1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao nhận thức môi trường cho học sinh sinh viên thông qua việc thiết kế các tuyến du lịch sinh thái ở Tây Ninh

78 513 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao nhận thức môi trường cho học sinh sinh viên thông qua việc thiết kế các tuyến du lịch sinh thái ở Tây Ninh
Tác giả Trần Thị Thanh Lộc
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Tấn Dân
Trường học Trường Đại Học Tây Ninh
Chuyên ngành Quản trị du lịch và lữ hành
Thể loại Đồ án tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Tây Ninh
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 9,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nhiên, nếu như trong hoạt động của các loại hình du lịch này có gắn với việc thựchiện các nguyên tắc của du lịch sinh thái như nâng cao nhận thức để du khách cótrách nhiệm với việc bảo t

Trang 1

LỜI GIỚI THIỆU



Du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng là loại hình kinh doanh đặc biệtnhằm thỏa mãn nhu cầu nghĩ dưỡng, tìm tòi, khám phá về thiên nhiên, văn hóavà những vùng đất mới Trong xã hội công nghiệp, với nhịp độ hoạt động của dân

cư và tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng cao, vì vậy con người có xu hướngmuốn hòa mình với thiên nhiên nhằm tìm kiếm sự bình yên, trong sạch của môitrường và khám phá những điều mới là Do đó trở về với thiên nhiên cũng là xuhướng phát triển hiện nay của hoạt động du lịch Du lịch sinh thái không chỉ đưacon người về với thiên nhiên mà còn có những hoạt động nhận thức mạnh mẽ vềthiên nhiên và ý thức trách nhiệm đối với xã hội

Và việc tham gia du lịch sinh thái của học sinh và sinh viên như một buổi ngoạikhóa là những kích thích rất có kết quả cho hoạt động có ý nghĩa về môi trường…Nó cung cấp điểm trọng tâm cho các phương pháp học tập có giá trị khó đạt đượctrong lớp học

Nghiên cứu, thiết kế các tuyến du lịch sinh thái mà trọng tâm của nó là cho họcsinh và sinh viên nhận biết được tầm quan trọng của môi trường đối với conngười, đã góp một phần giải quyết vấn đề môi trường của nước ta hiện nay

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

A LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Tây Ninh là một trong những tỉnh ở Đông Nam Bộ có nhiều tiềm năng du lịchsinh thái như rừng nguyên sinh phía Bắc, khu vực hệ sinh thái hồ Dầu Tiếng, khuvực hệ sinh thái (HST) dọc sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Tây Ninh có những ditích lịch sử gắn liền với truyền thống cách mạng dân tộc, các di tích văn hóa củacác tôn giáo cùng với sự hấp dẫn của làng nghề, những vườn cây ăn trái xumxuê… hấp dẫn đối với khách du lịch trong và ngoài nước Thế nhưng, việc pháttriển du lịch còn chậm, hiệu quả kinh tế thấp và chưa tương xứng với tiềm nănghiện có

Bên cạnh đó, Ở Việt Nam du lịch sinh thái (DLST) – một xu hướng du lịch củathế giới nhằm phát triển du lịch bền vững, vừa bảo tồn tài nguyên du lịch sinhthái (TNDLST), giáo dục môi trường, vừa cải thiện chất lượng cuộc sống củangười dân – là lĩnh vực mới được nghiên cứu từ giữa thập niên 90 của thế kỷ XX.Nhưng thật sự quan tâm chỉ trong những năm gần đây và chủ yếu tập trungnghiên cứu tiềm năng phát triển, quy hoạch khai thác hợp lý TNDLST… Hiện naynhững đề tài nghiên cứu đi sâu vào từng khía cạnh của du lịch sinh thái vẫn còn ítvà đặc biệt là chưa tìm hiểu “Vậy DLST giáo dục bảo vệ môi trường như thếnào?” cũng như làm thế nào để có thể thu hút người tham gia du lịch có thể trởthành khách du lịch sinh thái đúng nghĩa

Với mong muốn mọi đối tượng du khách đều có thể tham gia DLST, nâng caotrách nhiệm của mọi người đối với môi trường thiên nhiên cùng với việc gópphần thu hút khách du lịch đến với Tây Ninh, tôi đã mạnh dạn đưa ra đề tài

“Nâng cao nhận thức về môi trường cho du khách thông qua việc thiết kế các tuyến du lịch sinh thái ở Tây Ninh”.

Trang 3

B MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu tổng quát của đề tài nhằm đưa ra mô hình tuyến điểm DLST ở Tây Ninhnhằm giáo dục và nâng cao nhận thức về môi trường cho du khách, mà chủ yếu làhọc sinh và sinh viên Bởi vì, việc tham gia DLST của học sinh và sinh viên nhưmột buổi ngoại khóa là những kích thích rất có kết quả cho hoạt động có ý nghĩavề môi trường… Nó cung cấp điểm trọng tâm cho các phương pháp học tập có giátrị khó đạt được trong lớp học Những mục tiêu cụ thể được xác định gồm:

 Hệ thống hóa các luận điểm cơ bản về DLST, phân biệt sự khác nhau giữakhách du lịch và khách DLST

 Kháo sát, đánh giá những khu vực có tiềm năng phát triển DLST ở tỉnh TâyNinh Từ đó lựa chọn các địa điểm để thành lập tuyến điểm DLST thích hợpgiáo dục môi trường cho du khách

 Đề xuất những giải pháp để các nhà quản lý lãnh thổ, các nhà điều hành kinhdoanh du lịch, hướng dẫn viên có thể dễ dàng truyền đạt những thông tinnhằm giúp nâng cao nhận thức cho du khách thông qua quá trình tham giatuyến du lịch

C NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Để đạt được các mục tiêu nêu trên, đề tài tập trung nghiên cứu các nội dungchính sau đây:

 Tổng quan về các luận điểm DLST, các đối tượng của DLST: khái niệm, đặctrưng cơ bản, những yêu cầu và nguyên tắc tổ chức hoạt động, vai trò của từngđối tượng của DLST, sự khác nhau giữa khách du lịch và khách DLST

 Khảo sát, đánh giá những khu vực có tiềm năng phát triển DLST trong tỉnhTây Ninh: Tài nguyên du lịch thiên nhiên (TNDLTN), tài nguyên du lịch nhânvăn (TNDLNV), những yếu tố ảnh hưởng, thực trạng hoạt động du lịch củatỉnh

Trang 4

 Dựa vào đặc trưng riêng của từng điểm DLST mà đưa ra các mục đích cầngiáo dục cho học sinh

 Nghiên cứu giải pháp để các nhà quản lý lãnh thổ, các nhà điều hành kinhdoanh du lịch, hướng dẫn viên du lịch, cộng đồng tại địa phương có thể dễdàng truyền đạt những thông tin nhằm giúp nâng cao nhận thức cho du kháchthông qua quá trình tham gia tuyến du lịch

D PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp cụ thể

 Thu thập dữ liệu thứ cấp gồm: những tài liệu được xuất bản chính thức, nhữngđề tài nghiên cứu có liên quan, số liệu thống kê, các báo cáo tổng kết của Ủyban Nhân dân, Sở Du lịch và các công ty du lịch

 Tiến hành khảo sát thực tế, thăm dò ý kiến và phỏng vấn sâu để thu thập dữliệu sơ cấp

 Khảo sát thực tế địa bàn nghiên cứu sẽ giúp cho việc phát hiện, nhận thứcvà đánh giá các vấn đề quan tâm một cách xác đáng hơn, kiểm chứng cácthông tin đã có, đồng thời tiếp tục thu thập thông tin và phát hiện các vấnđề thực tế mới phát sinh

 Thăm dò ý kiến và phỏng vấn sâu các chuyên gia ở các lĩnh vực chuyênngành khác nhau, một số hộ dân có và không có tham gia vào hoạt động

du lịch sinh thái về vấn đề đang được quan tâm sẽ giúp cho việc tiếp cậnvấn đề được rộng hơn Kết quả thăm dò, phỏng vấn sâu được bổ sung vào

nguồn tư liệu, hỗ trợ cho việc phân tích và đánh giá.

Phương pháp phân tích tổng hợp

Trên cơ sở các nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp thu thập được, tiến hành biên hộivà phân tích tổng hợp các dữ liệu để làm rõ thực trạng du lịch tỉnh Tây Ninh; xâydựng các tuyến DLST thích hợp cho từng mục đích giáo dục

Trang 5

Phương pháp bản đồ

Dùng phương pháp bản đồ để phân tích sự phân bố các địa điểm du lịch, phân bốcác tài nguyên và các yếu tố khác ảnh hưởng tới sự phát triển DLST theo lãnhthổ, phân vùng chức năng DLST tại Tây Ninh

E GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU

 Địa bàn nghiên cứu: Các địa điểm có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái ởTỉnh Tây Ninh

 Thời gian nghiên cứu: từ ngày 1/10 đến ngày 27/12/2006

 Đối tượng du khách nghiên cứu: học sinh và sinh viên

 Về nội dung: tập trung phân tích xây dựng các tuyến DLST thích hợp cho từngmục đích giáo dục du khách

F SƠ LƯỢC CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Trên thế giới trong những năm vừa qua, số lượng du khách đến các khu thiênnhiên ngày một tăng Xu hướng này đã vượt quá khả năng quy hoạch và quản lýchu đáo Để giúp thêm kinh nghiệm cho các nhà quy hoạch và quản lý trong lĩnhvực du lịch sinh thái, Hiệp hội du lịch sinh thái đã xuất bản tập sách “Du lịch sinhthái: Hướng dẫn cho các nhà lập kế hoạch và quản lý” Thông qua các nghiêncứu thực nghiệm, rất nhiều chủ đề đã được đề cập đến trong tập sách này nhằmnêu lên các phương thức tiếp cận quy hoạch và quản lý theo hướng phát triển bềnvững và phát huy hết những tính năng tích cực của DLST

Ở Việt Nam DLST là lĩnh vực mới được nghiên cứu từ giữa thập niên 90 của thếkỷ XX Nhưng thực sự quan tâm chỉ trong những năm gần đây Năm 1999, năm

du lịch Việt Nam vì thế lĩnh vực nghiên cứu phục vụ mục đích du lịch vẫn cònhạn chế

 Trong nhiều năm qua, các côn trình nghiên cứu như “Đánh giá tài nguyên dulịch Việt Nam” do Viện Nghiên cứu và Phát triển Du lịch chủ trì đã phát họa

