1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn nâng cao sức hấp dẫn của bộ môn sinh học đối với học sinh

34 876 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 61,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với dạy học tích cực, người giáo viên đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn để học sinh thực hiện các hoạt động học tập khám phá kiến thức.. Đối với những tình huống sư phạm khó, giáo viên rất

Trang 1

có nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Tính tích cực nhận thức trong hoạt động học tập liên quan trước hết với động cơ học tập Động cơ đúng tạo ra hứng thú Hứng thú là tiền đề của tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu

tố tạo nên tính tích cực Như vậy, việc cần làm trước hết là tăng cường sự hứng thú của học sinh trong học tập, từ đó nâng cao tính tự giác Chỉ có như vậy thì mới thực hiện được nhiệm vụ dạy học

2 Cơ sở thực tiễn

Trước tình hình chung hiện nay, việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống ngày càng được quan tâm và mở rộng Kinh tế phát triển, cuộc sống của con người ngày một nâng cao Do đó, việc trang bị cho người học những kiến thức cơ bản về kĩ năng sống, sinh hoạt trong gia đình

và thái độ tích cực trong việc xây dựng và bảo vệ môi trường xung quanh là điều rất cần thiết Để đạt được mục tiêu đó thì mỗi giáo viên cần phải định hướng đào tạo và bồi dưỡng cho học sinh ý thức, thái độ tích cực trong nhiều môn học khác nhau Môn Sinh học là một trong những môn học có nhiều ứng dụng trong thực tiễn cuộc sống, kiến thức của môn học này phục

vụ cho nhiều chuyên ngành khác phát triển Vì vậy, một việc rất cần thiết là ngay từ cấp cơ sở hệ thống trường THCS, giáo viên phải nghiên cứu khám

Trang 2

phá để nâng cao phương pháp trong một giờ dạy, tạo cho các em có hứng thú, say mê và yêu thích bộ môn học này.

Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi chọn và nghiên cứu về đề tài “Nâng cao sức hấp dẫn của bộ môn Sinh học đối với học sinh” trong quá trình dạy môn

sinh học tại trường THCS

II Mục đích của đề tài

Đề tài đưa ra những biện pháp nhằm nâng cao sự hứng thú học tập của học sinh đối với môn Sinh học, được thực hiện thông qua việc tăng cường sự hấp dẫn của bộ môn đối với học sinh, thông qua đó hướng đến việc nâng cao chất lượng bộ môn; cung cấp tư liệu cho giáo viên tham khảo và vận dụng vào công tác giảng dạy

III Đối tượng nghiên cứu

Những biện pháp nhằm nâng cao sức hấp dẫn của bộ môn Sinh học đối với học sinh cấp THCS

IV Giới hạn của đề tài

Môn Sinh học cấp THCS chia theo 4 khối lớp, mỗi khối đi sâu nghiên cứu những mảng kiến thức riêng Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài, tôi xin tập trung vào những biện pháp nhằm nâng cao sức hấp dẫn của bộ môn trong chương trình sinh học khối lớp 9

B NỘI DUNG

Trang 3

I Thực trạng nghiên cứu

Sinh học là bộ môn khoa học gắn liền với cuộc sống Khi tìm hiểu và nghiên cứu về bộ môn này, học sinh sẽ càng thấy yêu thiên nhiên, đất nước và con người hơn Chương trình sinh học THCS gồm nhiều phần kiến thức khác nhau, với mỗi phần kiến thức đó đều có thể bắt gặp nhiều ví dụ, hình ảnh sinh động từ thực tế Điều này muốn nói môn Sinh học có sức hấp dẫn rất lớn đối với học sinh

Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy ở các trường THCS, vị trí của bộ môn

và tình yêu của học sinh đối với bộ môn còn rất hạn chế Rất dễ thấy thực trạng học sinh thờ ơ với môn học Đối với học sinh khối lớp 6, nguyên nhân là do các em bắt đầu làm quen với phương pháp học tập mới, số lượng môn học tăng lên nhiều dẫn đến sự kém thích nghi Đối với những học sinh của các khối lớp còn lại, sự thờ ơ đến từ quan niệm xem bộ môn này là môn phụ, không giữ vai trò quan trọng, vì vậy các em không chú ý cũng như không đầu tư nhiều thời gian để học và tìm hiểu

