Luận án tiến sỹ: Quan niệm về nhân tài của một số nhà tư tưởng tiếu biểu thế kỷ XIX ở Việt Nam.Ngay từ xa xưa, ông cha ta đã đặc biệt quan tâm và coi trọng nhân tài. Trọng dụng nhân tài trong xây dựng và bảo vệ đất nước đã trở thành truyền thống trong tư tưởng chính trịxã hội Việt Nam. Hiền tài nguyên khí của quốc gia, nhân tài là rường cột của quốc gia, “có giang sơn thì sĩ đã có tên, so chính khí đã đầy trong trời đất”... là những quan niệm phổ biến, lâu đời về vai trò to lớn của nhân tài trong hệ thống xã hội.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Ngay từ xa xưa, ông cha ta đã đặc biệt quan tâm và coi trọng nhân tài.Trọng dụng nhân tài trong xây dựng và bảo vệ đất nước đã trở thành truyềnthống trong tư tưởng chính trị-xã hội Việt Nam "Hiền tài nguyên khí của quốcgia", "nhân tài là rường cột của quốc gia", “có giang sơn thì sĩ đã có tên, sochính khí đã đầy trong trời đất” là những quan niệm phổ biến, lâu đời về vaitrò to lớn của nhân tài trong hệ thống xã hội
Có thể nói việc tìm kiếm, sử dụng và đào tạo nhân tài luôn là vấn đề nổibật trong xây dựng bộ máy nhân sự nhà nước Thời nào cũng cần nhân tài vàcũng thấy thiếu nhân tài bởi vai trò to lớn của nhân tài đối với mọi lĩnh vực xãhội Tuy nhiên, quan niệm về nhân tài không phải là nhất thành bất biến Mỗichính thể, mỗi giai đoạn lịch sử lại cần những mẫu hình nhân tài khác nhau trêntiêu chí đáp ứng việc giải quyết yêu cầu của triều đại, của giai đoạn lịch sử đó.Quan niệm về nhân tài góp phần vào việc xác lập các tiêu chí con người lýtưởng, đồng thời góp phần tạo dựng nên đội ngũ nhân tài của mỗi thời đại Việctìm hiểu quan niệm về nhân tài và chính sách đào tạo, đãi ngộ nhân tài trong tưduy lý luận của dân tộc nói chung, ở thế kỷ XIX nói riêng, không chỉ giúp lýgiải nhiều sự kiện lịch sử, văn hoá, tìm hiểu những đóng góp và vai trò củangười hiền tài vào lịch sử phát triển dân tộc… mà quan trọng hơn là tìm kiếm,rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu về nghệ thuật dùng người của tiềnnhân vì sự phát triển đất nước
Và hiện nay trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, vấn đề tìm kiếm,lựa chọn nhân tài, chủ trương đào tạo, sử dụng nhân tài đang được đặt ra một cáchcấp bách từ cấp trung ương đến địa phương, cả về mặt lý luận và thực tiễn.Việc đào tạo, sử dụng người tài đang là vấn đề lớn của tổ chức nhân sự và giáo dụcđào tạo hiện nay Nhưng quan niệm thế nào là nhân tài, phương châm đào tạo, sửdụng nhân tài, các cơ chế đảm bảo nhân tài có thể phát huy tối đa năng lực cốnghiến cho xã hội…vẫn đang là vấn đề chưa có sự thống nhất cả về nhận thức và
Trang 2hành động Điều này tác động không nhỏ tới sự suy giảm sức mạnh nguồn tàinguyên nhân lực của quốc gia Để có thể xây dựng một nhận thức khoa học vềnhân tài từ đó góp phần xây dựng một chiến lược giáo dục và sử dụng nhân tài,đóng góp một cách hiệu quả vào quá trình phát triển đất nước thì điều quan trọngtrước hết là sự tổng hợp những kiến thức của thời đại, nhưng đồng thời cũng khôngthể bỏ qua những tư tưởng, kinh nghiệm của quá khứ dân tộc
Thế kỷ XIX là một thế kỷ có nhiều thử thách đối với sự phát triển và vận mệnhcủa dân tộc Đây cũng là giai đoạn mà quan niệm về nhân tài phát triển vớinhiều nội dung phong phú và chính sách đào tạo, sử dụng người tài của triềuđình phong kiến có nhiều điểm đáng chú ý Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài: “Quanniệm về nhân tài của một số nhà tư tưởng tiếu biểu thế kỷ XIX ở Việt Nam "làm
đề tài nghiên cứu sinh của mình với mong muốn góp phần xây dựng một nhậnthức khoa học về nhân tài và tìm kiếm những bài học kinh nghiệm của quá khứtrong định hướng đào tạo, sử dụng, đãi ngộ nhân tài hiện nay Đây cũng là ýnghĩa thực tiễn của luận án
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1.Mục tiêu
Nghiên cứu có hệ thống quan niệm về nhân tài và chính sách đào tạo, đãingộ nhân tài ở Việt Nam thế kỷ XIX (qua một số nhà tư tưởng tiêu biểu) trênphương diện triết học và giá trị học, đồng thời nêu lên bài học lịch sử và ý nghĩalịch sử hiện đại của vấn đề đó ở nước ta
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, luận án phải giải quyết một số nhiệm vụ sau:
- Thứ nhất, tìm hiểu tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
- Thứ hai, tìm hiểu các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, và tiền đề vănhoá tư tưởng cho sự ra đời của quan niệm và chính sách đào tạo, đãi ngộ nhântài ở Việt Nam thế kỷ XIX
- Thứ ba, tập trung phân tích và hệ thống hoá những tư tưởng cơ bản củacác nhà tư tưởng Nguyễn Du, Minh Mệnh, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Trường
Trang 3Tộ về quan niệm nhân tài và chính sách đào tạo, đãi ngộ nhân tài của triềuNguyễn
- Thứ tư, làm rõ những bài học kinh nghiệm và liên hệ với chính sách đàotạo, sử dụng nhân tài của Đảng và nhà nước ta hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
và không thể thiếu Chính vì vậy, đã có rất nhiều quan niệm về nhân tài, vai tròcủa nhân tài, quan niệm về đào tạo, trọng dụng và đãi ngộ nhân tài của các minhquân và các nhà tư tưởng góp phần khẳng định hơn nữa vai trò “hiền tài lànguyên khí quốc gia” Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của mình, tác giảluận án chỉ tập trung vào nghiên cứu: quan niệm về nhân tài của bốn nhà tưtưởng tiêu biểu: Nguyễn Du, Minh Mệnh, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Trường
Tộ Trong đó, Nguyễn Du đại diện cho cách nhìn của nhà tư tưởng, nhà vănthiên tài với quan niệm nhân tài là nam hoặc nữ đem tài năng phục vụ xã hội;Minh Mệnh đại diện cho cách nhìn của một minh quân thông minh, quyết đoánvới quan niệm về nhân tài trên phương diện quản lý xã hội; Nguyễn Công Trứđại diện cho cách nhìn của một kẻ sĩ văn, võ song toàn, mang “chí nam nhi” củamình phục vụ xã hội; Nguyễn Trường Tộ đại diện cho quan điểm canh tân khicho rằng nhân tài là nhân tài ứng dụng, phục vụ cho xã hội, là kiểu nhân tài “biết
mở mang các vật để phục vụ dân sinh”[11, tr.222]
Trên cơ sở đó, luận án rút ra những bài học kinh nghiệm và liên hệ vớiquan niệm về nhân tài của Đảng và Nhà nước hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Trang 4Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh về nghiên cứu lịch sử triết học và lịch sử tư tưởng dân tộc, dựatrên cơ sở lý luận của đường lối của Đảng Cộng sản qua các thời kỳ lịch sử.4.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài kết hợp sử dụng đồng thời các phương pháp phân tích, đối chiếu, so sánh,tổng hợp, phương pháp logic-lịch sử
Trang 5NỘI DUNG
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu.
Để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu, luận án đã tiến hành khảo sát, thu thập vàxây dựng một hệ thống tư liệu tham khảo với hai hướng lớn: Một là, tình hìnhnghiên cứu liên quan đến quan niệm về nhân tài Hai là, tình hình nghiên cứu liênquan các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng thế kỷ XIX và liênquan trực tiếp đến tư tưởng của một số nhà tư tưởng tiêu biểu trong thế kỷ XIXnhư: Nguyễn Du, Minh Mệnh, Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Trường Tộ
2.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến quan niệm về" nhân tài" và các phương pháp đào tạo, sử dụng nhân tài trong lịch sử.
2.1.1 Các công trình nghiên cứu của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về nhân tài.
Nói đến các tác phẩm của chủ nghĩa Mác-Lênin phải kể đến cuốn C.Mác vàPh.Ăngghen: Tuyển tập, tập 1, nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, năm 1980, nghiêncứu vấn đề vai trò của quần chúng nhân dân Chủ nghĩa Mác cho rằng quầnchúng nhân dân lao động tiềm ẩn một nguồn nhân tài cực kỳ phong phú, là khobáu nhân tài lớn nhất
Tiếp theo là Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, t44, Matxcơva, năm 1995 cũng
bàn nhiều đến vấn đề nhân tài và sử dụng nhân tài V.I.Lênin cho rằng : “Vấn đềthen chốt hiện nay là phải phát hiện ra những cán bộ có bản lĩnh, có thực tài, nếukhông thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyết định chẳng qua chỉ là một mớ giấylộn”[ tr 449]
Kế thừa tư tưởng Chủ nghĩa Mác –Leenin về con người, về nhân tài, chủ tịch
Hồ Chí Minh xuất phát từ điều kiện thực tiễn của Việt Nam, nhận thức rõ hơnvai trò của người tài đối với công cuộc bảo vệ, xây dựng đất nước Toàn bộ tưtưởng của Người về nhân tài được tập hợp chủ yếu trong cuốn Hồ Chí
Minh(2000), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, tập5, Hà Nội Đây là cuốn sách
trình bày được hầu hết tư tưởng của Hồ chủ tịch về nhân tài, đào tạo, bồi dưỡng
Trang 6và trọng dụng nhân tài.Trang 273 có trích tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò củanhân tài: “Phải trọng dụng nhân tài, trọng dụng cán bộ, trọng mỗi một người cóích cho công việc chung của chúng ta”[tr 273].
Vấn đề xác định vai trò, chính sách đào tạo, sử dụng nhân tài được Đảng tađặc biệt quân tâm và được đưa ra trong các Đại hội đại biểu các khoá như: Đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ VI(12/1986) đại hội nhận định: : “Nhân tài không phải làsản phẩm tự phát mà phải được phát hiện và bồi dưỡng công phu”
Đảng Cộng sản Việt Nam(1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứVII, Nxb Sự thật, H Lần đầu tiên vấn đề đào tạo, bồi dưỡng nhân tài được xácđịnh là một trong những nhiệm vụ chính của giáo dục: “ Mục tiêu giáo dục và đàotạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành độingũ lao động có tri thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động
và sáng tạo”[tr 81-82]
Đại hội lần thứ X (4/2006) của Đảng tiếp tục khẳng định chủ trương về xâydựng chiến lược nhân tài: “ Đổi mới hệ thống giáo dục đại học và sau đại học, gắnđào tạo với sử dụng, trực tiếp phục vụ chuyển đổi cơ cấu lao động, phát triểnnhanh nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là chuyên gia đầu ngành Chú trọngphát hiện, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài”( VK X tr 86) và Nghị quyết Đại hộilần thứ X của Đảng đã chỉ rõ: “Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học, tạochuyển biến mạnh mẽ về chất lượng đào tạo Xúc tiến xây dựng một số trườngĐại học của Việt Nam đạt đẳng cấp quốc tế, đào tạo nhân tài cho đất nước”[ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006), Nxb Chính trịquốc gia, Hà Nội, tr 207]
Đây là những chỉ đạo sáng suốt, rõ ràng đúng đắn của Đảng Cộng sản ViệtNam về nguồn lực quan trọng nhất cho sự phát triển đất nước-nguồn lực conngười Nó củng cố rõ hơn kinh nghiệm của cha ông khẳng định "nhân tài làrường cột của quốc gia"
2.1.2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến các quan niệm về nhân tài, đào tạo và sử dụng nhân tài.