Trang 6

được bức tranh chung về tiềm năng, hiện trạng và một số xu hướng phát triển

du lịch Việt Nam

 Công trình “Những định hướng lớn về phát triển du lịch Việt Nam theo cácvùng lãnh thổ” của Tổng cục Du lịch (1993) là một dự án quy hoạch tổng thểphát triển du lịch vùng tam giác phía Bắc Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh,vùng tam giác phía Nam TP.HCM – Biên Hòa – Vũng Tàu và trục Huế – ĐàNẵng

 Công trình “Thiết kế các tuyến điểm du lịch trong và ngoài TP.HCM đến năm2010” của công ty Du lịch Sàigon Tourist (1995) đã đánh giá tài nguyên dulịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn, hiện trạng các tuyến điểm du lịchđang khai thác trong và ngoài TP.HCM trong phạm vi bán kính 150km và cáctuyến du lịch nước ngoài (outbound) tương đối đầy đủ trên cơ sở khoa học vàthực tiễn Công trình đã thiết kế các điểm, tuyến, cụm du lịch và đề xuất cácđiểm du lịch cần đầu tư đưa vào khai thác…

Ngoài ra, còn có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài báo cáo khoa học đề cậpđến tiềm năng phát triển DLST của Việt Nam và các địa phương trong cả nước.Chuyên đề DLST cũng đã được đưa vào giảng dạy ở một số trường đại học cóngành du lịch

Liên quan đến việc nghiên cứu và phát triển du lịch sinh thái ở Tây Ninh, đã cónhiều công trình nghiên cứu, báo cáo khoa học, bài báo… tập trung giới thiệu tiềmnăng và định hướng phát triển du lịch sinh thái ở Tây Ninh như:

 Đề tài nghiên cứu khoa học: Đa dạng sinh học của Vườn Quốc gia Lò Gò XaMát –Viện Sinh Học Nhiệt đới và Vườn Quốc gia LòGò – Xamát thực hiệnđến tháng 2/2007 hoàn thành

 Điều tra đánh giá hiện trạng và tiềm năng du lịch sinh thái tỉnh Tây Ninh; Đềxuất biện pháp bảo vệ và phát triển du lịch bền vững – Viện Sinh học Nhiệtđới thực hiện trong giai đoạn triển khai

Trang 7

 Quy hoạch tổng thể và phát triển du lịch sinh thái VQG Lò Gò Xa Mát tỉnhTây Ninh

Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu vào việclàm như thế nào để giáo dục môi trường, nâng cao nhận thức cho du khách khitham gia du lịch sinh thái nói chung và du lịch sinh thái tại Tây Ninh nói riêng

Trang 8

Cho đến nay, chúng ta đã rất cố gắng để xác định khái niệm DLST, nhưngEugenio Yunis (2002) cảm thấy những nổ lực này là không cần thiết và vô ích vìcó nhiều hiểu biết du lịch liên quan đến thiên nhiên cũng được gọi là DLST Có thể nêu ra vài định nghĩa về DLST sau đây:

Theo Hector Ceballos – Lascurain (1987): “Du lịch sinh thái là du lịch đến nhữngkhu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu thamquan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa được khámphá” Có thể xem đây là khái niệm đầu tiên và tương đối hoàn chỉnh về du lịchsinh thái

Hội Du lịch Sinh thái (Ecotourism Society, 1992): DLST là sự du hành có mụcđích tới các khu vực tự nhiên để hiểu biết lịch sử tự nhiên và văn hóa của môitrường, không làm cải biến tính hoàn chỉnh của hệ sinh thái, đồng thời tạo cơ hộiphát triển kinh tế bảo trợ nguồn tài nguyên tự nhiên và lợi ích tài chính cho cộngđồng địa phương

Theo Geoffrey Lipman, Chủ tịch Hội Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC) DLSTthực chất được hiểu theo hai nghĩa:

Trang 9

Nghĩa rộng “E”: DLST là sự hướng về tự nhiên và bảo tồn chúng, cùng với sựnhạy cảm ở nơi tới.

Nghĩa hẹp “e”: được xem như là sự hướng tới tạo cho mỗi nhà lữ hành trở thànhngười nhạy cảm sinh thái bằng cách tạo dựng một khuôn khổ môi trường vàonhiều khía cạnh của sản phẩm du lịch và sự tiêu thụ nó Ý nghĩa này có thể tạodựng một sự hỗ trợ tối ưu tới việc cải thiện môi trường, trong khi đó theo nghĩarộng hàn chỉ những nhà lữ hành nhạy cảm sinh thái, có lẽ với ý nghĩa sâu hơn của

du lịch xanh (green tourism)

Ở Việt Nam, DLST là lĩnh vực chỉ mới được nghiên cứu nhiều từ giữa thập niên

90 của thế kỷ XX và thường được nhận thức từ nhiều góc độ khác nhau Để thốngnhất quan điểm làm cơ sở cho công tác nghiên cứu và phát triển DLST, năm

1999, Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch thuộc Tổng cục Du lịch Việt Nam đãđưa ra định nghĩa:

“Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắnvới giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững,với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”

Định nghĩa này được xem là bước mở đầu thuận lợi cho các hoạt động nghiên cứuvà phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam

1.1.2 Lợi ích kinh tế và xu hướng phát triển của du lịch sinh thái

Tuy ngành DLST chỉ mới ra đời vào những năm 1990, bắt nguồn từ Châu Phi,DLST đã nhanh chóng tràn qua Châu Mỹ, mở rộng ở Châu Âu và phát triển mạnh

ở Châu Á Theo số liệu thống kê của Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO), doanh thutừ DLST chiếm từ 2 – 10 tỉ đô la Mỹ trong tổng số 55 tỉ đô la Mỹ của thị trường

du lịch dưới các loại hình tại các quốc gia đang phát triển, tức là tại các nước màcông nghiệp hiện đại chưa xâm chiếm hết đất đai có cảnh quan tự nhiên Cácchuyên gia DLST ước tính thị trường DLST từ nay sẽ tăng từ 12 – 15% trong thập

kỉ tới do có bốn nhân tố tác động đến xu hướng phát triển DLST sau đây:

Trang 10

(i) Tình hình căng thẳng trên thế giới giảm dần, dù có các tranh chấp khác

có tính địa phương hay chủng tộc

(ii) Chi phí du lịch rẻ hơn trước

(iii) Xuất hiện nhiều thị trường du lịch đa dạng

(iv) Khách du lịch được cung cấp thông tin tốt hơn và chính xác

Theo nhận định của các WTO tại Châu Âu thì các nước phát triển thuộc vùngnhiệt đới ở Châu Á là một thị trường thuận lợi nhất cho phát triển DLST Các nhàkhoa học đã đánh giá Châu Á có môi trường sống phong phú nhất hành tinh hiệnnay Ở đây có những HST rừng nhiệt đới độc đáo, ít có gây chết người hơn so vớicác HST rừng ở Châu Phi và Nam Mỹ Người ta cũng phát hiện ở vùng biển nhiệtđới Châu Á có những bãi đá ngầm san hô tuyệt đẹp đầy bí ẩn Hơn nữa, các nướcChâu Á có một nền văn minh lâu đời hàng ngàn năm đến nay vẫn còn thể hiệnqua kiến trúc cổ xưa, tôn giáo trang nghiêm, một tập quán tôn trọng lễ giáo vàtrang phục độc đáo đầy màu sắc, trong khi tại thế giới phương Tây mọi hình thứctrở nên máy móc và đơn điệu Lãnh thổ Việt Nam là một bộ phận nhỏ bé của môitrường tự nhiên Châu Á, nhưng lại có một nguồn tài nguyên thiên nhiên phongphú và hấp dẫn khách du lịch như các cảnh quan di sản tự nhiên thế giới: quầnthể vịnh Hạ Long, động Phong Nha; các cảnh quan sinh thái rừng nhiệt đới cấpquốc gia như Cúc Phương, Nam Cát Tiên …, và những HST rạn san hô nhiệt đớikỳ thú Ở vùng Tây Ninh cũng có nhiều tiềm năng tài nguyên du lịch có giá trịkhai thác DLST như vườn quốc gia Lò Gò Xa Mát, khu vực hệ sinh thái lồng hồDầu Tiếng, khu vực hệ sinh thái dọc sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ…

1.1.3 Mối quan hệ giữa du lịch sinh thái và các loại hình du lịch khác

Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên mặc dù trong hoạt độngcủa loại hình du lịch này có cả tìm hiểu, nghiên cứu văn hóa của cộng đồng địaphương Các loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên khác như nghĩ dưỡng, thamquan, mạo hiểm… chủ yếu mới là chỉ đưa con người về với thiên nhiên Tuy

Trang 11

nhiên, nếu như trong hoạt động của các loại hình du lịch này có gắn với việc thựchiện các nguyên tắc của du lịch sinh thái như nâng cao nhận thức để du khách cótrách nhiệm với việc bảo tồn các giá trị tự nhiên và văn hóa của cộng đồng, tạoviệc làm và lợi ích cho người dân địa phương thì bản thân các loại hình du lịchnày đã chuyển thành một dạng của du lịch sinh thái.

Căn cứ vào bản chất hoạt động của các loại hình du lịch có thể cho thấy sự giốngnhau và khác nhau giữa du lịch sinh thái và một số loại hình du lịch dựa vào thiênnhiên khác

 Các điểm giống nhau:

Tài nguyên du lịch chủ yếu là tài nguyên du lịch tự nhiên, sản phẩm để thỏa mãncác nhu cầu du lịch sinh thái và các loại hình du lịch khác đều có hai thuộc tínhbiểu hiện trên hai mặt: giá trị và giá trị sử dụng

Các sản phẩm được tiến hành trao đổi, mua bán thông qua các hình thức dịch vụ

du lịch

 Các điểm khác nhau:

 Du lịch sinh thái thường quy hoạch các điểm du lịch ở các khu bảo tồn thiênnhiên, nơi có cảnh quan, môi trường thiên nhiên đa dạng, hấp dẫn

 Tổ chức hoạt động du lịch sinh thái phức tạp hơn trên nhiều phương diện như

an ninh, an toàn, chi phí bảo hiểm, hướng dẫn…

 Việc tổ chức hoạt động du lịch sinh thái đòi hỏi rất cao về ý thức trách nhiệmcủa người tổ chức và cả khách du lịch trong việc bảo tồn và phát triển các giátrị tự nhiên, nhân văn và phải quan tâm đến lợi ích cộng đồng địa phương Dovậy, du lịch sinh thái là loại hình du lịch mang tính giáo dục và trách nhiệmcao

 Khách du lịch sinh thái không chỉ là những người yêu thiên nhiên đơn thuầnmà còn là những người muốn chia sẻ trách nhiệm bảo tồn thiên nhiên, văn

Trang 12

hóa, muốn khám phá những bí mật của thiên nhiên đồng thời ham thích mạohiểm.

