Khi dùng phương pháp tổng hợp, ta gộp dần những phầnriêng biệt của điều kiện bài toán, để cuối cùng đi tới việc trả lời câu hỏi chính.Ngoài ra, khi dạy học giải toán điển hình ở lớp 4, g
Trang 1PHÒNG GD & ĐT KIM ĐỘNG TRƯỜNG TIỂU HỌC TOÀN THẮNG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG GIẢI BÀI TOÁN
ĐIỂN HÌNH CHO HỌC SINH LỚP 4
Trang 2và quá trình học của học sinh Học sinh phải hiểu được các thuật ngữ toán học đểđưa ra cách giải cho phù hợp với từng dạng bài.
Giải toán điển hình cũng nằm trong nội dung giải toán Muốn có cách giảiđúng, cách giải hay, học sinh phải thực hiện theo 4 bước của quy trình giải toán cólời văn:
- Tìm hiểu nội dung bài toán
- Tìm cách giải bài toán
- Thực hiện cách giải bài toán
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả của giờ dạy- học Toán, người giáo viên phải
sử dụng các phương pháp dạy học sao cho học sinh dễ hiểu, dễ nhớ, phát huy đượctính chủ động, sáng tạo của học sinh, tạo cho học sinh một nền nếp, phong cáchhọc tập tốt Đặc biệt, để giải một bài toán cò lời văn nói chung, bài toán điển hình
ở lớp 4 nói riêng cần sử dụng phương pháp phân tích thường xuyên Phân tích có 2dạng:
- Phân tích để sàng lọc
- Phân tích thông qua tổng hợp
Hình thức thứ nhất được sử dụng khi tìm hiểu nội dung bài toán
Hình thức thứ hai khó hơn và là hoạt động chủ yếu khi giải toán Trong phạm
vi giải toán ở Tiểu học, khi dùng phương pháp phân tích, ta xuất phát từ câu hỏichính của bài toán mà tách ra những phần điều kiện của bài toán, cần thiết cho việc
Trang 3trả lời câu hỏi chính Khi dùng phương pháp tổng hợp, ta gộp dần những phầnriêng biệt của điều kiện bài toán, để cuối cùng đi tới việc trả lời câu hỏi chính.Ngoài ra, khi dạy học giải toán điển hình ở lớp 4, giáo viên phải cho học sinh nắmvững từng loại toán điển hình và các bước giải của từng loại toán đó.
1.2 Thực trạng dạy và học về vấn đề giải bài toán điển hình lớp 4 ở trường Tiểu học Toàn Thắng
1.2.1 Giáo viên
Nhìn chung cùng với việc thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới, giáoviên trường Tiểu học Toàn Thắng đã tích cực đổi mới phương pháp dạy học, lấyhọc sinh làm trung tâm, giáo viên là người hướng dẫn, dẫn dắt học sinh huy độngnhững kiến thức, kĩ năng cũ để chiếm lĩnh kiến thức mới, vận dụng kiến thức vàoluyện tập thực hành Cụ thể là:
- Giáo viên đã chủ động xây dựng kế hoạch bài học, đầu tư nhiều thời gian đểnghiên cứu bài, xem xét bài sẽ dạy trong mối quan hệ với bài trước và bài sau Mỗibài cần vận dụng kiến thức kĩ năng gì của bài trước
Ví dụ: Trước khi dạy bài “ Tìm số trung bình cộng”, giáo viên đã chú ý đến kĩnăng cộng nhiều số, kĩ năng chia số tự nhiên (trong phạm vi đã học) Hay khi dạybài “ Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó”, kiến thức cũ gần nhất cầnchuẩn bị cho bài này là tỉ số của hai số
- Giáo viên đã sử dụng phối hợp nhiều phương pháp dạy học khác nhau nhưphương pháp nêu vấn đề, trình bày trực quan, giảng giải, đàm thoại, để dẫn dắthọc sinh chiếm lĩnh kiến thức mới Với những bài cung cấp lí thuyết, để học sinhchủ động tiếp thu bài, giáo viên yêu cầu học sinh thoát li bài giải mẫu trong sáchgiáo khoa Bài giải mẫu đó để học sinh xem bài trước khi đến lớp, để học sinh xemlại sau khi nghe giáo viên giảng
- Giáo viên dành nhiều thời gian để học sinh luyện tập thực hành
- Giáo viên đã tạo được cho học sinh thói quen tự kiểm tra đánh giá và đổi vởcho nhau để kiểm tra
Bên cạnh đó khi dạy học sinh giải toán điển hình, một số giáo viên vẫn còn cónhững hạn chế:
Trang 4- Khai thác bài toán theo khuôn mẫu:
+ Bài toán cho biết gì?
