Bản Tin số 09 bộ công thương - cục quản lý cạnh tranh
Trang 2Cục Quản lý cạnh tranh là cơ quan do Chính phủ thành lập trong hệ thống tổ chức của Bộ Công Thương
có nhiệm vụ thực thi Luật Cạnh tranh, Pháp lệnh về Bảo vệ người tiêu dùng, Pháp lệnh Chống bán phá giá, Pháp lệnh Chống trợ cấp và Pháp lệnh tự vệ
Với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn quy định tại Nghị định số 06/2006/NĐ-CP ngày 9 tháng 1 năm
2006, Cục Quản lý cạnh tranh hoạt động nhằm mục tiêu thúc đẩy và duy trì môi trường cạnh tranh hiệu quả cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của doanh nghiệp và người tiêu dùng
Lãnh đạo Cục Quản lý cạnh tranh gồm một Cục trưởng do Thủ tướng bổ nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng
Bộ Công Thương, và một số Phó Cục trưởng do Bộ trưởng Bộ Công Thương bổ nhiệm
Thúc đẩy tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh, hiệu quả
Bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp và người tiêu dùng trước những hành vi hạn chế cạnh tranh
Chống các hành vi phản cạnh tranh
Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Hỗ trợ cho ngành sản xuất trong nước phòng, chống các vụ kiện bán phá giá, trợ cấp và tự vệ của nước ngoài.
CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CỤC QUẢN LÝ CẠNH TRANH - BỘ CÔNG THƯƠNG
Trung tâm Thông tincạnh tranh
Trung tâm Đào tạođiều tra viên
Trang 3BẢN TIN
CẠNH TRANH & NGƯỜI TIÊU DÙNG
Của Cục Quản lý cạnh tranh
NGUYỄN THÀNH HẢI, PHAN CÔNG THÀNH
NGUYỄN VĂN THÀNH, BÙI VIỆT TRƯỜNG
NGUYỄN PHƯƠNG THẢO
Giám đốc phụ trách nghiên cứu
Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright
Cộng tác viên ở nước ngoài
LÊ THÀNH VINH, Nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật
ĐH Monash, Australia
DANIEL VANHOUTTE, Đại học Tự do, Bỉ
Tổ chức sản xuất và phát hành
TRUNG TÂM THÔNG TIN CẠNH TRANH (CCID)
25 Ngô Quyền - Hà Nội
ĐT: (04) 2220 5009 * Fax: (04) 2220 5303
Đại diện tại TP Hồ Chí Minh
Số 159 Kí Con, Quận 1, TP Hồ Chí Minh
Công ty phát hành báo chí Trung ương
Ban Biên tập Bản tin Cạnh tranh và Người tiêu dùng xin trân trọng cảm ơn và nghiêm túc tiếp thu ý kiến đóng góp của độc giả nhằm nâng cao chất
lượng của Bản tin Mọi ý kiến đóng góp, thư từ, tin, bài xin gửi về:
Trang 424
25 NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
29 HOẠT ĐỘNG KỲ TỚI
HƯỚNG TỚI MẠNG LƯỚI CẠNH TRANH QUỐC GIA
23 PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
BẢN TIN CẠNH TRANH & NGƯỜI TIÊU DÙNG
Trang 5HOẠT ĐỘNG TRONG KỲ
Từ ngày 07-08/08/2009 tại Pulau
Langkawi, Malaysia đoàn đại biểu VCA đãtham dự Cuộc họp lần thứ 4 của Nhómchuyên gia Cạnh tranh ASEAN (AEGC) Đây làcuộc họp thường kỳ của AEGC nhằm tổng kếtnhững kết quả đạt được cũng như đề ra kếhoạch thực hiện trong thời gian tiếp theo,hướng đến việc góp phần xây dựng cộngđồng kinh tế ASEAN phát triển bền vững
Cuộc họp có sự tham gia của các nướcthành viên ASEAN và đại diện Ban thư kýASEAN, trong đó Malaysia giữ vai trò Chủ tịchAEGC với nhiệm kỳ từ tháng 03/2009 đếntháng 03/2010
Phiên họp đã mở đầu bằng việc đánh giákết quả hoạt động của ba nhóm công việcchính trong khuôn khổ hoạt động AEGCtrong thời gian qua, bao gồm (i) Nâng caonăng lực cho các cơ quan cạnh tranh; (ii) Xâydựng Hướng dẫn về chính sách cạnh tranhkhu vực ASEAN dành cho các nhà hoạch địnhchính sách cạnh tranh tại các nước ASEAN (Re-gional Guidelines on Competition Policy inASEAN) và (iii) Xây dựng Sổ tay về Chính sách
và Luật cạnh tranh ASEAN hướng đến cácdoanh nghiệp có hoạt động kinh doanh vàđầu tư tại các nước ASEAN (Handbook onCompetition Policies and Laws in ASEAN forBusinesses)
Sau đó, các nước và Ban Thư ký ASEAN đãcùng nhau trao đổi kế hoạch hoạt động củaAEGC trong thời gian tới Để nâng cao năng
lực cho các cơ quan cạnh tranh ASEAN, cáchoạt động bao gồm các khóa đào tạo, đoàncông tác, hội thảo và diễn đàn sẽ được tăngcường nhằm trao đổi, chia sẻ kinh nghiệmgiữa các cơ quan cạnh tranh Bên cạnh việc tổchức những hoạt động đó, các nước cũngnghiên cứu xây dựng công cụ đánh giá tínhhiệu quả và kết quả thực tiễn của những hoạtđộng đó Trong chiến lược phát triển dài hạn,AEGC cần đề ra định hướng trong công tácnâng cao năng lực cho các cơ quan cạnhtranh nhằm đáp ứng nhu cầu và đem lại lợi íchcho tất cả các nước thành viên nói riêng, cộngđồng ASEAN nói chung
Hai ấn phẩm chính thức của ASEAN về hệthống chính sách và pháp luật cạnh tranh dựkiến sẽ được hoàn thành vào tháng 06/2010.Sau khi ra mắt, Hướng dẫn và Sổ tay sẽ đượctuyên truyền rộng rãi tại các nước thành viênthông qua các diễn đàn và các kênh thông tinnhư cổng thông tin ASEANWEB, cổng thôngtin cơ quan cạnh tranh các nước thành viên vàphát hành đĩa CD- ROM,
Cuộc họp đã thành công tốt đẹp với sựtham gia đóng góp ý kiến, trao đổi của tất cảcác thành viên ASEAN cũng như Ban Thư kýASEAN Việt Nam luôn tham gia rất tốt vai tròcủa mình trong các hoạt động của AEGC vàsẵn sàng cho công tác chuẩn bị tiếp nhận vaitrò chủ tịch AEGC vào năm 2010, cũng như tổchức Cuộc họp AEGC tiếp theo tại Việt Nam
NGÂN AN
Cục quản lý cạnh tranh (VCA) tham dự Cuộc họp
Nhóm chuyên gia cạnh tranh ASEAN
Trang 6HOẠT ĐỘNG TRONG KỲ
Ngày 24-26/8/2009, VCA đã
phối hợp với Ủy ban Thương
mại Liên bang Hoa kỳ (USFTC),
Ngân hàng phát triển Châu Á (ADBI),
Cơ quan phát triển quốc tế Hoa kỳ
(USAID) tổ chức thành công khóa
đào tạo quốc tế “Lạm dụng vị trí
thống lĩnh và độc quyền nhìn từ góc
độ kinh tế” trong khuôn khổ ASEAN
tại Đà Lạt
Mục đích của khóa học nhằmđem lại cho các nhà xây dựng luật vàchính sách cạnh tranh, các điều traviên và các luật sư cái nhìn tổngquan về kinh tế học vi mô khi tiếpcận và xem xét các vấn đề độcquyền Các thành viên đã đượchướng dẫn về cách áp dụng các kháiniệm kinh tế đối với các vụ việc thực
tế đã được điều tra tại Mỹ Đây được
xem là cơ hội rất thuận lợi cho việcgiao lưu, trao đổi kinh nghiệm giữacác nước ASEAN trong lĩnh vực cạnhtranh nói chung và vấn đề độcquyền/thống lĩnh nói riêng