Hình 1: Quan hệ giữa du lịch sinh thái và các loại hình du lịch khác

 Sự kết hợp giữa du lịch sinh thái và các loại hình du lịch khác

Hiện nay, hầu hết các đối tượng du khách thường mong muốn được tận hưởng tối

đa các giá trị du lịch trong các chuyến đi của họ để tiết kiệm thời gian và chi phí.Chính vì vậy, các nhà du lịch thường kết hợp nhiều loại hình trong cùng mộtchuyến đi Điều này mang lại nhiều ý nghĩa và hiệu quả quan trọng, cho phépthỏa mãn được nhiều hơn các nhu cầu và thị hiếu khác nhau của nhiều đối tượng

du khách trong nước và quốc tế, góp phần làm phong phú, đa dạng sản phẩm dulịch, khai thác triệt để những tiềm năng du lịch sẵn có của địa phương, tạo tínhhấp dẫn đối với du khách Như vậy, giữa các loại hình du lịch có mối quan hệ vàtác động qua lại với nhau, có ý nghĩa bổ trợ cho nhau làm tăng tính hấp dẫn của

DU LỊCH DỰA VÀO THIÊN

NHIÊN (NATURE-BASED TOURISM)

DU LỊCH DỰA VÀO VĂN

HÓA (CULTURE-BASED TOURISM)

DU LỊCH CÔNG VỤ (MICE TOURISM)

Quá cảnh…

Có giáo dục, nâng cao nhận thức

Có trách nhiệm bảo tồn

Có sự tham gia của cộng đồng địa

DU LỊCH SINH THÁI

Trang 13

mỗi loại hình du lịch nói riêng và cùa cả chương trình du lịch nói chung Sứcmạnh của sự kết hợp thể hiện ở các mặt:

 Đa dạng hóa sản phẩm du lịch làm tăng sức hấp dẫn du lịch, tạo ra hìnhảnh du lịch chung cho một vùng lãnh thổ hoặc quốc gia trên thị trường dulịch trong nước và quốc tế

 Bổ trợ cho nhau để làm phong phú hơn các chương trình du lịch nhằm thỏamãn tối đa các nhu cầu và đối tượng du lịch khác nhau, tăng khả năng kéodài thời gian lưu trú của khách du lịch

 Khai thác có hiệu quả các tiềm năng du lịch để phục vụ cho sự nghiệp pháttriển kinh tế – xã hội và cải thiện phúc lợi cho cộng đồng của địa phương,của đất nước

1.1.4 Những đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thái

 Tính giáo dục cao về môi trường:

Hướng con người tiếp cận gần hơn nữa với các vùng tự nhiên và các khu bảo tồn,bao gồm những hoạt động đến với thiên nhiên một cách có ý thức, có nhận thứcbảo tồn, có tính học hỏi, có thông tin và vì vậy có trách nhiệm giúp cho việc duytrì các nguồn tài nguyên thiên nhiên và các giá trị văn hóa, thúc đẩy các nỗ lựcbảo tồn và phát triển bền vững

 Tính bảo tồn:

Hoạt động du lịch sinh thái có tác động giáo dục con người bảo vệ tài nguyênthiên nhiên và môi trường, qua đó hình thành ý thức bảo vệ các nguồn tài nguyênthiên nhiên duy trì tính đa dạng sinh học, cũng như thúc đẩy các hoạt động bảotồn các giá trị văn hóa bản địa nhằm đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững

 Tính xã hội hóa:

Biểu hiện ở việc thu hút tòan bộ mọi thành phần trong xã hội tham gia trực tiếphay gián tiếp vào các hoạt động du lịch, mà trước hết là sự tham gia của các cộngđồng địa phương

Trang 14

Cộng đồng địa phương chính là những người chủ sở hữu các nguồn tài nguyênthiên nhiên tại địa phương mình Phát triển du lịch sinh thái hướng con người đếncác vùng tự nhiên hoang sơ, có giá trị cao về đa dạng sinh học, điều này đặc ramột yêu cầu cấp bách là cần phải có sự tham gia của cộng đồng địa phương tạikhu vực đó, bởi vì, hơn ai hết, chính những người dân địa phương tại đây hiểu rõnhất về các nguồn tài nguyên của mình Sự tham gia của cộng đồng địa phươngcó tác dụng to lớn trong việc giáo dục du khách bảo vệ các nguồn tài nguyên môitrường, đồng thời cũng góp nâng cao hơn nữa nhận thức cho cộng đồng, tăng cácnguồn thu nhập cho cộng đồng.

 Tính đa mục tiêu

Biểu hiện ở những lợi ích đa dạng về bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan lịch sử –văn hóa, nâng cao chất lượng cuộc sống khách du lịch và người tham gia hoạtđộng dịch vụ du lịch, mở rộng sự giao lưu văn hóa, kinh tế và nâng cao ý thứctrách nhiệm của mọi thành viên trong xã hội

Du lịch sinh thái tạo nên và thỏa mãn sự khao khát thiên nhiên, khai thác tiềmnâng du lịch cho bảo tồn và phát triển, ngăn ngừa các hoạt động tiêu cực lên sinhthái, văn hóa và thẩm mỹ Như vậy, du lịch sinh thái không chỉ là khuynh hướngbao gồm những người yêu và gắn bó với thiên nhiêm, mà là một thể tổng hợp cácmối quan tâm xuất phát và nảy sinh từ các vấn đề môi trường, kinh tế – xã hội.Hay nói cách khác, du lịch sinh thái kết hợp cả sự quan tâm tới thiên nhiên vàtrách nhiệm xã hội; là chìa khóa nhằm cân bằng giữa mục tiêu phát triển du lịchvới việc bảo vệ tài nguyên môi trường và phát triển bền vững

 Tính đa thành phần

Biểu hiện ở tính đa dạng trong thành phần khách du lịch, những người phục vụ dulịch, cộng đồng địa phương, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ, các tổ chức tưnhân tham gia và hoạt động du lịch sinh thái

Trang 15

 Tính đa ngành

Biểu hiện qua các đối tượng được khai thác để phục vụ cho du lịch: sự hấp dẫn vềcảnh quan tự nhiên, các giá trị lịch sử, văn hóa, cơ sở hạ tầng và các dịch vụ kèmtheo… Thu nhập xã hội từ du lịch cũng mang lại nguồn thu cho nhiều ngành kinhtế khác thông qua các sản phẩm dịch vụ được cung cấp cho du khách như điện,nước, nông sản, hàng hóa…

1.1.5 Những yêu cầu cơ bản để phát triển du lịch sinh thái

1.1.5.1 Tài nguyên du lịch sinh thái

Theo Pháp lệnh du lịch Việt Nam ban hành năm 1999 thì “tài nguyên du lịch làcác cảnh quan thiên nhiên, các di tích lịch sử – văn hóa, các di tích cách mạng,những giá trị nhân văn, các công trình lao động sáng tạo của con người sử dụngnhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch,khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch”

Tài nguyên du lịch sinh thái là một bộ phận quan trọng của tài nguyên du lịch baogồm các giá trị tự nhiên thể hiện trong một hệ sinh thái cụ thể và giá trị văn hóabản địa tồn tại và phát triển không tách rời hệ sinh thái tự nhiên đó Tuy nhiên,không phải mọi giá trị tự nhiên và văn hóa bản địa được coi là tài nguyên du lịchsinh thái mà chỉ có các thành phần và các thể tổng hợp tự nhiên, các giá trị vănhóa bản địa gắn với một hệ sinh thái cụ thể được khai thác, sử dụng để tạo ra các

Trang 16

sản phẩm du lịch sinh thái, phục vụ cho mục đích phát triển du lịch nói chung và

du lịch sinh thái nói riêng mới được xem là tài nguyên du lịch sinh thái

Các loại tài nguyên du lịch sinh thái

 Tài nguyên du lịch sinh thái tự nhiên (TNDLSTTN)

Bao gồm các hệ sinh thái tự nhiên điển hình có tính đa dạng sinh học cao như hệsinh thái rừng, hệ sinh thái biển – đảo và vùng ven biển, hệ sinh thái miền đồngbằng và vùng sông nước, hệ sinh thái miền núi với sự đa dạng sinh học và nhữngnét độc đáo về khí hậu, địa hình, cảnh quan… đây là yếu tố quyết định “tính thiênnhiên” hay “tính xanh” của du lịch sinh thái

Các môi trường tự nhiên thường được tổ chức quy hoạch du lịch sinh thái gồm:các khu bảo tồn thiên nhiên, đặc biệt là vườn quốc gia, những nơi còn tồn tạinhững khu rừng với tính đa dạng sinh học cao và đời sống hoang dã

 Tài nguyên du lịch sinh thái nhân văn (TNDLSTNV)

Du khách cũng thường bị hấp dẫn bởi các điểm du lịch có sự bổ sung giữa cảnhđẹp thiên nhiên và nền văn hóa truyền thống với nhiều nét ấn tượng và độc đáo

Du khách thường muốn được xem và hưởng thụ những giá trị văn hóa đích thực,sống động trong cuộc sống hàng ngày của người dân địa phương Điều này hấpdẫn hơn rất nhiều so với những gì được tái tạo lại trong một viện bảo tàng, mộtcuộc triển lãm hoặc trình diễn Vì vậy, những di sản văn hóa, những phong tụctập quán cùng với cách cư xử của cộng đồng địa phương là một phần của sảnphẩm du lịch và được xem là một dạng tài nguyên du lịch sinh thái

Đặc điểm của tài nguyên du lịch sinh thái

 Phong phú, đa dạng và đặc sắc:

Có nhiều hệ sinh thái đặc biệt, nơi sinh trưởng, tồn tại và phát triển của nhiềuloài sinh vật đặc hữu quý hiếm… được xem là những tài nguyên du lịch sinh tháiđặc sắc có sức hấp dẫn đối với khách du lịch như: hệ sinh thái ngập nước nội địa,hệ sinh thái biển, hệ sinh thái núi cao…

 Thường rất nhạy cảm với các tác động

Trang 17

Tài nguyên du lịch sinh thái thường rất nhạy cảm với các tác động của con người.Sự thay đổi tính chất của một số hợp phần tự nhiên hoặc sự suy giảm hay mất đicủa một số loài sinh vật cấu thành nên hệ sinh thái nào đó dưới tác động của conngười sẽ là nguyên nhân làm thay đổi, thậm chí mất đi hệ sinh thái đó và kết quảlà tài nguyên du lịch sinh thái sẽ bị ảnh hưởng ở những mức độ khác nhau.