+ Bài toán hỏi gì?
+ Muốn tìm ta làm thế nào?
Cách làm như vậy sẽ không giúp học sinh tìm hiểu sâu được những dữ kiện
mà đầu bài đã cho và không toát lên được quan hệ giữa cái đã cho với cái cần tìm.Thông thường chỉ những học sinh đã biết cách làm hoặc những học sinh khá giỏimới trả lời được câu hỏi thứ 3 ở trên
- Khi hướng dẫn học sinh giải toán thường sử dụng phương pháp phân tíchnhiều hơn phương pháp tổng hợp nên học sinh trung bình, yếu khó tiếp thu, đặcbiệt là đối với các lớp có nhiều đối tượng học sinh trung bình, yếu
- Không chú trọng sơ đồ khi giải toán điển hình
- Sử dụng sách giáo khoa như nhau đối với mọi đối tượng học sinh Học sinhkhá giỏi phải chờ đợi học sinh yếu kém
- Không nhấn mạnh các bước giải của toán điển hình Không so sánh cácbước giải của các dạng toán điển hình có cách giải tương tự như nhau: Tìm hai sốkhi biết tổng (hoặc hiệu) và tỉ số của hai số đó Sau khi học sinh giải xong, chữabài, nhận xét đúng là dừng lại, giáo viên không hỏi tại sao học sinh làm như vậy đểkhắc sâu kiến thức cho các em
- Đối với lớp có nhiều học sinh khá giỏi, trình độ tương đối đồng đều, giáo viên hướng dẫn học sinh quá kĩ, học sinh làm hết bài trong sách giáo khoa nhưng giáo viên không có cách nào để sử dụng thời gian còn lại của tiết học
- Giáo viên không hướng dẫn học sinh kiểm tra lại kết quả và tìm cách giải khác
- Đối với những bài toán đặt đề toán: chỉ cho học sinh đặt đề toán theo một cách
mà không đặt nhiều cách khác nhau
Với những cách làm như trên cho thấy giáo viên đã thực hiện đổi mới phươngpháp trong dạy học toán nhưng sự đổi mới đó chưa mang lại hiệu quả cao
1.2.2 Học sinh
Học sinh khối lớp 4 của trường Tiểu học Toàn Thắng khá đông, khoảng 150
em biên chế vào 5 lớp Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy khối 4 và qua điều tra,
Trang 5tôi nhận thấy đa số học sinh có ý thức học tập nên đã nắm được kiến thức cơ bản
về giải toán điển hình Tuy nhiên vẫn còn nhiều học sinh còn có những sai sót vàgặp một số khó khăn sau:
* Học sinh không nhận biết được đúng dạng toán, học sinh không nắm chắc
kiến thức cơ bản, cách giải từng dạng toán điển hình Khi mới học xong mỗi dạngtoán, học sinh đều làm được nhưng khi học thêm các dạng toán khác, học sinh lạinhầm lẫn các dạng toán với nhau
* Học sinh nhận được dạng toán nhưng không làm được các bước tiếp theo,đây là do học sinh không phân biệt được cách giải của từng dạng toán
* Học sinh viết thiếu đối tượng khi vẽ sơ đồ, ví dụ phải ghi tuổi mẹ, tuổi conthì học sinh lại ghi
* Khi làm bài, học sinh còn viết câu trả lời sai, câu trả lời chưa đầy đủ
* Học sinh còn tính toán sai do kĩ năng tính toán chưa thành thạo, học sinh cònhiểu nhầm ý nghĩa của phép tính, viết sai tên đơn vị
1.2.3 Kết luận
Là một giáo viên trong tổ 4-5 trường Tiểu học Toàn Thắng, tôi luôn trăn trở với thực tế và những điều nêu trên Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy học giải toán điển hình ở lớp 4? Tôi không những muốn được tìm hiểu, nghiên cứu vấn
đề này một cách nghiêm túc, sâu sắc, thiết nghĩ đó cũng là một cơ hội để tự mình làm giàu vốn kiến thức của bản thân tôi thêm phong phú và cùng đồng nghiệp tháo
gỡ những khó khăn trong khi dạy dạng toán điển hình lớp 4 trong nhà trường Vì vậy tôi tìm hiểu vấn đề:
“Một số biện pháp rèn kĩ năng giải bài toán điển hình cho học sinh lớp 4”
2 Mục đích nghiên cứu
- Phân loại các dạng toán điển hình lớp 4
Trang 6- Tìm hiểu thực trạng dạy và học giải toán điển hình lớp 4 ở trường Tiểu họcToàn Thắng Từ đó đề xuất một số biện pháp rèn kĩ năng giải bài toán điển hìnhcho học sinh lớp 4, nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Toán.