Trang 7Trong tác phẩm “Lựa chọn và sử dụng nhân tài trong lịch sử” của Lê Thị
Thanh Hòa, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội năm 1994 có bàn về các vấn đề liênquan đến khái niệm "nhân tài" Ở chương 1: "Quan niệm truyền thống về nhântài", tác giả đi vào giải thích thuật ngữ "nhân tài" Ví dụ trong trang 11 có viết:
"Theo nghĩa đen, nhân tài là con người có tài Khi nói đến tài, ta chú ý đến khảnăng hiểu biết, trình độ kiến thức chuyên môn và phương pháp xử lý của conngười về một lĩnh vực công tác, một ngành nghề, và có thể là về cả một côngviệc nhất định" Sau đó, tác giả đi vào liệt kê nhân tài có nhiều loại như: thiêntài, biệt tài, hiền thần, năng thần, lương thần Tuy nhiên trọng tâm của tác phẩmnằm ở chương 2 và 3 Đây là những nội chính tác giả đi vào khảo sát những kinhnghiệm của những nhà chính trị, tư tưởng trong lịch sử về vấn đề đào tạo và sửdụng nhân tài Tác giả cho rằng "Việc đào tạo và lựa chọn nhân tài của ngườixưa chủ yếu tập trung vào khâu thi cử"tr24
Cuốn sách: “Nhân tài trong chiến lược phát triển quốc gia”của Nguyễn Đắc
Hưng, Phan Xuân Dũng chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2004 làtài liệu nghiên cứu về vị trí và tầm quan trọng của nhân tố con người và nguồnnhân lực trong sự phát triển đất nước Sách viết: "Nhận thức rõ tầm quan trọngcủa nhân tài đối với sự hưng thịnh của đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn quantâm đến phát triển nhân tài Trong nhiều văn kiện quan trọng của Đảng và Nhànước đã nhấn mạnh: mục tiêu của phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, làm
cơ sở đào tạo nhân lực và là nguồn gốc để đào tạo và bồi dưỡng nhân tài trênnền tảng nhân cách tốt đẹp Phát triển giáo dục và đào tạo chính là tạo điều kiện
để sản sinh ra nhiều nhân tài, làm giàu thêm "nguyên khí của quốc gia", đây chính
là mục tiêu và cũng là động lực để thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bềnvững"tr13 Ở trang 15, tác giả cuốn sách đã đưa ra quan niệm về nhân tài “ Thuậtngữ nhân tài không chỉ được dùng để chỉ những người có học vấn cao, hoặc cóbằng cấp cao về mặt chuyên môn mà theo nghĩa rộng hơn còn bao hàm nhữngngười có tài thuộc mọi tầng lớp Có thể hiểu nhân tài là những người có tài năngvượt trội, có những đóng góp lớn cho xã hội”[tr 15] Đây là tài liệu bổ ích để tác
Trang 8giả luận án tham khảo và củng cố rõ hơn vị trí không thể thiếu của vấn đề "nhântài" đối với sự phát triển của đất nước nói chung và triều Nguyễn nói riêng.
Công trình “Lược khảo về kinh nghiệm phát hiện, đào tạo và sử dụng nhân tài trong lịch sử Việt Nam” do Phạm Hồng Tung chủ biên, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội năm 2008 ra mắt độc giả với nội dung chính: đi vào khảo lược kinhnghiệm phát hiện, đào tạo và sử dụng nhân tài của cha ông ta trong các thời kỳlịch sử khác nhau, trên cơ sở đó rút ra những bài học kinh nghiệm hữu ích, gópphần xây dựng luận cứ khoa học cho công tác phát triển nhân tài ở nước ta hiệnnay và trong tương lai Có thể nói, đây là một trong những công trình nghiêncứu công phu được trình bày trong 8 chương về vấn đề "nhân tài" từ thời dựngnước đến đầu thế kỷ XX Nét đặc biệt của công trình là ở chỗ có sự đa dạngtrong việc khảo sát các quan niệm về nhân tài của "dân gian Việt Nam", của cácthời kỳ lịch sử Những vấn đề về giáo dục Nho học và việc đào tạo, tuyển chọnnhân tài, quan niệm mới về nhân tài và đào tạo nhân tài ở Việt Nam từ cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX là những tài liệu vô cùng quan trọng liên quan đến đề tàiluận án Đó là những lý luận chung về vấn đề "nhân tài" của các nhà khoa họcgóp phần làm tài liệu tham khảo quý giá cho đề tài luận án
Cuốn “Tôn trọng trí thức tôn trọng nhân tài kế lớn trăm năm chấn hưng đất nước” do 2 tác giả Thẩm Vinh Hoa và Ngô Quốc Diệu chủ biên, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội năm 2008 Đây là cuốn sách đề cập đến một khối lượng lớn
tư tưởng của Đặng Tiểu Bình về nhân tài trên các nội dung chính như: nhân tài
là then chốt của phát triển; những tư tưởng chiến lược về bồi dưỡng và giáo dụcnhân tài; đường lối tổ chức và việc xây dựng đội ngũ cán bộ; về tuyển chọnnhân tài ưu tú; về sử dụng và bố trí nhân tài; tạo môi trường cho nhân tài pháttriển Đặc biệt cuốn sách đã đi vào trình bày các nguồn gốc lý luận cho sự ra đời
tư tưởng nhân tài của Đặng Tiểu Bình Trong đó nổi bật ở cuốn sách là tư tưởngcủa chủ nghĩa Mác về nhân tài: “đối với nhà lãnh tụ cách mạng mácxít, nhân tàituyệt nhiên không chỉ là một số ít những nhân vật thiên tài, nhân vật vĩ đại, màcác nhân tài chuyên môn và công nhân, nông dân tiên tiến đều là nhân
Trang 9tài”[tr.22] Có thể nói rằng, cuốn sách đã cung cấp những tiền đề lý luận và thựctiễn về vấn đề nhân tài, góp phần tham khảo quan trọng cho đề luận án.
Công trình Nguồn nhân lực và nhân tài cho phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam trong tiến trình đổi mới- những vấn đề lý luận do
GS.TS Nguyễn Ngọc Phú chủ biên, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội, năm 2010 là
sự tập hợp nhiều bài viết của nhiều tác giả quan niệm về nhân tài Ở trang 150
"Quan niệm về nhân tài" tác giả Nguyễn Huy Tú viết: " nhân tài là toàn bộ cấutrúc nhân cách người tài, còn tài năng chỉ là mức độ cao của năng lực conngười".Sau đó tác giả chia cấu trúc nhân tài gồm 6 điểm: 1 Thái độ tích cực đốivới sự tiến bộ xã hội; 2 Mục đích sống riêng vững bền, cao cả; 3 Động cơ vàhứng thú mạnh mẽ; 4 Trí tuệ cao; 5 Tri thức rộng và kỹ năng thành thạo; 6 Cácphẩm chất, quá trình bền vững đã trở thành những phẩm chất nhân cách đặc biệt
Ý kiến của tác giả Nguyễn Hữu Tú là rất độc đáo về các yếu tố tạo thành cấutrúc nhân tài nói chung
Đặc biệt là chương trình khoa học cấp nhà nước KX.09 “Phát triển khoa học
và trọng dụng nhân tài của Thăng Long- Hà Nội” do Vũ Hy Chương chủ biên,
nhà xuất bản Hà Nội, năm 2010 đã đưa ra quan niệm về nhân tài- hiền tài, cácđối tượng nhân tài được thu hút, trọng dụng; vai trò và đóng góp của các nhântài ở Thăng Long- Hà Nội Cuốn sách có đoạn: “Nói tới nhân tài, người tathường nghĩ tới những bậc học cao biết rộng, đỗ đạt thành danh Thực đúng vậy,
họ là những người tài bởi có trình độ học vấn cao, tầm hiểu biết uyên bác và nhờ
đó họ sẽ có những cống hiến tích cực tạo nên các thành tựu lớn trong phát triển.Song nhân tài còn là những người có tay nghề tinh thông kết hợp với trí thôngminh và óc sáng tạo, tuy rằng họ có thể không được học cao và không có học vị.Nhân tài còn là những người có năng lực đặc biệt ít thấy ở người bình thường,
mà với năng lực đặc biệt ấy có thể giúp họ làm nên những công tích nổi bật hơnngười”[tr21] Đây là những nhận xét bổ ích để tác giả luận án có thêm những cáinhìn đa dạng khi tìm hiểu về quan niệm nhân tài ở thế kỷ XIX
Trang 10Gần đây, có một số cuốn sách và các bài báo, tạp chí, luận văn thạc sĩ, luận
án tiến sĩ triết học cũng đi vào nghiên cứu một số khía cạnh liên quan đến vấn đềkhái niệm người quân tử, người tài, nhân tài và giáo dục – khoa cử và sử dụngcon người nói chung, đào tạo, đãi ngộ nhân tài nói riêng như: Nguyễn Thế
Long(1995), Nho học ở Việt Nam- Giáo dục và thi cử, Nxb Giáo dục, Hà Nội; Đặc biệt là 2 luận án “Quan niệm của Nho giáo về giáo dục con người và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá”(1999) của Nguyễn Thị Nga và “Quan niệm của Nho giáo về con người, về giáo dục và đào tạo con người” (2005) của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Mai Cả 2
luận án đều ít nhiều có liên quan đến đề tài luận án của tôi, song chủ yếu 2 tácgiả tập trung vào vấn đề quan niệm về con người và giáo dục, đào tạo con ngườicủa Nho giáo nói chung
Luận án Chính sách văn hóa của Triều Nguyễn (giai đoạn 1802-1884)(2012)
của Vũ Thị Phương Hậu chủ yếu đi vào khảo sát riêng về chính sách văn hóatriều Nguyễn Trong đó, ở chương 3 phần 3.2 Chính sách dùng người, tác giả có
đi vào trình bày về quan điểm về nhân tài và chính sách dùng người của các vuatriều Nguyễn Luận án có đoạn viết: "Nhận biết và phát huy được sở trường củangười tài trong hoạt động thực tiễn, đó mới chính là điều mà triều Nguyễn quantâm Có thể nói chủ trương dùng người của triều Nguyễn khá mềm dẻo, linhhoạt và thực dụng Cả hai cách thức dùng người thông qua thi cử hay tiến cửcuối cùng đều hướng đến một mục đích chung là tìm ra người giỏi để tham giavào bộ máy quản lý nhà nước"tr91
Ngoài ra còn có một số cuốn sách, tạp chí, bài báo chuyên ngành có liên
quan như: Quân tử (qua Tứ thư)- Trần Hồng Thuý Tạp chí Triết học số 3, tháng
6.1992; Nội san Nghiên cứu khoa học và giáo dục- chính sách sử dụng và trọngdụng nhân tài của Ts Lê Đình Viên; Phát triển giáo dục và trọng dụng nhân tài của tácgiả Nguyễn Hoàng Xanh, Tạp chí Cộng sản, (18) 2004; Hiền tài và việc sử dụng hiềntài trong cấu trúc văn hóa chính trị của người cán bộ lãnh đạo của tác giả Lâm QuốcTuấn; Dùng người tài bản lĩnh của người lãnh đạo mới của Hoàng Tụy, Tạp chí Tia
Trang 11sáng, số 10 ,2000, tr.8; Song Thành (2004), “Chiến lược nhân tài- Một vấn đề cấpbách của Việt Nam trên đường phát triển và hội nhập”, Tạp chí Lý luận chính trị, (8);
Vũ Khoan(2009), “Phát hiện, đào tạo, sử dụng nhân tài”, Tạp chí Xây dựng Đảng, (4),tr.8; Đào tạo, bồi dưỡng nhân tài (2012), Tạp chí Xây dựng Đảng, (7)
Gần đây, tác giả Nguyễn Minh Nguyên viết "Tư tưởng cải cách giáo dục củaFuKuZaWa YuKiChi trong tác phẩm "khuyến học", Tạp chí Triết học, số11(258), tháng 11/2012 Đây là bài viết tập trung vào các tư tưởng cải cách củaFuKuZaWa YuKiChi và cho rằng FuKuZaWa YuKiChi là một trong nhà tưtưởng có tác động quyết định đến quá trình nhận thức về cải cách nói chung, nhậnthức về cải cách giáo dục nói riêng của người dân Nhật Bản Tác giả đi vào phântích hai nội dung lớn là 1 Phê phán " hư học", khuyến khích " thực học" Tác giảđánh giá thực học để đóng góp cho xã hội, đất nước "Ngay bây giờ chúng ta phảihọc, mài giũa tài năng và nhân cách" tr 85 Còn phần 2 Học tập có chọn lọc từphương Tây Tác giả cho rằng: để xây dựng nước Nhật ngang bằng với các nướcvăn minh, tiên tiến phương Tây, phải có nhiều người có học vấn, có đạo đức trênkhắp nước Nhật Tác giả trích lời FuKuZaWa YuKiChi "chỉ đến khi trên khắpmọi miền đất nước Nhật Bản, nơi đâu cũng gặp những người vừa có tài, vừa cóđức ngày đêm rèn giũa và tích lũy thực lực thì ắt hẳn đến một ngày nào đó, chúng
ta sẽ ngang hàng, sánh vai với nền văn minh của các cường quốc phươngTây"tr85 Qua khảo sát trên đây, có thể thấy FuKuZaWa YuKiChi đã có quanđiểm coi nhân tài, hay người có tài là đặc biệt quan trọng và không thể thiếu cho
sự phát triển đất nước FuKuZaWa YuKiChi đã đúc kết những kinh nghiệm lịch
sử coi việc dùng người là quốc sách Quan điểm của FuKuZaWa YuKiChi là sựtham khảo cho tác giả luận án hoàn thiện công trình nghiên cứu của mình
Các cuốn sách, tạp chí, bài báo, luận án và các hội thảo khoa học trên đây mớiđưa ra các vấn đề nói chung về giáo dục, đào tạo khoa cử Việt Nam, con người vàđào tạo con người trong Nho giáo; vấn đề các mẫu người lý tưởng; quan điểm vềlựa chọn, đào tạo và sử dụng nhân tài trong lịch sử Việt Nam
Trang 122.1.Tình hình nghiên cứu liên quan tới các điều kiện kinh tế, chính trị, vănhóa xã hội thế kỷ XIX và quan niệm về nhân tài của các nhà tư tưởng tiêu biểu
thế kỷ XIX: Nguyễn Du, Minh Mệnh, Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Trường Tộ.