 Có thời gian khai thác khác nhau

Tài nguyên du lịch sinh thái thường có thời gian khai thách khác nhau, có loại cóthể khai thác quanh năm nhưng cũng có loại việc khai thác lệ thuộc vào quy luậtdiễn biến của khí hậu, của mùa di cư, sinh sản của các loài sinh vật, nhất là loàisinh vật đặc hữu, quý hiếm Do vậy, các nhà quản lý, tổ chức điều hành cần cónhững nghiên cứu cụ thể về tính mùa vụ của các loại tài nguyên để làm căn cứđưa ra các giải pháp thích hợp nhằm khai thác có hiệu quả các loại tài nguyên dulịch sinh thái

 Có khả năng tái tạo và sử dụng lâu dài

Dựa vào khả năng tự phục hồi tái tạo của tự nhiên, phần lớn các tài nguyên dulịch sinh thái được xếp vào loại tài nguyên có khả năng tái tạo và sử dụng lâudài Do đó cần nắm được quy luật của tự nhiên, lường trước được những tác độngcủa con người để có những định hướng, giải pháp khai thác hợp lý, có hiệu quả;không ngừng bảo vệ, tôn tạo và phát triển các nguồn tài nguyên vô giá này nhằmđáp ứng nhu cầu phát triển du lịch Đây cũng là yêu cầu sống còn của du lịchnhằm góp phần thực hiện chiến lược phát triển du lịch bền vững

 Thường ở xa các khu dân cư

Tài nguyên du lịch sinh thái thường ở ca các khu dân cư, phần lớn là nằm trongphạm vi của các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên – nơi có sự quản lýchặt chẽ Mặt khác, tài nguyên du lịch nói chung và tài nguyên du lịch sinh tháinói riêng thường được khai thác tại chỗ để tạo ra các sản phẩm nhằm thỏa mãnnhu cầu của du khách Do vậy, để khai thác có hiệu quả, cần thiết phải có hạ tầng

cơ sở thuận lợi tiếp cận với các khu vực tiềm năng

Trang 18

 Đánh giá tài nguyên du lịch sinh thái

Bảng 1: Các tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá tài nguyên du lịch sinh thái

Tiêu chí, khái

niệm Chỉ tiêu chung Chỉ tiêu cụ thể

Khả năng thu

hút khách

 Tính hấp dẫn  Vẻ đẹp, sự đặc sắc, độc đáo

 Quy mô về không gian

 Tính thuận lợi  Vị trí địa lý

 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ

 Tính an toàn  Tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội

 Điều kiện vệ sinh môi trường

Khả năng khai

thác và quản

 Sức chứa

 Số lượng du khách có thể tiếp nhận trong mộtkhoảng thời gian nhất định (sao cho phù hợp với quy mô không gian, khả năng tải về mặt sinh học, tâm lý, xã hội và quản lý, phục vụ)

 Tính liên kết  Khả năng liên kết với các điểm du lịch khác

 Tính thời vụ

 Các khoảng thời gian trong năm thuận lợi nhất cho việc khai thác tài nguyên và triển khai các hoạt động du lịch sinh thái

1.1.5.2 Khách du lịch sinh thái

Khách du lịch sinh thái phải là những người muốn tìm hiểu những điều mới lạngoài việc nghỉ ngơi hoặc tham gia các hoạt động giải trí ngoài trời… Có ý thứcbảo vệ các giá trị tự nhiên và nhân văn trong quá trình du lịch Đồng thời, họcũng phải là những người có đóng góp tích cực vào việc bảo tồn và phát triển khuvực đã tham quan thông qua lao động hoặc đóng góp tài chính Mục tiêu trực tiếpcủa những đóng góp này là góp phần vào việc bảo vệ sinh thái cho khu du lịch vàhỗ trợ về kinh phí cho những người dân địa phương

Khách DLST cần những thông tin chi tiết và chuyên sâu ngay cả trước và trongchuyến du lịch của họ, việc cung cấp thông tin đầy đủ, tốt là một trong số nhữngnhân tố khác biệt về thực tiễn giữa DLST với du lịch truyền thống Những loạihình khác được dùng để cung cấp thông tin bao gồm giới thiệu sách hay bản đồ,trung tâm khách hàng hay bảo tàng sinh thái (dùng kiến trúc và vật liệu truyền

Trang 19

thống, tại chỗ), các bảng chỉ dẫn bằng vật liệu thiên nhiên hay các chương trìnhtiếp thị và dĩ nhiên là cả hướng dẫn viên.

Những đặc điểm cơ bản của khách du lịch sinh thái

 Khách du lịch sinh thái phải là những du khách quan tâm nhiều đếncác giá trị tự nhiên và giá trị nhân văn ở những khu vực thiên nhiênhoang dã

 Thường là những người trưởng thành, có thu nhập cao, có giáo dụcvà có sự quan tâm đến môi trường tự nhiên

 Thường là những người thích hoạt động ngoài thiên nhiên và họ lànhững khách du lịch có kinh nghiệm

 Thường có thời gian đi du lịch dài ngày hơn và có mức chi tiêutrung bình cao hơn so với các loại du khách khác

 Không đòi hỏi thức ăn hoặc nhà nghỉ cao cấp, đầy đủ tiện nghi mặcdù họ có khả năng chi trả cho các dịch vụ này Điều này phản ánhnhận thức của họ rằng “các cơ sở vật chất mà họ sử dụng ít ảnhhưởng nhất đến môi trường tự nhiên”

Phân loại khách du lịch sinh thái

Theo Mawfoth (1993), dựa vào các đặc điểm tâm lý, khách du lịch sinh thái đượcphân biệt thành ba nhóm:

 Khách du lịch sinh thái thích cảm giác mạnh: đa số là thanh niêntuổi trung bình, đi du lịch cá nhân hoặc theo nhóm nhỏ, tổ chức độclập, ăn uống có tính địa phương, cơ sở lưu trú đơn giản, thích thểthao và du lịch mạo hiểm

 Khách du lịch sinh thái an nhàn: thuộc lứa tuổi trung niên đến tuổigià, thường đi theo nhóm, thích ở khách sạn hạng cao cấp, thích ăntại nhà hàng sang trọng, thích du lịch thiên nhiên và săn bắn

 Khách du lịch sinh thái đặc biệt: bao gồm các lứa tuổi từ trẻ đến già,

đi du lịch cá nhân, theo chương trình du lịch độc lập hoặc đặc biệt,

Trang 20

thích di chuyển và nấu ăn, thích tìm hiểu và thu hoạch kiến thứckhoa học.

1.1.6 Những nguyên tắc tổ chức hoạt động và quy hoạch du lịch sinh thái

1.1.6.1 Những nguyên tắc cơ bản của hoạt động du lịch sinh thái

Việc tổ chức hoạt động du lịch sinh thái cần tuân theo một số nguyên tắc cơ bản(đồng thời cũng là những mục tiêu cần đạt được) sau:

 Phải có hoạt động giáo dục và nâng cao nhận thức về môi trường

Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái, là sự khác biệtgiữa du lịch sinh thái với các hình thức du lịch thiên nhiên khác Du lịch sinh tháiphải có hoạt động giáo dục và diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết về môi trường,qua đó tạo ý thức tham gia vào các nỗ lực bảo tồn

 Phải có hoạt động bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái

Đây cũng là mục tiêu của du lịch sinh thái Sự tồn tại của du lịch sinh thái gắnliền với việc bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái điển hình Sự xuống cấpcủa môi trường hay việc hủy hoại môi trường đồng nghĩa với sự diệt vong của dulịch sinh thái

Với nguyên tắc này, mọi hoạt động du lịch sinh thái phải được quản lý chặt chẽ(bao gồm sử dụng tài nguyên một cách bền vững, giảm tiêu thụ quá mức và giảmchất xả thải…) nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực tới môi trường, giảm chi phíkhôi phục các suy thoái môi trường, nâng cao chất lượng hoạt động du lịch sinhthái

 Phải có hoạt động bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng

các giá trị nhân văn là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời với các giá trị tựnhiên trong một hệ sinh thái ở một nơi cụ thể Sự xuống cấp hay thay đổi tập tục,văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phương dưới hoạt động du lịch sẽ trựctiếp làm mất đi sự cân bằng sinh thái nhân văn, từ đó sẽ làm thay đổi hệ sinh thái

Trang 21

tự nhiên vốn có của khu vực Hậu quả của quá trình này sẽ tác động trực tiếp đến

du lịch sinh thái

 Phải tạo cơ hội việc làm và chia sẻ lợi ích cho cộng đồng

Du lịch sinh thái luôn hướng tới việc huy động tối đa sự tham gia của người dânđịa phương trong việc đảm nhiệm vai trò hướng dẫn viên và cung ứng chỗ nghĩ,thực phẩm, hàng lưu niệm… cho du khách Kết quả là cuộc sống của người dân sẽ

ít phụ thuộc hơn vào việc khai thác tự nhiên, đồng thời họ sẽ nhận thức được lợiích của việc bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phát triển du lịch sinhthái và chính họ sẽ trở thành người chủ thực sự trong việc bảo tồn và phát huy cácgiá trị tự nhiên và văn hóa bản địa ở nơi diễn ra các hoạt động du lịch sinh thái

1.1.6.2 Những nguyên tắc của hoạt động du lịch sinh thái

Quy hoạch du lịch sinh thái là công tác thiết kế hệ thống các sơ đồ và lập kếhoạch hay dự án khai thác các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, cáckhu rừng văn hóa – lịch sử và bảo vệ môi trường, các sân chim, miệt vườn… nhằmmục đích phục vụ ngành du lịch sinh thái; đảm bảo sự hình thành, phát triển vàphân bố có hiệu quả ngành du lịch, phù hợp với nhu cầu của cộng đồng Quyhoạch du lịch sinh thái cần đảm bảo các nguyên tắc sau:

 Sức chứa hợp lý

Nhằm hạn chế đến mức tối đa các tác động tiêu cực có thể có của hoạt động dulịch sinh thái đối với tài nguyên môi trường, cần phải tuân thủ nghiêm ngặt cácquy định về “sức chứa” Trên quan điểm bảo vệ tài nguyên môi trường, kháiniệm “sức chứa” cần được tìm hiểu từ bốn khía cạnh: vật lý, sinh học, tâm lý, xãhội và quản lý Ở đây ta chỉ xét khía cạnh vật lý