Trong 3 ngày, với các bài giảng đi
từ lý thuyết đến phân tích các trườnghợp cụ thể của các chuyên gia đến
từ USFTC và USDOJ (Bộ Tư pháp HoaKỳ), 40 thành viên của khóa đào tạobao gồm các nhà xây dựng chínhsách, các điều tra viên, các giáo sư vàluật sư về cạnh tranh đến từ 10 nướcASEAN và Mông Cổ đã được trang bịcác kiến thức kinh tế học liên quanđến giao dịch độc quyền, chi phí xãhội của độc quyền, đánh giá độcquyền nhìn từ góc độ kinh tế Ngoài
ra, các học viên được thảo luận phântích 04 án lệ liên quan đến độcquyền và lạm dụng vị trí thống lĩnhđược cung cấp bởi các chuyên giaHoa Kỳ Qua đó, các học viên tiếp thuđược các kiến thức thực tế trong việc
Từ ngày 10-12/08/2009 tại Pulau
Langkawi, Malaysia đã diễn ra
Hội thảo lần thứ 4 của AEGC với
chủ đề “ Kỹ năng tiếp cận, phương
pháp luận và kỹ thuật của Luật cạnh
tranh”
Hội thảo nằm trong khuôn khổ
hoạt động nâng cao năng lực cơ
quan cạnh tranh các nước thành viên
ASEAN với sự tham gia của các nước
thành viên ASEAN, Ban thư ký ASEAN
cùng các chuyên gia đến từ các cơ
quan cạnh tranh như Cơ quan cạnh
tranh Đức Bundeskartellamt, Ủy ban
về chống độc quyền Đức (German
Monopolies Commission), Ủy ban
cạnh tranh và người tiêu dùng Úc
(ACCC) cùng các chuyên gia nghiên
cứu và luật sư đến từ văn phòng luật
Qua đó, các đại biểu tham gia đã trao
đổi kiến thức, kinh nghiệm về các vấn
đề liên quan đến kỹ năng tiếp cận,
phương pháp luận và kỹ thuật của
Luật cạnh tranh, nhằm xây dựng mô
hình, các quy định và luật cạnh tranhphù hợp với các nước ASEAN
Nội dung hội thảo tập trung vàonhững vấn đề liên quan đến (i) chínhsách và luật cạnh tranh, các phươngpháp tiếp cận trong việc hình thành
và xây dựng chính sách và luật cạnhtranh, (ii) và những vấn đề cụ thể nhưthỏa thuận ngang, thỏa thuận dọc,thông đồng trong Cartel, lạm dụng vịtrí thống lĩnh thị trường, kiểm soáthoạt động mua bán và sáp nhậptrong việc xây dựng các quy địnhtrong luật cạnh tranh
Kinh nghiệm thực tiễn từ nhữngnước phát triển như Hoa Kỳ, EU, Úc rất
có ích cho các nước thành viênASEAN trong việc hoàn thiện quátrình hình thành chính sách và luậtcạnh tranh phù hợp đối với bối cảnhtừng quốc gia, đặc biệt nâng cao hiệuquả thực thi luật cạnh tranh Bêncạnh đó, các nước thành viên ASEAN
cũng chia sẻ, trao đổi thẳng thắnnhững khó khăn mà các nước đanggặp phải, nhằm giúp đỡ lẫn nhautrong việc hình thành chính sách vàluật cạnh tranh, thực hiện cam kếttrong Chương trình hành độngASEAN- đến năm 2015, các nướcASEAN đều ban hành luật cạnh tranh Tại hội thảo, Việt Nam đã chia sẻkinh nghiệm trong quá trình xâydựng Luật cạnh tranh, cơ quan cạnhtranh, những khó khăn trong quátrình thực thi Luật và kinh nghiệmthực tiễn trong xử lý vụ việc cạnhtranh tại Việt Nam Việc tham gia hộithảo và những hoạt động quốc tế là
cơ hội tốt giúp cơ quan cạnh tranhViệt Nam có thể học hỏi những kinhnghiệm quý báu từ nhiều quốc giatrên thế giới, đồng thời khẳng định vịthế của Cơ quan cạnh tranh Việt Namtrong mạng lưới các cơ quan cạnhtranh
NGÂN AN
VCA tham dự Hội thảo lần thứ 4 của Nhóm chuyên gia Cạnh tranh ASEAN (AEGC) với chủ đề “Kỹ năng tiếp cận, phương pháp luận
và kỹ thuật của Luật cạnh tranh”
Khóa đào tạo quốc tế với chủ đề
“Lạm dụng vị trí thống lĩnh và độc quyền nhìn từ góc độ kinh tế”
(Xem tiếp trang 21)
Trang 7Ngày 27/8/2009 VCA đã tiến
hành tổ chức Tọa đàm “Chế
định cạnh tranh không lành
mạnh trong pháp luật cạnh tranh” tại
Trụ sở VCA - số 25 Ngô Quyền, Hoàn
Kiếm, Hà Nội Tham dự buổi Tọa đàm
có các đại biểu của VCA, đại diện của
các Bộ/ngành, các viện, trường, công
ty Luật và các Doanh nghiệp
Phần trình bày của diễn giả Đoàn
Tử Tích Phước xung quanh vấn đề chế
định pháp luật về cạnh tranh không
lành mạnh bao gồm các nội dung
chính:
- Giới thiệu hành vi cạnh tranh
không lành mạnh
- Pháp luật về cạnh tranh không
lành mạnh tại một số quốc gia
- Thực thi pháp luật về cạnh tranhkhông lành mạnh tại Việt Nam
- Kiến nghị và giải pháp liên quantới chế định cạnh tranh không lànhmạnh tại Việt Nam
Chủ đề của Tọa đàm gắn liền vớimột hoạt động thực tiễn thực thi Luậtcạnh tranh và đã nhận được sự quantâm và nhiệt tình đóng góp ý kiến từphía các đại biểu
Bà Trịnh Thị Sâm - Trưởng khoaluật Đại Học Thương Mại đã nêu ranhững thành công của bài nghiêncứu trong việc khái quát nhiều thôngtin cụ thể và bao quát liên quan đếncạnh tranh và cạnh tranh không lànhmạnh của Việt Nam và một số nướctrên thế giới và những kinh nghiệm
được rút ra từ các chế định cạnhtranh Tuy nhiên, việc đề cập đến rấtnhiều Luật cạnh tranh của các nướccũng có những hạn chế khi nội dungchưa thực sự tập trung phân tích sâuvào một số nước để từ đó rút ra bàihọc cho Việt Nam Theo ý kiến chủquan của Bà Sâm, bài nghiên cứu sẽtrọn vẹn nếu đi sâu vào phân tích hơnnữa các chế định cạnh tranh khônglành mạnh của Việt Nam, nêu lênnhững tồn tại và yếu kém của nguồnlực hiện có, đặc biệt là kinh nghiệmrút ra từ các vụ việc do VCA thụ lý vàxét xử
Tiến sỹ Nguyễn Hữu Huyên đến
từ Bộ Tư pháp cho rằng đây là côngtrình nghiên cứu nghiêm túc vàmang hiệu quả chuyên môn caođóng góp vào quá trình xây dựng vàthực thi Luật cạnh tranh và phục vụcông tác nghiên cứu Theo Ông, bàinghiên cứu này nên tóm gọn lạithành 3 phần: Các vấn đề lý luận vềcạnh tranh không lành mạnh; thực thiPháp luật cạnh tranh không lànhmạnh ở Việt Nam; nhận xét và kiếnnghị Những vấn đề được đề cập cótính hệ thống của bài nghiên cứu cầnđược triển khai nghiên cứu sâu hơn
để có thể trở thành một đề tài nghiêncứu khoa học
Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Giảngviên trường Đại Học Luật đề cập đếnvấn đề cạnh tranh không lành mạnhtrong lĩnh vực Quảng cáo, đáng chú ý
là các hành vi mang tính chất lừa dối
và so sánh Đây là vấn đề xảy ra
Tọa đàm “Chế định cạnh tranh không lành mạnh trong pháp luật cạnh tranh”
Trong khuôn khổ Dự án “Nâng
cao năng lực thực thi Luật và
chính sách cạnh tranh của Việt
Nam”, ngày 17 và 18 tháng 9 năm