2.1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội thế kỷ XIX.
2.1.1.1 Tư liệu gốc
Hầu như các tác phẩm sử học lớn được biên soạn dưới triều Nguyễn đều đãđược dịch như:
-Bộ sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (1993), do Viện Sử học và
Nhà Xuất bản Thuận Hóa ấn hành Bộ sách gồm 262 quyển với hơn 8.000 trangbản thảo được dịch từ những năm đầu thập kỷ 60 và được hiệu đính hai lần Bộsách được biên soạn dưới triều Nguyễn theo thể loại Hội điển, ghi chép lại cácđiển pháp, quy chuẩn và các dữ kiện liên quan đến tổ chức và hoạt động của mộttriều đại, do nội các triều Nguyễn biên soạn vào giữa thế kỷ XIX Đây là mộtcông trình lịch sử có quy mô đồ sộ vào bậc nhất trong kho tàng thư tịch cổ viếtbằng chữ Hán của Việt Nam Bộ sách này được biên soạn rất công phu, kéo dài
12 năm (1843- 1855) Nó chứa đựng một khối lượng đồ sộ những kiến thức, sửliệu chân xác, đặc biệt là về thiết chế và hoạt động của bộ máy nhà nước ViệtNam dưới triều Nguyễn
- Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu (1998), Nxb Thuận Hóa, Huế, là một
bộ sử trích các phần quan yếu của bộ Quốc Triều Chánh Biên hay Đại nam ThựcLục Chính Biên của Quốc sử Quán triều Nguyễn Sử chép bằng chữ Hán theolối biên niên từ đời Gia Long trở về sau Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu trênđược Bộ Học vâng chỉ dụ vua Khải Định vào năm thứ 9 (1924) thực hiện vàdịch ra chữ quốc ngữ, để ấn hành ban cấp cho các trường học với nhan đề chữquốc ngữ: "Sử Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu"
- Đại Nam thực lục chính biên là bộ sử xuất bản từ 1962 đến 1978( từ tập
2 đến tập 38), nhất là từ tập II đến tập XXII (tức là phần Đệ nhất kỷ: Gia Long
và Đệ nhị Kỷ: Minh Mệnh) Đây là bộ sử ký do Quốc sử quán triều đình nhà
Trang 13Nguyễn soạn viết về các đời vua nhà Nguyễn Tác phẩm đi vào nghiên cứunhiều vấn đề chính trị, xã hội, tư tưởng, cải cách dưới triều Nguyễn Đến năm
2007, Viện sử học tổ chức dịch và biên soạn lại tác phẩm Đại Nam thực lục chính biên Đây là tác phẩm cung cấp những tư liệu quan trọng về hoàn cảnh
lịch sử triều Nguyễn và những tư tưởng cải cách dưới triều Nguyễn trong đó có
tư tưởng về nhân tài của các nhà tư tưởng tiêu biểu thế kỷ XIX
Ngoài ra còn có một số những bộ sử khác: Khâm định Đại Nam hội điển
sự lệ tục biên; Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam liệt truyện, Đại Nam nhất thống chí, Lịch triều hiến chương loại chí …
Những bộ sử học trên đã để lại một di sản rất đồ sộ trên lĩnh vực sử học vềcác các vấn đề chính trị, xã hội, văn hóa triều Nguyễn Đây là các tư liệu lịch sửgốc rất quan trọng về tính thời đại của vương triều Nguyễn giúp tác giả luận án
có cái nhìn khách quan để đánh giá đúng đắn những đóng góp của vương triềunày đối với lịch sử nước nhà
2.1.1.2 Tư liệu thứ cấp
-Từ năm 1945 đến năm 1975, đã có một số công trình nghiên cứu về nhàNguyễn tập trung ở khu vực miền Trung và miền Nam như: luận án tiến sĩ luật
khoa "Tổ chức chính quyền trung ương thời Nguyễn Sơ (1802-1847) của
Nguyễn Sĩ Hải năm 1962, tiểu luận cao học sử của Trần Thanh Niên (1974)
"Hành chính của triều đại Gia Long" Các tác giả chủ yếu đi vào nhìn nhận triều
Nguyễn trên vị trí thống trị xã hội, sáng tạo ra lịch sử xã hội, không nhìn triềuNguyễn trên khía cạnh quản lý đất nước và xã hội, không xem triều Nguyễn với
tư cách như một sản phẩm của lịch sử và bị lịch sử chi phối Đã xuất hiện nhiềukhuynh hướng phê phán gay gắt các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trênphương diện lịch sử Trong Kỷ yếu Hội thảo chúa Nguyễn và vương triềuNguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, do Giáo sư PhanHuy Lê chủ biên năm 2008 có viết"Khuynh hướng đó gần như đã trở thành quanđiểm chính thống trong biên soạn sách giáo khoa và phổ thông" tr13
Trang 14Đại hội VI của Đảng (1986), với chủ trương tiến hành đổi mới mọi mặt trong
đó có đổi mới tư duy đã bắt đầu có sự nhìn nhận và đánh giá khách quan hơn vềTriều Nguyễn Hàng loạt các cuộc Hội thảo đã được tổ chức để giới thiệu vềtriều Nguyễn Tháng 10/1989, Viện khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh
đã phối hợp tổ chức một cuộc hội thảo khoa học về Một số vấn đề về triều Nguyễn, sau đó các báo cáo khoa học đã dược chọn lọc in thành tập kỷ yếu với tên gọi Những vấn đề văn hóa xã hội thời Nguyễn Tiếp sau đó tháng 4/1992,
Viện khoa học xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh lại phối hợp tổ chức cuộc hộithảo khoa học về triều Nguyễn lần thứ hai Đã có trên 50 báo cáo tham luậnkhoa học đề cập đến những vấn đề văn hóa, giáo dục, nghệ thuật thời Nguyễn
Đề tài khoa học cấp Nhà nước Khảo cứu kinh tế và tổ chức bộ máy nhà nướctriều Nguyễn, những vấn đề đặt ra trong thực tiễn đổi mới đất nước hiện nay, doPGS,TS Đỗ Bang làm chủ nhiệm đã được thực hiện năm 1995-1996 Đây là đềtài tìm hiểu về cách thức quản lý, vận hành của bộ máy triều Nguyễn được xemxét ở nhiều phương diện kinh tế, chính trị, xã hội Đề tài với cách đặt vấn đềriêng đã thể hiện một quan điểm mới mẻ trong nghiên cứu về triều Nguyễn vàhướng đến mục đích tìm ra những bài học kinh nghiệm hữu ích về các vấn đề bộmáy nhà nước, thể chế chính trị hữu ích cho ngày hôm nay
- Công trình “Tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn (1802-1884)” do Đỗ
Bang chủ biên, NXB Thuận Hóa, năm 1997 ra mắt bạn đọc Công trình đi vàotriển khai các vấn đề về tổ chức bộ máy chính quyền của triều Nguyễn từ trungương, địa phương đến cơ sở Trong đó ở phần I: Tổ chức bộ máy chính quyềntrung ương triều Nguyễn có đi vào nghiên cứu về vua Minh Mệnh Tuy nhiên đóchỉ là nghiên cứu những nội dung rất hạn chế những tư tưởng chính trị, cải cáchhành chính của Minh Mệnh Tác giả nhận định "Minh Mệnh là một ông vuathông minh, quyết đoán, ham học hỏi và cần chính trong mọi công việc Mọicông văn, tấu bảo đều được nhà vua xem xét cẩn thận trước khi châu phê rồi mớicho thi hành"tr36
Trang 15Sau đó vào năm 2008, Ủy ban ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa và Hội khoa học
lịch sử Việt Nam đã tổ chức Hội thảo cấp quốc gia Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX Nhìn chung, các
báo tham luận tại các cuộc Hội thảo trên đây đã đi vào nhìn nhận về "công" và "tội", mặt tích cực và mặt hạn chế, mặt mạnh và mặt yếu một khách công bằnghơn về vai trò của các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn đối với tiến trìnhphát triển của lịch sử dân tộc
-Ngoài ra còn nhiều những công trình nghiên cứu về lịch sử và lịch sử tư tưởng:
+Về lịch sử liên quan đến đề tài luận án có cuốn sách Việt Nam Sử lược do
Trần Trọng Kim (chủ biên), Nxb Tân Việt, Hà Nội, năm 1951 Trần Trọng Kim đãđánh giá rất cao những tư tưởng chính trị xã hội cũng như những việc làm của cácvua triều Nguyễn, trong đó có quan niệm về nhân tài và chính sách đào tạo, đãi ngộnhân tài
Tác phẩm “Lịch sử Việt Nam” do Giáo sư Phan Huy Lê chủ biên, Nxb Khoa
học xã hội, tập II, năm 2003, là sự tập hợp tình hình đất nước từ đầu thế kỷ XVđến giữa thế kỷ XIX Trong phần thứ năm chương III phần giáo dục và khoa cử,tác giả nhận định: “Với tham vọng ổn định và kỷ cương hoá xã hội dựa trên nềntảng tinh thần Nho giáo và đào tạo một tầng lớp trí thức đáp ứng yêu cầu nhân
sự bộ máy quản lý đất nước, nhà Nguyễn coi trọng phát triển giáo dục và khoacử” [34;481]
Tác phẩm “Nghiên cứu Triều Nguyễn và Huế xưa” của Nguyễn Đắc Xuân,
Nxb Thuận Hóa, năm 2011 là sự tập hợp các tập sách kiến thức triều Nguyễn vàHuế xưa với bố cục gồm 3 phần chính: Phần 1: Văn hóa du lịch; phần 2: Kiếnthức lịch sử và phần 3: Giao lưu tranh luận Đặc biệt là phần 3 từ tr 263 đếntr2629 viết về "chuyện Minh Mạng tề gia" trong đó có đoạn " sử sách lâu nay đãviết nhiều việc "trị quốc" của vua Minh Mạng Nhờ tài năng và đức độ của ông
mà nước Việt Nam dưới thời ông có quy củ, rộng lớn hùng mạnh nhất so với bất
cứ thời quân chủ nào trong lịch sử Việt Nam"[tr 263]
Trang 16Những nghiên cứu trên đây đã cung cấp một khối lượng kiến thức đồ sộ về lịch
sử, lịch sử tư tưởng triều Nguyễn Đây là những cơ sở điều kiện kinh tế-xã hội, vănhóa tư tưởng giúp cho đề tài luận án có được bức tranh chung về triều Nguyễn
2.2.2 Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến quan điểm về nhân tài của các nhà tư tưởng Minh Mệnh, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Trường Tộ.
vi của đề tài luận án, tôi chỉ xin khảo sát một số các công trình tiêu biểu của cácnhà nghiên cứu về tác giả Nguyễn Du nói chung và quan niệm của Nguyễn Du vềchữ Tài nói riêng
Cuốn sách"Thi hào dân tộc Nguyễn Du"-bút ký- tiểu luận của tác giả Xuân
Diệu Nxb Văn học, Huế, năm 1966, là những tâm sự của tác giả về Nguyễn Du vàcác tác phẩm của Nguyễn Du Tác giả kết luận" Nhìn chung, Nguyễn Du củachúng ta có một tác dụng tích cực; đó là một nhà hiện thực phê bình lớn, một thiêntài tố cáo các thứ xã hội áp bức bóc lột"tr14
Tác phẩm “Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du”,do Lê Đình
Kị biên soạn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1970 bàn rất nhiều về chữ tàitrong tư tưởng Nguyễn Du Sách có đoạn viết: "Thực chất chữ tài trong TruyệnKiều là chữ tình.Thúy Kiều chịu oan khổ đầu đuôi cũng chỉ vì muốn sống cho rasống Do chữ tình với cuộc đời, với người khác và đối với chính mình cái tài đàn,tài thư không liên quan gì đến Kiều"[tr.63] Đọc Đoạn Trường tân thanh, chúng tathấy rằng Nguyễn Du viết "tài mệnh ghét nhau" Vì vậy, Lê Đình Kị viết "chữtài là chữ tình" có nghĩa là "tình mệnh ghét nhau" thì chưa thể lột tả hết ý chữ Tàicủa Nguyễn Du Đồng thời, Thúy Kiều bạc mệnh không chỉ vì lý do Kiều đa tình
Trang 17mà còn nhiều yếu tố khác tạo nên điều đó Chữ Tài trong Đoạn Trường tân thanhvẫn cần có sự nghiên cứu cụ thể để đi đến thống nhất về nghĩa của nó.