Sức chứa được hiểu là số lượng du khách tối đa mà khu vực có thể tiếp nhận trongmột khoảng thời gian nhất định Điều này liên quan đến những tiêu chuẩn tốithiểu về không gian dành cho mỗi du khách cũng như đối với nhu cầu sinh hoạtcủa họ

Trang 22

Để xác định sức chứa của một khu du lịch, Boulión (1985) đã đề xuất một côngthức chung như sau

Sức chứa = Tiêu chuẩnDiệntíchkhôngkhugianvựctrungdodubìnhkháchchosửmỗidụngcánhân

Tiêu chuẩn không gian trung bình cho mỗi người khách du lịch thường được xácđịnh bằng thực nghiệm, phụ thuộc vào hình thức hoạt động du lịch Ví dụ:

Nghỉ dưỡng biển : 30 – 40 m2/người

Picnic : 50 – 60 m2/người

Thể thao : 200 – 400 m2/người

Cắm trại ngoài trời : 100 – 200 m2/người…

Tổng số du khách có thể tham quan mỗi ngày tại một khu du lịch thì được tínhtheo công thức:

Lượng khách có thể tham quan hàng ngày = Sức chứa x Hệ số luân chuyển

Trong đó:

Hệ số luân chuyển = ThờiThờigiangiankhutrungvựcmởbìnhcửachochomỗiducuộckháchthamthamquanquan

 Sắc thái đặc biệt

Yêu cầu đầu tiên để có thể tổ chức du lịch sinh thái là phảo có các hệ sinh thái tựnhiên điển hình với tính đa dạng sinh thái cao Quy hoạch du lịch sinh thái cầnlàm nổi bật xu hướng hoang dã tự nhiên, những nét độc đáo của hệ sinh thái,những sắc thái đặc biệt của địa phương để tạo nên sức hấp dẫn, thỏa mãn tâm lýsẵn sàng tìm tòi mới lạ của du khách Khu du lịch sinh thái, điểm du lịch sinh tháiphải thực sự đại diện cho một loại hình sinh thái nhất định

 Hòa nhập và tổng thể

Du lịch sinh thái đưa con người về với thiên nhiên, cây cỏ Tuy nhiên, sự hiệndiện của du khách trong lãnh thổ du lịch phải đảm bảo không làm biến đổi môitrường tự nhiên và văn hóa của lãnh thổ đó theo chiều hướng xấu đi Quy hoạch

du lịch sinh thái phải tạo cho du khách hòa nhập một cách tự nguyện vào môitrường tự nhiên, môi trường văn hóa xã hội của lãnh thổ du lịch và phải chấp

gồm cả không gian các hoạt động cần thiết như: tắm biển, cảnh quan…

Trang 23

nhận sự hạn chế của chúng, chứ không phảo biến chúng thuận theo ý muốn củacác cá nhân Tuy nhiên, cũng cần tránh sự hòa nhập nhiệt tình quá mức vì có thểgây tác động xấu mặc dù hành động xuất phát từ mục đích tốt.

Quy hoạch khu du lịch sinh thái phải thích ứng với chiến lược phát triển du lịchchung của tòan khu vực, cần xác định vị trí hợp lý của khu du lịch sinh thái trongsự phát triển tổng thể của nền kinh tế quốc dân, phân tích mối quan hệ khu dulịch sinh thái với các khu du lịch khác, khu phong cảnh và tình hình phân bố bốcục tổng hợp trong khu vực; kết hợp chặt chẽ giữa việc xây dựng giao thông trongkhu du lịch sinh thái với mạng lưới giao thông vận tải của toàn khu vực; phối hợpăn khớp giữa xây dựng khu du lịch sinh thái với xây dựng hệ thống thành phố, thịtrấn của khu vực, đặc biệt là thành phố trung tâm của khu vực lớn thường là trungtâm tập trung du khách, là chỗ dựa để phát triển du lịch, mức độ đô thị hóathường tỷ lệ thuận với sự phát triển của khu du lịch; phải phù hợp với yêu cầuphòng chống thiên tai của khu vực để giảm nhẹ hậu quả bất lợi mà thiên tai cóthể gây ra cho khu du lịch; phải tuân theo các chính sách, quy định có liên quancủa Nhà nước và địa phương, đồng thời cần phải trưng cầu ý kiến rộng rãi của cácban ngành chuyên gia và quần chúng

 Bảo vệ và phát triển

Đa số tài nguyên du lịch sinh thái đều có thuộc tính “di sản” Có loại là di sảnthiên nhiên thường nằm ở những nơi có hệ sinh thái nhạy cảm, vùng núi cao haythung lũng sâu, có loại di sản văn hóa lịch sử của nhân loại cực kỳ quý hiếm Mộtkhi các loại di sản này bị phá hoại thì chúng khó có thể khôi phục lại trong mộtthời gian ngắn, thậm chí không thể khôi phục Vì thế khi quy hoạch và phát triển

du lịch sinh thái phải đảm bảo nguyên tắc bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệhình thái hiện hữu của các di tích văn vật, tránh các hoạt động khai thác hay bảovệ mang tính phá hoại

 Hiệu quả và lợi ích

Trang 24

Mục đích của việc quy hoạch du lịch sinh thái là khai thác giá trị của các hệ sinhthái ở các vườn quốc gia hay khu bảo tồn thiên nhiên phục vụ cho du lịch nhằmgia tăng lợi ích kinh tế, góp phần tăng thu nhập, giải quyết việc làm cho cộngđồng địa phương Hơn nữa, trong quy hoạch phát triển du lịch sinh thái còn phảichú ý phát huy hiệu quả và lợi ích về mặt xã hội, sinh thái nhằm đảm bảo sự pháttriển bến vững.

 Thị trường

Du lịch là ngành kinh tế có mức độ thị trường hóa rất cao Đối với mỗi nhóm đốitượng hay thị trường khách du lịch sinh thái khác nhau thì tâm lý và nhu cầu củahọ cũng rất khác nhau Do vậy, quy hoạch khai thác du lịch sinh thái phải lưu ýđến quy luật thị trường Trong quy hoạch phát triển du lịch sinh thái, sự đa dạngtài nguyên là điều quan trọng, nhưng nhu cầu thị trường còn quan trọng hơn vì nóquyết định phương hướng khai thác và sử dụng tài nguyên của khu vực Do đó,trước khi quy hoạch, cần phải xem xét tình hình nhu cầu của thị trường nguồnkhách, bao gồm nhu cầu thực hiện và nhu cầu tiềm năng; xu hướng phát triển củathị trường nguồn khách; tìm thị trường mục tiêu… để làm căn cứ cho quy hoạch

1.2 GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG DU LỊCH SINH THÁI

1.2.1 Giáo dục môi trường trong DLST

Du lịch sinh thái hướng con người tiếp cận gần hơn nữa với các vùng tự nhiên vàcác khu bảo tồn, nơi có giá trị cao về đa dạng sinh học và rất nhạy cảm về mặtmôi trường, bao gồm những hoạt động đến với thiên nhiên một cách có ý thức, cónhận thức bảo tồn, có tính học hỏi, có thông tin và vì vậy có trách nhiệm giúp choviệc duy trì các nguồn tài nguyên thiên nhiên và các giá trị văn hóa, thúc đẩy cácnỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững

1.2.2 Mục tiêu của giáo dục môi trường trong du lịch sinh thái

Trang 25

Nhận thức: Giúp cho du khách đạt được một nhận thức và sự nhạy cảm đối

với môi trường và những vấn đề có liên quan

Kiến thức: Giúp các du khách tích lũy được nhiều kinh nghiệm khác nhau và

có được sự hiểu biết cơ bản về môi trường và những vấn đề có liên quan

Thái độ: Giúp các du khách hình thành được những giá trị và ý thức quan

tâm vì môi trường, cũng như động cơ thúc đẩy trong việc tham gia tích cựcvào việc bảo vệ và cải thiện môi trường

Kỹ năng: Giúp du khách có được những kỹ năng trong việc xác định và giải

quyết các vấn đề môi trường

Tham gia: Tạo cơ hội cho du khách tham gia một cách tích cực ở mọi cấp

trong việc giải quyết những vấn đề môi trường ví dụ như trồng cây gâyrừng

Chương 2:

Trang 26

PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH

THÁI Ở TỈNH TÂY NINH

2.1 NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN DU LỊCH

SINH THÁI CỦA TỈNH TÂY NINH

2.1.1 Vị trí địa lý và ý nghĩa du lịch đối với sự phát triển của Tây Ninh

Tây Ninh thuộc khu vực miền Đông Nam bộ, Diện tích hành chính của tỉnh TâyNinh là 4.029,6km2, có 08 huyện và 01 thị xã Tây Ninh, với 95 xã, phường thịtrấn Phía Đông giáp các tỉnh Bình Phước và Bình Dương, với đường ranh giới123km, phía Nam giáp tỉnh Long An và Thành phố Hồ Chí Minh với đường ranhgiới 36km, phía Bắc và Tây giáp Campuchia với đường biên giới 240km, có cửakhẩu quốc tế là Mộc Bài và cửa khẩu quốc gia là Xa Mát và một số cửa khẩu địaphương đã tạo nên vị trí thuận lợi cho các hoạt động du lịch

Về khía cạnh du lịch, Tây Ninh nằm trong hệ thống các tuyến điểm du lịch quantrọng của á vùng du lịch Đông Nam Bộ Việc nằm kề địa bàn kinh tế trọng điểmphía Nam tạo nên nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội nóichung và du lịch nói riêng Mặt khác, với đường giao thông xuyên Á hiện naychính là cơ may để tỉnh có thể khai thác các nguồn khách quốc tế và quốc nội từcả nước

2.1.2 Đặc điểm môi trường tỉnh Tây Ninh

2.1.2.1 Môi trường tự nhiên và tài nguyên du lịch sinh thái

 Về quá trình hình thành: Tây Ninh nằm trên một lãnh thổ đã trải qua quátrình phát triển tự nhiên lâu dài, phức tạp gắn liền với lịch sử phát triểnchung của một khu có tính chất chuyển tiếp từ cực Nam Trung Bộ sangchâu thổ đồng bằng sông Cửu Long

 Về cấu trúc địa hình:

Tây Ninh nằm trong vùng chuyển tiếp giữa cao nguyên Trung bộ với đồng bằngsông Cửu Long do đó Tây Ninh có địa hình pha trộn giữa đặc điểm của một caonguyên và đặc điểm của đồng bằng

Tuy là vùng chuyển tiếp nhưng địa hình ít phức tạp, tương đối bằng phẳng và độdốc nhỏ, thấp dần từ Đông Bắc (độ cao từ 20 – 50m) xuống Tây Nam (độ cao từ

Trang 27

0 – 10m Có 4 dạng địa hình: Dạng núi, dạng đồi, dạng đồi dốc thoải, dạng đồngbằng.