3 Đối tượng nghiên cứu
- Các dạng toán điển hình lớp 4 và các vấn đề có liên quan đến nó
- Học sinh lớp 4B, lớp 4E trường Tiểu học Toàn Thắng
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Điều tra thực trạng dạy và học giải toán điển hình ở lớp 4 trường Tiểu họcToàn Thắng
- Đề ra biện pháp rèn kĩ năng giải bài toán giải toán điển hình cho học sinh lớp 4
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: đọc các tài liệu, giáo trình có liên quan đếnvấn đề giải toán điển hình
- Phương pháp điều tra: dự giờ, khảo sát, trao đổi với đồng nghiệp, với học sinh
- Phương pháp thực nghiệm: tổ chức dạy học giải toán điển hình ở lớp 4
- Phương pháp thống kê, thu thập số liệu: Điều tra bằng phiếu học tập
8 Tiến trình nghiên cứu
Đối với đề tài này, tôi thực hiện nghiên cứu các nội dung chính theo tiến trìnhsau:
1 Nội dung các dạng toán điển hình ở lớp 4
2 Những điều cần biết về toán điển hình
2.1 Bài toán về : Trung bình cộng
2.2 Bài toán về tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó
2.3 Bài toán : Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó
2.4 Bài toán về : Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó
Trang 73 Chuẩn kiến thức, kĩ năng cần đạt được khi học sinh học giải toán điển hình lớp 4
4 Đường lối chung để dạy học sinh giải một bài toán điển hình
5 Một số biện pháp rèn kĩ năng giải toán điển hình cho học sinh lớp 4
5.1 Trang bị kiến thức về ý nghĩa của các phép tính, rèn kĩ năng tính toán
5.2 Rèn kĩ năng nhận dạng các dạng toán điển hình
5.3 Rèn kĩ năng trình bày bài giải
5.4 Rèn kĩ năng giải bài toán mới
5.5 Rèn kĩ năng đặt đề toán
5.6 Dạy nâng cao cho học sinh khá, giỏi
9 Kết quả điều tra
Để phục vụ cho việc nghiên cứu và điều tra thực tế, tôi đã sử dụng hai lớp 4của trường Tiểu học Toàn Thắng, lớp 4B là lớp thực nghiệm (đã có sự tác độngcủa phương pháp dạy học có các biện pháp rèn kĩ năng giải toán điển hình, lớp 4E
là lớp đối chứng (dạy theo phương pháp cũ thường ngày) Trước khi khảo sát, xéttương quan giữa hai lớp, tôi thấy:
- Về độ tuổi như nhau
- Số lượng học sinh giữa hai lớp, tương đương nhau, mỗi lớp 30 học sinh
- Trình độ nhận thức của học sinh hai lớp là tương đương nhau
Tôi tiến hành làm một đợt khảo sát chất lượng Nội dung khảo sát là học sinhlàm 1 phiếu bài kiểm tra gồm các bài toán thuộc dạng bài toán điển hình
L p 4B - l p th c nghi m:ớp 4B - lớp thực nghiệm: ớp 4B - lớp thực nghiệm: ực nghiệm: ệm:
Không nhận được dạng toán 4 13
Không nhận được dạng toán 4 13
Trang 8Hiểu sai đối tượng 5 17
Trả lời chưa đầy đủ 3 10
Sai kết quả phép tính 5 17
PHẦN II: NỘI DUNG
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG GIẢI BÀI TOÁN ĐIỂN HÌNH
CHO HỌC SINH LỚP 4”
Trang 9Để rèn kĩ năng cho học sinh, giúp các em giải bài toán điển hình được tốt thìgiáo viên cần hiểu và nắm vững một số vấn đề về dạng toán điển hình trongchương trình môn Toán lớp 4
1 Nội dung các dạng toán điển hình ở lớp 4
Trong chương trình sách giáo khoa Toán 4 có các loại toán điển hình sau:
a Loại toán điển hình xen kẽ với 4 phép tính với các số tự nhiên (được học ở học
kì I - lớp 4)
+ Tìm số trung bình cộng
+ Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó
b Loại toán điển hình trong phần Phân số - Tỉ số - Các bài toán về tỉ số (được học ở học kì II - lớp 4).
- Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó
- Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó
* Dạng toán “ Tìm số trung bình cộng” được dạy trong 2 tiết :
+ Tiết 1: Tìm số trung bình cộng (dạy học sinh có hiểu biết ban đầu về số trungbình cộng của nhiều số; học sinh biết cách tìm số trung bình cộng của nhiều số).+ Tiết 2: Luyện tập (học sinh được củng cố hiểu biết về số trung bình cộng và cáchtìm số trung bình cộng; học sinh được giải các bài toán về tìm số trung bình cộng)
* Dạng toán “Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó” được dạy trong 2 tiết:
+ Tiết 1: Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó (học sinh biết cách tìm hai
số khi biết tổng và hiệu của hai số đó; giải bài toán liên quan đến tìm hai số khibiết tổng và hiệu của hai số đó)
+ Tiết 2 : Luyện tập (học sinh được củng cố về giải bài toán tìm hai số khi biếttổng và hiệu của hai số đó)
* Dạng toán “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó” được dạy trong 4 tiết:
+ Tiết 1: Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó (học sinh biết cách giải bàitoán “ Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó”)
+ Tiết 2: Luyện tập
+ Tiết 3: Luyện tập
+ Tiết 4: Luyện tập chung
Trang 10Cả 3 tiết (2, 3, 4), học sinh được rèn luyện kĩ năng giải bài toán “Tìm hai sốkhi biết tổng và tỉ số của hai số đó”.
* Dạng toán ‘Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó” được dạy trong 4 tiết:
+ Tiết 1: Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó
+ Tiết 2: Luyện tập
+ Tiết 3: Luyện tập
+ Tiết 4: Luyện tập chung
Trong đó tiết 1, học sinh biết cách giải bài toán “ Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ
số của hai số đó”, các tiết còn lại học sinh được rèn kĩ năng giải bài toán “ Tìm hai
số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó”
Ngoài ra, phần ôn tập cuối năm, sách giáo khoa có các tiết ôn tập về: Tìm sốtrung bình cộng (1 tiết), Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó (1tiết) Tìmhai số khi biết tổng hoặc hiệu và tỉ số của hai số đó (1 tiết)
2 Những điều cần biết về các dạng toán điển hình trong chương trình môn Toán lớp 4
2.1 Bài toán về : Trung bình cộng
+ Quy tắc: Muốn tìm số trung bình cộng của nhiều số, ta tính tổng của các số
đó, rồi chia tổng đó cho số các số hạng
+ Công thức tìm số trung bình cộng của nhiều số
Số trung bình cộng = Tổng của n số : n
+ Cho một dãy số cách đều
Nếu số các số hạng đó là một số lẻ thì số trung bình cộng của dãy số đã chochính là số ở vị trí chính giữa của dãy số này