Tác phẩm “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử, Nxb Giáo dục, năm 2003
cũng đi vào nghiên cứu quan điểm về tài của Nguyễn Du và cho rằng: "Nguyễn Duchuyển chủ đề tình khổ sang tâm khổ, thân khổ, chuyển tài mệnh tương đố sangthân mệnh tương đố"[18; 114]
Đã có một số bài báo, tạp chí khoa học của các tác giả nghiên cứu về Nguyễn
Du Năm 1966, tác giả Hoàng Ngọc Hiến trên báo Tạp chí Văn học,(2) tr 91-93
với bài Triết lí Truyện Kiều viết: "Quan niệm tài mệnh tương đố đối chọi tài với
số mệnh Trong Truyện Kiều, mâu thuẫn giữa tài và số phận tập trung ở nàngKiều (con người và số phận Tư cách của nhân vật trong tác phẩm trước hết là tưcách một người tuyệt tài, tuyệt sắc, đa tình và đức hạnh Nội dung chữ Tài đã
mở rộng trong nội dung hình tượng Truyện Kiều Tài là tài năng và nhan sắc, làtình và đức hạnh, là những gì tốt đẹp nhất ở con người Có thể nói, tài là bảnchất con người vươn tới chân- mỹ - thiện" Gần đây trong tạp chí Văn học số 7,tác giả Trần Nho Thìn tiếp tục mở rộng quan niệm về chữ tài khi đặt nó trongmôi trường văn hóa Việt Nam thế kỷ XVIII- nửa đầu thế kỷ XIX: " Tài ở đâykhông tách rời với tình Tình là tình cảm, là nỗi niềm của con tim, là cảm xúc.Người có tài trước hết là người có tình, là người sống thiên về cảm xúc hơn lýtrí, có khả năng phô diễn, truyền đạt các xúc cảm đó thành thi ca, nhạc họa,trước hết là thi ca và âm nhạc Nói cách khác, người tài tình được nói đến ở đây
là người lấy nghệ thuật làm mục đích, thậm chí làm nghề nghiệp" tr46
Đặc biệt tác giả Luận án rất tâm đắc bài viết “Khái niệm “tài” trong “ TruyệnKiều”(tháng 12-2004) của Trần Văn Đoàn Giáo sư Trần Văn Đoàn có cái nhìnmới và đa dạng khi bình luận về chữ “tài” và các khái niệm có liên quan đến chữ
“tài” Tác giả bài viết đã tìm hiểu Nguyễn Du với tư cách là nhà tư tưởng khibàn về vấn đề chữ “tài”, khái niệm nhân tài Trần Văn Đoàn viết “Nhân tài cũng
là những người có tài Tuy nhiên, khác với tài nhân, nhân tài biết làm thế nào sửdụng tài năng của họ vì mục đích phục vụ loài người” (tr12)
Trang 18Bài, Quan niệm của Nguyễn Du về cuộc đời và thân phận con người, của tác giả Lê Thị Lan, Tạp chí Triết học số 9 (196), năm 2007 đã có rất nhiều khảo
sát đúng đắn về Nguyễn Du và quan niệm về người tài của ông Tác giả nhận
định: Nguyễn Du đã xuất phát từ quan niệm “đời là bể khổ” để đi đến những nhận định về nhân sinh trên nền tảng tâm thế Việt – lấy tình cảm, tình yêu
thương làm chỗ dựa Đối với ông, một mặt, sự đối lập giữa tài năng và số phận
(luật" “tài mệnh tương đố”) là sự bất công cơ bản và lớn nhất; mặt khác, con
người vẫn có thể cải hoá được số phận nếu nỗ lực tu tâm, hành thiện Quan niệm
về số phận con người là sự cụ thể hoá nhân sinh quan ấy Nguyễn Du cho rằng,thân phận mỗi người là sự tồn tại theo duyên cảnh, là tất nhiên và mang tính tiềnđịnh Khi xem xét thân phận con người, Nguyễn Du đặc biệt chú ý đến người tài
và phụ nữ Quan niệm về cuộc đời và thân phận con người của Nguyễn Du đãgóp một sắc thái đặc biệt trong nền triết lý nhân sinh Việt Nam
Tác giả nhận xét: với Nguyễn Du, người tài không chỉ là các văn nhân, trí thứcNho giáo, mà phải bao gồm cả phụ nữ; cái tài không chỉ thể hiện trong thơ phú,chính trị, cử nghiệp, mà cả trong các năng lực khác như đàn hát, hội họa Theo ông,người có tài luôn là tinh hoa của trời đất, được đồng loại coi trọng, xót thương và
ca ngợi, bởi chính họ đã làm cho cuộc đời ngày càng đẹp hơn, nhân ái hơn
Luận án Đoạn Trường Tân Thanh, cuộc tái tạo nghệ thuật của Nguyễn Du của
Nguyễn Thị Bích Hồng, Luận án tiến sĩ Ngữ văn tại Viện Văn học- Viện khoa học
xã hội Việt Nam, năm 2007 là một công trình nghiên cứu công phu của tác giả luận
án về tác phẩm tiêu biểu Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du Tác giả đã khảo
sát về Triết lí chữ Tài; Về tài mệnh qua hình ảnh hai chị em Thúy Kiều; Triết luận
chữ Tài- triết luận về khát vọng sống của con người Tác giả đã đưa ra nhiều cáchhiểu về chữ tài của các nhà tư tưởng Trang 185, luận án viết "Tài là một năng lựcsống Năng lực sống ấy biểu hiện ở những rung động tình cảm trong trí tuệ, trongcảm xúc của một tâm hồn phong phú, sâu sắc Năng lực sống ấy đã làm nảy sinhnhững khát vọng sống, những ham muốn vươn dậy khỏi điều kiện thực tại để sốngđẹp hơn, người hơn " Đây là một nhận xét rất hay của tác giả luận án Tác giả đã
Trang 19thấy được vấn đề cốt lõi trong tư tưởng của Nguyễn Du là chữ Tài không chỉ là tàinăng nghệ thuật, không chỉ là sắc đẹp mà quan trọng hơn, chữ Tài đó phải đượcthể hiện như thế nào trong cuộc sống-đó chính là năng lực sống của nó.
Từ những ý kiến, cách nhìn, cách đánh giá của những bài nghiên cứu ấy, ta
thấy tư tưởng về chữ tài trong Truyện Kiều là vấn đề phức tạp cần phải giải
quyết một cách triệt để và thoả đáng Đặc biệt là vấn đề quan niệm thế nào là
"tài", "nhân tài" trong tư tưởng của Nguyễn Du chưa được khảo sát một cách chitiết và cụ thể
+Liên quan đến Minh Mệnh
Viết về Minh Mệnh, chúng ta không chỉ nhìn nhận trên phương diện là vị vuathứ hai của triều Nguyễn, mà chúng ta còn biết đến ông trên khía cạnh là mộtnhà tư tưởng tiêu biểu của thế kỷ XIX
- Về tư liệu gốc về tư tưởng của Minh Mệnh
Nguồn sử liệu gốc, đề tài luận án dựa vào làm cơ sở nghiên cứu nhằm kh ảosát toàn bộ quan niệm về nhân tài của các nhà tư tưởng triều Nguyễn nói chung vàcủa Minh Mệnh nói riêng là các bộ chính sử, bộ địa lý học- lịch sử, bộ Hội điển,điển chế do Quốc sử quán và Nội các triều Nguyễn thế kỷ XIX biên soạn
Ba bộ sử lớn có nhiều tư liệu quan trọng giúp rất nhiều cho việc nghiên cứu
đề tài luận án là Đại Nam thực lục chính biên, Minh Mệnh chính yếu và Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ Cả ba bộ đều đã được các nhà Hán học dịch và
xuất bản
“Minh Mệnh chính yếu”, là tác phẩm được ra đời khi vua Minh Mệnh phê
chuẩn lời tâu xin của Hà Quyền và các đại thần khác trong viện Cơ Mật, nhà vua đã
"phái những bậc thông hiểu văn học, đem các bản châu phê cùng những bản ghichú trong những lúc khởi, cư, động, tác chia loại vựng và đính thành một bộ nhan
đề là "Minh Mệnh chính yếu toàn thư" Trước năm 1975, "Minh Mệnh chính yếu"
đã được dịch và in thành nhiều tập, ra nhiều kỳ, do đó làm người đọc khó theo dõi
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của giới nghiên cứu, dựa vào những bản dịchtrên, nhất là bản dịch của Ủy ban dịch thuật do Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh
Trang 20niên xuất bản năm 1972-1975 ở Sài Gòn Sau đó năm 1994, Nhà xuất bản ThuậnHóa, Huế đã hiệu chỉnh lại và in thành 3 bộ 3 tập Có thể nói "Minh Mệnh chínhyếu " đã trình bày rất cụ thể các tư tưởng chính trị- xã hội của Minh Mệnh –vị vuathứ 2 của triều Nguyễn Vấn đề giáo dục và đãi ngộ nhân tài được Minh Mệnhđặc biệt chú ý trong tác phẩm này Tác phẩm là tư liệu gốc quan trọng nhất choviệc nghiên cứu chuyên biệt về tư tưởng của Minh Mệnh, trong đó có tư tưởng
về nhân tài Đây là một khía cạnh không thể thiếu góp phần làm tài liệu thamkhảo cho toàn bộ "Quan niệm về nhân tài của một số nhà tư tưởng tiêu biểu thế
kỷ XIX ở Việt Nam”
Bộ sử Đại Nam thực lục chính biên, nội các triều Nguyễn, bản dịch của Viện sử học, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007 có nhiều phần viết về chính sách tìm
kiếm nhân tài của triều Nguyễn Phần về triều Minh Mệnh là nguồn sử liệu quantrọng bổ sung cho việc nghiên cứu tư tưởng của ông về nhân tài và sử dụngngười tài
Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, (1993), NXb Thuận Hóa, Huế cung cấp
những tư liệu cụ thể chính xác về bộ máy chính quyền và công cuộc cải cáchhành chính dưới thời Minh Mệnh Viết về tư tưởng Minh Mệnh có đoạn: “Tuyển
cử hiền tài là thịnh điển đời minh vương; cho nên nhà nước dùng người, phầnnhiều chọn ở trong khoa mục Hoàng Khảo Thế tổ cao hoàng đế ta, sau khi đạiđịnh mở khoa thi hương, có đủ quy thức Trẫm nối ngôi đến nay, luôn nghĩ đếnviệc cất nhắc nhân tài" [tập 7; tr203]
Ngoài ba bộ sử lớn trên còn có một số công trình sử học do Quốc sử quán
triều Nguyễn biên soạn liên quan đến đề tài như Đại Nam chính biên liệt Truyện (sơ tập và nhị tập) và Đại Nam nhất thống chí (5 tập) Các tài liệu này đã mang
lại nhiều tư liệu giúp cho luận án nghiên cứu các tư tưởng của triều Nguyễn nóichung và tư tưởng về "nhân tài" của Minh Mệnh nói riêng
Bên cạnh các bộ sử là tư liệu gốc cho nghiên cứu tư tưởng của Minh Mệnh
về nhân tài là rất nhiều các công trình nghiên cứu đi trước có liên quan tới vấn
đề này
Trang 21Cuốn luận án “Cải cách hành chính dưới triều Minh Mệnh”của tác giả
Nguyễn Minh Tường, năm 1994 chủ yếu trình bày vấn đề cải cách hành chính
của Minh Mệnh Liên quan đến đề tài luận án của tôi là ở mục III (chương I) đã
bàn về tư tưởng chính trị của Minh Mệnh Tác giả đưa ra ý kiến khẳng định:
"Minh Mệnh là người đặc biệt đề cao Nho học, lấy việc tuyển chọn nhân tàithông qua khoa cử làm trọng Đây là một biểu hiện cải cách lớn so với đời GiaLong" tr47 Tuy nhiên, đây là vấn đề không thuộc trọng tâm của luận án nên tácgiả Nguyễn Minh Tường chỉ mới nêu những nét khái quát về tư tưởng chính trịcủa Minh Mệnh, chứ chưa đi sâu vào phân tích sâu và cụ thể tư tưởng của MinhMệnh về nhân tài
Và Nguyễn Hoài Văn với “Tìm hiểu tư tưởng chính trị Nho giáo Việt
Nam từ Lê Thánh Tông đến Minh Mệnh” Luận án là một công trình nghiên cứu
khá công phu của tác giả về tư tưởng chính trị Nho giáo từ Lê Thánh Tông (nửasau thế kỷ XV) đến Minh Mệnh (nửa đầu thế kỷ XIX) Trong chương 4, tác giảnghiên cứu về tình hình kinh tế chính trị, xã hội và các tư tưởng chính trị Nhogiáo của Minh Mệnh Phần 4.2.4 Xã hội hóa giáo dục và tuyển chọn nhân tàicho bộ máy Nhà nước qua chính sách giáo dục, đào tạo Nho học, luận án đã đivào phân tích một số quan niệm của Minh Mệnh về nhân tài, vai trò và chínhsách sử dụng nhân tài của Minh Mệnh Ở tr 215, luận án có nhận xét " Nhưngtrong lịch sử giáo dục; khoa cử dưới thời phong kiến ở Việt Nam, ta phải ghinhân Minh Mệnh là một trong không nhiều ông vua rất chú trọng việc đào tạo,tuyển chọn và hiểu rõ vị trí của nhân tài đối với quốc gia Chính sử nhà Nguyễnghi chép những năm trị vì của Minh Mệnh, hầu như không năm nào không ghilại một vài dòng suy nghĩ, dòng tư tưởng về nhân tài của ông" Luận án đã còntiếp tục cung cấp những tài liệu tham khảo giá trị về vấn đề sử dụng người tàicủa Minh Mệnh và kết luận "dưới thời Minh Mệnh, người hiền tài được sử dụngđúng lúc, đúng chỗ" tr216 Nghiên cứu luận án của tác giả Nguyễn Hoài Văn, đãgiúp tôi bổ sung thêm cho nghiên cứu của mình những vấn đề cơ bản quan điểm
về nhân tài, chính sách sử dụng và đào tạo nhân tài của Minh Mệnh
Trang 22Tuy nhiên vấn đề đặt ra là cần thiết phải có những nghiên cứu cụ thể tưtưởng Minh Mệnh về nhân tài, phương pháp và chính sách sử dụng người tài đểhiểu rõ hơn tư tưởng của Minh Mệnh trong việc xác định đúng đắn vai trò củangười tài đối với sự phát triển của triều Nguyễn Đây là hướng nghiên cứu màtác giả luận án đi vào giải quyết.