2009, VCA đã phối hợp với các
chuyên gia của Ủy ban Thương mại
Lành mạnh Nhật Bản tổ chức Khóa
đào tạo về “Kỹ năng điều tra hành
vi cạnh tranh không lành mạnh”
tại Hải Phòng
Nội dung khoá đào tạo tập
trung vào kỹ năng điều tra và xử lýcác hành vi thương mại không côngbằng do các chuyên gia nhiều kinhnghiệm của Ủy ban Thương mạilành mạnh Nhật bản truyền đạt Bêncạnh các bài trình bày về các quyđịnh pháp luật về các hành vithương mại không công bằng, cáchọc viên sẽ được chia làm các nhómthảo luận các vụ việc thực tế đã diễn
ra tại Nhật bản đã được Ủy ban
Thương mại lành mạnh điều tra và
xử lý trong thời gian vừa qua
Khoá đào tạo nhằm nâng cao kỹnăng điều tra vụ việc cạnh tranh chocác điều tra viên cạnh tranh củaVCA, đồng thời cung cấp nhữngkiến thức cần thiết cho các cán bộlàm công tác quản lý cạnh tranh,bảo vệ người tiêu dùng tại các SởCông Thương địa phương và các cơquan quản lý nhà nước có liên quan
Trang 8Nối tiếp hai hội nghị lấy ý kiến xây dựng Luật
Bảo vệ người tiêu dùng mới được tổ chức tại
Hà Nội trong tháng 8, được sự hỗ trợ của Tổchức CUTS, VCA đã phối hợp với Phòng Thương mại
và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) để tổ chức hai Hộinghị tại thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 08/9/2009với sự tham gia của đông đảo các doanh nghiệp vàcác Hiệp hội doanh nghiệp phía Nam và ngày09/9/2009 với đối tượng tham gia là các cơ quannhà nước có liên quan (các Sở Công Thương, Sở Y tế,
Sở Khoa học và Công nghệ, các Ủy ban nhân dân từ
Hà Tĩnh trở vào), các nhà khoa học, một số trườngđại học và các công ty luật ở phía Nam
Dưới sự chủ trì của Thứ trưởng Bộ Công Thương
Lê Danh Vĩnh, cả hai hội nghị đều đã thu hút đượcđông đảo sự tham gia của các đại biểu với những ýkiến đóng góp quý báu đối với Dự thảo Luật Bảo vệngười tiêu dùng Ý kiến của một số luật sư cho rằngcần làm rõ những quy định về “quyền và tráchnhiệm của người tiêu dùng” để người tiêu dùng cóthể nhận thức dễ dàng hơn về trách nhiệm tự bảo
vệ mình cũng như bảo vệ cộng đồng nhưng khônglạm dụng quyền nhằm mưu cầu lợi ích một cáchbất hợp pháp khi xảy ra tranh chấp với tổ chức, cánhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; Cácquy định về quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùngcũng như của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinhdoanh hàng hóa, dịch vụ cần được quy định rõràng, minh bạch, đảm bảo sự hài hòa về lợi ích giữa
thương nhân với người tiêu dùng; cần xem xét lạiquy định về đối tượng và phạm vi điều chỉnh củaLuật Bên cạnh đó còn có rất nhiều vấn đề khác đãđược các đại biểu thẳng thắn tranh luận, đưa ra ýkiến, trong đó tập trung vào những vấn đề như:
- Trách nhiệm của thương nhân đối với ngườitiêu dùng;
- Quy định về hợp đồng theo mẫu;
- Phương thức giải quyết tranh chấp của ngườitiêu dùng tại cơ quan hành chính;
- Phương thức giải quyết tranh chấp thông quathủ tục rút gọn tại tòa án;
- Quy định về cơ quan chuyên trách về công tácbảo vệ người tiêu dùng;
- Quỹ Bảo vệ người tiêu dùng
Những ý kiến đóng góp của các đại biểu tham
dự tại Hội nghị sẽ được Ban soạn thảo Luật Bảo vệngười tiêu dùng tiếp thu và nghiên cứu để tiếp tụchoàn thiện Dự thảo Luật này
Kết thúc hội nghị, Thứ trưởng Lê Danh Vĩnhtổng kết lại những vấn đề đã đạt được, qua đó Thứtrưởng cũng nhấn mạnh rằng trong quá trình xâydựng Dự luật, Bộ Công Thương rất mong nhậnđược các ý kiến đóng góp thiết thực từ người dân
để Ban soạn thảo sớm hoàn thành và trình Quốc hộithông qua vào năm 2010
MINH VÂN
Hội nghị lấy ý kiến xây dựng
Luật Bảo vệ người tiêu dùng tại TP Hồ Chí Minh
HOẠT ĐỘNG TRONG KỲ
Trang 9VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN
Ngày 31 tháng 8 năm 2009, Bộ
Thương mại Hoa Kỳ (DOC) đã
công bố Quyết định sơ bộ về
vụ việc điều tra áp dụng biện pháp
chống trợ cấp đối với mặt hàng túi
nhựa Polyethylene đựng hàng hóa
bán lẻ (túi nhựa) nhập khẩu từ nước
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
(Việt Nam) Theo Quyết định này,
DOC kết luận có trợ cấp đối với mặt
hàng nêu trên
Các khoản trợ cấp là những trợ
giúp về tài chính từ chính phủ nước
ngoài mà khoản trợ cấp đó đem lại lợi
ích cho việc sản xuất, hoặc xuất khẩu
hàng hóa
Đây là vụ điều tra chống trợ cấp
đầu tiên liên quan đến Việt Nam
Trong Công báo Liên bang công bố
việc khởi xướng điều tra chống trợ
cấp, DOC đã mời bình luận công khai
từ công chúng liên quan về việc áp
dụng Luật Chống trợ cấp đối với
hàng nhập khẩu từ Việt Nam
DOC sơ bộ quyết định rằng các
nhà sản xuất/xuất khẩu mặt hàng túi
nhựa từ Việt Nam đã nhận được
những khoản trợ cấp thuần, có thể
đối kháng từ mức 0,20 (mức không
đáng kể) tới 4,24%
Ba bị đơn bắt buộc là Công ty
Ad-vance Polybag, Chin Sheng (Tiến
Thịnh) và Tập đoàn Doanh nghiệp
Fotai Việt Nam đã nhận những mức
thuế suất trợ cấp sơ bộ tương ứng là
0,20% (mức không đáng kể), 1,69 %
và 4,24% Tất cả những nhà sản
xuất/xuất khẩu khác từ Việt Nam
nhận mức thuế suất trợ cấp sơ bộ là
2,97%
Ngoại trừ Công ty Advance
Poly-ban, theo kết luận của Quyết định sơ
bộ này, DOC sẽ chỉ thị cho Cục Hải
quan và bảo vệ biên giới Hoa Kỳ thu
tiền đặt cọc bằng tiền mặt hoặc ký
quỹ dựa trên những mức thuế suất sơ
bộ trên đây
Những nguyên đơn của vụ điều
tra này là Công ty Hilex Poly, thuộc
Hartsville, South Carolina và Tập đoàn
Superbag, thuộc Houston, bang
Những mức thuế trợ cấp sơ bộ
Lịch trình vụ kiện
Con số thống kê nhập khẩu
Nước Nhà sản xuất/xuất khẩu Thuế suất trợ cấp
VIỆT NAM
Advance Polybag 0,20%
(mức không đáng kể)Công ty TNHH Chin Sheng 1,69%
Tập đoàn Doanh nghiệp Fotai Việt Nam 4,24%
Những doanh nghiệp khác 2,97%
Nộp đơn kiện 31/03/2009Ngày DOC khởi xướng điều tra 20/04/2009Quyết định sơ bộ của ITC 15/05/2009Quyết định sơ bộ của DOC* 28/08/2009Quyết định cuối cùng của DOC* 11/01/2010Quyết định cuối cùng của ITC** 25/02/2010
Ra các Lệnh áp thuế*** 04/03/2010
*Những thời hạn này có thể kéo dài theo luật định.