Một lí do khác dẫn đến học sinh chưa thích học môn Sinh học xuất phát

từ phía giáo viên Sự kém dầu tư về giáo án, phương pháp giảng dạy cũng như chưa tạo ra được môi trường học tập thân thiện càng làm tăng thêm sự nhàm chán trong mỗi tiết học

Những lí do trên đã góp phần giải thích cho kết quả chưa cao của bộ môn, sự thiếu nhiệt tình, thiếu tích cực và tự giác từ phía học sinh trong mỗi giờ học

II Đề xuất giải quyết thực trạng

Trang 4

Để nâng cao sức hấp dẫn của bộ môn Sinh học đối với học sinh, tôi xin nêu một số đề xuất sau:

- Nâng cao hơn nữa lòng yêu nghề từ phía người thầy

- Tạo không khí học tập thoải mái

- Đa dạng hóa các hoạt động học tập của học sinh

- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

- Tăng cường công tác độc lập của học sinh

- Gắn kiến thức với thực tiễn

- Dạy học đảm bảo tính vừa sức, chú ý tới đặc điểm cá biệt và tính tập thể trong quá trình dạy học

III Nội dung

1 Nâng cao hơn nữa lòng yêu nghề từ phía người thầy

Trong hoạt động dạy - học, hai nhân tố không thể thiếu đó là giáo viên

và học sinh Với dạy học tích cực, người giáo viên đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn để học sinh thực hiện các hoạt động học tập khám phá kiến thức Không phải là người trực tiếp chỉ ra kiến thức, giáo viên chỉ ra con đường để học sinh khám phá kiến thức mới

Có nhiều cách để học sinh tiếp cận với kiến thức mới, nhưng để kiến thức đến một cách tự nhiên, dễ hiểu và lưu lại trong bộ nhớ lâu nhất đòi hỏi người giáo viên phải có sự nghiên cứu, suy nghĩ và lựa chọn ra cách thức phù hợp với đối tượng học sinh của mình Điều đó chỉ thực hiện được khi giáo viên phải say sưa với nghề nghiệp, dành tình yêu cho công việc cũng như cho các

Trang 5

em học sinh Rõ ràng khi có tình yêu với công việc đang làm thì chúng ta sẽ tận tụy hơn và cống hiến hết mình hơn Bản thân các em học sinh khi cảm nhận được tình yêu nghề từ phía người thầy của mình thì các em sẽ có thêm nhiều động lực và học tập được nhiều điều từ niềm say mê đó.

Như vậy, lòng yêu nghề từ phía người thầy sẽ làm nên sức mạnh tác động đến tình cảm và thái độ học tập của học sinh Học sinh từ chỗ thờ ơ với môn học tiến đến để ý hơn một chút qua việc thầy truyền cảm hứng và tiếp theo là sự quan tâm rõ rệt Làm được như vậy là người thầy đã thành công một nửa trên con đường dẫn học sinh đến với kiến thức

Làm thế nào để có thể nâng cao lòng yêu nghề? Mỗi người giáo viên khi

đã đặt ra câu hỏi này chắc chắn sẽ có câu trả lời riêng cho chính mình

2 Tạo không khí học tập thoải mái

Bất kì một công việc nào muốn có kết quả cao đều cần có một môi

trường làm việc thuận lợi Môi trường đó không đơn thuần là không khí trong sạch để hít thở, là nguồn ánh sáng phù hợp để nhìn rõ mà còn là sự thân thiện, hòa đồng trong mối quan hệ với những người xung quanh Một giờ học quá gò

bó, căng thẳng sẽ khó kích thích được tư duy sáng tạo của học sinh, khiến học sinh nhanh chóng cảm thấy nhàm chán Vì vây, người giáo viên cần tạo ra cho học sinh một không khí học tập thoải mái nhất trong mỗi giờ lên lớp

Một số cách tạo không khí học tập thoải mái cho học sinh như sau:

2.1 Thay đổi cách kiểm tra bài cũ

Thông thường, phần kiểm tra bài cũ được giáo viên tiến hành ở đầu giờ Đây là việc làm theo đúng tiến trình dạy học Tuy nhiên, sự lặp đi lặp lại cách làm đó sẽ khiến học sinh nhàm chán, đôi khi gây áp lực, tạo sự căng thẳng cho

Trang 6

học sinh trong suốt tiết học hôm đó Chúng ta có thể lồng ghép các câu hỏi kiểm tra kiến thức đã học trong quá trình dạy bài mới ở nhiều bài để làm giảm bớt đi sự căng thẳng không đáng có.