Dạng địa hình có giá trị du lịch ở Tây Ninh là địa hình núi Trên một vùng rộnglớn tương đối bằng phẳng nổi lên núi Bà Đen có độ cao 986m, cách thị xã TâyNinh 15km về phía Đông Bắc Núi được cấu tạo bởi đá granit, granodiorit… nênđỉnh khá nhọn và sườn tương đối dốc

Đây là một thắng cảnh của Tây Ninh Kết hợp với những di tích chùa chiền, lễhội Núi Bà Đen trở thành một trung tâm hấp dẫn khách du lịch

 Về mặt khí hậu

Tây Ninh nằm trong khoảng 10057’08” – 11046’36” vĩ độ Bắc, tổng bức xạ thựctế 130 -140 Kcal/cm2 Tổng lượng năm của cán cân bức xạ khoảng 80 –85Kcal/cm2

Tây Ninh chịu ảnh hưởng chủ yếu của ba hệ thống hoàn lưu: Gió mùa mùa Đông(gió lệch Bắc thịnh hành gồm các hướng Bắc, Đông Bắc và Tây Bắc), gió mùaHè (gió Tây Nam thịnh hành gồm các hướng Nam, Tây Nam và Tây) và gió TínPhong xen kẽ vào các thời kỳ suy yếu của các đợt gió mùa mùa Đông và gió mùamùa Hè

Nhìn chung chế độ nhiệt quanh năm ở Tây Ninh cao, ổn định, ít biến động từtháng này qua tháng khác, thường chỉ lên xuống từ 0,5 – 1,0oC Nhiệt độ trungbình trong năm khoảng 26,9oC Số giờ nắng trung bình từ 6 giờ/ngày Độ ẩmkhông khí trung bình cả năm 78%

Tây Ninh chủ yếu có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 11 vàmùa khô từ tháng 12 đến tháng 5 Lượng mưa trung bình năm 1.600 – 1.900mm.Đối với hoạt động du lịch, khí hậu là thành phần tự nhiên có ảnh hưởng rất quantrọng, trong đó, đáng chú ý nhất là các yếu tố nhiệt độ không khí, độ ẩm khôngkhí, lượng mưa, ánh nắng mặt trời và các hiện tượng thời tiết đặc biệt Các yếu tốnày ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏa con người và việc tổ chức các loại hình vàmùa vụ du lịch sinh thái Với điều kiện khí hậu tương đối thuận lợi, Tây Ninh cóthể tổ chức các hoạt động du lịch gần như quanh năm

Trang 28

 Thủy văn

Tây Ninh có hệ thống sông suối tương đối đồng đều nhưng mật độ thưa 0,314 km/

km2, có 2 con sông lớn chảy qua là sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông SôngSài Gòn bắt nguồn từ biên giới Việt Nam – Campuchia thuộc tỉnh Bình Phướcchảy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam ở thượng lưu và trung lưu, hạ lưu chảytheo hướng Tây Bắc – Đông Nam, đến Tân Thuận hợp với sông Đồng Nai thànhsông Nhà Bè rồi đổ ra biển Sông Sài Gòn dài 280km, chảy trên lãnh thổ TâyNinh 135km, lưu vực 4.500 km2, lưu lượng nước trung bình là 85 m3/s, độ dốc củasông 0,69% Những phụ lưu chính của sông Sài Gòn thuộc tỉnh Tây Ninh là suốiBà Chiêm, suối Sanh Đôi, suối Cầu Khởi… Hồ nước Dầu Tiếng được xây dựng ởthượng nguồn sông Sài Gòn với dung tích 1,45 tỉ m3, rộng 27.000ha (3/4 diện tíchhồ thuộc Tây Ninh) có khả năng tưới 175.000ha

Sông Vàm Cỏ Đông bắt nguồn từ tỉnh Compongcham (Campuchia) chảy theohứơng Tây Bắc – Đông Nam có chiều dài 220 km, chảy trên lãnh thổ Tây Ninh

150 km, đến Long An hợp với sông Vàm Cỏ Tây tạo thành sông Vàm Cỏ chảyđến sông Soài Rạp rồi đổ ra biển, lưu vực 8.500 km2, lưu lượng nước trung bình96m3/s, độ dốc 0,4% Phụ lưu chính của sông Vàm Cỏ thuộc tỉnh Tây Ninh là rạchBến Đá, rạch Tây Ninh, rạch Rễ, rạch Đá Hàng, rách Bày Nâu,…

Ngoài các sông lớn, hệ thống phụ lưu kênh rạch, hồ Dầu Tiếng, Tây Ninh còn có1.184 ha ao, hồ nhỏ và 3.500 ha đầm lầy ven sông Vàm Cỏ Đông thuộc cáchuyện Châu Thành, Bến Cầu và Trảng Bàng

Về chế độ thủy văn Tây Ninh có 2 vùng, vùng không ảnh hưởng triều ở phía Bắcvới mùa lũ từ tháng 7 đến thánh 11, vùng ảnh hưởng triều ở phía Nam theo chếđộ bán nhật triều nên dòng chảy trên 2 sông Sài Gòn và Vàm Cỏ Đông có lượngnước dồi dào quanh năm

Nguồn nước ngầm ở Tây Ninh khá phong phú, phân bố rộn, chiều dày ổn định,chất lượng nước tốt Ở phía Nam của tỉnh nguồn nước ngầm gần mặt đất hơn các

Trang 29

vùng phía Bắc của tỉnh Tổng lưu lương nước ngầm có thể khai thác từ 50.000 –100.000 m3/giờ.

 Tài nguyên sinh vật

Rừng Tây Ninh mang nhiều đặc tính sinh thái rừng của rừng nhiệt đới miền ĐôngNam Bộ với bộ thực vật rừng đa dạng, gồm nhiều chủng loại Các loại cây họ dầu(Diptero carpaceac) chiếm ưu thế Ngoài ra có các loại khác như: Dáng hương(Plero Carpus – sản phẩm), trắc (Dulbergra erecchinochine), Cẩm lai (Dalbergiadongnaiensis), Gỏ đỏ (Pahudia conchinochine), mun (Diospiros Mun), Huỳnhđường (Disoxylon Lourii)

 Động vật:

Do việc săn bắn thú rừng bừa bãi và phá rừng, đến nay ở Tây Ninh không còncác loài thú lớn Hiện chỉ còn một số loài động vật thường như : Nai, Mển, Heorừng, Báo, Nhím, Gấu, Culi, khỉ, Vọc, Chồn, Cheo, Tê tê, Mèo Felis, Tắc kè, Kỳđà, thằn lằn núi

Tính đa dạng sinh học của Tây Ninh đã và đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi sựkhai thác vô tổ chức của con người Diện tích rừng bị thu hẹp, nhiều nguồn genđộng thực vật đang đứng trước nguy cơ diệt vong

 Cảnh quan tự nhiên

Nằm trong khu Đông Nam Bộ, lãnh thổ Tây Ninh có cảnh quan thiên nhiên thuậnlợi cho phát triển du lịch sinh thái như rừng nguyên sinh phía Bắc (Vườn quốc giaLò Gò Xa Mát), khu vực sinh thái lồng hồ Dầu Tiếng, khu sinh thái dọc sông SàiGòn, sông Vàm Cỏ Và đặc biệt là cảnh quan thiên nhiên trên núi Bà Đen, đây làngọn núi cao nhất miền Đông Nam Bộ, có giá trị hơn cả đối với du lịch

2.1.2.2 Môi trường nhân văn và tài nguyên du lịch sinh thái nhân văn

Dân số – lao động

Trang 30

Theo Niên giám Thống kê Tây Ninh năm 2004, dân số Tây Ninh là 1.045.713người, nam: 513.700 người chiếm 49,12%, nữ: 532.013 chiếm 50,88%, với mật độtrung bình toàn tỉnh 259,49 người/km2 Tổng số lao động là 749.374 người (từ 15tuổi trở lên), trong đó lao động nông nghiệp 585.517 người, chiếm 78,13%.

Dân số phân bố không đồng đều giữa các huyện trong tỉnh Huyện có số dânđông nhất là huyện Trảng Bàng chiếm 14,4 % dân số toàn tỉnh, huyện có dân số

ít nhất là huyện Bến Cầu chiếm 6% dân số toàn tỉnh

Đời sống kinh tế và xã hội

Nền kinh tế của tỉnh Tây Ninh trong những năm gần đây có những bước tăngtrưởng khá, giai đoạn 2001 – 2005 đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 14%cao hơn so với mức tăng GDP bình quân của cả nước cùng giai đoạn này (7,5%),tuy nhiên cũng tăng cao hơn chút ít so với mức tăng bình quân của giai đoạn 1996– 2000 (13,5%)

Bảng 2: Giá trị gia tăng và tăng trưởng kinh tế của tỉnh Tây Ninh

Đơn vị: Tỷ đồng

STT Các chỉ tiêu 1995 2000 2004 2005 95 -00 Tăng trưởng B/q (%) 01 -04 01-05

1 Nông, lâm, thủy sản 952 1655 2329 2562 11,7 8,9 9,1

2 Công nghiệp, xây dựng 307 717 1442 1684 18,5 19,1 18,6

Nguồn: Qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Tây Ninh năm 2006 – 2010

Ngành du lịch của tỉnh Tây Ninh nhìn chung còn nhiều tiềm năng phát triển dulịch dịch vụ chưa được khai thác, đầu tư cho phát triển du lịch còn hạn chế, chưathu hút được những dự án đầu tư lớn tạo ra những sản phẩm du lịch mới hấp dẫnđể du lịch có thể phát triển nhanh hơn và ổn định hơn

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu kinh tế đạt được trong những năm qua là rấtđáng ghi nhận song do điểm khởi đầu phát triển của tỉnh Tây Ninh không cao nêntăng trưởng kinh tế của tỉnh những năm qua nhanh nhưng thu nhập đầu người cònthấp so với cả nước (9,6 triệu đồng/người năm 2005 thấp hơn so với bình quân củacả nước là 10 triệu đồng/năm/người)

Trang 31

Xã hội hóa giáo dục được chú trọng, ngoài hệ công lập, các bậc học đều cótrường dân lập, bán công và tư thục Hoạt động khuyến học được quan tâm, bướcđầu hoạt động có hiệu quả.

