5 II- Nguyên nhân dẫn đến những sai lầm của học sinh lớp 3 khi học về đại lượng và đo đại lượng PHẦN MỞ ĐẦU I- LÍ DO CHỌN SÁNG KIẾN: 1.Cơ sở lí luận: Môn Toán có một vị trí quan trọng tr
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KIM ĐỘNG
TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỨC HỢP
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
VỀ ĐẠI LƯỢNG VÀ ĐO ĐẠI LƯỢNG
MÔN TOÁN LỚP 3
Người thực hiện : Trần Thị Thanh Huyền
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Đức Hợp – Kim Động- Hưng Yên
Năm học: 2012- 2013
Trang 2GIỚI THIỆU TÓM TẮT NỘI DUNG CỦA KINH NGHIỆM
I- Thực trạng của việc dạy và học các đại lượng và đo đại lượng ở
lớp 3
5
II- Nguyên nhân dẫn đến những sai lầm của học sinh lớp 3 khi học
về đại lượng và đo đại lượng
PHẦN MỞ ĐẦU
I- LÍ DO CHỌN SÁNG KIẾN:
1.Cơ sở lí luận:
Môn Toán có một vị trí quan trọng trong các môn học ở Tiểu học, kiến thức và
kĩ năng của môn Toán ở tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống của con người và
là cơ sở để học tiếp môn Toán ở các bậc học trên Mặt khác, môn Toán ở tiểu học
Trang 3góp phần giáo dục học sinh trở thành con người phát triển toàn diện; nó giúp conngười phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt và hình thành tronghọc sinh cách nhìn đúng đắn về sự vật, hiện tượng trong thực tiễn Đồng thời mônToán ở tiểu học còn bồi dưỡng cho các em tính trung thực, cẩn thận, tính khoa họctrong lao động, học tập, góp phần vào sự hình thành các phẩm chất cần thiết và quantrọng của con người lao động mới Chính vì vậy mà môn Toán ở tiểu học là môn họccực kì quan trọng không thể thiếu được đối với học sinh.
Nội dung chương trình môn Toán ở tiểu học nói chung và ở lớp 3 nói riêngbao gồm 5 mạch kiến thức:
những phẩm chất trí tuệ và năng lực sáng tạo Những kiến thức và kĩ năng dạy đạilượng và đo đại lượng còn góp phần giúp các em học tập tốt hơn các loại toán như:Tính sản lượng, các bài toán có nội dung hình học ở các lớp trên,…và cũng nhờ việcdạy học đại lượng và đo đại lượng các em biết cân đo, biết ước lượng, biết xem giờ
và thực hành đổi tiền Việt Nam….Từ đó các em biết áp dụng những kiến thức đóvào cuộc sống hàng ngày Cũng chính nhờ việc dạy học đại lượng và đo đại lượng,các em có thể học tốt hơn các môn học khác
2- Cơ sở thực tiễn:
Trang 4Trong quá trình dự giờ và trực tiếp giảng dạy môn Toán lớp 3 tôi nhận thấycác đồng chí giáo viên và các em học sinh còn có những khó khăn, sai lầm và vướngmắc khi dạy học về đại lượng và số đo đại lượng Cụ thể:
a- Đối với giáo viên:
- Còn lúng túng trong việc hình thành các biểu tượng về đại lượng cho họcsinh
- Chưa phát huy tính tích cực của học sinh khi dạy học về đại lượng và số đođại lượng
- Chưa khắc sâu kiến thức cho học sinh khi dạy cách chuyển đổi các đơn vị đo
từ danh số phức hợp sang danh số đơn
b- Đối với học sinh:
Đại lượng là một khái niệm trừu tượng Để nhận thức được khái niệm đạilượng đòi hỏi học sinh phải có khả năng trừu trượng hoá, khái quát hoá cao Nhưnghọc sinh tiểu học còn rất hạn chế về khả năng này Cụ thể:
- Về tư duy: Học sinh tiểu học đang trong quá trình hình thành và phát triển, nhận
thức còn ở trong giai đoạn “tư duy cụ thể” do đó, việc nhận thức các kiến thức về đạilượng và đo đại lượng là vấn đề khó Các em khó có thể tư duy trừu tượng dựa trênkhái niệm mà cần có chỗ dựa là trực quan
- Về trí nhớ: Đối với học sinh tiểu học, bộ não chưa phát triển hoàn chỉnh, các em
thường nhớ một cách máy móc do ngôn ngữ các em còn ít nên các em có xu hướngthuộc lòng Ở các em, trí nhớ trực quan hình tượng phát triển hơn trí nhớ lôgic
- Về tri giác: Là khâu đầu tiên và rất quan trọng đối với hoạt động nhận thức của
học sinh tiểu học Các em còn tri giác tổng thể, chưa biết phân tích sâu, riêng lẻ cácđặc điểm của đối tượng, cũng như chưa biết tổng hợp các đặc điểm riêng lẻ theo yêucầu quy định Tri giác của các em còn gắn với hành động thực tiễn thể hiện bằngcách trực quan
- Về chú ý: Sự chú ý không chủ định còn chiếm ưu thế Các em nhạy cảm với cái
mới lạ, hấp dẫn, màu mè, gợi cảm, trong khi đó, đại lượng và đo đại lượng là vấn đềtrừu tượng, khó hiểu, khó nhớ, và hay lẫn lộn nên sự chú ý của các em không tập
Trang 5trung Mặt khác, sự chú ý của các em còn chưa bền vững, mau mệt mỏi khi đốitượng đơn điệu, trừu tượng, dẫn đến các em hay mắc sai lầm khi thực hành đối vớicác đơn vị đo đại lượng.
Với những lí do trên đây, tôi đã lựa chọn, nghiên cứu sáng kiến “Một số biệnpháp giúp học sinh học tốt về đại lượng và đo đại lượng”
II- MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
1 Tìm hiểu cấu trúc, nội dung chương trình dạy học các đại lượng và đo đại lượng ởsách giáo khoa Toán 3
2.Đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm đạt hiệu quả tốt hơn khi tiến hành soạngiảng từng bài cụ thể về dạy học đại lượng và đo đại lượng trong chương trình
Toán 3
3.Tìm hiểu hệ thống bài tập về đại lượng và đo đại lượng trong chương trình Toán 3.Nắm được các yêu cầu về kiến thức, kĩ năng của các bài tập đó và đề ra một số biệnpháp hướng dẫn học sinh thực hiện có hiệu quả những bài tập này
III- NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.
1 Tìm hiểu những đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học về đại lượng và đođại lượng ở lớp 3
2 Điều tra thực trạng việc dạy và học về đại lượng và đo đại lượng của giáo viên
và học sinh lớp 3 trong trường Tiểu học
3.Thực nghiệm để kiểm chứng tính khả thi của biện pháp đã nêu trong sáng kiến
IV- ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Học sinh lớp 3B và 3C trường Tiểu học Đức Hợp
V- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1- Phương pháp nghiên cứu lí luận:
- Đọc các tài liệu có liên quan đến sáng kiến
- Tìm hiểu sách giáo khoa, sách giáo viên, vở bài tập, vở Luyện toán 3 - Đọc tài liệu bồi dưỡng giáo viên
2- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Trang 6Toạ đàm, trao đổi với giáo viên và học sinh tiểu học.
3- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
Rút kinh nghiệm qua thực tế công tác giảng dạy
1- Đối với giáo viên:
Những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy học được quan tâm đặcbiệt ở tất cả các bậc học và ở mọi môn học Việc đổi mới phương pháp dạy học đạtkết quả rõ rệt trong môn toán Tuy nhiên vẫn còn một số kiến thức khó khiến giáoviên lúng túng trong truyền đạt và học sinh gặp khó khăn trong việc thực hành, luyện
Trang 7tập Cụ thể ở môn toán lớp 3, đại lượng và đo đại lượng là một mảng kiến thức tươngđối khó và khô khan Khi dạy đại lượng và đo đại lượng, một số giáo viên còn nặng
về giảng giải, lúng túng khi hình thành các biểu tượng về các đại lượng và đơn vị đođại lượng Nhiều giáo viên còn sử dụng phương pháp dạy học cũ “ Thầy giảng – tròghi nhớ” làm hạn chế tư duy của học sinh, khiến học sinh thụ động tiếp thu kiếnthức
2- Đối với học sinh:
Tôi tiến hành khảo sát chất lượng với nội dung về đại lượng và đo đại lượng ởhai lớp 3B và 3C trường Tiểu học Đức Hợp v thu à thu được kết quả như sau: được kết quả như sau:c k t qu nh sau:ết quả như sau: ả như sau: ư
- Nhầm lẫn khi đổi các đơn vị đo Ví dụ: 4m2cm = 42cm…
- Sai lầm khi so sánh số đo đại lượng Ví dụ: 5m < 50cm
- Học sinh nhầm lẫn giữa các đơn vị đo như km và kg, hm và hg…
- Lẫn lộn thời điểm và thời gian Ví dụ: Học sinh nói: “Thời gian em thức dậybuổi sáng là 7 giờ” – Lẽ ra phải nói: “Em thức dậy lúc 7 giờ”
- Sai lầm khi suy luận Ví dụ: Học sinh cho rằng: Sắt nặng hơn bông nên 1kgsắt phải nặng hơn 1 kg bông
- Không phân biệt được sự khác nhau giữa đại lượng độ dài và đại lượng diệntích Chẳng hạn: Khi yêu cầu tính chu vi và diện tích của một hình vuông có cạnh 4
cm, một học sinh đã làm như sau:
Chu vi hình vuông là: 4 x 4 = 16
Diện tích hình vuông là: 4 x 4 = 16
Từ đó, học sinh này nêu nhận xét: hình vuông trên có chu vi bằng diện tích
Trang 8II- NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN NHỮNG SAI LÇm CỦA HỌC SINH LỚP 3 KHI HỌC VỀ ĐẠI LƯỢNG VÀ ĐO ĐẠI LƯỢNG:
1.Từ phía học sinh:
Nhận thức của học sinh Tiểu học, nhất là ở các lớp đầu cấp thường là cảmtính, tư duy của các em dựa vào trực quan và quan sát Khả năng tưởng tượng củahọc sinh tiểu học còn bị hạn chế Suy luận của các em không phải là suy diễn mà làmột dãy các phán đoán gián đoạn, mò mẫm, chưa phải là phán đoán có ý thức
Vì khái niệm đại lượng là một khái niệm trừu tượng, nằm tàng ẩn trong cácđối tượng vật chất cụ thể nên nhận thức được các khái niệm về đại lượng và đo đạilượng đặc biệt khó khăn đối với học sinh Tiểu học Chính vì vậy, khi học về đạilượng và đo đại lượng học sinh thường mắc một số sai lầm
2 Từ phía giáo viên:
Trong thực tế giảng dạy, còn một số giáo viên vẫn sử dụng phương pháp dạy họccũ: Giáo viên thường chỉ truyền đạt, giảng giải theo các tài liệu đã có sẵn trong sáchgiáo khoa, sách giáo viên Vì vậy, giáo viên thường làm việc một cách máy móc và ítquan tâm đến việc phát huy khả năng sáng tạo của học sinh Học sinh học tập mộtcách thụ động, chủ yếu chỉ nghe giảng, ghi nhớ rồi làm theo bài mẫu Do đó, họcsinh ít hứng thú học tập, nội dung các hoạt động học tập thường nghèo nàn, đơnđiệu, năng lực vốn có của cá nhân học sinh ít có cơ hội phát triển, nên việc học sinhmắc phải những sai lầm khi học về đại lượng và đo đại lượng là điều khó tránh khỏi
Mặt khác, khi thấy học sinh mắc những sai lầm trong học toán, giáo viên chưatìm ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục nên những sai lầm đó vẫn còn tồn tại
III- BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 HỌC TỐT VỀ ĐẠI LƯỢNG
VÀ ĐO ĐẠI LƯỢNG:
1 Mục tiêu cần đạt khi dạy học về đại lượng và đo đại lượng ở lớp 3:
1.1 Dạy học về độ dài:
- Giới thiệu tên gọi, kí hiệu, độ lớn của các đơn vị đo: đề - ca – mét, héc – tô – mét
- Biết đọc, viết số đo độ dài có một hoặc hai tên đơn vị đo
- Giới thiệu bảng đon vị đo độ dài: Giúp học sinh có hiểu biết ban đầu về hệ thống
Trang 9đơn vị đo độ dài, quan hệ giữa hai đơn vị tiếp liền (chỉ đổi từ đơn vị lớn ra đơn vịnhỏ và quan hệ giữa một số đơn vị đo độ dài thường gặp như 1km = 1000m, 1m =100cm, 1m = 1000mm).