**Sẽ chỉ xảy ra trong trường hợp có phán quyết khẳng định cuối cùng của DOC
***Sẽ chỉ xảy ra trong trường hợp có phán quyết khẳng định cuối cùng của cả DOC và ITC
Túi nhựa được phân dưới nhóm có
mã số 3923.21.0085 (theo bảng mã sốthuế nhập khẩu hài hòa của Hoa Kỳ-HTS US) Trong khi mã số thuế HTS USđược cung cấp để tạo thuận lợi và vớimục đích dành cho hải quan, bản mô
tả của DOC về hàng hóa thuộc diệnđiều tra sẽ điều chỉnh phạm vi củacuộc điều tra này
Trong năm 2008, trị giá nhậpkhẩu mặt hàng túi nhựa từ Việt Nam
vào khoảng 79 triệu USD
DOC hiện đang lên kế hoạch đểban hành quyết định cuối cùng vàotháng 01 năm 2010
Nếu DOC ra quyết định cuối cùngkhẳng định, và Ủy ban Thương mạiQuốc tế Hoa Kỳ (ITC) ra quyết địnhcuối cùng khẳng định rằng mặt hàngtúi nhựa nhập khẩu từ Việt Nam gâythiệt hại vật chất hoặc đe dọa gâythiệt hại vật chất tới ngành sản xuấtHoa Kỳ, DOC sẽ ban hành lệnh ápthuế trợ cấp
Trang 10VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN
Ngày 25/8/2009, Tổng vụ
Thương mại, Ủy ban Châu Âu
(EC) đã gửi Thương vụ tại EU –
Bỉ thông báo liên quan đến quyết
định áp thuế chống bán phá giá đối
với mặt hàng vít thép không gỉ xuất
xứ từ Việt Nam
1 Yêu cầu tiến hành rà
soát
Ngày 14/11/2005, Ủy ban Châu
Âu EC đã ra quyết định áp thuế chống
bán phá giá đối với sản phẩm vít thép
không gỉ xuất xứ từ Trung Quốc,
In-donesia, Đài Loan, Thái Lan và Việt
Nam Các công ty có liên quan trong
vụ việc này của Việt Nam bao gồm
Header Plan Co Ltd (HPV) – là công ty
100% vốn Đài Loan đầu tư tại tỉnh
Đồng Nai và một số công ty trong
nước như Công ty 4 - 5, Công ty 1 - 3,…
Theo quyết định này, mức thuế
chống bán phá giá áp dụng đối với
tất cả các công ty của Việt Nam là
7,7%
Trong năm 2008, HPV đã đệ đơn
lên EC yêu cầu tiến hành rà soát giữa
kỳ cho riêng HPV trong phạm vi của
vụ việc này Sau quá trình rà soát (bao
gồm thu thập, xử lý thông tin do
doanh nghiệp cung cấp và thẩm tra
tại chỗ) và tham vấn với Ủy ban Tư
vấn, ngày 13/8/2008, EC đã ra thông
báo tiến hành rà soát tạm thời riêngđối với HPV
2 Nội dung và kết luận
rà soát đối với HPV của EC
Sau khi nhận được yêu cầu củaHPV, EC đã gửi bản câu hỏi điều tra cụthể, bao gồm cả bản câu hỏi liênquan đến đối xử kinh tế thị trường(MET) và đối xử riêng (IT) dành chodoanh nghiệp HPV đã hoàn thành trảlời tất cả cả các bản câu hỏi điều tra
và gửi cho EC đúng thời hạn
Ngoài ra, để thu thập nhữngthông tin cần thiết về vụ việc cũngnhư xây dựng giá trị thông thường,
EC đã tiến hành thẩm tra tại chỗ một
số cơ sở của HPV cả tại Việt Nam vàĐài Loan
Kết thúc quá trình rà soát, EC đãđưa ra các kết luận như sau:
- HPV đã đáp ứng đủ 5 tiêu chíMET và sau khi tham vấn với Hộiđồng tư vấn thì HPV đã được traoMET Kết luận này ban đầu đã bịngành công nghiệp của EU phản đối
vì cho rằng sẽ có rủi ro lẩn tránh thuếbằng cách chuyển hàng xuất khẩu từĐài Loan thông qua Việt Nam Tuynhiên việc trao MET cho HPV và khảnăng lẩn tránh thuế từ Đài Loankhông có mối liên hệ gì bởi vì hành vilẩn tránh thuế vẫn có thể xảy ra ngay
cả khi MET không được traocho HPV Hơn nữa, ngành côngnghiệp EU cũng không đưa rađược những bằng chứng ủng hộcáo buộc đó và cuối cùng ngànhcông nghiệp của EU cũng đã phải rútlại phản đối trên
- Việc so sánh giá trị thông thường
và giá xuất khẩu tính toán cho thấyHPV đã không bán phá giá mặt hàngnói trên vào thị trường EU
- Mức thuế chống bán phá giá đốivới vít thép không gỉ của HPV là 0%
và của các nhà sản xuất Việt Namkhác là 7,7%
3 Đánh giá
Đây là lần đầu tiên, EC tiến hành
rà soát giữa kỳ thuế chống bán phágiá và có quyết định riêng đối với mộtdoanh nghiệp xuất khẩu của ViệtNam xuất khẩu vào thị trường EU.Đây cũng là lần đầu tiên một doanhnghiệp Việt Nam được EC trao quychế đối xử kinh tế thị trường (MET)trong một vụ việc rà soát thuế chốngbán phá giá
Tiền lệ này sẽ là một tín hiệu tíchcực cho các doanh nghiệp Việt Namđấu tranh trong quá trình kháng kiệncác vụ kiện chống bán phá giá từ thịtrường EU sau này
Trang 11Bán hàng đa cấp (BHĐC) là một phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hoá,
được thực hiện thông qua mạng lưới người tham gia gồm nhiều cấp,nhiều nhánh; hàng hoá được bán trực tiếp cho người tiêu dùng tại nơi ở,nơi làm việc hoặc tại một số địa điểm không phải là điểm bán lẻ thường xuyên;người tham gia được hưởng hoa hồng, tiền thưởng, hoặc lợi ích kinh tế từ kếtquả bán hàng của mình và của mạng lưới do mình tổ chức Hoạt động bánhàng đa cấp xuất hiện ở Việt Nam từ những năm 1999 - 2000 và phát triển vớitốc độ rất nhanh chóng
Đến nay đã có trên 40 doanh nghiệp được cấp giấy đăng ký tổ chức bánhàng đa cấp tại Việt Nam, trong số đó có 10 doanh nghiệp đã làm thủ tục xinchấm dứt hoạt động, hoặc bị rút giấy đăng ký Sản phẩm bán hàng đa cấp chủyếu liên quan đến sức khỏe con người như thực phẩm chức năng, mỹ phẩm, đồdùng cá nhân và các đồ dùng trong gia đình như máy tạo khí Ozone, nồi lẩuđiện, bếp ga, chăn ga gối đệm …
Bên cạnh các doanh nghiệp bán hàng đa cấp kinh doanh hợppháp và minh bạch được nhà nước công nhận; trên thị trường ViệtNam cũng xuất hiện khá nhiều các tổ chức, cá nhân kinh doanh bánhàng đa cấp có dấu hiệu kinh doanh bất hợp pháp, lừa đảo ngườitiêu dùng, mà Luật Cạnh tranh của Việt Nam gọi là “hoạt động bánhàng đa cấp bất chính”,