Ví dụ: Tìm số trung bình cộng của dãy số cách đều nhau 4 đơn vị: 3; 7; 11; 15; 19
Ta thấy dãy số có 5 số hạng nên số hạng thứ ba sẽ là trung bình cộng của dãy
số Vậy số trung bình cộng của dãy số trên là 11
Nếu số các số hạng đó là một số chẵn thì số trung bình cộng của dãy số đãcho đúng bằng nửa tổng của hai số đầu và cuối của dãy số này; hoặc đúng bằngnửa tổng của hai số cách đều hai đầu của dãy số đã cho
Ví dụ: Tìm trung bình cộng của 50 số lẻ liên tiếp đầu tiên
Trang 11Gợi ý Dãy số có 50 số lẻ nên hiệu của số lẻ cuối dãy và số lẻ đầu dãy là:
(50 - 1) x 2 = 98
Số lẻ đầu dãy là 1 thì số lẻ cuối dãy là : 98 + 1 = 99
Trung bình cộng của 50 số lẻ liên tiếp đầu tiên là: (1 + 99) : 2 = 50
+ Một trong các số đã cho lại bằng trung bình cộng của các số còn lại thì số
đó đúng bằng số trung bình cộng của tất cả các số đã cho
Ví dụ: Số trung bình cộng của 5 số bằng 96 Hãy tìm số thứ năm, biết rằng số nàyđúng bằng số trung bình cộng của 4 số kia
Hoặc có thể ghi:
4
x c b
a
=
3
n c b
2.2 Bài toán về tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó
+ Tổng và hiệu hai số phải tìm có thể là số tự nhiên, phân số, các dạng của
số đo đại lượng
Tổng và hiệu có thể được nêu dưới dạng một dãy số
+ Quy tắc tính số lớn và số bé
Cách 1: Số bé = (Tổng - Hiệu) : 2
Số lớn = Số bé + Hiệu (Hoặc Số lớn = Tổng - Số bé)
Trang 12Cách 2: Số lớn = (Tổng + Hiệu) : 2 (Hoặc Số bé = Số lớn - Hiệu)
+ Các phương pháp thường dùng
- Phương pháp dùng sơ đồ đoạn thẳng
- Phương pháp khử, phương pháp thay thế
- Phương pháp lựa chọn
2.3 Bài toán : Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó
+ Tổng và tỉ số của hai số phải tìm có thể là số tự nhiên, phân số, các dạng của số đo đại lượng
+ Tỉ số của hai số có thể được nêu dưới những dạng sau:
- Số này gấp mấy lần số kia
- Số này bằng mấy phần số kia
- Thương của hai số phải tìm, hoặc thương của hai số có liên quan đến các sốphải tìm
- Phân số được coi là thương của số bị chia và số chia
- Tỉ số của hai số
+ Các bước chủ yếu trong việc giải bài toán này
* Bước 1: Xác định tổng của hai số phải tìm (hoặc tổng của hai số liên quanđến các số phải tìm) Xác định tỉ số của hai số phải tìm (hoặc tỉ số của hai số liênquan đến các số phải tìm)
* Bước 2: Biểu thị từng số đó thành số các phần bằng nhau tương ứng (vẽ sơ
đồ đoạn thẳng) Thực hiện tìm tổng số phần bằng nhau
* Bước 3: Thực hiện phép chia tổng của hai số phải tìm cho tổng số phầnbằng nhau để tìm giá trị một phần