Mạng lưới y tế của tỉnh nhìn chung còn mỏng, cơ sở vật chất và trang thiết bịchữa bệnh còn nghèo nàn nên công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân vẫn cònhạn chế

Hoạt động văn hóa, thể dục – thể thao phong phú về nội dung, hình thức và pháttriển theo hướng xã hội hóa Các cơ quan văn hóa – nghệ thuật, thông tin đạichúng được đầu tư khá nhiều trang thiết bị mới; cơ bản đã phủ sóng phát thanh,truyền hình toàn tỉnh Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống vănhóa” được triển khai sâu rộng Công tác bảo tồn, tôn tạo các di tích văn hóa – lịchsử; sưu tầm và phát huy nền văn hóa của các dân tộc thiểu số được quan tâm Tây Ninh hiện có 17 dân tộc anh em và một bộ phận người nước ngoài Trong đó,dân tộc Kinh chiếm 98,59% tổng dân số và một số dân tộc chiếm tỷ lệ thấp như:Khơme, Chăm, TàMun, Hoa… hầu hết tập trung ở các huyện thuộc tuyến biêngiới như Châu Thành, Tân Châu, Tân Biên

Tài nguyên du lịch nhân văn

Di tích văn hóa – lịch sử: Nếu kể đến các di tích được nhà nước xếp hạng thì sovới nhiều tỉnh khác, ở Tây Ninh số lượng các di tích loại này không nhiều Tuynhiên, số các di tích qui mô nhỏ hơn tương đối phong phú Có thể phân chia thànhhai nhóm chính: 1/ Các di tích gắn với tôn giáo (Cao đài, đạo Phật, Thiên Chúa,Tin Lành, đạo Hồi,…) 2/ Các di tích gắn với cuộc kháng chiến chống ngoại xâmcủa dân tộc ta (căn cứ Trung ương cục miền Nam, căn cứ Bảng Lời, chiến k huDương Minh Ch âu, địa đạo An Thới,…)

Bên cạnh các di tích cách mạng và di tích tôn giáo Tây Ninh cũng có một vài dichỉ khảo cổ (An Thạnh, Bến Cầu), tháp Bình Thạnh tiêu biểu cho văn hóa Ốc Eo.Các lễ hội: Tây Ninh có khá đủ các tôn giáo chủ yếu trên thế giới và ở miền Namnên có nhiều lễ hội diễn ra quanh năm như : lễ hội núi Bà vào dịp đầu năm âmlịch, các ngày lễ của đạo Cao Đài,…

Các loại tài nguyên nhân văn khác: Các khía cạnh dân tộc học cũng được coi làmột trong những tài nguyên nhân văn phục vụ mục đích du lịch Mỗi dân tộc cómột phong tục, tập quán riêng có thể hấp dẫn du khách

Trang 32

Bảng 3: Một số dân tộc chính của Tây Ninh

Nguồn: Ban Tơn giáo Tỉnh uỷ Tây Ninh - Báo cáo 6 tháng đầu năm 2002

Các loại tài nguyên nhân văn cũng có thể khai thác phục vụ du lịch như các làngnghề, nền văn hóa (truyền miệng, viết) gắn với đất dầy truyền thống, các món ănđặc biệt…

Nói chung, tài nguyên du lịch (tự nhiên, nhân văn) của Tây Ninh tương đối phongphú, đa dạng bao gồm cả núi, hồ, rừng, các di tích văn hóa lịch sử nổi tiếng… Đâylà một lợi thế quan trọng trong việc tạo nên tiền đề cho một số loại hình du lịchthích hợp nhằm góp phần đẩy mạnh ngành du lịch phát triển với nhịp độ nhanhhơn vào những năm tới

Tài nguyên du lịch của Tây Ninh được phân bố tương đối tập trung ở một số khuvực chính như núi Bà, Tòa Thánh, hồ Dầu Tiếng, căn cứ Trung Ương Cục Nhữngkhu vực này có sự kết hợp giữa tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn Đâycũng là một sự thuận lợi cho việc hình thành một (hoặc một vài) khu du lịch lớn,sức thu hút khách cao có khả năng cạnh tranh được với các trung tâm du lịchkhác

2.1.2.3 Đánh giá chung về tài nguyên du lịch sinh thái của tỉnh Tây Ninh

 Những lợi thế

Nói chung, tài nguyên du lịch (tự nhiên, nhân văn) của Tây Ninh tương đối phongphú, đa dạng bao gồm cả núi, hồ, rừng, các di tích văn hóa lịch sử nổi tiếng… Đâylà một lợi thế quan trọng trong việc tạo nên tiền đề cho một số loại hình du lịchthích hợp nhằm góp phần đẩy mạnh ngành du lịch phát triển với nhịp độ nhanhhơn vào những năm tới

Tài nguyên du lịch của Tây Ninh được phân bố tương đối tập trung ở một số khuvực chính như núi Bà, Tòa Thánh, hồ Dầu Tiếng, căn cứ Trung Ương Cục Nhữngkhu vực này có sự kết hợp giữa tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn Đâycũng là một sự thuận lợi cho việc hình thành một (hoặc một vài) khu du lịch lớn,

Trang 33

sức thu hút khách cao có khả năng cạnh tranh được với các trung tâm du lịchkhác.

 Những tồn tại

Tài nguyên du lịch đã bị xuống cấp hoặc hủy hoại và chưa được quản lý chặt chẽ.Nhiều cơ quan chức năng quản lý một loại tài nguyên nên dẫn đến sự mâu thuẫngiữa các ngành trong việc sử dụng chúng

Vấn đề bảo vệ, tôn tạo tài nguyên du lịch sinh thái, tuy đã được đặt ra nhưng trênthực tế vẫn chưa đạt được hiệu quả

2.1.3 Hiện trạng phát triển du lịch của Tây Ninh

Các hoạt động du lịch ở Tây Ninh chính như Hội xuân Núi Bà: vào tháng giêngâm lịch, đây là một lễ hội văn hóa lớn thu hút gần một triệu du khách đến hànhhương, trẩy hội và thưởng ngoạn phong cảnh nơi đây Khách tham quan Khu ditích lịch sử văn hóa Núi Bà năm 1997 là 672.574 lượt người, năm 2001 là 993.875lượt người, năm 2002 là 1.166.531 lượt người, năm 2003 là 1.192.781 lượt người

so với năm 2002 tăng 1,86% Tính đến tháng 5 năm 2005 khu di tích lịch sử vănhóa Núi Bà đã đón tiếp trên 1,1 triệu lượt khách, bằng 80% lượng khách cả năm

1 Lượng khách (ngàn đ) 954.5 1033.8 1209.5 1231.3 1406.7 1361.7

2 Doanh thu (tỷ đồng) 82.9 75.1 64.9 79.5 110.8 76.3

Nguồn: Sở TM&DL Tây Ninh

Trong 9 tháng đầu năm 2005, ngành du lịch Tây Ninh đón và phục vụ 1,36 triệulượt khách Lượng khách nội địa đến Tây Ninh do các công ty du lịch tiếp bằng30,7% lượng khách đến TP.HCM Lượng khách quốc tế đến Tây Ninh bằng 0,3%lượng khách đến TP.HCM Trong những năm 1996 – 2000, tỷ lệ khách lưu trú

Trang 34

chiếm 3,0 – 3,5 % tổng lượng khách đến Tây Ninh; trong giai đoạn 2000 – 2005tỷ lệ khách lưu trú bình quân là 4,3% Số ngày lưu trú bình quân là 1 ngày Côngsuất phòng bình quân là 45% Doanh thu xã hội từ du lịch đạt 580 tỷ đồng năm

2003, dự kiến 640 tỷ đồng vào năm 2006 và 870 vào năm 2010

Bảng 5: Số ngày lưu trú bình quân của khách du lịch đến Tây Ninh

Stt Ngày lưu trú /

khách

Đơn vị

1 Khách quốc tế (ngày) 0.94 1.05 1.70 1.57 1.7 2.0

2 Khách nội địa (ngày) 0.95 1.06 1.3 1.29 1.5 1.7

Nguồn Sở TM&DL Tây Ninh

Bảng 6 : Dự báo lượng khách và doanh thu dịch vụ du lịch Tây Ninh 2006 – 2010

Nguồn Sở TM&DL Tây Ninh

2.1.4 Cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ du lịch

Hệ thống các cơ sở lưu trú là một trong nhiều yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sựphát triển du lịch

Các khách sạn, nhà nghỉ ở Tây Ninh không nhiều và do nhiều cơ quan quản lý.Tính đến năm 2004 trên địa bàn tỉnh mới có khoản 4.220 cơ sở kinh doanh dulịch, trong đó có khoản 11 khách sạn như :

 Hòa Bình (2 sao)(Thị xã) có 87 phòng với 169 giường

 Anh Đào (1 sao)(Thị xã) có 18 phòng với 36 giường

 Việt Phương (Thị Xã) có 21 phòng với 37 giường

 Phong Lan (Thị xã) có 14 phòng với 41 giường

 Nhà Nghĩ Thùy Dương (1, 2) (Thị xã – khu du lịch Núi Bà) có 11phòng với 22 giường

Trang 35

 Phương Linh 1 (Hòa Thành) có 19 phòng với 25 giường

 Yến Anh (Hòa Thành) có 13 phòng với 14 giường

 Ý Ý (Hòa Thành) có 12 phòng với 12 giường

 Cơ sở liên đoàn lao động (Hòa Thành) có 12 phòng với 45 giường…

 Ngọc Trai (Trảng Bàng) có 11 phòng với 14 giường

 Nhà nghỉ Gò Dầu (Gò Dầu) có 8 phòng với 16 giường

Các khách sạn nhà nghỉ nhìn chung chưa đủ tiêu chuẩn của một khách sạn dulịch Đa số các khách sạn tập trung chủ yếu ở thị xã Tây Ninh

Toàn tỉnh Tây Ninh có một công ty du lịch (công ty du lịch Tây Ninh) chịu tráchnhiệm quản lý và kinh doanh du lịch