VD 1: Khi dạy mục III bài 5 - Menđen giải thích kết quả thí nghiệm, giáo viên có thể lồng ghép câu hỏi kiểm tra bài cũ bằng cách:

Giáo viên yêu cầu học sinh cho biết: cây đậu Hà Lan hạt vàng, trơn có thể có những kiểu gen nào? Làm cách nào để có thể xác định kiểu gen của các cây đậu có hạt vàng, trơn đó? → kiểm tra kiến thức của học sinh về phép lai phân tích

VD 2: Khi dạy mục I bài 17 - ARN, sau khi tìm hiểu xong về cấu trúc hóa học của phân tử ARN, giáo viên yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi: Em hãy

so sánh cấu trúc hóa học của ARN với cấu trúc hóa học của ADN → kiểm tra kiến thức của học sinh về cấu trúc hóa học của phân tử ADN

2.2 Thay đổi cách đặt vấn đề vào bài mới

Đặt vấn đề vào bài cũng giống như khi chúng ta viết phần mở bài cho một bài văn Bài văn có gây ấn tượng, tạo hứng thú cho người đọc hay không phụ thuộc rất nhiều vào phần mở bài Nếu chúng ta được đọc những câu mở đầu chứa đựng nhiều âm thanh, hình ảnh hay gợi nhiều vấn đề khác nhau, kích thích sự tò mò tìm hiểu xem những phần tiếp theo sẽ có điều gì mới thì chắc chắn sự theo dõi sẽ không chỉ dừng lại ở đó Trong một giờ học cũng vậy, nếu ngay từ phần đặt vấn đề giáo viên đã tạo ra sự hứng thú, vui tươi cho học sinh thì chắc chắn trong những phút tiếp theo các em sẽ hào hứng, phấn chấn và nhiệt tình hơn với những hoạt động do giáo viên tổ chức

Trang 7

Giáo viên thường đơn giản hóa phần đặt và dẫn dắt vấn đề để vào bài mới bằng cách nêu tên bài học hôm nay là gì, tiết học hôm nay là tiết bao

nhiêu Rõ ràng là tên bài học cũng như số tiết chưa đủ nếu không muốn nói là hầu như không có tính hình ảnh, nhạc điệu hay kích thích trí tò mò của học sinh Vậy nên khó trách việc “đầu không xuôi nên đuôi không lọt”

Một số cách để có phần dẫn dắt vào bài mới hấp dẫn hơn:

- Mở đầu bằng một câu hát

VD: Khi mở đầu cho bài 1 - Menđen và Di truyền học, giáo viên có thể bắt nhịp cho cả lớp hát bài “Cả nhà thương nhau”: “Ba thương con vì con giống mẹ, mẹ thương con vì con giống ba Cả nhà ta cùng thương yêu nhau Xa

là nhớ, gần nhau là cười.” Tại sao con lại mang những đặc điểm giống cha và giống mẹ? Di truyền học gọi tên hiện tượng đó là gì? Chúng ta cùng tìm hiểu qua nội dung của bài hôm nay

- Mở đầu bằng một câu truyện vui

VD: Mở đầu cho bài 2 - Lai một cặp tính trạng, giáo viên yêu cầu học sinh cho biết: Da trắng và da đen có phải là có phải là một cặp tính trạng tương phản không? HS trả lời

GV kể cho học sinh nghe câu truyện vui:

Hai chàng sinh viên nói chuyện với nhau

Sinh viên 1: “Đố cậu, Bao Công mà lấy Bạch Tuyết thì sinh ra con có da như thế nào?”

Cậu sinh viên 2 suy nghĩ (Giáo viên cho học sinh đoán về câu trả lời của cậu sinh viên 2)

Trang 8

Cậu sinh viên 2 gãi đầu gãi tai: “Tớ chịu thôi! Khó quá!”