Một trong những nguyên nhân phổ biến dẫn đến sự nghi ngờhoặc phản đối của dự luận, của người tiêu dùng chính là sự khó phânbiệt giữa hoạt động BHĐC chân chính, hợp pháp và hoạt động bánhàng đa cấp bất chính – mô hình “hình tháp ảo” đang bị cấm trên thếgiới Để có thể phân biệt được mô hình bán hàng đa cấp chân chínhhợp pháp và mô hình bán hàng đa cấp bất chính – mô hình “Hìnhtháp ảo”, chúng ta có thể dựa vào một số biểu hiện dưới đây
Chiêu thức tuyển người vào mạng mạng lưới
Mạng lưới bán hàng đa cấp hoạt động theonguyên tắc “từ con người đến con người”, nghĩa làmột người giới thiệu cho một người khác, sau đóngười này lại giới thiệu cho những người tiếp theo,những người tiếp theo đó đến lượt mình lại giới thiệuthêm nhiều người tiếp theo nữa Từ đó đã hình thànhmột suy nghĩ giản đơn về BHĐC, rất nhiều người nghĩrằng chỉ cần “lôi kéo” được người khác tham gia vàomạng lưới của mình là đã có được thu nhập, mà
không hiểu rằng thunhập chính có được là
do bán hàng và đào tạongười khác bán hàng.Trong mô hình “hìnhtháp ảo” thì thay vì bánhàng người ta kiếm tiềnbằng các chiêu dụngười tham gia như hứahẹn một mức hoa hồngcao nếu đóng tiền tham
Mô hình “hình tháp ảo”
-Một hình thức biến tướng của Bán hàng đa cấp
Trang 12VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN
gia mạng lưới và lôi kéo được người
tham gia khác Vì vậy, khi có một hứa
hẹn nào đó về khoản hoa hồng mà
chúng ta có thể thu được chỉ từ việc
giới thiệu thêm được người tham gia
vào mạng lưới thì đó chắc chắn là
“hình tháp ảo” Thực chất khi chúng ta
tham gia vào những công ty như vậy,
chúng ta phải bỏ ra một khoản tiền
ban đầu khá lớn, nếu chúng ta tìm
được một người mới vào thì sẽ được
công ty trả lại vào mức hoa hồng,
nhưng mức trả này bao giờ cũng nhỏ
hơn rất nhiều so với mức đã bỏ ra ban
đầu Chính vì vậy, người tham gia
càng phải cố gắng dụ dỗ được nhiều
người tham gia càng tốt để hy vọng
lấy lại được số tiền mình đã bỏ ra và
thu lợi từ những người tham gia tiếp
theo
Ép buộc người tham gia
mua hàng vượt quá khả
năng tiêu thụ
Khi người tham gia bán hàng đa
cấp phải mua một số lượng hàng hóa
quá lớn so với lượng hàng hóa mà họ
có khả năng bán được, hoặc mua
những sản phẩm mà ngay đến chính
bản thân họ cũng không biết nên sử
dụng vào mục đích gì thì đó là dấu
hiệu của mô hình “hình tháp ảo” Các
công ty hoat động theo kiểu này có
thể kiếm được rất nhiều tiền mà
không cần quan tâm họ đã bán lẻ
được món hàng nào hay chưa Trên
thế giới gọi đó là hiện tượng
“Inven-tory Loading”, tức là người tham gia
mạng lưới bán hàng đa cấp phải mua
lượng sản phẩm vượt quá khả năng
tiêu thụ của anh ta và mạng lưới của
anh ta Việc mua hàng này sẽ tạo ra
lượng tiền hoa hồng đủ để doanh
nghiệp chia cho người tham gia
mạng lưới bán hàng đa cấp ở các
tầng trên Mục đích thực khôngnhằm tiêu thụ sản phẩm mà nhằmtuyển người mới để ép họ mua hàngvới số lượng lớn, nhưng đa số họ sẽkhông thể sử dụng hết hoặc bán lạiđược, như vậy, việc bán hàng hoá chỉ
là vỏ bọc cho việc tuyển người Đó làdấu hiệu của bán hàng đa cấp bấtchính hay ”mô hình kim tự tháp ảo”
Những người tham gia mạng lưới trước luôn luôn
có thu nhập cao hơn người tham gia mạng lưới sau
Bạn đang tham gia bán hàng ởmột công ty bán hàng đa cấp mà ở
đó, người vào trước luôn luôn có thunhập cao hơn người tham gia sau thìbạn cần cân nhắc việc tiếp tục tham
gia, vì ở đó sẽkhông có sự bánhàng nào cả màthu nhập cóđược chỉ là nhờviệc tuyển thêmngười mới vàomạng lưới vôtận Một công tybán hàng đa cấpchân chính, thunhập của ngườitham gia dựavào kết quả bánhàng của anh ta
và mạng lưới doanh ta tổ chức,chứ không phụthuộc vào thời điểm tham gia trướchay sau
Yêu cầu phải mua một lượng hàng hoá ban đầu
Pháp luật nghiêm cấm doanhnghiệp bán hàng đa cấp yêu cầungười muốn tham gia phải đặt cọc,phải mua một số lượng hàng hoában đầu hoặc phải trả một khoảntiền để được quyền tham gia vàomạng lưới bán hàng đa cấp Tất cảcác hành động như yêu cầu ngườimuốn tham gia phải mua một lượnghàng nhất định để dùng thử, hoặcyêu cầu phải trả tiền để được quyềntham gia các buổi đào tạo, các khoáhuấn luyện các doanh nghiệp bánhàng đa cấp đều không được phépthực hiện
Sản phẩm
Sản phẩm được kinh doanh theophương thức bán hàng đa cấpthường là những sản phẩm có những
tính năng, cách sử dụng khác biệt sovới sản phẩm thông thường và cầnđược hướng dẫn trước khi sử dụng.Người tiêu dùng cần được các nhàphân phối đã được đào tạo các kiếnthức về sản phẩm hướng dẫn về cách
sử dụng, cũng như giới thiệu về tínhnăng công dung của từng sản phẩm
đó Các công ty này đảm bảo chochất lượng sản phẩm bằng cách mualại các sản phẩm này với mức giá ítnhất là 90% mức giá hàng hóa đãbán cho người tham gia Với mô hình
“hình tháp ảo” những sản phẩm đượclưu thông trong mạng lưới có thểđược bày bán tại các siêu thị, đại lý,khi đưa vào “hình tháp ảo” chúng sẽđược nâng giá lên nhiều lần Thôngtin về sản phẩm thường được nóiquá lên nhiều lần so với thực tế Đôikhi trong mô hình này không có sảnphẩm lưu thông mà chỉ tồn tại trêngiấy, hoặc một sản phẩm tượngtrưng nào đó
Đạo đức kinh doanh
Đó là những quy định do cáccông ty BHĐC chân chính đặt ra vàbuộc tất cả các nhà phân phối độclập phải tuân theo Ví dụ như nguyêntắc luôn cung cấp đúng và đủ thôngtin về sản phẩm cho khách
Trong hình tháp ảo, người thamgia chỉ cần có mã số hoạt động đểtìm kiếm và giới thiệu người tham giavào mạng lưới mà không cần quantâm tới sản phẩm có giá trị sử dụnghay không Chính vì thế thu nhập củangười chỉ có thể dựa trên đóng gópcủa người vào sau Đây là một hìnhthức lừa đảo và đến một lúc nào đó