- Biết đổi số đo độ dài có một tên đơn vị đo (đổi từ danh số đơn sang danh số đơn)
và biết đổi số đo độ dài có hai tên đơn vị thành số đo có 1 tên đơn vị (đổi từ danh sốphức hợp sang danh số đơn)
- Làm tính và giải toán liên quan tới các số đo độ dài
- Thực hành đo độ dài và ước lượng độ dài trong các trường hợp đơn giản
1.2 Dạy học về khối lượng:
- Nhận biết tên gọi, kí hiệu và biểu tượng của đơn vị đo khối lượng
- Biết đọc, viết số đo với đơn vị gam
- Nhận biết quan hệ giữa hai đơn vị kilôgam và gam
- Làm tính và giải toán liên quan đến các số đo khối lượng gam và kilôgam
- Tập sử dụng cân đĩa và cân đồng hồ để thực hành cân các đồ vật thông dụnghàng ngày Tập ước lượng khối lượng trong một số trường hợp đơn giản
1.3 Dạy học về thời gian.
- Đo thời gian với các đơn vị đo thường gặp là: giờ, phút, ngày, tháng, năm
- Củng cố và nhận biết các mối quan hệ giữa 2 đơn vị đo thời gian như:1 ngày
có 24 giờ, 1 giờ có 60 phút, 1 năm có 12 tháng, số ngày cụ thể trong từng tháng
- Biết xem đồng hồ (chính xác đến từng phút)
- Biết đọc và sử dụng lịch (lịch bóc hàng ngày hoặc lịch quyển)
- Củng cố nhận biết về thời điểm và khoảng thời gian
1.4 Dạy học về tiền Việt Nam.
- Giới thiệu các loại tiền giấy: 2000đồng, 5000đồng, 10.000đồng, 20.000đồng,50.000đồng, …
- Làm quen với các đồng tiền kim loại: 5000đồng, 2000đồng, 1000đồng,500đồng và 200đồng
- Tập đổi tiền và sử dụng tiền Việt Nam trong sinh hoạt hàng ngày
1.5 Dạy học về diện tích.
Trang 10- Hình thành biểu tượng ban đầu về diện tích của một hình.
- Giới thiệu tên gọi, kí hiệu, độ dài của đơn vị đo diện tích: xăng ti mét vuông
- Biết đọc, viết số đo diện tích với đơn vị là xăng- ti- mét vuông
- Biết cách tính diện tích của hình chữ nhật và hình vuông
- Biết làm tính và giải toán liên quan tới số đo diện tích là xăng- ti- mét vuông
2 Biện pháp giúp học sinh học tốt về đại lượng và đo đại lượng:
Qua tìm hiểu và phân tích nguyên nhân dẫn đến sai lầm của học sinh lớp 3 khihọc về đại lượng và đo đại lượng, tôi xin mạnh dạn đề xuất một số biện pháp giúphọc sinh lớp 3 học tốt về đại lượng và đo đại lượng ở lớp 3 như sau:
2.1 Biện pháp1:Giúp học sinh hạn chế nhầm lẫn khi chuyển đổi các đơn vị đo:
Nguyên nhân dẫn đến sai lầm này là do học sinh chưa nắm vững mối quan hệgiữa các đơn vị đo Khi dạy học về các đơn vị đo của một đại lượng cần giúp họcsinh nắm vững hệ thống các đơn vị đo thường dùng và mối liên hệ giữa các đơn vị
đo của đại lượng đó Bảng các đơn vị đo đại lượng là một hệ thống hoá các đơn vị đo
đã học Bảng còn là một công cụ giúp học sinh biết cách chuyển đổi số đo từ đơn vịnày sang đơn vị khác Để giúp học sinh nắm vững mối quan hệ giữa các đơn vị đo độdài ở lớp 2, tôi đã tiến hành dạy học bài: “Bảng đơn vị đo độ dài” như sau:
Bước 1: Thành lập bảng:
Học sinh nhắc lại (có thể không theo thứ tự) tất cả các đơn vị đo độ dài đã học.Giáo viên hướng dẫn học sinh sắp xếp lại theo thứ tự (từ trái qua phải) các đơn vị lớnhơn mét rồi đến các đơn vị nhỏ hơn mét để cuối cùng lập thành một bảng hoàn thiệnnhư sau:
Bước 2: Phân tích bảng:
Học sinh so sánh giá trị hai đơn vị liền nhau để rút ra nhận xét “Hai đơn vị đo
độ dài liên tiếp gấp, kém nhau 10 lần” Về sự liên quan giữa các đơn vị đo khác nhautrong bảng chỉ yêu cầu học sinh nhận biết những mối quan hệ thường gặp như:
Trang 112.2 Biện pháp2: Giúp học sinh hạn chế sai lầm khi so sánh số đo đại lượng
Ví dụ: 5m < 50cm Nguyên nhân dẫn đến sai lầm này là do học sinh chỉ quan
sát số đo mà không quan sát đơn vị đo Học sinh chưa hiểu bản chất phép đo nênkhông phân biệt được giá trị đại lượng và số đo đại lượng Số lớn hay số nhỏ củacùng một giá trị đại lượng phụ thuộc vào giá trị của đại lượng đó lớn hay nhỏ
Để khắc phục sai lầm này, bên cạnh việc giúp học sinh nắm vững hệ thống cácđơn vị đo thường dùng và mối liên hệ giữa các đơn vị đo của đại lượng đó , tôi đãcho học sinh làm nhiều bài tập dạng so sánh số đo đại lượng và lưu ý học sinh khi sosánh 2 giá trị của một đại lượng phải quy về cùng một đơn vị đo
Ví dụ
6m3cm … 7m 5m6cm … 5m
6m3cm… 6m 5m6cm … 6cm
6m3cm… 630cm 5m6cm…506cm
2.3 Biện pháp3: Giúp học sinh hạn chế sai lầm khi suy luận
Ví dụ: Học sinh cho rằng: Sắt nặng hơn bông nên 1kg sắt phải nặng hơn 1 kg
bông Cách suy luận như vậy không phải là cá biệt Nguyên nhân dẫn đến sai lầmnày là do học sinh chưa hiểu bản chất khái niệm đại lượng và phép đo đại lượng.Nhận thức còn mang nặng cảm tính
Để khắc phục những sai lầm như trên tôi đã đưa ra nhũng ví dụ và yêu cầu họcsinh thực hành đo trực tiếp Chẳng hạn: tôi cho học sinh trực tiếp cân bằng cân đĩa đểthấy rằng 1kg sắt không nặng hơn 1kg bông,…
2.4 Biện pháp4: Giúp học sinh khắc phục nhầm lẫn giữa các đơn vị đo như km
>
<
=
Trang 12và kg, hm và hg…
Để khắc phục sai lầm này, khi giới thiệu đơn vị đo đại lượng mới, tôi lưu ýcho học sinh quy ước viết tắt và có sự so sánh về kí hiệu giữa đơn vị đo độ dài vàđơn vị đo khối lượng, giúp học sinh nắm chắc hơn các kí hiệu này
VD:Ki –lô- mét (viết tắt là km)
Ki- lô-gam ( viết tắt là kg)
2.5 Biện pháp5: Giúp học sinh phân biệt được sự khác nhau giữa đại lượng độ dài và đại lượng diện tích:
Để khắc phục sai lầm này, ngay từ đầu, giáo viên cần cho học sinh nắm chắcbiểu tượng đơn vị đo diện tích đầu tiên được học ở lớp 3- đó là xăng-ti-mét vuông.Chính vì vậy, khi dạy học về hình thành biểu tượng đơn vị đo diện tích là xăng – ti –mét vuông tôi đã tiến hành theo các bước sau:
* Bước 1: Giới thiệu đại lượng mới:
- Cho học sinh so sánh trực tiếp 2 sự vật theo một thuộc tính đặc trưng cho cácđại lượng cần học Chẳng hạn:
+ Yêu cầu học sinh phủ kín mặt bàn bằng những tờ giấy vở học sinh và chobiết: Cần bao nhiêu tờ giấy đó để phủ kín được mặt bàn
* Bước 2: Nêu sự cần thiết phải có đơn vị đo:
- Giáo viên nêu vấn đề: Không phải lúc nào cũng có sự so sánh trực tiếp nhưvậy Chẳng hạn không thể đặt một mảnh ruộng lên trên cánh rừng được hoặc khôngthể đặt cái sân nọ lên cái sân kia để so sánh
- Do đó cần có cách so sánh gián tiếp qua một vật trung gian thứ ba Chẳng hạn: Muốn so sánh diện tích hai cái sân, ta dùng vật trung gian là viên gạch
+ Cái sân thứ nhất lát hết 200 viên gạch;
+ Cái sân thứ hai lát hết 250 viên gạch
Vậy diện tích cái sân thứ nhất bé hơn cái sân thứ hai (vì 200 bé hơn 250)
- Có nhiều cách chọn vật trung gian nói trên.Chẳng hạn: Tờ giấy, viên gạch… Tuy nhiên, nếu mỗi người lại chon một loại vật trung gian to nhỏ khác nhau nhưvật thì rất khó so sánh các kết quả đo Do đó cần có đơn vị “chuẩn” để đo diện tích
Trang 13Một trong các đơn vị đo diện tích đó là xăng - ti - mét vuông.
* Bước 3: Giới thiệu đơn vị đo:
Giáo viên cho học sinh quan sát hình vuông cạnh 1cm và giới thiệu: Để thuậnlợi, người ta chọn diện tích của hình vuông có cạnh bằng một đơn vị đo độ dài làxăng - ti - mét làm đơn vị đo diện tích Hình vuông đó gọi là “Hình vuông đơn vịdiện tích” Sau đó giáo viên cho học sinh vẽ trên vở ôli hình vuông có canh 1cm rồi
tô mầu hình vuông đó và nêu “ một xăng - ti - mét vuông”
Tiếp theo giáo viên giới thiệu kí hiệu của đơn vị đo Chẳng hạn: “Viết đầy đủ
là xăng - ti - mét vuông thì quá dài, do đó ta viết tắt theo quy ước quốc tế là cm2 vàkhi viết số đo diện tích cần viết số kèm theo đơn vị đo” Giáo viên ghi rõ lên bảng kíhiệu 1cm2 rồi gọi học sinh đọc cá nhân, đồng thanh vài lần
Mặt khác, khi phân tích sai lầm này, tôi đã chỉ rõ : chu vi là đại lượng độ dài,đơn vị đo là mét, đề-xi-mét,….còn diện tích là đại lượng diện tích, được đo bằngxăng-ti- mét vuông….hai đại lượng này không thể so sánh được với nhau Chẳnghạn: Để đo chu vi hình vuông cạnh 4cm, ta lấy đơn vị đo độ dài 1cm (đoạn thẳngcạnh 1cm) và đặt dọc theo một cạnh, được 4 đơn vị đo độ dài, vì hình vuông có 4cạnh bằng nhau nên tổng độ dài của 4 cạnh được xác định bằng phép tính : 4 x 4 =
16 và chu vi của hình vuông là 16cm Để đo diện tích hình vuông cạnh 4cm, ta lấyđơn vị đo diện tích 1cm2 ( hình vuông có cạnh 1cm) và đặt dọc theo một cạnh được 4đơn vị đo diện tích Vì hình vuông có 4 cạnh bằng nhau nên đặt được 4 hàng nhưthế, tổng diện tích của hình vuông được xác định bằng phép tính: 4 x 4 = 16 và diệntích của hình vuông là 16 cm2 Vì vậy không thể nói hình vuông cạnh 4cm có chu vibằng diện tích
2.6 Biện pháp 6: Hướng dẫn học sinh thực hiện một số dạng bài tập khó về đại lượng và đo đại lượng:
1 Bài 1b (trang 46)
Viết số thích hợp vào chỗ chấm (theo mẫu).
Mẫu 3m2dm = 32dm