cho chất lượng cuộc sốngcủa chúng ta, thậm chí cho chính sự sống còn của chúng ta Nhiều vùng đất ngậpnước là nguồn cung cấp nước ngọt cho sinh hoạt, cho tưới tiêu, cho chăn nuôi giasúc và sản xuất công nghiệp
f./ Tiềm năng năng lượng
Than bùn là một nguồn nhiên liệu quan trọng, các đập, thác nước cũng lànguồn cung cấp năng lượng Rừng tràm Việt Nam có khoảng 305 triệu tấn thanbùn cung cấp nguồn năng lượng lớn Lớp than bùn này được dùng làm phân bónvà ngăn cản quá trình xì phèn
4.1.2.3/ Giá trị đa dạng sinh học
Giá trị đa dạng sinh học là thuộc tính đặc biệt và quan trọng của đất ngậpnước Cách xa những cánh đồng lúa là những bãi lau sậy của bán cầu Bắc, cóchức năng lọc và làm sạch khi nước chảy qua
Đất ngập nước cũng đóng vai trò quan trọng trong sự sống còn của các loàichim, đặc biệt là loài chim nước Khi mùa đông ở bắc bán cầu đến là bắt đầu một