+ Liên quan đến Nguyễn Công Trứ
- Nghiên cứu về Tư tưởng của Nguyễn Công Trứ, cũng được rất nhiềunhà nghiên cứu quan tâm với một số tác phẩm tiêu biểu:
Năm1928 là công trình biên khảo của giáo sư Lê Thước Có thể nói đây là côngtrình nền tảng về tư liệu mà cho đến mãi sau này, các công trình nghiên cứu vềNguyễn Công Trứ vẫn phải dựa vào Giáo sư Lê Thước đứng trên quan điểm nhàNho để tìm hiểu Nguyễn Công Trứ, đánh giá Nguyễn Công Trứ theo tiêu chí lậpcông, lập đức, lập ngôn
Tác phẩm “Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ”của Nguyễn Bách Khoa,
Hàn Thuyên xuất bản, H, 1944 Tác giả mở đầu cuốn sách về Nguyễn Công Trứcủa mình bằng lời phê phán quan niệm duy tâm của Lê Thước về cá nhân, về anhhùng và đứng trên lập trường duy vật biện chứng, trên quan điểm giai cấp để phântích tư tưởng, thi văn Nguyễn Công Trứ Khi đặt đối tượng nghiên cứu vào bốicảnh lịch sử xã hội cụ thể, ông đã chỉ ra được một số vấn đề mới mẻ về tư tưởngcủa Nguyễn Công Trứ mà trước đó chưa ai nói đến Ông viết: "Cống Chỉnh,Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh đã đem thân thế và sự nghiệp mình làm chói lọi cái hìnhảnh "nam nhi" giữa một thời loạn cùng cực của đất nước Họ đã trực tiếp đào tạocho kẻ đương thời lòng sùng bái anh hùng và chí làm trượng phu hiển hách Trạngthái ý thức này chính là căn nguyên lớn của cái " chí nam nhi" mà Nguyễn CôngTrứ, suốt buổi thiếu thời đã từng ôm ấp"[ tr229-230]
Trong tác phẩm Lời giới thiệu sách Thơ văn Nguyễn Công Trứ của Trương
Chính Nxb Văn học H, tr 5, năm 1983 đã có một bài viết quan trọng về NguyễnCông Trứ Ông viết" phải có một cái nhìn lịch sử;không đòi hỏi nhà thơ phải suynghĩ hành động như chúng ta ngày nay Chúng ta sẽ vui mừng khi thấy nhà thơ có
Trang 23những suy nghĩ, những hành động trội hơn hẳn những người cùng thời đại"tr5 Ông
đi vào nghiên cứu cuộc đời, tư tưởng, tâm trạng Nguyễn Công Trứ như làmột"bằng chứng đanh thép về sự suy sụp của chế độ phong kiến dưới triềuNguyễn"tr39
Tại cuộc hội thảo chuyên đề Nguyễn Công Trứ-con người, cuộc đời và thơ ngày
15-12-1994 tại Trường viết văn Nguyễn Du, Nguyễn Khoa Điềm đã chỉ ra phươnghướng suy nghĩ mới, rất quan trọng để giới nghiên cứu chú ý, đặc biệt cần nhìnNguyễn Công Trứ trong bối cảnh của nhiệm vụ củng cố sự nghiệp thống nhất đấtnước, giữ vững bờ cõi xã tắc, ổn định chính trị ở thời đại ông
Tác phẩm Nguyễn Công Trứ của Nguyễn Ngọc Khánh NXB Văn hóa
-Thông tin, Hà Nội, năm 1996 đã khảo sát về cuộc đời, các chặng đường trongcon đường công danh và tư tưởng của Nguyễn Công Trứ Viết về chí nam nhicủa kẻ sĩ tr 57-58 có đoạn :"Hết thời loạn, sang thời bình rồi Nếu là thời loạn,làm trai phải tung hoành chiến trận, cướp giáo, đoạt cờ, sang thời bình, thì tàitrai là ở chỗ giúp nước, phò vua, vỗ yên trăm họ Trai năm xưa là anh hùng Traibây giờ là kẻ sĩ Con đường của kẻ sĩ anh hùng giữa thời thịnh trị này, còn gìkhác hơn là con đường phấn đấu để trở nên công hầu khanh tướng? "Trước là sĩsau là khanh tướng", làm được như thế mới thật là thỏa chí làm trai"
Trên cơ sở những nghiên cứu trên đây, tác giả luận thấy rằng Nguyễn Công Trứ
là một nhân vật lịch sử văn hóa khá độc đáo so với truyền thống Nho gia Việt Nam
Từ rất sớm, giới nghiên cứu đã nhận ra điều mà họ gọi là " tương phản" ở NguyễnCông Trứ và cố gắng tìm cách mô tả, cắt nghĩa, đánh giá Nhìn từ bất cứ một họcthuyết triết học- đạo đức, hay một góc độ văn học, sử học nào chúng ta có thể thấyrằng tư tưởng và tâm hồn của Nguyễn Công Trứ là rất khó đóng khung bằng cáckhuôn học thuyết có sẵn Vì vậy, rất cần thiết tiếp tục xem xét, thảo luận về phươngpháp đánh giá cuộc đời và tư tưởng của ông Đặc biệt là quan niệm của ông về chínam nhi trong xã hội
+Liên quan đến Nguyễn Trường Tộ
Trang 24Từ trước năm 1945, ở nước ta đã xuất hiện những tài liệu nghiên cứu vềNguyễn Trường Tộ, mặc dù chưa được chú ý một cách toàn diện và sâu sắc.Trong đó có các công trình, tác phẩm tiêu biểu như:
Những Bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ đầu tiên được đăng trên tạp
chí Nam Phong 11/1925 Tạp chí đã cung cấp một số tư liệu về Nguyễn Trường
Tộ Tuy nhiên, do ảnh hưởng thân Pháp cho nên tạp chí này chưa đánh giá chínhxác về chủ trương, tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ
Từ những năm 1937- 1938, trong phong trào vận động dân chủ, các nhàvăn bắt đầu nói đến Nguyễn Trường Tộ như một niềm tự hào dân tộc, một tấmgương yêu nước của một con người đã dành cả cuộc đời vì nước, vì dân
Sau những năm 1945, tình hình nghiên cứu về Nguyễn Trường Tộ được
mở rộng thông qua các tác phẩm của nhiều nhà nghiên cứu Các tác giả đãchứng minh và khẳng định công lao to lớn của Nguyễn Trường Tộ đối với nước,với dân
Trong những năm 1960 - 1961, tạp chí Nghiên cứu lịch sử đã công bốnhững công trình nghiên cứu đánh giá lại một số nhân vật lịch sử, trong đó cóNguyễn Trường Tộ Nhìn chung, Nguyễn Trường Tộ được đánh giá là người cótài và có tâm huyết nhưng nhìn nhận về quan điểm, chủ trương của ông vẫn cónhững ý kiến chưa thống nhất Năm 1961, hai tác giả Chương Thâu và Ðặng
Huy Vận soạn cuốn sách “Những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ cuối thế kỷ XIX” Ðây là cuốn sách cung cấp một khối lượng lớn tài liệu về Nguyễn
Trường Tộ, tuy nhiên các tài liệu chưa được sắp xếp và đối chiếu, vì thế giá trị
Trang 25Đáng chú ý là cuốn “Nguyễn Trường Tộ con người và di thảo”của tác giả
Trương Bá Cần, năm 1988 đã sưu tầm, khảo cứu và công bố toàn bộ 58 di thảocủa Nguyễn Trường Tộ Cuốn sách được xem như một bước phát triển mớitrong việc nghiên cứu Nguyễn Trường Tộ, đồng thời cung cấp nhiều tư liệu quý
để các nhà nghiên cứu tham khảo khi viết về ông
Năm 1991, nhân kỷ niệm 120 năm (1871- 1991) ngày mất của Nguyễn
Trường Tộ, để phục vụ Hội thảo Khoa học về "Nguyễn Trường Tộ- nhà cải cách lớn của dân tộc" do Viện Khoa học Xã hội cùng với Hội đồng hương Nghệ Tĩnh và
sở văn hóa Thông tin thành phố Hồ Chí Minh tổ chức vào hạ tuần tháng 12 -1991,Trung tâm nghiên cứu Hán Nôm, với sự đồng ý và hợp tác của tác giả Trương Bá
Cần , đã tái bản cuốn Nguyễn Trường Tộ con người và di thảo (1830-1871) Với
sự đánh giá của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước thì đây là một công trìnhnghiên cứu tương đối đầy đủ nhất về thân thế và sự nghiệp của danh nhân NguyễnTrường Tộ Cuốn sách bao gồm 2 tập: Tập I-Nguyễn Trường Tộ- Con người vàTập 2- Nguyễn Trường Tộ - Di Thảo (Bản Việt Ngữ) Đến năm 2002, cuốn sáchđược tái bản như một sự thừa nhận những đóng góp có giá trị của nhà tư tưởngthế kỷ XIX cho lịch sử nước nhà
Năm 1992 Viện Hán Nôm Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức hội thảo
Nguyễn Trường Tộ với vấn đề canh tân đất nước với 40 tham luận về các lĩnh vực liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Trường Tộ Nhìn chung các tác giả đều khẳng dịnh ý nghĩa tiến bộ lớn lao của cải cách Nguyễn Trường
Tộ Hội thảo đánh giá: trong một thế kỷ đau thương và đen tối của Việt Nam, đã thấy loé lên một tư tưởng lớn, một trí tuệ mang tầm cỡ quốc tế trí tuệ và tư
tưởng Nguyễn Trường Tộ
Năm 2001, Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh đã ấn hành
cuốn sách của tác giả Hoàng Thanh Ðạm với nhan đề Nguyễn Trường Tộ thời thế
và tu duy cách tân Cuốn sách là công trình nghiên cứu giúp chúng ta giải đáp một
số nhận thức về tầm cao trí tuệ, tinh thần yêu nước của nhà tư tưởng cách tân lỗi lạc
họ Nguyễn cũng như một số điều bất cập và hạn chế lịch sử của ông
Trang 26Từ năm 2001 đến nay việc nghiên cứu về Nguyễn Trường Tộ vẫn được
tiếp tục Năm 2008, Nguyễn Thế Anh với tác phẩm Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn, NXB Văn Học Đây là cuốn sách, tác giả đặt lại vấn
đề liên quan đến đời sống vật chất của người dân Việt Nam dưới các vua triềuNguyễn Tác giả nhận thấy xã hội Việt Nam của thế kỷ XIX, có nhiều dấu hiệucủa một sự thay đổi rộng lớn với tư tưởng cải cách của nhiều nhà tư tưởng thời
kỳ này Tác giả đặc biệt chú trọng tới tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ
Ở Chương VI Các vấn đề xã hội và các đề nghị cải cách, phần III Các đềnghị cải cách: Tr 276 về cải cách quân sự của Nguyễn Trường Tộ: "Sĩ quan phải
là những người có bằng tú tài hay cử nhân võ , và phải tốt nghiệp một trườngđào tạo sĩ quan Còn binh lính thì chỉ nên tuyển lựa những người khỏe mạnh".tr280 về cải cách nền học chính, tác giả viết"Nguyễn Trường Tộ rất phản đối lốihọc khoa cử cũ; theo ông, lối học này đã là nguyên nhân tạo nên tình trạng suyđồi, đình trệ của nước nhà Nền giáo huấn căn cứ trên các sách chữ Nho khôngcòn phù hợp với các nhu cầu đương thời nữa Nền giáo dục mới phải nhấn mạnhlên các khoa học thực dụng và thực tế”
Cùng năm 2008, nhân kỷ niệm 180 năm ngày sinh nhà canh tân yêu nướcNguyễn Trường Tộ, Huyện Hưng Nguyên, Nghệ An đã tổ chức hội thảo với chủ
đề Nguyễn Trường Tộ - khát vọng canh tân đất nước Tại hội thảo, các nhà khoa
học đã phân tích một cách sâu sắc nhiều vấn đề liên quan đến cuộc đời và sựnghiệp của nhà cải cách Nguyễn Trường Tộ, kể cả những vấn đề rất mới mà bâygiờ mới đặt ra như: môi trường, thân phận kẻ tri thức, tư tưởng triết học, tưtưởng tự do tôn giáo, cải cách hành chính, bảo tồn và phát huy di sản văn hoáNguyễn Trường Tộ Một số tham luận còn liên hệ về ý nghĩa thực tiễn của tưtưởng Nguyễn Trường Tộ với công cuộc đổi mới hôm nay Các tác phẩm nóitrên đã cung cấp nguồn tư liệu quan trọng có tác dụng định hướng cho việcnghiên cứu đề tài này Tuy nhiên, đối với đối tượng nghiên cứu của đề tài về cảicách giáo dục của Nguyễn Trường Tộ, do mục tiêu và phương pháp nghiên cứu