Cậu sinh viên 1 cười: “Dễ thế mà cậu không biết, nếu Bao Công mà lấy Bạch Tuyết thì sẽ sinh ra Lọ Lem.” → Giáo viên dẫn dắt tiếp: về mặt di truyền học thì câu trả lời của cậu sinh viên 1 có đúng không? Chúng ta cùng tìm hiểu qua nội dung bài hôm nay

- Mở đầu bằng một đoạn phim hay hình ảnh

VD: Khi dẫn dắt vào bài mới bài 44 - Ảnh hưởng lẫn nhau giữa các sinh vật, giáo viên có thể cho học sinh theo dõi một đoạn phim ngắn về thế giới động vật trong tự nhiên → GV yêu cầu học sinh kể tên những sinh vật quan sát được qua đoạn phim, dẫn dắt vào bài: các sinh vật trong đoạn phim trên được gắn bó với nhau bằng nhiều mối quan hệ Tên gọi của các mối quan hệ đó

là gì? Chúng ta cùng tìm hiểu nội dung bài hôm nay

Một điều cần lưu ý là: đặt vấn đề hay góp phần là tăng tính hấp dẫn cho bài học, tạo hứng thú cũng như làm cho không khí học tập trở nên thoải mái hơn Tuy nhiên, giáo viên cũng cần chú ý đến thời gian cho phần đặt vấn đề để tránh ảnh hưởng đến thời lượng dành cho bài mới Cần lựa chọn cách đặt vấn

đề cho phù hợp với nội dung của từng bài, sát với những yêu cầu cần giải quyết trong mỗi bài học để những điều đã đưa ra sẽ liên quan đến kiến thức một phần hoặc xuyên suốt nội dung bài học

2.3 Người giáo viên cần thay đổi trong cách giao tiếp với học sinh

Trong hoạt động dạy học luôn đòi hỏi sự tương tác qua lại thường xuyên giữ thầy và trò, giữa trò với trò Ở đây, chúng ta nhấn mạnh vào quá trình

tương tác giữa thầy với trò Về phương diện chung, quá trình giao tiếp sẽ mang lại hiệu quả cao khi những đối tượng giao tiếp có sự tôn trọng, quan tâm và

Trang 9

chia sẻ với nhau một cách chân thành nhất Một trong những điều kiện để học sinh có thể học sâu là các em phải có cảm giác thoải mái Và một trong những yếu tố giúp mang lại cảm giác thoải mái cho các em là khi các em cảm thấy mình được tôn trọng Hơn ai hết, người giáo viên phải nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên đối với công tác giáo dục Khi cảm thấy mình được tôn trọng có nghĩa là các em sẽ thêm phần tự tin vào bản thân mình, sẽ đáp lại bằng thái độ tôn trọng, yêu quý đối với thầy cô, nhờ đó mà cũng sẽ yêu thích hơn bộ môn những thầy cô giáo đó đang giảng dạy.

Nói đến giao tiếp giữa những người làm công tác giáo dục và được giáo dục trong nhà trường nhằm giải quyết các tình huống sư phạm nảy sinh trong hoạt động giáo dục và giáo dưỡng là đang đề cập đến ứng xử sư phạm Hoạt động ứng xử có được là nhờ ở sự xuất hiện những tình huống trong hoạt động giáo dục Giao tiếp sư phạm và ứng xử sư phạm đều nhằm đạt tới mục đích nào

đó về giáo dục, song cái khác trong ứng xử sư phạm chính là thái độ mang màu sắc cá nhân và thủ thuật biểu hiện thái độ đó qua từng cử chỉ, lời nói, sắc mặt,