* Bước 4: Tìm mỗi số theo số phần được biểu thị theo sơ đồ
+ Các phương pháp thường dùng
- Phương pháp dùng sơ đồ đoạn thẳng
- Phương pháp dùng tỉ số
- Phương pháp khử hoặc phương pháp thế
- Phương pháp dùng đơn vị quy ước
2.4 Bài toán về : Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó.
Trang 13+ Hiệu và tỉ số của hai số, các phương pháp thường dùng tương tự như giảibài toán Tìm hai số khi bết tổng và tỉ số của hai số đó
+ Các bước chủ yếu trong việc giải bài toán này
* Bước 1: Xác định hiệu của hai số phải tìm (hoặc hiệu của hai số liên quanđến các số phải tìm) Xác định tỉ số của hai số phải tìm (hoặc tỉ số của hai số có liênquan đến số phải tìm)
* Bước 2: Biểu thị từng số đó thành số các phần bằng nhau tương ứng (vẽ sơ
đồ đoạn thẳng) Thực hiện tìm tổng số phần bằng nhau
* Bước 3: Thực hiện phép chia tổng của hai số phải tìm cho tổng số phầnbằng nhau để tìm giá trị một phần
* Bước 4: Tìm mỗi số theo số phần được biểu thị theo sơ đồ
3 Chuẩn kiến thức, kĩ năng cần đạt được khi học sinh học giải toán điển hình lớp 4
Chuẩn kiến thức và kĩ năng là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kĩnăng của môn học mà học sinh cần phải và có thể đạt được sau từng giai đoạn họctập Chuẩn kiến thức và kĩ năng của môn Toán ở lớp 4 là cơ sở để biên soạn sáchgiáo khoa; dạy học, đánh giá kết quả giáo dục trong môn Toán ở lớp 4 Khi dạyhọc giải toán nói chung và dạy học giải toán điển hình lớp 4 nói riêng cần căn cứvào chuẩn kiến thức và kĩ năng của môn Toán lớp 4
Chuẩn kiến thức và kĩ năng của môn toán lớp 4 là sự thể hiện cụ thể của mụctiêu dạy học toán 4 Bài toán điển hình gồm các dạng toán sau:
- Tìm số trung bình cộng của nhiều số
- Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó
- Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó
- Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó
4 Đường lối chung để dạy học sinh giải một bài toán điển hình
Để học sinh lĩnh hội đầy đủ kiến thức về các loại toán điển hình và có kĩ nănggiải các bài toán điển hình, khi dạy một loại toán điển hình, cần thực hiện cácbước:
Trang 14Bước 1: Hướng dẫn học sinh phân tích và giải mẫu về loại toán điển hình (theo
các bài toán cho sẵn trong phần bài mới của sách giáo khoa)
Bước 2: Rút ra quy tắc (hoặc công thức hay các bước làm) của từng dạng toán Bước 3: Học sinh giải các bài toán tương tự bài toán mẫu (song thay đổi các dữ
kiện, điều kiện của bài toán)
Bước 4: Cho học sinh giải các bài toán phức tạp dần
5 Một số biện pháp rèn kĩ năng giải toán điển hình cho học sinh lớp 4
5.1 Trang bị kiến thức về ý nghĩa của các phép tính, rèn kĩ năng tính toán
Khi học sinh giải toán, một điều quan trọng không thể thiếu đó là học sinh phảithực hiện đúng các phép tính Song thực tế, không ít học sinh còn hổng kiến thức
về ý nghĩa của phép tính, kĩ năng thực hiện phép tính chưa thành thạo.Vì vậy việctrang bị những kiến thức về ý nghĩa phép tính là rất quan trọng, cần thiết vì nó giúphọc sinh trong từng tình huống cần làm phép tính gì cho phù hợp Mặt khác, họcsinh không có kĩ năng thành thạo khi thực hiện phép tính thì sẽ dẫn tới một bài làmsai mặc dù phương pháp giải đúng
Bài toán 1: Viết phép tính thích hợp trong mỗi tình huống sau:
a Bao ngô cân nặng 35kg, bao ngô nhẹ hơn bao gạo 15kg Hỏi bao gạo cânnặng bao nhiêu ki - lô - gam?
b Hiện nay mẹ 35 tuổi Tuổi mẹ gấp 5 lần tuổi con Hỏi con bao nhiêu tuổi?