sẽ tan vỡ
Việc hiểu rõ bản chất của hoạtđộng bán hàng đa cấp sẽ rất cầnthiết để có thể nhận biết các dấuhiệu của bán hàng đa cấp bất chính
và trên cơ sở đó có thể đề ra chínhsách quản lý thích hợp Luật cạnhtranh, Nghị định 110/2005/NĐ-CPcủa Chính phủ ngày 24/08/2005 vềquản lý hoạt động bán hàng đa cấp
đã góp phần tạo ra một hành langpháp lý chặt chẽ để hạn chế hoạtđộng bán hàng đa cấp bất chính, tạođiều kiện cho các doanh nghiệp bánhàng đa cấp hợp pháp hoạt động,nhằm bảo đảm quyền kinh doanhchính đáng của các doanh nghiệp,đồng thời bảo vệ được quyền lợichính đáng của người tiêu dùng
CCID – BAN V
Trang 13Luật Thương mại lành mạnh của Đài Loan
chính thức có hiệu lực từ ngày 04 tháng 02năm 1992 và đã được sửa đổi bổ sung đểphù hợp với chính sách phát triển của nền kinh
tế
Theo quy định của pháp luật cạnh tranhkhông lành mạnh Đài Loan, Hiệp hội thươngmại được định nghĩa là những tổ chức đượcthành lập để giải quyết những mối quan hệgiữa các doanh nghiệp trong ngành thươngmại, bảo vệ lợi ích chung của ngành và thúcđẩy sự phát triển kinh tế xã hội Do đó nhữnghoạt động của Hiệp hội thương mại và việc ápdụng Luật Thương mại lành mạnh vào nhữnghoạt động này là một vấn đề rất cơ bản Để hỗtrợ các Hiêp hội thương mại hiểu biết và nhằmthuận lợi hóa việc thực thi các tiêu chuẩn đượcquy định trong Luật Thương mại lành mạnh,
Ủy Ban thương mại lành mạnh đã nghiên cứuxem xét những quy phạm có liên quan đã đượcban hành của một số nước như: Hoa Kỳ, NhậtBản, Đức và Hàn Quốc và đã thảo luận, trao đổicác vấn đề liên quan với các chuyên gia, nhànghiên cứu, các đại diện của các hiệp hộithương mại, các cơ quan cạnh tranh của Chính
phủ; và tiếp đó là lấy ý kiến đóng góp từ nhândân để xây dựng các quy định điều chỉnh Hiệphội
Mục tiêu chính của việc xây dựng các quyđịnh điều chỉnh Hiệp hội là để hỗ trợ cho cácHiệp hội thương mại hiểu biết và tuân thủ cácquy định liên quan của Luật Thương mại lànhmạnh và tham gia đóng góp ý kiến cho Ủy Banthương mại lành mạnh trong việc điều tra xử
lý các vụ việc có liên quan
Theo bản tuyên bố chính sách của Ủy Banthương mại lành mạnh về hiệp hội thương mạiđược ban hành tại kỳ họp ủy viên lần thứ 89vào ngày 16 tháng 6 năm 1993 và được sửa đổi
bổ sung tại kỳ họp thứ 397 ngày 16 tháng 6năm 1999 và Thông tư số 01873 ngày 08 tháng
7 năm 1999, Hiệp hội thương mại bị xem là viphạm pháp luật thương mại lành mạnh nếuthực hiện các hành vi sau đây:
1 Hạn chế những doanh nghiệp tham gia
và rút lui khỏi một thị trường cụ thể
2 Thực hiện các hành vi sau đây gây hạnchế cạnh tranh trên thị trường và cản trở chứcnăng của thị trường:
Những hành vi của hiệp hội bị xem là vi phạm Luật Thương mại lành mạnh ở Đài Loan
TRANG QUỐC TẾ
Trang 14TRANG QUỐC TẾ
- Áp đặt hạn chế về loại hình, quy
cách hay hình thức của hàng hóa
hoặc dịch vụ như: phân biệt giữa loại
hình và quy cách của hàng hóa được
sản xuất hoặc dịch vụ được cung cấp,
trên cơ sở đó các thành viên sẽ hợp
tác theo tiêu chuẩn thống nhất về
hàng hóa và dịch vụ, hoặc tạo ra sự
độc quyền thông qua việc quyết định
thị trường sản phẩm; và thông qua
việc từ chối phê chuẩn và hạn chế
việc giao hàng hóa hoặc áp dụng thời
hạn đối với việc tiếp thị sản phẩm mới
- Hạn chế mở rộng khả năng sản
xuất hay quy mô dịch vụ: Hiệp hội
thương mại có thể cố tình hạn chế
việc mở rộng khả năng sản xuất bằng
việc áp đặt các hạn chế về trang bị lại
máy móc, mở rộng kinh doanh và lắp
đặt máy móc thiết bị mới của thành
viên và cố tình hạn chế mở rộng khả
năng sản xuất hay qui mô dịch vụ và
làm cản trở đến cạnh trên thị trường
bằng việc áp đặt những hạn chế về
quảng cáo, nhập khẩu công nghệ,
nghiên cứu và phát triển, lãnh thổ
kinh doanh, hạn chế việc thành lập và
hạn chế về tài sản vật chất của hoạt
động kinh doanh
- Hạn chế sản xuất, phân phối và
tiếp thị hàng hóa và cung ứng dịch
vụ: những hành vi này có thể vi phạm
thông qua các hình thức kiểm soát số
lượng như hạn ngạch, mức trần và
mức sàn của sản phẩm đầu ra, hàng
lưu kho, thời gian sản xuất, và việcmua nguyên vật liệu Bên cạnh việckiểm soát số lượng, còn có hành vikiểm soát chất lượng như các địnhchế về tiêu chuẩn hàng hóa được sảnxuất và tiếp thị và/hoặc cung cấp dịch
vụ Một số ví dụ về các hành vi mà cáchiệp hội thường vi phạm như sau:
+ Hiệp hội thương mại tổ chức tưvấn cho các thành viên về việc giảmsản xuất chẳng hạn như hình thức tưvấn cho doanh nghiệp cho lao độngnghỉ việc hàng loạt, gây ra nhữngbiến động về giá;
+ Áp đặt của Hiệp hội về hạn chế
ký gửi hàng hóa trên cơ sở áp đặt một
hệ thống hạn ngạch;
+ Hiệp hội thành lập các hợp tác
xã để tập trung thu mua hàng hóa với
số lượng lớn và sau đó quy định giábán và các hoạt động khác theo thỏathuận;
- Các thành viên thiết lập, thảoluận, tuyên bố hay thay đổi thỏathuận về giá cả hàng hóa được bánhoặc phí dịch vụ được cung cấp
- Các hành vi áp đặt hạn chế vềlãnh thổ thương mại hay đối tácthương mại có liên quan đến hànghóa hay dịch vụ được cung cấp bởicác thành viên như:
+ Áp đặt hạn chế, thông qua kếhoạch phân vùng hay tiêu chuẩnhành động được đồng thuận chung
về lãnh thổ thương mại của các thànhviên hay đối tác thương mại của cácthành viên;
+ Áp đặt hạn chế đối với việc đặthàng và tiêu chí về tư cách dự thầu;+ Áp đặt hạn chế về đối tácthương mại của thành viên hay ngườitiêu dùng bằng việc phân chia cácthành viên thành các tầng lớp khácnhau một cách tùy tiện và khôngtheo tiêu chuẩn hợp lý hay cụ thểnào