… của các chủ thể tham gia ứng xử

Trong quá trình giao tiếp với học sinh, người giáo viên cần có thái độ nhẹ nhàng, vui vẻ, tạo cho học sinh cảm giác được yêu thương nhưng khi cần vẫn phải nghiêm khắc để học sinh hiểu được giới hạn của sự thoải mái Đối với những tình huống sư phạm khó, giáo viên rất cần giữ bình tĩnh để tránh những ứng xử nóng vội làm phá vỡ sự thân thiện, không khí thoải mái đã được xây dựng trong suốt giờ học, đồng thời không được để học sinh cảm thấy mình bị xúc phạm hoặc thiếu tôn trọng, nếu điều này xảy ra thì sẽ cần một thời gian rất dài để học sinh có thể lấy lại được sự tin tưởng, tình yêu đối với người thầy Như K.D.Usinxki đã từng viết: “Trong nhà trường cần thiết phải có sự nghiêm khắc và vui vẻ nhưng không nên biến tất cả mọi việc thành trò đùa Mềm mỏng

Trang 10

phải nghiêm túc, danh dự cần có sự theo dõi, lòng nhân từ không được yếu đuối, sự quy củ không được cầu kỳ Điều cơ bản là hoạt động của lí trí phải được thường xuyên”.

Để có thể làm chủ và xử lí tốt các tình huống sư phạm xảy ra trên lớp học, để có được quá trình giao tiếp mang lại hiệu quả đòi hỏi người giáo viên phải không ngừng học tập, rèn luyện bản thân về mọi mặt Chỉ có như vậy thì người giáo viên mới có đủ bản lĩnh và kinh nghiệm để giải quyết tốt các tình huống sư phạm cũng như chiếm được sự tin yêu từ phía học trò

3 Đa dạng hóa các hoạt động học tập của học sinh

Quá trình dạy học gồm một chuỗi dài những hoạt động nối tiếp nhau, trong mỗi hoạt động học sinh phải thực hiện những nhiệm vụ riêng biệt để đạt được mục tiêu nhất định nào đó Thử hình dung nếu tất cả các hoạt động đều được diễn ra theo cùng một cách, tại cùng một địa điểm với những phương tiện giống nhau thì liệu có mang lại sự thích thú cho học sinh, có khơi dậy được tư duy sáng tạo và tính tích cực của học sinh không?

Một trong năm yếu tố thúc đẩy dạy và học tích cực là mức độ và sự đa dạng các hoạt động học tập của học sinh Như vậy, sự đa dạng các hoạt động học tập là một động lực thúc đẩy hứng thú, lòng nhiệt tình từ phía người học Dưới đây là một số lưu ý và ví dụ cụ thể khi thiết kế các hoạt động học tập nhằm tăng tính hấp dẫn cho bài dạy

3.1 Đổi mới khâu soạn bài và thiết kế các hoạt động dạy học

Giáo án của giáo viên giống như bức tranh thu nhỏ về lớp học cùng các hoạt động diễn ra trong giờ học đó được sắp xếp theo ý tưởng của giáo viên Ngay từ khâu soạn bài, giáo viên cần phải tư duy để thiết kế những hoạt động

Trang 11

của thầy - của trò sao cho phù hợp nhất với mỗi mục tiêu cần đạt được của bài học Thiết kế trên bài soạn càng chi tiết bao nhiêu thì sẽ càng sát với những diễn biến thực trên thực tế lớp học bấy nhiêu, nhờ đó giáo viên càng thêm chủ động và tự tin.

Trước hết, giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung của bài học trong SGK, kết hợp nghiên cứu những tài liệu tham khảo khác như sách giáo viên, sách thiết kế bài giảng, sách chuyên ngành,… để chỉ ra được mục tiêu chính là

những yêu cầu về kiến thức, kĩ năng và thái độ cần hướng học sinh tìm hiểu và đạt được Đây là công việc rất quan trọng, việc thiết kế các hoạt động sau này phụ thuộc vào những mục tiêu đang được hướng đến để có cách khai thác phù hợp

Tiếp theo, giáo viên xác định số lượng hoạt động, hình thức tổ chức và nội dung các hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu ở trên Việc thay đổi đa dạng các hoạt động học tập của học sinh là cần thiết để góp phần tạo ra sự hứng thú, tránh nhàm chán đơn điệu Tuy nhiên, đa dạng hóa không có nghĩa là trong bài soạn nào cũng tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh hoặc nội dung nào cũng đem ra thảo luận Với mỗi yêu cầu cần đạt được trong mỗi mục, giáo viên có thể đưa ra những hướng thiết kế hoạt động khác nhau Tuy nhiên, để hướng đến sự thích thú, say mê của học sinh với mỗi hoạt động đó thì giáo viên cần lựa chọn cách tổ chức phù hợp nhất, làm sao để học sinh phát huy tối đa khả năng và hiểu biết của bản thân, đồng thời có sự liên kết chặt chẽ với tập thể