Toàn tỉnh có 4.214 nhà hàng quy mô vừa và nhỏ, tăng khoảng 0,4% so với năm

2003 Diện tích sử dụng cho du lịch chỉ tăng xấp xỉ 1%/năm Tính đến 2004, laođộng trong ngành du lịch có khoảng 8.590 người, tuy nhiên chất lượng lao độngcủa ngành còn ở mức thấp chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của ngành hiệntại và tương lai Đây là vấn đề mà ngành du lịch tỉnh cần quan tâm nhằm nângcao chất lượng dịch vụ

2.1.5 Cơ sở hạ tầng

Mạng lưới giao thông trong tỉnh phát triển ở mức trung bình, bao gồm chủ yếu làđường bộ và đường sông

Về mạng lưới đường bộ, mật độ trung bình của toàn tỉnh là 0,34 km/km2 Chấtlượng đường ở mức độ trung bình hoặc xấu, đi qua nhiều cầu cống

Đáng lưu ý là hai quốc lộ chạy qua tỉnh Tây Ninh có chiều dài 105km, gồm quốclộ 22 (có chiều dài 28km qua 2 cầu) và quốc lộ 22B (77km, qua 13 cầu) với bềmặt đường rộng 7m Trên lãnh thổ Tây Ninh còn có 12 tỉnh lộ với chất lượng xấuhoặc trung bình, bề mặt rộng 6m

Về đường thủy giao thông chủ yếu trên sông Vàm Cỏ Đông (157km) và sông SàiGòn (101km) Ngoài ra thuyền bè có thể đi lại trên các kênh rạch với chiều dàikhoản 202km

Mạng lưới giao thông tất nhiên phục vụ chung cho việc phát triển kinh tế – xã hộivà đời sống của nhân dân Tây Ninh, trong đó có du lịch Những điểm du lịch quantrọng của tỉnh đều gắn với các tuyến đường giao thông

Trang 36

Mạng lưới thông tin liên lạc đã phát triển trên khắp các huyện thị, nhưng còn nhỏbé; thiết bị nhìn chung lạc hậu, chưa hòa nhập được với mạng lưới thông tin quốcgia và quốc tế.

Khả năng cung cấp điện nước nói chung được đảm bảo ở khu vực thị xã và các thịtrấn Tuy nhiên, các điểm du lịch khả năng này còn hạn chế

Đánh giá:

Do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, ngành du lịch Tây Ninh hầu nhưchưa có khách sạn du lịch theo đúng nghĩa của nó Các khu vực vui chơi, giải trí,các dịch vụ khác dường như trong tình trạng hoang sơ

Kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu của việc phát triển du lịch trongtương lai Thông tin liên lạc, khả năng cung cấp điện nước cho các khu du lịchcũng là vấn đề cần giải quyết sớm

2.1.6 Nguồn đầu tư và thị trường du lịch sinh thái tiềm năng

Tây Ninh nằm trong hệ thống các tuyến điểm du lịch sinh thái quan trọng của ávùng du lịch Đông Nam Bộ Việc nằm kề địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam,nền kinh tế phát triển năng động… nên có nhiều tiềm lực về các nguồn đầu tư Tây Ninh cách Thành phố Hồ Chí Minh 99km Do mạng lưới đường giao thôngthuận lợi, khách du lịch có thể dễ dàng đến Tây Ninh Mặt khác, Thành phố HồChí Minh là một thành phố đông dân nhất cả Nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí của cưdân rất lớn Vào ngày nghỉ cuối tuần, hiện nay thường có dòng người từ thànhphố Hồ Chí Minh tới Vũng Tàu dể thư dãn trong không khí biển Nếu như ở TâyNinh có những khu vực vui chơi, giải trí tốt với quãng đường chưa đầy một trămcây số, có thể dể dàng thu hút khách nghỉ cuối tuần trong khung cảnh của núi vàhồ

2.2 HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DLST CỦA TỈNH TÂY NINH

Ngành du lịch Tây Ninh đã có lịch sử phát triển trong hơn hai thập kỷ Trên cơ sởphân tích hiện trạng khách du lịch và doanh thu, có thể đánh giá việc phát triển

du lịch còn chậm, hiệu quả kinh tế thấp và chưa xứng với tiềm năng hiện có Đến

Trang 37

năm 2005, Sở khoa học công nghệ cùng với Sở du lịch của tỉnh đã tổ chức khảosát, quy hoạch du lịch sinh thái của cả tỉnh nhằm phát triển Tây Ninh thành nơitham quan du lịch, nghỉ dưỡng, học tập, nghiên cứu cho nhiều đối tượng Nóichung, DLST ở Tây Ninh vẫn chưa có các hoạt động cụ thể và chỉ mới ở giaiđoạn nghiên cứu.

Chương 3:

Trang 38

THIẾT KẾ CÁC TUYẾN DU LỊCH SINH THÁI TẠI TÂY NINH NHẰM MỤC ĐÍCH NÂNG CAO NHẬN THỨC MÔI

TRƯỜNG CHO HỌC SINH VÀ SINH VIÊN3.1 XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN DLST 3.1.1 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá tài nguyên DLSTTN

Việc đánh giá tài nguyên du lịch sinh thái nhằm xác định khả năng hay mức độthuận lợi (tốt, trung bình, kém) của các loại tài nguyên đối với hoạt động du lịch,đồng thời làm cơ sở để xác định loại hình du lịch có thể khai thác, quy mô hoạtđộng và thiết kế các tuyến điểm du lịch sinh thái Các tiêu chí đánh giá gồm:

 Tiêu chí đánh giá khả năng thu hút khách

Tính hấp dẫn: là yếu tố có tính tổng hợp và thường xác định bằng vẻ đẹp của

cảnh quan thiên nhiên, sự đa dạng của địa hình, sự thích hợp của khí hậu đối vớisức khỏe con người, sự đặc sắc và độc đáo của các hiện tượng, di tích tự nhiên vàquy mô về không gian của điểm tài nguyên tự nhiên

Tính thuận lợi: trước hết là sự thuận lợi về cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ

tầng dịch vụ, thì dù tài nguyên du lịch sinh thái có hấp dẫn, độc đáo đến đâu cũngvẫn chỉ ở dạng tiềm năng, không thể khai thác hoặc khai thác không hiệu quả chohoạt động du lịch

Tính an toàn: đảm bảo sự an toàn về sinh thái và xã hội, được xác định vởi tình

hình an ninh chính trị, trật tự xã hội, vệ sinh môi trường, có nguồn nước sạch

 Tiêu chí đánh giá khả năng khai thác và quản lý

Sức chứa: phản ánh khả năng và quy mô triển khai hoạt động tại mỗi điểm du

lịch sinh thái và được xác định bằng các chỉ tiêu đã được xác lập qua khảo sátthiết kế thực nghiệm, kinh nghiệm thực tế

Tính liên kết: thể hiện qua khả năng liên kết các khu hay điểm du lịch khác tạo

thành các tuyến du lịch đa dạng, hấp dẫn

Trang 39

Tính thời vụ: thời gian hoạt động du lịch được xác định bởi các khoảng thời gian

trong năm với các điều kiện thời tiết, khí hậu và thị trường thuận lợi nhất cho việckhai thác tài nguyên và triển khai các hoạt động du lịch Tính thời vụ của tàinguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến hướng khai thác, đầu tư quy hoạch, kinhdoanh hoạt động du lịch

3.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá tài nguyên du lịch sinh thái nhân văn.

Ở đây tôi chỉ xác định tài nguyên nhân văn chia theo 3 loại thắng cảnh

 Thắng cảnh loại 1: Là quần thể di tích có ý nghĩa lịch sử, có kiến trúc đẹp vàcổ kính

 Thắng cảnh loại 2: Là các di tích phân bố đơn lẻ nhưng có ý nghĩa lớn tronglịch sử, có kiến trúc đẹp

 Thắng cảnh loại 3 : Là các di tích phân bố đơn lẻ nhưng có ý nghĩa nhất địnhtrong lịch sử

3.1.3 Tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá các tài nguyên du lịch sinh thái ở Tây

Ninh

Việc đánh giá TNDLST ở tỉnh Tây Ninh sẽ được thực hiện bằng cách đánh giátừng địa điểm có tiềm năng phát triển du lịch như khu vực Ma Thiên Lãnh - núiBà Đen, hồ Dầu Tiếng, Vườn quốc gia Lò Gò Xa Mát,…

3.1.3.1 Núi Bà Đen

Núi Bà Đen bao gồm cả TNDLSTTN và TNDLSTNV

a Khả năng thu hút khách

Ngày đăng: 18/07/2014, 09:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Quan hệ giữa du lịch sinh thái và các loại hình du lịch khác - Nâng cao nhận thức môi trường cho học sinh sinh viên thông qua việc thiết kế các tuyến du lịch sinh thái ở Tây Ninh
Hình 1 Quan hệ giữa du lịch sinh thái và các loại hình du lịch khác (Trang 12)
Bảng 1: Các tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá tài nguyên du lịch sinh thái  Tiêu chí, khái - Nâng cao nhận thức môi trường cho học sinh sinh viên thông qua việc thiết kế các tuyến du lịch sinh thái ở Tây Ninh
Bảng 1 Các tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá tài nguyên du lịch sinh thái Tiêu chí, khái (Trang 18)
Bảng 3: Một số dân tộc chính của Tây Ninh - Nâng cao nhận thức môi trường cho học sinh sinh viên thông qua việc thiết kế các tuyến du lịch sinh thái ở Tây Ninh
Bảng 3 Một số dân tộc chính của Tây Ninh (Trang 32)
Bảng 4: Hoạt động kinh doanh du lịch ở Tây Ninh từ 2000 – 9.2005 - Nâng cao nhận thức môi trường cho học sinh sinh viên thông qua việc thiết kế các tuyến du lịch sinh thái ở Tây Ninh
Bảng 4 Hoạt động kinh doanh du lịch ở Tây Ninh từ 2000 – 9.2005 (Trang 33)
Bảng   6       : Dự báo lượng khách và doanh thu dịch vụ du lịch Tây Ninh 2006 – - Nâng cao nhận thức môi trường cho học sinh sinh viên thông qua việc thiết kế các tuyến du lịch sinh thái ở Tây Ninh
ng 6 : Dự báo lượng khách và doanh thu dịch vụ du lịch Tây Ninh 2006 – (Trang 34)
Hình 2: Tiềm năng DLST tại Tây Ninh - Nâng cao nhận thức môi trường cho học sinh sinh viên thông qua việc thiết kế các tuyến du lịch sinh thái ở Tây Ninh
Hình 2 Tiềm năng DLST tại Tây Ninh (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w