c Số thứ nhất là 120 Nếu số thứ hai giảm đi 2 lần thì được số thứ nhất Tìm sốthứ hai
Bài toán 2: Đúng ghi Đ, sai ghi S vào ô trống
a 87546 b 943 c _ 7836 d 10000
10594 510 743 462 86
Trang 15a, 3472 b, 38 c, 12345 67 d, 24760
5268 24 564 1714 5749
8640 152 95 18011
76 285
228 17
* Trong 4 bài tập trên, mỗi bài tập có một mục đích khác nhau: Bài tập 1 nhằm giúp học sinh ôn lại, củng cố ý nghĩa của phép tính: Tình huống a, bao ngô nhẹ hơn bao gạo có nghĩa là bao gạo cân nặng hơn bao ngô Trong tình huống này,
“nhẹ hơn” lại phải chọn phép tính cộng Với phép nhân và phép chia, thông thường khi gặp các thuật ngữ: “gấp” (một số lần) thì học sinh phải chọn phép tính nhân,
“giảm” (một số lần) thì làm phép tính chia Nhưng ở tình huống b, c thì ngược lại: Khi tuổi mẹ gấp 5 lần tuổi con mà muốn tìm tuổi con thì phải chọn phép tính chia Và số thứ hai giảm đi 2 lần thì được số thứ nhất có nghĩa là số thứ hai gấp 2 lần số thứ nhất muốn tím số thứ hai phải làm phép nhân
Học sinh muốn có kết quả đúng thì việc quan trọng là phải đặt tính đúng Đây cũng chính là mục đích của bài tập 2 Bài tập 3 là giúp học sinh rèn kĩ năng thực hiện 4 phép tính: cộng, trừ, nhân, chia Đặc biệt cần hướng dẫn học sinh cách ước lượng thương Ở bài tập 3d có thể hướng dẫn học sinh ước lượng: 25 : 5 = 5 lần Song ở bài tập 3e, hướng dẫn học sinh ước lượng như sau: lấy 397 chia cho 187 thì làm tròn như sau: 400 : 200 Mỗi lần chia đều thực hiện: chia, nhân, trừ (nhẩm) Kể
từ lần chia thứ hai trở đi, trước khi chia phải hạ một chữ số rồi mới tiếp tục chia Sau mỗi lần chia cần kiểm tra để so sánh số dư với số chia( số dư bé hơn số chia) Bài tập 4 có yêu cầu cao hơn bài tập 3 Để làm được bài tập 4, học sinh phải có kĩ năng tính thành thạo mới chỉ ra được sai ở đâu, tại sao sai và có thể làm lại cho đúng
5.2 Rèn kĩ năng nhận dạng các dạng toán điển hình
Trong quá trình giải toán có lời văn, đặc biệt là giải toán điển hình, mỗi lần gặp một bài toán mà học sinh lại phải tính lại từ đầu thì sẽ rất lâu, mất nhiều thời gian
Vì vậy cần rèn cho học sinh nhận dạng nhanh các dạng toán Từ đó, học sinh huy động vùng kiến thức, kĩ năng cần thiết vào giải bài toán
_ x
+
Trang 16Bài toán 1: Không giải bài toán, hãy đánh dấu nhân vào ô trước bài toán “Tìm hai
số khi biết tổng và hiệu của hai số
Có 60 tấn thóc chứa trong 2 kho, kho lớn chứa hơn kho nhỏ 4 tấn thóc Hỏi mỗi kho chứa bao nhiêu tấn thóc?
Tuổi bố và tuổi con cộng lại được 50 tuổi Bố là 42 tuổi Tính tuổi con.Bài toán 2: Cho sơ đồ sau:
Trong 2 đề toán sau, hãy chọn 1 đề toán tương ứng với sơ đồ trên
a Một hình chữ nhật có chiều dài hơn chiều rộng là 10 cm, chiều dài gấp 3 lầnchiều rộng Tìm chiều dài, chiều rộng của hình chữ nhật đó
b Một hình chữ nhật có chiều dài hơn chiều rộng là 10 cm, chiều dài gấp 2 lầnchiều rộng Tìm chiều dài, chiều rộng của hình chữ nhật đó
Bài toán 3: Hãy cho biết sơ đồ sau thuộc dạng toán nào?
Bài toán 4: Mỗi bài toán sau thuộc dạng toán gì?
a Lớp 4A có 4 tổ, trung bình mỗi tổ có 9 bạn Số bạn nữ nhiều hơn số bạn nam
là 4 bạn Hỏi lớp 4A có bao nhiêu bạn nam, bao nhiêu bạn nữ?
b Hiệu hai số là 728 Tìm hai số đó biết thương của chúng là 9
c Một hình chữ nhật có nửa chu vi là 125m, chiều rộng bằng
3
2
chiều dài Tínhdiện tích của hình chữ nhật đó
* Các bài tập trên, mỗi bài tập cũng có một mục đích khác nhau: bài tập 1 đãcho sẵn dạng toán nên trong số 2 bài toán đã cho, chắc chắn có bài toán thuộc dạngtoán “ Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó” Học sinh chỉ cần đọc kĩ đềbài và chọn bài toán phù hợp với yêu cầu
Trang 17Ở bài tập 2, đề bài cho sẵn sơ đồ và các bài toán song không cho đó là dạngtoán nào, học sinh cần dựa vào sơ đồ (phương tiện trực quan) để chọn bài toán phùhợp (bài toán a).