Trong quá trình thiết kế, giáo viên nên có sẵn những dự kiến và phương

án giải quyết cho những tình huống không theo ý muốn có thể xảy ra để có thể chủ động điều chỉnh nhằm tránh sự lúng túng, kéo dài thời gian, thậm chí là không đạt được các mục tiêu đã đề ra

Trang 12

3.2 Chuẩn bị các đồ dùng dạy học chu đáo

Các đồ dùng dạy học là kênh quan trọng để học sinh khai thác, phát hiện kiến thức mới hoặc củng cố kiến thức đã học Trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học, giáo viên không thể bỏ qua vai trò của các đồ dùng, phương tiện dạy học Việc lựa chọn được những đồ dùng phù hợp và có chất lượng không chỉ làm tăng hiệu quả của việc khai thác, phát hiện kiến thức mà còn tạo ra sự thích thú cho học sinh Đặc biệt, bộ môn Sinh học có rất nhiều vấn đề gắn với thực tiễn, vậy nên các phương tiện trực quan sinh động là rất cần thiết và có ý nghĩa lớn

Ngay từ khâu soạn bài, giáo viên đã phải xây dựng kèm theo đó là danh sách các đồ dùng dạy học có liên quan Từ danh sách này, giáo viên phải kiểm tra trên thực tế tại các phòng đồ dùng xem các đồ dùng đó có đủ để đáp ứng về

số lượng và chất lượng hay không, nếu không thì phương án giải quyết là gì Trong nhiều trường hợp, giáo viên có thể giao nhiệm vụ cho học sinh chuẩn bị những đồ dùng nhất định Khi được tự chuẩn bị, học sinh sẽ phải nghiên cứu tài liệu để hiểu về vấn đề được giao tức là các em đã được học tập thêm một lần nữa

Giáo viên cũng cần dành thời gian để tìm hiểu kĩ về các đồ dùng dạy học nhằm xác định cách thức sử dụng, hướng khai thác kiến thức từ mỗi đồ dùng

và khai thác được những nội dung gì

VD 1: Khi sử dụng mô hình cấu trúc không gian của phân tử ADN để khai thác phát hiện kiến thức mới, giáo viên phải hướng học sinh chỉ ra được các nội dung về số mạch đơn, cấu trúc phân tử (thẳng hay xoắn), chiều xoắn, số cặp nu trong mỗi chu kì xoắn, cách liên kết giữa các đơn phân trên mỗi mạch cũng như trên hai mạch với nhau

Trang 13

VD 2: Khi sử dụng tranh vẽ “Một số dạng đột biến gen” (h21.1 SGK)

để khai thác phát hiện kiến thức mới, giáo viên phải hướng học sinh chỉ ra được: số cặp nu và trình tự sắp xếp các nu trong đoạn gen a như thế nào? Số cặp nu và trình tự sắp xếp các nu trong các đoạn gen b, c, d có gì khác so với đoạn gen a? → Từ đó hướng học sinh đến kết luận về đột biến gen và các dạng đột biến gen

3.3 Tổ chức các hoạt động dạy học

Từ thiết kế trên giáo án, giáo viên tiến hành tổ chức các hoạt động dạy học thực tế Đây là công việc khó, đòi hỏi giáo viên phải linh hoạt, có kinh nghiệm để xử lí tốt các tình huống mới phát sinh trong quá trình hoạt động của học sinh Nếu tổ chức tốt, học sinh làm việc thuận lợi và có hiệu quả sẽ khiến các em phấn chấn, thích thú Ngược lại, nếu tổ chức không tốt, không những mục tiêu đề ra về kiến thức, kĩ năng không đạt được mà còn làm cho học sinh