mà các tác phẩm này chưa đề cập một cách có hệ thống
Trang 27Nghiên cứu tư tưởng cải cách giáo dục của Nguyễn Trường Tộ là mộtmảng vấn đề được khá nhiều học giả quan tâm Những bài viết về NguyễnTrường Tộ đã được hệ thống khá đầy đủ trên nhiều linh vực khác nhau, như cácquan điểm ngoại giao mở cửa, quan diểm cải cách kinh tế, đến tôn giáo, vănhọc Riêng những đề nghị cải cách giáo dục của ông được bàn đến lẻ tẻ như bài
Về quan điểm học thực dụng của tác giả Ðặng Ðức Thi, hay một phần trong bài Ðánh giá Nguyễn Trường Tộ, Con người và nhân cách của tác giả Lê Văn Sáu, hoặc trong bài Vì sao tư tưởng canh tân của Nguyễn Trường Tộ bị thất bại của
Trần Trung Phượng và một số bài nghiên cứu khác đã đề cập đến văn hoá, giáodục như một khía cạnh để làm nổi bật những nội dung khác
Năm 1993 đã có cuốn “Khoa cử và giáo dục Việt Nam” của Nguyễn
Quang Thắng được NXB Văn Hoá - Thông tin Hà Nội ấn hành, đã giải quyếttương đối toàn diện và đánh giá những đề nghị cải cách giáo dục của NguyễnTrường Tộ, nhưng nhìn chung tư tưởng cải cách giáo dục của Nguyễn Trường
Tộ chưa được chú ý một cách thoả đáng Trong khi đọc những bản điều trần củaông, tuy không ghi mục tiêu đầu tiên là cải cách giáo dục nhưng qua các nộidung đề nghị cải cách về kinh tế, ngoại giao, tôn giáo nếu được thực thi lại cầnphải có cải cách giáo dục đi trước
Gần đây, đã có một số bài báo, tạp chí khoa học nghiên cứu về tư tưởngcủa Nguyễn Trường Tộ Đặc biệt là năm 2008, Phạm Huy Thông với bài
“Nguyễn Trường Tộ một nhà tư tưởng lớn của Việt Nam trong thế kỷ XIX”, tạp
chí triết học số 10 năm 2008 đã bàn đến quan điểm của Nguyễn Trường Tộ vềnhân tài: "Nguyễn Trường Tộ dùng tư duy lô gíc để xem xét, phân tích các mốiquan hệ của những sự vật, hiện tượng phức tạp trong xã hội nhằm tìm ra cái cơ
sở hưng thịnh của quốc gia đó là của cải Song, vấn đề không chỉ là của cải vậtchất, vì theo ông "hiền tài là sinh lực của quốc gia, sinh lực con người ta màmạnh thì gân cốt trong người đều mạnh" Năm 2010, trong báo văn hóa Nghệ
An, PGS.Ts Lê Thị Lan có bài Nhìn lại tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường
Tộ Trong bài viết, tác giả đã đi vào khảo cứu tư tưởng cải cách của Nguyễn
Trang 28Trường Tộ trên 4 phương diên: chính trị; ngoại giao; văn hóa- giáo dục; kinh tế.Trong đó liên quan đến đề tài luận án của tôi được tác giả đề cập ở hai phần là
Tư duy chính trị mới và Tư duy văn hóa mới Tác giả đưa ra nhận định: “Mongmuốn xây dựng một mô hình nhà nước hiệu quả trong quản lý đất nước, NguyễnTrường Tộ đã đề nghị nhiều cải cách hành chính, như hợp tỉnh, huyện để tinhgiản biên chế; giản lược thủ tục giấy tờ; tăng lương và có chế độ đãi ngộ thoảđáng cho quan chức để tăng trách nhiệm của đội ngũ quan lại, chống thamnhũng; sử dụng đội ngũ quan lại có thực tài, có chuyên ngành thực dụng ngoàiNho giáo… Những đề nghị cải cách này, nếu được thực hiện sẽ dần dần tạo ra
sự thay đổi lớn trong cơ chế quản lý, điều hành nhà nước, nâng cao được sứcmạnh quản lý của bộ máy công quyền”
Nghiên cứu về tư tưởng Nguyễn Trường Tộ cũng có những luận án, luậnvăn thạc sỹ quan tâm Đáng chú ý nhất phải kể đến năm 2001, Ts.Lê Thị Lan
với luận án Tư tưởng cải cách ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, đã phần nào đề
cập đến tư tưởng canh tân của Nguyễn Trường Tộ và đề nghị cải cách giáo dụccủa ông Tuy nhiên, tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ chỉ là một phầntrong nội dung luận án của tác giả Lê Thị Lan Chúng tôi thấy rằng, cần phải đivào nghiên cứu chi tiết về quan niệm của Nguyễn Trường Tộ về người tài và vaitrò của người tài đối với sự phát triển để nhận thức được rõ hơn tư tưởng cảicách giáo dục của Nguyễn Trường Tộ là một trong những tư tưởng vượt trướcthời đại
Năm 2010, Phạm Thu Thủy với Luận văn ThS Triết học , Tư tưởng canh tân giáo dục của Nguyễn Trường Tộ - giá trị của nó với giáo dục Việt Nam hiện nay, làm sáng rõ điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan của việc hình thành,
phát triển tư tưởng canh tân giáo dục Nguyễn Trường Tộ Hệ thống hoá và phântích những nội dung tư tưởng canh tân giáo dục và giá trị hiện thực của tư tưởngcanh tân giáo dụccủa Nguyễn Trường Tộ Từ đó đưa ra các giải pháp cần thiếtđáp ứng cho công cuộc đổi mới giáo dục nước ta hiện nay
Trang 29Qua sự khảo sát trên đây, tác giả đề tài luận án thấy rằng: Tư tưởng cải cáchcủa Nguyễn Trường Tộ là luồng gió mới thổi vào dòng tư tưởng Việt Nam thế
kỷ XIX Tư tưởng về cải cách giáo dục của ông "là nhằm mục đích đào tạo lớpnhân tài mới để bổ sung và dần dần thay thế cho tầng lớp quan lại cũ" là đúngđắn Tuy nhiên, do hoàn cảnh chính trị- xã hội mang tính thời đại mà tư tưởngcủa Nguyễn Trường Tộ không được sử dụng một cách triệt để
Tổng kết chương 1
Triều Nguyễn tồn tại trong vòng 143 năm (1802-1845) với 13 đời vua.Tuy thời gian trị vì không dài hơn so với các triều đại khác (triều Lý, 1010 -1225; triều Trần, 1225-1400), nhưng triều Nguyễn lại có vị trí hết sức đặc biệttrong tiến trình lịch sử nước nhà Nó được ví như chiếc cầu nối chuyển tiếp giữathời kỳ trung đại đến hết thời cận đại
143 năm tồn tại của triều đại nhà Nguyễn là một phần quan trọng của lịch sửnước nhà, là một lát cắt ngang phản ánh diện mạo của hơn một ngàn năm chế độquân chủ phong kiến Việt Nam Nó đã để lại nhiều dấu ấn, đan xen giữa nhữngcái tiến bộ và hạn chế; thậm chí có những mảng đen trắng không rõ ràng Điềunày khiến các nhà nghiên cứu phải mất nhiều công tìm hiểu và cũng gây ranhiều tranh cãi trong giới Sử học nói riêng và giới Khoa học xã hội Việt Namnói chung Từ cách tiếp cận khác nhau đã dẫn đến những nhận định khác nhau,thậm chí đối lập nhau về công và tội của vương triều này Những tư liệu mà các
bộ sử học cung cấp sẽ giúp cho tác giả luận án có được cơ sở chính trị -xã hội đểnhìn nhận khách quan và đầy đủ về những đóng góp của vương triều Nguyễn
Đặc biệt với những công trình nghiên cứu về quan niệm "nhân tài" nóichung và quan niệm của các nhà tư tưởng tiểu biểu thế kỷ XIX (Nguyễn Du,Minh Mệnh, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Trường Tộ) nói riêng đã mang đếnnhiều tài liệu tham khảo, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiên cứu các quanniệm về nhân tài dưới triều Nguyễn nói chung và của một số nhà tư tưởng tiêubiểu thế kỷ XIX nói riêng
Trang 30Chương 2: CƠ SỞ HÌNH THÀNH QUAN NIỆM VỀ NHÂN TÀI Ở VIỆT NAM THẾ KỶ XIX
Sự phát triển của xã hội loài người nói chung, của các quốc gia, các dântộc nói riêng luôn được đánh dấu bằng những tiến bộ vượt bậc về khoa học, kĩthuật và những chuyển biến mang tính chất bước ngoặt trong các lĩnh vực khácnhau của đời sống xã hội Góp phần tạo ra sự phát triển đó, đi đầu là những nhàkhoa học thiên tài, những nhà tư tưởng vĩ đại, nhà quân sự tài năng, những nhàchính trị kiệt xuất…Họ được coi là những nhân tài tạo ra những bước tiến của xãhội Vì vậy, dưới bất kì tồn tại xã hội nào, người tài cũng là trung tâm chú ý củatoàn xã hội, là vấn đề quan tâm của mọi chính sách, đường lối phát triển của mọithời đại Ở Việt Nam, ngay từ thời kỳ đầu của thời kỳ dựng nước và giữ nước,ông cha ta đã chú ý đến chính sách phát hiện, thu hút và sử dụng nhân tài đểphát triển triều đại Tuy nhiên, do đặc điểm của điều kiện kinh tế- xã hội, chế độchính trị, trình độ khoa học kĩ thuật khác nhau, tính chất văn hóa khác nhau màquan niệm về nhân tài, chính sách đào tạo và sử dụng nhân tài cũng có nhữngsắc thái khác nhau Quan niệm về nhân tài và chính sách đào tạo, sử dụng nhântài triều Nguyễn chịu ảnh hưởng của các nhân tố như điều kiện kinh tế, trình độkhoa học kĩ thuật, chế độ chính trị, nền văn hóa, tư tưởng nhất định
1.1 Bối cảnh đất nước thế kỷ XIX
Đầu thế kỷ XIX đã kết thúc một cuộc chiến tranh giành quyền lực khốcliệt giữa nhà Tây Sơn và thế lực nhà Nguyễn đứng đầu là Nguyễn Ánh TriềuNguyễn được thiết lập, tồn tại, phát triển và sụp đổ trong bối cảnh lịch sử kháđặc biệt với nhiều biến động phức tạp Các vua nhà Nguyễn từ Gia Long (1802-1819), Minh Mệnh (1820-1840), Thiệu Trị (1841-1847) đến Tự Đức (1848-1883) kế tiếp nhau xây dựng và củng cố nền thống trị trong bối cảnh chế độphong kiến ở phương Đông đang ở giai đoạn suy tàn, chủ nghĩa tư bản phươngTây đang mở rộng chính sách thực dân, tìm kiếm thị trường và thuộc địa
Trang 311.1.1 Bối cảnh quốc tế
Ở Phương Tây: những cuộc cách mạng tư sản diễn ra ở Tây Âu và Bắc Mĩ (giữathế kỷ XVI- giữa thế kỷ XIX) đã từng bước thiết lập hệ thống chính trị tư sảntrong các quốc gia phát triển (Anh, Mĩ, Pháp, Đức) rồi lan tỏa ảnh hưởng ra cácnước khác trên toàn cầu với những mức độ và hình thức khác nhau Các trào lưu
tư tưởng, các học thuyết chính trị-xã hội mới tiêu biểu nhất là triết học Ánhsáng
Cùng với vấn đề chính trị, xã hội, trên lĩnh vực khoa học kỹ thuật thời kỳ nàycũng có sự phát triển vượt bậc Việc phát minh ra máy hơi nước ở Anh cuối thế
kỷ XVIII đã đánh dấu sự ra đời của cách mạng công nghiệp Với sự kiện đặcbiệt này, đã tạo ra một quá trình công nghiệp hóa diễn ra rầm rộ ở châu Âu, làmthay đổi cách thức sản xuất từ lao động bằng tay sang sử dụng máy móc và từngbước hình thành một cơ cấu công nghiệp hoàn chỉnh; từ sản xuất quy mô nhỏlên sản xuất quy mô lớn với sự ra đời của các nhà máy và các khu công nghiệp.Đây là điều kiện tác động và làm đời sống xã hội có những thay đổi lớn lao:hình thành các giai cấp mới (giai cấp tư sản và giai cấp vô sản), dân số tăngnhanh, đô thị hóa phát triển…
Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản gắn liền với quá trình thực dân hóa ở cácchâu lục phát triển Chủ nghĩa tư bản ở Tây Âu ra sức bành trướng ra khắp thếgiới với hai mục tiêu Một mặt là để cướp bóc các nguồn nguyên liệu ở các vùngđất chưa được khai thác Mặt khác để chiếm lấy các thị trường tiêu thụ ở nhữngnước đông dân cư Với mục tiêu trên, thì điều kiện ở các nước phương Đông làphù hợp Chính vị vậy, phương Đông đất rộng, người đông, tài nguyên giàu có,kinh tế, chính trị lạc hậu đã trở thành hướng đến của chính sách thực dânphương Tây Từ thế kỷ XVIII, cuộc chạy đua xâm chiếm thuộc địa của các nước
tư bản ở châu Á dần dần xác lập vị trí của thực dân Anh và Pháp ở vùng đất này.Năm 1702, Anh chiếm đảo Côn Lôn (nay gọi là Côn Đảo) làm căn cứ, nhưngmột năm sau, Anh buộc phải rút khỏi đảo vì cuộc chiến đấu của nhân dân trênđảo với sự giúp sức của chúa Nguyễn Tuy nhiên, ở các mặt trận khác thực dân
Trang 32Anh hoàn thành xâm chiếm Ấn Độ, Mã Lai, tiến hành xâm lược Miến Điện (nay
là Myanma)…Thực dân Pháp đã thực hiện âm mưu về kế hoạch xâm lược ViệtNam, Lào, Campuchia Mỹ gõ cửa Nhật Bản vào giữa thế kỷ XIX và sẽ hất TâyBan Nha khỏi Philippin vào cuối thế kỷ XIX
Các nước thực dân, đi đầu là Anh từ năm 1635 trở đi đã lần lượt “liên quân” vớinhau xâu xé Trung Quốc Năm 1857 -1858 liên quân Pháp –Anh đánh pháQuảng Châu và buộc triều đình phải ký điều ước Thiên Tân (27-6-1858) Việcđánh chiếm Trung Quốc không chỉ chia nhau “chiếc bánh ngọt khổng lồ TrungQuốc” mà còn để hạ uy thế của “ Thiên Triều” Bắc Kinh với các chư hầu ở châu
Á và các nước tư bản phương Tây sẽ thay vào vị trí thống trị này
Đồng hành với cuộc chiến xâm lược, các chủ nghĩa thực dân phương Tây đãđem đến các vùng đất mới những sản phẩm của nền văn minh phương Tây Đókhông chỉ là các vũ khí hiện đại như tàu thiếc, tàu đồng, sung trường, đại bác…
mà còn có cả những tri thức khoa học, công nghệ, kỹ nghệ mới, lối sống mới vànhững học thuyết, tư tưởng mới…Như vậy, châu Á đã xuất hiện “va chạm củacác nền văn minh”, văn minh nông nghiệp đã và đang mang tính lạc hậu với vănminh công nghiệp hiện đại phương Tây
Có thể thấy rằng, những năm đầu thế kỷ XIX, nước Việt Nam nói riêng và cácnước châu Á nói chung đang phải đối mặt với nguy cơ bị biến thành thuộc địacủa các nước tư bản châu Âu
-Ở phương Đông
Hầu hết chính quyền phong kiến ở hầu hết các nước châu Á đều bộc lộ sự suyyếu trên nhiều phương diện Thể chế nhà nước phong kiến không còn phù hợp,kinh tế lạc hậu, ách thống trị của giai cấp địa chủ đè nặng lên các tầng lớp nhândân, mâu thuẫn giữa triều đình và nhân dân lao động, đặc biệt là nông dân ngàycàng trở nên gay gắt Nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân thế kỷ XVII, XVIII ởnhiều nước châu Á nổ ra Điển hình là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn ở Việt Nam;phong trào nông dân Thái Bình Thiên Quốc nổ ra ở Quảng Châu- Trung Quốc…
Trang 33Tuy các cuộc khởi nghĩa nông dân lần lượt bị thất bại, song cũng làm cho chế độphong kiến thêm lung lay.
Với sự tiếp xúc với văn minh phương Tây đã làm xuất hiện ở châu Á các xuhướng canh tân đất nước của nhiều trí thức phương Đông với nhiều mức độ vàhình thức Đây là tác động làm cho chế độ phong kiến thêm suy yếu Nếu như ởthế kỷ XVII, XVIII, những tư tưởng canh tân còn manh nha thì đến thế kỷ XIX,duy tân theo con đường tư bản chủ nghĩa đã trở thành một xu thế Tuy nhiên dođặc điểm của từng quốc gia, dân tộc, cơ sở xã hội và thái độ của triều đìnhphong kiến mỗi nước nên xu thế đó có trở thành hiện thực hay không
Lịch sử thế kỷ XIX cho thấy, các nước trong khu vực châu Á đều trở nên suyyếu về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Các quốc gia đã có sự biếnđổi lớn trong sự ảnh hưởng lẫn nhau
Ngay từ khi thiết lập triều Nguyễn, vua Gia Long đã hết sức cảnh giác với âmmưu can thiệp của thực dân Pháp bằng việc thi hành chính sách đóng cửa, giớihạn buôn bán trong khuôn khổ kiểm soát của triều đình và hạn chế vai trò củacác sĩ quan Pháp được ông sử dụng Mặc dù vậy, đường lối mà nhà vua đầu tiêncủa triều Nguyễn lựa chọn là sai lầm, lạc hậu trước bối cảnh phát triển mới củathế giới Bởi vì, làn song phát triển của chủ nghĩa tư bản là làn song văn minh,với những quan hệ phụ thuộc giữa các quốc gia dân tộc trong sự tác động qua lạilẫn nhau Đây là sự khác biệt rõ rệt với xu hướng tồn tại theo lối tự cung, tự cấp
và cô lập ở các nước châu Á
Đến Minh Mệnh, mặc dù ông đã có cái nhìn tiến bộ hơn khi của các phái đoàn ranước ngoài năm 1840, cử người học ngoại ngữ phương Tây nhưng cũng chỉnhằm tìm hiểu về khả năng và ý định của người phương Tây Minh Mệnh vẫnkhông thừa nhận tính ưu việt hơn của nền văn minh phương Tây, đặc biệt là vềkinh tế và giáo dục Chính vì vậy, vị vua thứ hai của triều Nguyễn vẫn tiếp tụcduy trì các chính sách đã được vua Gia Long đề ra Đến các đời vua sau là Thiệutrị và Tự Đức, sự can thiệp của thực dân Pháp ngày càng sâu Sự hạn chế và lạc
Trang 34hậu của chính sách kinh tế, chính trị, văn hóa giáo dục triều Nguyễn đã bộc lỗ
rõ, không thể cứu vãn và 1858, thực dân Pháp chính thức xâm lược Việt Nam
2.2 Bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, tư tưởng Việt Nam đầu thế
Tuy nhiên, nhà Nguyễn đang đứng trước rất nhiều khó khăn thử thách phảiđối phó trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa mà trước hết là về mặtchính trị
Vua Gia Long đã thừa hưởng của quá khứ một di sản khá nặng nề lúc nhàNguyễn phải hướng mọi cố gắng và sức lực vào việc thiết lập một cơ sở vững chắccho triều đại mới, đồng thời trùng tu, kiến tạo lại xứ sở, bị tan nát đến tận cội rễ saumột thời nội chiến dai dẳng và ác liệt
Với tình trạng đó, trong lĩnh vực cai trị, sự áp dụng nguyên tắc tập trung tấtnhiên bị ngăn chặn bởi hai giới hạn: giới hạn tâm lý, làm cho dân quen dần vớichính quyền duy nhất mà không đụng chạm một cách vô ích đến tình hình địaphương kết tinh sau hàng thế kỷ chia rẽ; giới hạn kỹ thuật giải quyết công vụ mộtcách đầy đủ nhưng thích hợp với thực tế địa phương và nhất là nhanh chóng
Sau khi thống nhất đất nước, tình trạng chính trị thực tế mà vua Gia Longđối phó là các địa phương chuyên quyền, pháp lệnh bất nhất, tổ chức chính trị mỗinơi một khác, tình trạng phân quyền giữa các dinh, trấn đang diễn ra, vấn đề nhucầu trí thức hoá bộ máy cai trị đặt ra cấp thiết Chính vì vậy, nhiệm vụ đầu tiên màmột vị vua khai sáng một triều đại phải giải quyết là thiết lập một bộ máy quản lý,
Trang 35điều hành đất nước Yêu cầu thiết phải có đội ngũ nhân tài bổ sung cho bộ máy caitrị và giúp vua quản lý đất nước là vấn đề mang tính cấp bách Năm 1802, khi làmchủ được Bắc Hà và quyết định xem Phú Xuân là quốc đô, triều Nguyễn lập ra 2trấn Bắc Thành và Gia Định, tổ chức chính quyền địa phương gần như tồn tại 2 khuvực độc lập ở bắc và nam Ngoài việc chia sẻ vinh quang và quyền lực cho cáccông thần như các nhà nghiên cứu thường nhận định thì việc phân chia 2 trấn BắcThành và Gia Định phần nào cũng phản ánh việc thống nhất đất nước trên mọiphương diện không phải là công việc một sớm một chiều Bước đầu, vị vua đầutriều Nguyễn đã tạm chấp nhận tình trạng “kẻ Bắc người Nam” Tuy nhiên, đó chỉ
là một giải pháp có tính chất quá độ, “quyền nghi đặt tạm” như nhận định của MinhMệnh, gây nhiều khó khăn cho sự thống trị của nhà Nguyễn Phải đến năm 1831-
1832, khi Minh Mệnh tiến hành một cuộc cải cách hành chính địa phương, tìnhtrạng các tổng trấn mới được xóa bỏ
Việc tiếp theo về chính trị là giải quyết vấn đề hậu chiến: ứng xử ra sao vớiđội ngũ những công thần- võ tướng cả cuộc đời vào sinh ra tử cùng nhà vua sánglập nên một triều đại mới? Đặc biệt là những cựu thần của nhà Lê? Chúng ta thấyrằng: khi nhà Nguyễn mới được thiết lập, quan lại phần lớn là những người từngtheo Nguyễn Ánh chống lại Tây Sơn, trong đó chủ yếu là các võ quan Để giảiquyết nhu cầu nhân sự trước mắt cho bộ máy hành chính các cấp, khắc phục nhữnghạn chế về khả năng và kinh nghiệm của các võ quan, cũng là để lấy lòng giới sĩphu và nhân dân Bắc Hà, vua Gia Long vẫn chọn Nho giáo làm nền tảng tư tưởngcho đường lối cai trị nhằm đề cao chính quyền trung ương, củng cố uy quyền tuyệtđối của vua Đồng thời sử dụng một số quan lại cũ của nhà Lê – Trịnh, nhà TâySơn Chính vì vậy, xây dựng đất nước trong thời bình đặt ra những yêu cầu mới đốivới bộ máy quản lý đất nước, nó đòi hỏi không chỉ tăng về số lượng nhân sự màcòn phải gia tăng về chất lượng và năng lực quản lý đất nước
Về đối nội, vua Gia Long thực hiện đường lối “ngoại Nho, nội Pháp”, thihành các chính sách xây dựng kinh tế, khôi phục văn hóa nhằm đem lại sự ổn địnhcho xã hội, đồng thời trấn áp các cuộc nổi dậy của các phần tử chống đối nhằm
Trang 36củng cố địa vị thống trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam Thời kỳ mới thiết lập triềuNguyễn, vua Gia Long mới chỉ thể hiện được quyền lực tối cao ở miền Trung, cònmiền Bắc và miền Nam chưa kiểm soát được các vùng lãnh thổ Bắc thành và Giađịnh thành ở miền Nam được trao cho các tướng lĩnh tin cẩn với các chức vụ tổngtrấn Chính vì vậy, yêu cầu cần thiết là có những nhân tài giúp vua cai trị đất nướcthống nhất là đặc biệt quan trọng.
Để tập trung quyền cai trị tuyệt đối của vua, các vị vua kế tiếp của triềuNguyễn đã thực hiện rất nhiều chính sách về kinh tế, chính trị xã hội Tiêu biểu làvua Minh Mệnh đã tiến hành cải cách hành chính chia cả nước thành 31 tỉnh thành
do nhà vua trực tiếp quản lý, thực hiện nhiều biện pháp chính trị nhằm ổn định xãhội, cải thiện cuộc sống nhân dân, xây dựng một xã hội kỷ cương Tuy nhiên, thựctiễn lịch sử ghi nhận thời vua Minh Mệnh có tới 234 cuộc khởi nghĩa và nổi dậytrong cả nước Nó chứng tỏ một sự khủng hoảng chính trị dưới triều Nguyễn Điềunày mang đến sự đòi hỏi cấp bách phải có một đội ngũ quan lại tài năng để giúpvua ổn định chính trị, xây dựng triều đại hùng mạnh
Về đối ngoại của triều Nguyễn mang đầy dấu vết Hán hóa, bộc lộ trongchính sách “bế quan tỏa cảng” Đường lối này có nhiều nguyên nhân: do quan niệmgiao thương với người phương Tây trái ngược với mục đích chính trị Nho giáo và
có nhiều nguy cơ đảo lộn nền chính trị xã hội trong nước Do yêu sách và hoạtđộng ngày càng tăng của các giáo sĩ trong truyền bá Thiên chúa giáo tạo ran guy cơdiễn ra các hoạt động chống lại triều đình Do nhà Nguyễn cho rằng một quan hệngoại giao chính thức sẽ tạo thêm cơ hội cho người nước ngoài can thiệp vào nềnđộc lập của Việt Nam
Khác với các thế kỷ trước, đến thế kỷ XIX, quan hệ bang giao không chỉgiới hạn trong phạm vi với các nước láng giềng quen thuộc mà phải tính đến ngoạigiao với các nước phương Tây Các nước Pháp, Anh, Tây Ban Nha…đã xuất hiệnvới những đề nghị đặt quan hệ ngoại giao hoặc quan hệ thông thương Như vậy,trong chính sách ngoại giao của triều Nguyễn không chỉ có Xiêm La, Vạn Tượng,
Ai Lao hay Trung Hoa nữa mà còn có các nước phương Tây như Anh, Pháp, Mỹ
Trang 37Như vậy, để đưa triều đại Nguyễn phát triển trong thời đại mới, yêu cầuđặt ra về chính trị: tinh giản bộ máy hành chính, tuyển chọn quan lại dựa vàonăng lực nghề nghiệp thực tế, thực hiện đường lối đối ngoại mở cửa
2.2.1.2.Tình hình kinh tế: Nửa đầu thế kỷ XIX, nhà Nguyễn thực hiện
chính sách “bế quan toả cảng” đóng cửa giao lưu với bên ngoài, coi thường côngthương, làm cho yếu tố năng động của nền kinh tế không có điều kiện phát huy
và kinh tế nhà Nguyễn là kinh tế lạc hậu Chính sách kinh tế của triều Nguyễn làtrọng nông Nguồn lợi số một của nhà nước là thu thuế điền, thuế đinh Nếu nhưhơn 200 năm Đàng Trong, các chúa Nguyễn đã tạo nên những trải nghiệm mớitrong lịch sử kinh tế của dân tộc khi chú ý đến việc phát triển kinh tế hàng hóanông nghiệp thì đến các đời vua Nguyễn, rất tiếc là kinh nghiệm đó không được
áp dụng Chiến tranh liên miên cũng khiến người dân phiêu tán tứ xứ, ruộng đấtnhiều nơi trở nên hoang hóa Sự chú trọng đến công tác thủy lợi, đê điều, khaihoang lập ấp cùng chế độ doanh điền cũng là những nỗ lực đáng ghi nhận củatriều Nguyễn nhằm phát triển nông nghiệp Việc di dân đi khai khẩn những vùngđất mới cũng đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết
Việc tiếp xúc với công nghiệp phương Tây đã tạo được động lực đáng kểcho công nghiệp phát triển Năm 1834, Nguyễn Viết Túy đã chế tạo thành công
xe “Thủy hỏa kế tế”, dùng sức nước nghiền thuốc sung Những năm 1837-1838,theo mẫu của phương Tây, thợ công xưởng đã làm được máy cưa ván gỗ, máy
xẻ gỗ bằng sức nước, máy hút nước tưới ruộng Chính bản thân vua Minh Mệnh
có rất nhiều ý tưởng về chế tạo máy, ông đã lệnh chế ra xe nước, xe chữacháy…Năm 1839, sau một lần thất bại, các đốc công Hoàng Văn Lịch, Vũ HuyTrịnh cùng thợ công xưởng đã đóng được chiếc thuyền máy chạy bằng hơinước Tiếp theo thành công đó, Minh Mệnh lại cho thợ theo mẫu tàu chạy bằngmáy hơi nước loại lớn mua về để đóng một chiếc khác kiểu mới hơn và sửa chữamột chiếc khác bị hỏng Minh Mệnh đã thực sự bị nền công nghiệp cơ khíphương Tây cuốn hút và có thể nói rằng chính ông đã có công đặt những viêngạch nền móng cho ngành cơ khí nước nhà Tuy hứng thú với những sản phẩm
Trang 38của nền văn minh phương Tây nhưng triều Nguyễn lại không thừa nhận nền vănminh ấy.
Đầu thế kỷ XIX điều kiện để phát triển thương nghiệp rất thuận lợi: đấtnước thống nhất, hệ thống giao thông Bắc Nam, liên tỉnh được sửa chữa; nhiềukênh song được khai đào… Nhưng nhà Nguyễn đã không biến các cơ hội đóthành hiện thực Chính sách thuế khóa và thể lệ kiểm soát nghiêm ngặt, phức tạp
đã hạn chế sự phát triển thương nghiệp
Lo ngại trước nguy cơ bị xâm lược bởi các nước phương Tây, triều đìnhnhà Nguyễn nắm độc quyền ngoại thương Việc buôn bán với nước ngoài chủyếu được tiến hành với các nước trong khu vực như Trung Hoa, Xiêm, Mã Lai
Và ngay cả với những đối tượng này, chính quyền Phú Xuân cũng luôn dèchừng, cảnh giác
Từ năm 1824, vua Minh Mệnh có cho người đi tìm hiểu thị trường trongkhu vực Thực tế, ông đã cử thuyền đem gạo, đường, lâm thổ sản…sang bán ởSinggapore, Inđônêxia, Philippin, Thái Lan… và mua về len, dạ, vũ khí, đạndược Nhưng việc buôn bán như vậy cũng không phải là phổ biến, càng khôngthể là đặc điểm nổi bật của ngoại thương nước nhà trong giai đoạn này
Sự phát triển hạn chế của công thương nghiệp ở nửa đầu thế kỷ XIXkhông tạo nên được những điều kiện cần thiết cho sự biến chuyển xã hội
2.2.1.3.Tình hình văn hóa - xã hội:
*Về văn hóa: Với tình hình chính trị đối nội và đối ngoại trên đây, có thểthấy rằng vua Gia Long khi lên ngôi đã chủ trương lấy Nho giáo làm cơ sở tưtưởng cho triều đại mới, lấy mô hình triều đại Trung Hoa làm khuôn mẫu xâydựng triều đại Nguyễn Trước triều Nguyễn, hầu hết các triều đại phong kiếnViệt Nam đã chủ trương đưa Nho giáo lên địa vị tư tưởng thống trị và tiêu biểu
là nhà Lê thực hiện vào giữa thế kỷ XV với triều Lê Thánh Tông Đây là hệ tưtưởng Nho giáo đã được Chu Hy thời Tống đồng nhất vương quyền với thầnquyền và được củng cố chặt chẽ ở Trung Quốc vào đầu thế kỷ XV Sự ảnhhưởng tích cực của nó khi đưa văn hóa xã hội Việt Nam vào những thời kỳ phát
Trang 39triển hưng thịnh là không thể phủ nhận Tuy nhiên, thế kỷ XIX, sau gần 4 thế kỷvới những thay đổi lớn của thời đại thì việc các vua triều Nguyễn chủ trươngđưa Nho giáo trở lại vị trí độc tôn đã bộc lộ sự lạc hậu và không còn phù hợp.
Với chủ trương độc tôn Nho giáo, các vua triều Nguyễn đề cao nhữngquan niệm chính trị- xã hội của Nho giáo phù hợp với mục đích cai trị, đề cao,tuyệt đối hóa vai trò của vua như: tư tưởng “mệnh trời”, đạo làm vua, đạo làmngười…Đây là những quan niệm được coi là “khuôn vàng, thước ngọc” trongcác sách kinh viện Tứ Thư, Ngũ kinh của Nho giáo Điều này cho thấy, văn hóaViệt Nam thời kỳ này thiếu hụt mảng kiến thức khoa học tự nhiên Đây mới lànhững kiến thức thực tế giúp cho con người khắc phục thiên tai, cải thiện đờisống Nó chứng tỏ sự hạn chế của tư tưởng Nho giáo Thêm vào đó, các chuẩnmực Nho giáo về tam cương, ngũ thường để ràng buộc, quy định các mối quan
hệ từ trong gia đình đến ngoài xã hội được duy trì tuyệt đối Coi Nho giáo làrường cột cho nền tư tưởng, đạo đức chính thống, cho chế độ cai trị đã tạo ranhững nguyên tắc khắc nghiệt và thiếu tính nhân bản trong văn hóa Việt Namthế kỷ XIX
Vua Gia Long, tiếp sau sau là Minh Mệnh, Thiệu Trị,Tự Đức tiếp tụcdùng Nho giáo làm hệ tư tưởng chính cai trị xã hội Trong đó, vua Minh Mệnh-
vị vua thứ hai của triều Nguyễn đã thực hiện nhiều chính sách nhằm xây dựng
hệ tư tưởng riêng, xây dựng Việt Nam thành quốc gia hùng mạnh Ông đã chủtrương cho biên soạn nhiều cuốn sử mà tiêu biểu là bộ Minh Mệnh chính yếu.Đây được coi là tác phẩm cơ bản của nhà vua, là cơ sở tư tưởng và thể chế xâydựng triều Nguyễn Tuy nhiên, như tác giả Lê Sỹ Thắng nhận định: hệ tư tưởng
mà Minh Mệnh cố gắng xây dựng nhìn chung vẫn “bất cập, không đủ sức soisáng cho sự nghiệp xây dựng đất nước, ổn định xã hội và quan trọng hơn cảkhông đủ sức có một tầm nhìn xa rộng để chuẩn bị cơ sở kinh tế- xã hội và vănhóa cho đất nước có khả năng chống lại sự xâm lược của chủ nghĩa tư bảnphương Tây”[ Lê Sỹ Thắng (1997), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 2, nhà xuấtbản khoa học xã hội, Hà Nội, tr.110]
Trang 40Đến triều Nguyễn, trên lãnh thổ nước ta có sự xuất hiện của 3 trung tâmvăn hóa lớn: văn hóa Thăng Long, văn hóa Phú Xuân và văn hóa Gia Định Tínhđịa phương như một đặc điểm lớn của văn hóa Đại Nam Nó tạo ra sự phongphú, đa dạng nhưng mặt khác, nó cũng gây ra những trở ngại nhất định trongquá trình quản lý đất nước Nó đặt ra thực tiễn cho nhà Nguyễn phải có nhữnglực lượng quan lại đông đảo có đức, có tài giúp vua quản lý đất nước.
Với đặc điểm lãnh thổ trải dài từ Bắc đến Nam, là nơi cư trú của nhiều tộcngười, lại trải qua một thời gian dài chia cắt nên phong tục, tập quán, lối sống,nếp sống, tôn giáo, tín ngưỡng…của các cộng đồng dân cư trong cả nước rất đadạng Khi người Việt tiến về phương Nam khai hoang, lập ấp mới, họ mang theovăn hóa của quê hương mình, mang theo cả phương thức sản xuất, tâm thứccộng đồng làng xã, thậm chí cả tên đất, tên làng, thần linh đến vùng đất mới Tại
đó, có sự gặp gỡ, giao thoa về lối sống, phong tục, tập quán giữa cư dân cũ và cưdân mới Tuy nhiên, sự phát triển của những vấn đề này bị giới hạn với chủtrương độc tôn của Nho giáo
Triều Nguyễn sử dụng hệ thống giáo dục và thi cử tuyển chọn quan lạivào bộ máy nhà nước theo mô hình Nho giáo Lối giáo dục khoa cử trên đã tạo
ra một đội ngũ quan lại đông đảo đáp ứng được hai yêu cầu: một mặt, đội ngũquan lại này có khả năng và đạo đức phù hợp với chủ trương, chính cai trị củatriều Nguyễn; mặt khác quan lại phải có quyền lợi rang buộc, gắn chặt vớivương triều Nguyễn theo nguyên tắc “trung quân” Đây là ưu điểm để các vuatriều Nguyễn có thể khai thác triệt để những người có khả năng về văn, võ chotriều đại Tuy nhiên, đây cũng chính là nguyên nhân tạo ra mặt trái của giáo dục
và thi cử Nho giáo khi tạo ra đội ngũ nguồn nhân lực thiếu tính thực tiễn, mangtính bảo thủ, sáo mòn, rập khuôn, máy móc
Đồng thời, giáo dục thi cử ở Bắc Bộ và Nam Bộ có sự phát triển khôngđồng đều Nếu như ở Bắc Bộ, việc giáo dục, khoa cử diễn ra thường xuyên, quy
củ thì trái lại, ở Nam Bộ, Nho học khoa cử còn khá lỏng lẻo Để đáp ứng nhu