- Cùng nhau quy định các điềukiện bán hàng, dịch vụ, và thanh toánchẳng hạn như các quy định liênquan đến việc tiêu chuẩn hóa cácđiều kiện hợp đồng, hạn chế lẫn nhautrong việc quy định cách thức thu phí,cách cung cấp dịch vụ, thời hạnthanh toán, điều kiện thanh toán, nơigiao hàng, phương thức giao hàng,
và thời hạn, phạm vi, và các loại hìnhdịch vụ sau bán hàng
3 Kết thúc các thỏa thuận hay hợpđồng quốc tế dựa trên những hạn chếthương mại bất hợp lý hay các hành vithương mại không lành mạnh
4 Phân biệt đối xử giữa các thànhviên hoặc vi phạm các hành vi cạnhtranh không lành mạnh khác
5 Các hành vi thỏa thuận bất hợp
lý khác gây hạn chế cạnh tranh trênmột thị trường cụ thể
LÊ VĂN THÁI
thường xuyên trong đời sống kinh tế
và đang gây bức xúc cho người tiêu
dùng Liên quan tới vấn đề này, cách
thức ứng xử của cơ quan quản lý cạnh
tranh trong các trường hợp cụ thể sẽ
như thế nào vì đây là một vấn đề
mang cả yếu tố định tính bên cạnh
yếu tố định lượng
Bà Nguyễn Thúy Hạnh đến từ
công ty Luật Frasers lại cho rằng liên
quan đến vấn đề Quảng cáo của các
doanh nghiệp chỉ là giải thích về
công nghệ sản phẩm để người tiêu
dùng lựa chọn chứ không phải là
hình vi cạnh tranh không lành mạnh
dẫn tới việc phân định giữa lành
mạnh và không lành mạnh cũng rất
mong manh, do vậy cần xây dựng các
văn bản hướng dẫn thực thi Luật cụ
thể trong từng ngành nhằm nâng
cao hiệu quả thực thi Luật
Theo Bà Lê Thị Kim Hồng đến từ
Công ty Unilever Việt Nam thì Quảngcáo đưa thông tin rất mạnh đếnngười tiêu dùng và người tiêu dùngViệt Nam hiện nay rất tin vào Quảngcáo Để xử lý vấn đề trong vụ việc liênquan đến cạnh tranh không lànhmạnh nói chung và Quảng cáo nóiriêng mà đi theo trình tự tố tụng thìDoanh nghiệp không lựa chọn theohướng đó do trình thủ tục khôngthuận lợi cho Doanh nghiệp Nếu cósửa đổi Luật thì nên sửa đổi trình tựtheo hướng đơn giản và tạo điều kiệnhơn cho các doanh nghiệp
Phần thảo luận đã diễn ra trongkhông khí sôi nổi và cởi mở Các đạibiểu đã thẳng thắn nêu ra quan điểm
và kiến nghị nhằm tạo môi trườngpháp lý minh bạch, công bằng vềcạnh tranh lành mạnh, góp phần tạođiều kiện cho doanh nghiệp pháttriển đóng góp vào sự phát triểnchung của nền kinh tế Buổi Tọa đàmđược đánh giá là thành công vớinhững kinh nghiệm và bài học đượcrút ra đối với việc thực thi và triển khai
luật ở Việt Nam cũng như nhữngcảnh báo đối với hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp trong bốicảnh cạnh tranh gay gắt hiện nay Đểxây dựng và triển khai một hệ thốngpháp luật cạnh tranh chặt chẽ và hiệuquả đòi hỏi phải có khoảng thời giantương đối dài, do đó nhất thiết phảichú trọng tăng cường xây dựng thểchế và nguồn lực con người bắt kịpyêu cầu phát triển của nền kinh tế Như vậy, các buổi tọa đàm sẽ làmột diễn đàn mở cho các nhà quản
lý, các tổ chức, Doanh nghiệp cũngnhư các cá nhân quan tâm đến luật vàchính sách cạnh tranh trao đổi, thảoluận, đúc kết kinh nghiệm, qua đógóp phần đưa Luật Cạnh tranh vàođời sống kinh tế - xã hội một cáchrộng rãi và thường xuyên hơn Cáckhuyến nghị, đề xuất của các đại biểu
sẽ tiếp tục được nghiên cứu và đem
ra trao đổi ở các chương trình tọađàm sau
THANH HƯƠNG
Tọa đàm “Chế định cạnh tranh
(Tiếp theo trang 7)
Trang 15Nhật Bản là một trong những
quốc gia đi đầu trong việc ban
hành Luật và Chính sách cạnh
tranh, sau khi Chiến tranh Thế giới thứ
hai kết thúc, dưới áp lực của các nước
Đồng minh các biện pháp dân chủ
hoá được áp dụng trên mọi lĩnh vực
đời sống ở Nhật Bản, trên cơ sở đó
tháng 7 năm 1947 Đạo luật về chống
độc quyền tư nhân và duy trì thương
mại lành mạnh (Luật chống độc
quyền) được ban hành Đạo luật bao
gồm 12 Chương, 118 Điều bao gồm:
các quy định chung, quy định về cấm
các hành vi độc quyền hoá tư nhân;
hiệp hội thương mại; kiểm soát cổ
phiếu, mua bán sáp nhập, hợp nhất,
chia tách doanh nghiệp; các hành vi
thương mại không lành mạnh; cơ
quan thực thi luật chống độc quyền
và các quy định liên quan đến tố
tụng, hình phạt, điều tra đối với các
trường hợp vi phạm hình sự…
Tại Chương 5 của Luật chống độc
quyền, Điều 19 cấm các hành vi
thương mại không lành mạnh “Các
doanh nghiệp không được thực hiện
các hành vi thương mại không lành
mạnh”, Điều 20 quy định về các biện
pháp chống lại các hành vi thương
mại không lành mạnh “Khi một
doanh nghiệp có hành động vi phạm
quy định cấm tại Điều 19, Ủy ban
Thương mại lành mạnh sẽ yêu cầu
doanh nghiệp ngừng và chấm dứt
ngay các hành vi đó như xoá bỏ các
điều khoản liên quan trong hợp đồng
ký kết và phải tiến hành các biệnpháp cần thiết để loại bỏ các hành vinói trên theo đúng quy định củaPháp luật”
Các hành vi thương mại khônglành mạnh theo quy định của Luậtchống độc quyền Nhật Bản được hiểu
là bất kỳ hành động nào có xu hướngngăn cản cạnh tranh lành mạnh vàđược Ủy ban Thương mại lành mạnhNhật bản xác định như sau:
- Từ chối giao dịch: Cấm một sốdoanh nghiệp liên kết với nhau để từchối kinh doanh với một hoặc một sốdoanh nghiệp nhất định khác;
- Phân biệt đối xử không hợp lýchống lại các chủ thể kinh doanhkhác bằng cách giảm giá hoặc có sựđối xử đặc biệt với khách hàng củađối thủ cạnh tranh, nhằm loại bỏ đốithủ cạnh tranh;
- Mua bán với giá bất hợp lý: Muabán với giá thấp bất hợp lý là việcmua/bán hàng hoá hoặc dịch vụ nào
đó một cách liên tục với mức giá thấphơn chi phí sản xuất một cách quámức nhằm gây khó khăn trong hoạtđộng kinh doanh của các chủ thểkinh doanh khác; hoặc mua với mứcgiá cao bất hợp lý nhằm mục đích gâykhó khăn cho đối thủ cạnh tranh;
- Buộc đối tác phải giữ nguyên giábán lại như đã được bên bán quyđịnh hoặc hạn chế đối tác đượcquyền tự do quyết định giá bán lạitheo một cách nào đó;
- Lạm dụng vị thế mặc cả củamình để giao dịch với khách hàngnhư yêu cầu được trả chậm, ép buộctrong mua bán, yêu cầu không đượctrả lại hàng đã mua, yêu cầu góp vốnkinh doanh,…
- Can thiệp một cách vô lý tới giaodịch giữa một chủ thể kinh doanhđang cạnh tranh hay với một công ty
mà chủ thể kinh doanh đó là một cổđông hay một nhân viên và bên giaodịch khác của họ, hoặc trong trườnghợp chủ thể kinh doanh đó là mộtcông ty thuyết phục, bắt buộc hoặcxúi giục một cách không lành mạnhmột cổ đông hay nhân viên của công
ty đó phải hành động ngược lại với lợiích của công ty đó,…
Tại Nhật Bản, chế tài đối với cáchành vi thương mại không lànhmạnh bao gồm: Lệnh yêu cầu bãi bỏcác hành vi vi phạm, trách nhiệm bồithường thiệt hại
TRUNG THƯỚNG
(Theo JFTC)
Các hành vi thương mại không lành mạnh theo quy định của Nhật Bản
Trang 16TRANG QUỐC TẾ
người tiêu dùng trung bình” trong các
án lệ Theo diễn giải của Tòa án vềlượng người tiêu dùng trung bìnhbao gồm những người nhận đượcthông tin tốt, được quan sát một cáchhợp lý và thận trọng; có tính đến cácyếu tố về ngôn ngữ, văn hóa và xãhội Ở hầu hết các nước EU, Tòa ánquốc gia vẫn đang sử dụng kỹ thuậtđiều tra lượng người tiêu dùng trungbình Đây không phải là kỹ thuật điềutra thống kê Tòa án và các cơ quanquốc gia thành viên sẽ phải thực hiệnphán quyết riêng của họ và phải xemxét án lệ của Tòa EU để xem xét sựphản ứng điển hình của một ngườitiêu dùng hợp lý trong mỗi vụ việcnhất định
Các dấu hiệu gây nhầm lẫn của hành vi thương mại
Các dấu hiệu gây nhầm lẫn xuấthiện trong những hoạt động mà cácthương nhân thực hiện trong khuyếnmại và bán sản phẩm của họ Mộthành vi thương mại được xem là gâynhầm lẫn nếu nó chứa đựng thôngtin sai lệch dẫn đến không trung thựchoặc bằng cách thức nào đó, có thểtrong toàn bộ bài thuyết trình mangnội dung lừa gạt hoặc có khả nănglừa gạt người tiêu dùng và gây rahoặc có khả năng gây ra cho ngườitiêu dùng thực hiện quyết định giaodịch trong khi anh ta/chị ta khôngmuốn
Những sai sót gây nhầm lẫn trong hành vi thương mại
Những sai sót có liên quan đến sựkiện mà người tiêu dùng cần thôngtin để đưa ra quyết định lựa chọnđúng đắn cho mình Thương nhâncần phải cung cấp thông tin cần thiếtđến người tiêu dùng Những sai sótgây nhầm lẫn xảy ra nếu như: thươngnhân bỏ qua việc cung cấp nhữngthông tin cần thiết cho lượng ngườitiêu dùng trung bình cần biết để đưa
ra quyết định giao dịch đúng đắntrong từng hoàn cảnh nhất định;
thương nhân che đậy hoặc cung cấpthông tin cần thiết theo cách thứckhông rõ ràng, khó hiểu, lưỡng nghĩahoặc không kịp thời; dẫn đến không
thể nhận biết được mục đích thươngmại của hành vi thương mại trongtừng hoàn cảnh nhất định
Việc đánh giá hành vi sai sót cầnxem xét đến các khía cạnh như: phạm
vi ảnh hưởng của hành vi thương mại(có thể bao gồm toàn bộ bài thuyếttrình bán hàng); thông tin có đượcthể hiện rõ ràng hay không (bàithuyết trình không rõ ràng ý nghĩatương ứng với việc cung cấp thôngtin sai sót); những thông tin cần thiếtkhi thực hiện chào hàng (thông tin vềđặc tính của sản phẩm, giá cả, địa chỉ
và chi tiết nhận biết của thươngnhân); tiêu chuẩn của thông tin (theoquy định của pháp luật) và cácphương tiện được sử dụng để truyềntải thông tin về các hành vi thươngmại đến người tiêu dùng
Những hành vi thương mại mang tính chất công kích
Việc đưa những hành vi thươngmại mang tính chất công kích vàovăn bản pháp luật là điểm mới ở EU.Một hành vi thương mại đượcxem là mang tính chất công kích nếu
sự tự do lựa chọn của lượng ngườitiêu dùng trung bình hoặc đạo đứccủa người tiêu dùng bị tổn hại đáng
kể Chỉ thị về các hành vi thương mạikhông lành mạnh có quy định mộtdanh mục tiêu chuẩn để hỗ trợ việcquyết định xem một hành vi thươngmại có mang tính chất công kích haykhông thể hiện thông tin như sự épbuộc, sự quấy rối bao gồm cả bạo lực
và sự tác động thái quá đến ngườitiêu dùng chẳng hạn như lợi dụng vịthế đối với người tiêu dùng, gây áplực cho người tiêu dùng dưới hìnhthức mà có thể hạn chế đáng kể khảnăng ra quyết định đúng đắn củangười tiêu dùng
Nhận biết các hành vi thương mại không lành mạnh
EU đưa ra hai tiêu chí được sửdụng để nhận biết một hành vithương mại không lành mạnh màkhông thuộc nhóm các hành vi “gây
Quy định của EU về
các hành vi thương mại không lành mạnh
(Xem tiếp trang 21)
Trước đây ở EU, khái niệm
“một hành vi thương mại
không lành mạnh” có nhiều
khác biệt giữa các quốc gia
thành viên Nhưng hiện
nay, hành vi này được nhìn
nhận theo tiêu chí giống
nhau trên toàn EU do có sự
ra đời của “Chỉ thị về các
hành vi thương mại không
lành mạnh” được EU thông
qua vào tháng 5 năm 2005
và được áp dụng chung trên
toàn EU vào ngày 12 tháng
12 năm 2007 Quy định này
tế cho thấy hầu hết các
hành vi được xem là không
ra hoặc có khả năng gây ra
dựa trên cơ sở “lượng người
tiêu dùng trung bình”.
EU xác định tiêu chí
“lượng người tiêu dùng
trung bình” như thế nào?
Nếu một hành vi thương mại
hướng vào một nhóm người tiêu
dùng cụ thể thì một số lượng trung
bình của nhóm người tiêu dùng đó là
mức “chuẩn” Việc xác định tính chất
lành mạnh hay không lành mạnh của
một hành vi thương mại lúc đó được
đánh giá dựa trên mức chuẩn này Tòa
án EU thường tham chiếu “lượng