Tích hợp các hoạt động học mà chơi (các trò chơi giáo dục) và thay đổi xen kẽ các hoạt động, nhiệm vụ học tập là rất cần thiết Trong quá trình hoạt động của học sinh, giáo viên cần đảm bảo có sự hỗ trợ đúng mức để tăng

cường tính tích cực của học sinh Khi nhu cầu cần hỗ trợ của học sinh nhiều mà giáo viên lại không quan tâm, học sinh bị bỏ rơi dẫn đến chán nản Trong

trường hợp này, sự hỗ trợ với mức độ ít của giáo viên sẽ có hiệu quả làm tăng

Trang 14

tính tích cực của học sinh Nhưng khi nhu cầu hỗ trợ của học sinh ít mà lại nhận được quá nhiều sự hỗ trợ từ phía giáo viên sẽ khiến các em cảm thấy nhàm chán, không còn tích cực hoạt động nữa.

Một số cách tổ chức các hoạt động học tập:

- Tổ chức dạy học theo nhóm sử dụng kĩ thuật “Khăn phủ bàn”

Đây là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm Kĩ thuật này nhằm kích thích, thúc đẩy

sự tham gia tích cực của học sinh; tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân học sinh; phát triển mô hình có sự tương tác giữa học sinh với học sinh

Để tiến hành kĩ thuật này, giáo viên chia học sinh thành nhóm (4

người/nhóm), mỗi người ngồi vào một vị trí đã được sắp xếp Mỗi nhóm được nhận một tờ giấy có chia các ô dành cho hoạt động của từng cá nhân, ở giữa là

ô trống dành cho kết quả chung của nhóm sau khi đã thống nhất ý kiến Giáo viên đưa ra câu hỏi chung cho mỗi nhóm Các cá nhân tập trung vào các câu hỏi được giáo viên giao cho, hoạt động độc lập trong khoảng vài phút, viết đáp

án vào ô của mình Khi mọi người đều đã xong, cả nhóm bắt đầu chia sẻ và thảo luận về các câu trả lời Tiến hành viết những ý kiến chung của cả nhóm vào ô giữa tấm khăn phủ bàn

VD: Khi dạy mục III bài 11 - Phát sinh giao tử và thụ tinh, giáo viên có thể tổ chức hoạt động học tập theo kĩ thuật “Khăn phủ bàn” với câu hỏi cho mỗi nhóm cũng như mỗi thành viên trong nhóm là: Giảm phân và thụ tinh có ý nghĩa gì?

- Tổ chức dạy học theo nhóm sử dụng kĩ thuật “Các mảnh ghép”

Trang 15

Đây là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm giải quyết một nhiệm vụ phức hợp, kích thích sự tham gia tích cực của học sinh.

Để thiết kế, giáo viên cần lựa chọn nội dung/chủ đề phù hợp, xác định một nhiệm vụ phức hợp cần giải quyết ở vòng 2 dựa trên các nhiệm vụ khác nhau đã thực hiện ở vòng 1 Học sinh được chia thành các nhóm, giao nhiệm

vụ cụ thể cho mỗi thành viên trong nhóm

Trong quá trình tiến hành, ở vòng 1 giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động theo nhóm 3 hoặc 4 người, mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ, đảm bảo mỗi thành viên trong nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao, mỗi thành viên đều trình bày được kết quả câu trả lời của nhóm Ở vòng 2, giáo viên hình thành nhóm 3 hoặc 4 người mới là sự kết hợp giữa mỗi thành viên trong mỗi nhóm trên, các câu trả lời và thông tin của vòng 1 được các thành viên nhóm mới chia sẻ đầy đủ với nhau Sau khi chia sẻ xong thông tin ở vòng 1, nhiệm vụ mới sẽ được giao cho nhóm vừa lập để giải quyết Các nhóm mới trình bày, chia sẻ kết quả nhiệm vụ ở vòng 2

VD: Khi dạy mục II bài 19 - Mối quan hệ giữa gen và tính trạng, giáo viên có thể tổ chức hoạt động của học sinh sử dụng kĩ thuật “Các mảnh ghép” Giáo viên chia lớp thành các nhóm, các nhóm được phân công thực hiện một trong ba nhiệm vụ ở vòng 1 là:

Nhiệm vụ 1: Nêu bản chất của mối quan hệ gen → mARN

Nhiệm vụ 2: Nêu bản chất của mối quan hệ mARN → protein

Nhiệm vụ 3: Nêu bản chất của mối quan hệ protein → tính trạng

Trang 16

Sau khi các nhóm đã hoàn thành nhiệm vụ vòng 1 và tiến hành trao đổi các thành viên, giáo viên nêu nhiệm vụ của vòng 2: Nêu bản chất của mối quan

hệ gen → mARN → protein → tính trạng Các thành viên của nhóm mới sẽ giải quyết nhiệm vụ của vòng 2

- Tổ chức dạy học theo nhóm có sử dụng phiếu học tập

Ngoài những kĩ thuật dạy học trên, giáo viên còn có thể tổ chức dạy học theo phiếu học tập Với cách tổ chức này, giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung của bài để chọn ra những phần phù hợp, thiết kế các bảng biểu hoặc đưa ra những câu hỏi, bài tập với định hướng kèm theo để học sinh thảo luận nhóm và hoàn thành

Như vậy, có nhiều cách để giáo viên có thể tổ chức các hoạt động học tập nhằm phát hiện, tìm tòi kiến thức mới Điều quan trọng là thiết kế và tổ chức như thế nào để mọi thành viên đều phát huy được năng lực cá nhân cũng như biết cách phối hợp với tập thể nhằm tăng cường sự liên kết và khả năng thu nhận, tích lũy kiến thức

4 Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học.

Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là vấn đề được đề cập nhiều trong những năm gần đây Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã có những đóng góp to lớn cho đời sống xã hội nói chung cũng như giáo dục nói riêng

Không thể phủ nhận những mặt tích cực của công nghệ thông tin khi giúp cho công việc soạn giảng của giáo viên có sự thay đổi theo hướng tích cực hơn Mặt khác, khi được hỗ trợ bởi công nghệ thông tin thì khả năng truyền tải

ý tưởng của giáo viên cũng dễ dàng và phong phú hơn Những bài giảng khi

Trang 17

được thiết kế trên máy sẽ có nhiều điều kiện để thay đổi cho hợp lí theo ý tưởng của tác giả, có nhiều phương tiện phụ trợ giúp bài giảng trở nên sinh động và hấp dẫn hơn với học sinh.

Một điều nữa cũng nói lên lợi ích của việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học là giúp người giáo viên dễ chia sẻ với nhau những kinh nghiệm giảng dạy của mình Những bài giảng hay, những vấn đề mới có thể được trao đổi giữa nhiều người với nhau trong một thời gian ngắn, qua đó bản thân mỗi giáo viên lại tiếp thu thêm những điều bổ ích cho chính mình

Tuy nhiên, cách thức sử dụng và khai thác những lợi ích từ công nghệ thông tin phục vụ cho giảng dạy của giáo viên cũng cần được nghiên cứu kĩ

Có thể giải thích điều này là do còn một bộ phận giáo viên chưa được tiếp cận nhiều và chưa có kĩ năng để sử dụng thành thạo các phần mềm hỗ trợ cho công tác giảng dạy, vậy nên trong quá trình dạy học còn gặp rất nhiều khó khăn, lúng túng Mặt khác, không phải với bất kì nội dung kiến thức nào thì việc sử dụng công nghệ thông tin cũng chiếm ưu thế

Giáo viên có thể khai thác sử dụng công nghệ thông tin để dạy toàn bộ nội dung của một bài hoặc nội dung một phần nào đó trong bài mới Các tranh, ảnh, băng hình, bảng biểu,… được chiếu lên qua máy chiếu sẽ thay thế cho hệ thống tranh, ảnh, bảng phụ ngoài thực tế và mức độ đa dạng sẽ được tăng lên rất nhiều Hệ thống câu hỏi, gợi ý khi được chiếu lên trên màn hình sẽ rõ ràng hơn, dễ theo dõi hơn so với khi giáo viên chỉ dùng cách nói

Để có thể sử dụng hiệu quả công nghệ thông tin trong dạy học, giáo viên cần phải đầu tư nhiều thời gian để học tập, nghiên cứu cho thành thạo cách thiết kế bài giảng, cách khai thác các ứng dụng khác Đồng thời, giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung bài dạy để thiết kế những hoạt động dạy học phù hợp,

Ngày đăng: 17/07/2014, 21:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w