Bài tập 3 cho sẵn sơ đồ song không cho đề toán, học sinh chỉ dựa vào sơ đồ vànhận dạng toán (Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó)
Bài tập 4 không cho sẵn sơ đồ, chỉ có đề toán Mỗi bài toán lại có các từ ngữ màhọc sinh dễ nhầm lẫn các dạng toán Để nhận dạng được dạng toán trong trườnghợp này, học sinh phải sử dụng phương pháp phân tích để sàng lọc những yếu tốrườm rà, chú ý từ ngữ quan trọng ( a tổng - hiệu, b hiệu - t ỉ, c tổng - tỉ)
5.3 Rèn kĩ năng trình bày bài giải
+ Rèn kĩ năng vẽ sơ đồ đoạn thẳng
Mục đích của “tóm tắt” bài toán là phân tích đề toán để làm rõ bài toán cho gì
và bài toán hỏi gì, thu gọn bài toán rồi từ đó tìm ra cách giải hợp lí Bởi vậy, vẽ sơ
đồ trước khi giải bài toán là cần thiết Riêng đối với các bài toán về mối quan hệ sốhọc “Tổng (hiệu) và tỉ số” như trên thì cần phải vẽ sơ đồ đoạn thẳng vào phần trìnhbày bài giải bài toán
Hãy chọn sơ đồ đúng với đề toán sau:
Bài toán 1: Hiện nay mẹ hơn con 27 tuổi Tuổi mẹ gấp 4 lần tuổi con Tính tuổimỗi người
Sơ đồ 1:
Sơ đồ 2:
Bài toán 2: Hai kho chứa 1350 tấn thóc Kho thứ nhất chứa nhiều hơn kho thứ hai
50 tấn thóc Hỏi mỗi kho chứa được bao nhiêu tấn thóc?
? tấn
Trang 18? tấn
Bài toán 3: Vẽ sơ đồ khi giải bài toán phần a, b, c sau:
a Lớp 4A có 4 tổ, trung bình mỗi tổ có 9 bạn Số bạn nữ nhiều hơn số bạn nam
là 4 bạn Hỏi lớp 4A có bao nhiêu bạn nam, bao nhiêu bạn nữ?
b Hiệu hai số là 738 Tìm hai số đó biết thương của chúng là 9
c Một hình chữ nhật có nửa chu vi là 125m, chiều rộng bằng
3
2
chiều dài Tínhdiện tích của hình chữ nhật đó
Thoạt nhìn các sơ đồ của bài toán 1, học sinh có thể nhầm lẫn: sơ đồ nào cũngđúng Song phân tích kĩ thì thấy:
- Sơ đồ 1: thiếu đối tượng (lẽ ra phải ghi Tuổi mẹ, Tuổi con nhưng chỉ ghi Mẹ,Con)
- Sơ đồ 2: đúng (có đầy đủ dữ kiện, điều kiện, yêu cầu của bài toán)
Bài toán 2: - Sơ đồ 1: vẽ đúng
- Sơ đồ 2: hiểu sai kho 2 thành kho 1 nên vẽ sai.
Bài toán 3: Yêu cầu học sinh tự vẽ sơ đồ phù hợp với đề toán cho sẵn Để vẽđược sơ đồ thì học sinh phải nhận dạng được dạng toán và vẽ sơ đồ chính xác
+ Rèn kĩ năng viết câu trả lời
Với bất kì bài toán có lời văn nào, khi làm bài giải, học sinh đều phải viết câutrả lời, viết phép tính tương ứng, viết đáp số Nhiều học sinh chọn được phép tínhđúng song câu trả lời chưa đầy đủ hoặc sai Vì vậy, việc rèn kĩ năng viết câu trả lời
là cần thiết Để có câu trả lời đúng, đủ thì phải rèn từng bước
Trang 19* Cho sẵn một số từ ngữ, học sinh điền tiếp để được câu trả lời đúng
Bài toán 1: Trong một buổi trồng cây, lớp 4A và lớp 4B trồng được 204 cây Lớp4A trồng nhiều hơn lớp 4B là 6 cây Hỏi mỗi lớp trồng được bao nhiêu cây?
Bài giải
? học sinh
Học sinh trai:
35 học sinh Học sinh gái: