Xuất phát từ thực tiễn giảng dạy cũng như vai trò của một giáo viên tâm huyết với nghề văn, đồng thời góp phần tháo gỡ những khó khăn trên, tôi đã lựa chọn đề tài : Hướng dẫn học sinh tr
Trang 1
Lĩnh vực nghiên cứu : Ngữ văn
Tác giả: Lê Thị Quỳnh Sen
Chức vụ: Tổ trưởng tổ Văn- Thể dục- Quốc phòng Tài liệu đính kèm: Phụ lục
Năm học 2013 - 2014
Th¸ng 5 n¨m 2010
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
I
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Điều 35 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi rõ:
“Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu Nhà nước phát triển giáo dục nhằm
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài ” Đại hội đại biểu toàn
quốc của Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX cũng khẳng định “ Phát triển giáo
dục đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát triển nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng cường kinh tế nhanh và bền vững ” Xác định được
nhiệm vụ quan trọng đó nên những năm qua Bộ giáo dục đã không ngừng đưa ranhiều giải pháp mang tính cải tiến để thúc đẩy phát triển giáo dục Đứng trước thềm
thế kỉ XXI, Bộ giáo dục đã có những đổi mới tích cực như đổi mới chương trình
giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá, lồng ghépgiáo dục kĩ năng sống vào các môn học Đặc biệt Bộ giáo dục thay đổi cấu trúc
đề thi phải có một câu thuộc dạng nghị luận xã hội, ra đề theo hướng mở nhằmkhơi gợi trí tưởng tượng, khả năng sáng tạo của học sinh khi làm bài, góp phầnnâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng nhu cầu của đất nước
Một trong những biểu hiện của đổi mới theo hướng tích cực trong thi cử
môn Ngữ văn những năm gần đây là đề thi được ra theo hướng đề mở Bên cạnh
những dạng đề truyền thống, nhiều đề kiểm tra định kì trong năm học, đề thi họcsinh giỏi cấp trường, cấp cụm, cấp tỉnh, đề thi đại học, cao đẳng cũng ra đề theohướng mở Cách ra đề tạo nhiều hứng thú cho học sinh, nhất là học sinh khá, giỏi,
kích thích được sự say mê, sáng tạo của các em đó là dạng đề so sánh văn học.
Dạng đề này khi mới xuất hiện trong đề thi đại học năm học 2008-2009 đã đượcbáo chí và dư luận đánh giá cao là bởi học sinh không chỉ đơn thuần sao chép, táihiện lại kiến thức đã học một cách máy móc, mà học sinh phải tư duy sáng tạo dựatrên suy nghĩ cá nhân mới có thể làm tốt được bài Dạng đề này rất phù hợp với họcsinh khá, giỏi và cần thiết khi muốn phân hóa đối tượng người học
Trang 3So sánh văn học là một kiểu bài khá mới mẻ nên chưa được cụ thể hóa
thành một bài học riêng trong chương trình Ngữ văn bậc trung học phổ thông, cũng
không có nhiều tài liệu, bài viết để tham khảo Dạng bài này chưa “lộ diện” trong
sách giáo khoa nên không ít giáo viên tỏ ra lúng khi hướng dẫn học sinh viết bài,điều đó cũng ảnh hưởng ít nhiều đến chất lượng làm bài thi của học sinh Xuất phát
từ thực tiễn giảng dạy cũng như vai trò của một giáo viên tâm huyết với nghề văn,
đồng thời góp phần tháo gỡ những khó khăn trên, tôi đã lựa chọn đề tài : Hướng
dẫn học sinh trung học phổ thông cách làm dạng đề so sánh văn học
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đưa ra đề tài này, thông qua việc hướng dẫn các em cách làm bài, chúng tôimuốn nâng cao chất lượng làm bài dạng so sánh văn học trong các kì thi của họcsinh THPT nói chung, học sinh trường THPT Dương Quảng Hàm nói riêng, nhất làcác em thi học sinh giỏi môn Văn, các em thi Đại học, cao đẳng khối C, khối D tựtin hơn khi bước vào kì thi Theo chúng tôi thiên chức của người giáo viên dạy văn
không chỉ giúp các em “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa
có” mà dạy cho các em phương pháp, kĩ năng làm bài vì thế mục đích chính của đề
tài này :
- Giúp học sinh hiểu thế nào là dạng đề so sánh văn học
- Các loại so sánh văn học thường gặp trong thi cử
- Phương pháp, cách thức làm dạng đề này đạt kết quả cao
- Góp phần nâng cao chất lượng bộ môn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn
- Đề tài này cũng có thể coi tài liệu để các giáo viên tham khảo khi dạy cáctiết ôn tập, ôn thi tốt nghiệp, ôn thi đại học, ôn thi học sinh giỏi
III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Học sinh trung học phổ thông
- Dạng đề so sánh văn học
IV PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trang 4Trong văn học thực tế có rất nhiều các dạng đề so sánh văn học mà tôi chưa
thể thống kê hết được Song tôi đã cố gắng nghiên cứu và khái quát thành các dạng
đề thường gặp và đưa ra cách làm bài, ví dụ minh họa các bước khi làm dạng đề sosánh
Phạm vi nghiên cứu là các đề văn có dạng so sánh mà học sinh trung họcphổ thông (nhất là học sinh lớp 11, 12) thường gặp trong các kì thi như: So sánh haichi tiết trong tác phẩm văn học, so sánh hai đoạn thơ, so sánh hai đoạn văn, so sánhhai hình tượng trong tác phẩm văn học
V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Sáng kiến đã sử dụng các phương pháp sau
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp điều tra
VI.THỜI GIAN BẮT ĐẦU NGHIÊN CỨU VÀ HOÀN THÀNH ĐỀ TÀI
- Thời gian bắt đầu tìm hiểu, nghiên cứu đề tài này đã diễn ra từ năm 2009 Đềtài được bổ sung hàng năm qua quá trình dạy chuyên đề ôn thi đại học, cao đẳng vàđội tuyển học sinh giỏi cấp cụm, cấp Tỉnh
- Báo cáo tháng 2 năm 2014 và hoàn thiện tháng 4 năm 2014
VII ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Học sinh lớp 11, 12 trường THPT Dương Quảng Hàm, Văn Giang, Hưng Yên
Trang 5
PHẦN NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1 So sánh là một thao tác tư duy rất cơ bản Trong cuộc sống, khi ta tưduy, ta đã dùng đến thao tác này rất thường xuyên như một phần tất yếu Văn họccũng là một lĩnh vực của tư duy, của nhận thức, mang tính đặc thù, cho nên việc sửdụng thao tác so sánh trong sáng tác và nghiên cứu văn học là một điều hết sức tựnhiên Từ khi có văn học, nhất là văn học viết đến nay, các nhà nghiên cứu đã có ýthức so sánh khi tìm hiểu văn chương, đặc biệt là khi có những hiện tượng songhành trong văn học Có thể nhắc đến những hiện tượng song hành tiêu biểu trongvăn học Việt Nam: Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du và Nguyễn
Đình Chiểu, Cung Oán Ngâm và Chinh Phụ Ngâm,… So sánh các hiện tượng văn chương trở thành một phương pháp nghiên cứu văn chương Ở đây tôi không nhắc
tới so sánh văn học như một bộ môn khoa học mà được hiểu như một kiểu bài nghị luận văn học, một cách thức trình bày khi viết bài nghị luận.
2 Khái niệm so sánh văn học cần phải được hiểu theo ba lớp nghĩa khácnhau Thứ nhất, so sánh văn học là “một biện pháp tu từ để tạo hình ảnh cho câuvăn” Thứ hai, nó được xem như một thao tác lập luận cạnh các thao tác lập luậnnhư: phân tích, bác bỏ, bình luận đã được đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn 11 Thứ
ba, nó được xem như “một phương pháp, một cách thức trình bày khi viết bài nghịluận”, tức là như một kiểu bài nghị luận bên cạnh các kiểu bài nghị luận về mộtđoạn trích, tác phẩm thơ; nghị luận về một đoạn trích, tác phẩm văn xuôi… ở sáchgiáo khoa Ngữ văn 12 Ở đề tài này chúng ta nghiên cứu vấn đề ở góc nhìn thứ ba
3 So sánh là phương pháp nhận thức trong đó đặt sự vật này bên cạnh mộthay nhiều sự vật khác để đối chiếu, xem xét nhằm hiểu sự vật một cách toàn diện,kỹ lưỡng, rõ nét và sâu sắc hơn Tuy nhiên, so sánh văn học như một kiểu bài nghịluận văn học lại chưa được cụ thể bằng một bài học độc lập, chưa xuất hiện trongchương trình sách giáo khoa Vì vậy, từ việc xác lập nội hàm khái niệm kiểu bài,
Trang 6mục đích, yêu cầu, đến cách thức làm bài cho kiểu bài này thực sự rất cần thiếtsong lại gặp không ít khó khăn.
4 Kiểu bài viết so sánh văn học yêu cầu thực hiện cách thức so sánh trênnhiều bình diện: đề tài, nhân vật, tình huống, cốt truyện, cái tôi trữ tình, chi tiếtnghệ thuật, nghệ thuật trần thuật… Quá trình so sánh có thể chỉ diễn ra ở các tácphẩm của cùng một tác giả, nhưng cũng có thể diễn ra ở những tác phẩm của cáctác giả cùng hoặc không cùng một thời đại, giữa các tác phẩm của những trào lưu,trường phái khác nhau của một nền văn học
5 Mục đích cuối cùng của kiểu bài này là yêu cầu học sinh chỉ ra được chỗgiống và khác nhau giữa hai tác phẩm, hai tác giả, từ đó thấy được những mặt kếthừa, những điểm cách tân của từng tác giả, từng tác phẩm; thấy được vẻ đẹp riêngcủa từng tác phẩm; sự đa dạng muôn màu của phong cách nhà văn Không dừng lại
ở đó, kiểu bài này còn góp phần hình thành kĩ năng lí giải nguyên nhân của sự khácnhau giữa các hiện tượng văn học – một năng lực rất cần thiết góp phần tránh đikhuynh hướng “bình tán” khuôn sáo trong các bài văn của học sinh hiện nay Lẽhiển nhiên, đối với đối tượng học sinh trung học phổ thông, các yêu cầu về nănglực lí giải cần phải hợp lí, vừa sức Nghĩa là các tiêu chí so sánh cần có mức độ khóvừa phải, khả năng lí giải sự giống và khác nhau cũng cần phải hợp lí với năng lựccủa các em
II THỰC TRẠNG CỦA DẠNG ĐỀ SO SÁNH VĂN HỌC HIỆN NAY
1 Như phần đặt vấn đề chúng tôi có giới thiệu, dạng đề so sánh vănhọc đã xuất hiện thường niên trong các kì thi đại học, cao đẳng, các kì thi học sinhgiỏi Thậm trí trong các nhà trường phổ thông trung học dạng đề này cũng thườngxuyên được các thầy cô sử dụng cho các bài kiểm tra định kì của các trường THPT.Minh chứng cho điều này tôi giới thiệu vắn tắt một số câu hỏi thuộc phần 5 điểmtrong SGK Ngữ văn 11, 12, trong các đề thi học sinh giỏi tỉnh Hưng Yên và một sốcâu hỏi trong đề thi đại học, cao đẳng từ năm 2009 đến nay của Bộ giáo dục đàotạo:
Trang 7- Đề thi học sinh giỏi môn Văn tỉnh Hưng Yên: (Câu 2- 6 điểm)
+ Năm học 2009-2010: Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn văn sau:
“Còn xa lắm mới đến cái thác dưới nó nằm tùy theo sở thích tự động của đá
to đá bé ” (Trích Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân)
“Rời khỏi kinh thành, ấy là tấm lòng người dân Châu Hóa xưa mãi mãi chung
tình với quê hương xứ sở ” (Trích Ai đã đặt tên cho dòng sông ?– Hoàng Phủ
Ngọc Tường)
+ Năm học 2010-2011: Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ:
“ Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi”
(Trích Tiếng hát con tàu- Chế Lan Viên)
“Có biết bao người con gái, con trai
Để đất nước này là Đất Nước nhân dân”
(trích Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm)
+ Năm học 2011-2012: Đề ra cảm nhận về hai đoạn văn trong bài Vợ nhặt của Kim Lân và Vợ chồng APhủ của Tô Hoài
+ Năm học 2012-2013: Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:
“Những đường Việt Bắc của ta
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng” (Trích Việt Bắc – Tố Hữu)
“Ngày nắng đốt theo đêm mưa dội
Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”
+ Năm học 2013-2014: Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ trong bài Tràng
giang (Huy Cận) và bài Đây thôn Vĩ Dạ Hàn Mặc Tử)
- Đề thi đại học, cao đẳng của Bộ giáo dục:
+ Đề thi tuyển sinh đại học năm 2009, khối D (câu 3a) như sau:
Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp khuất lấp của nhân vật người vợ nhặt (Vợ nhặt Kim Lân) và nhân vật người đàn bà hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn
-Minh Châu)
Trang 8+ Đề thi tuyển sinh đại học khối C năm 2009: Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn văn sau:
“Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, lừ lừ cái màu
đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về”
(Người lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12 Nâng cao)
“Từ Tuần về đây, sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn, “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” như người Huế thường miêu tả”
(Ai đã đặt tên cho dòng sông – Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngữ văn 12 Nâng cao)
+ Đề thi Tuyển sinh đại học khối D (câu 3b) năm 2010: Cảm nhận của anh/chị về
chi tiết “bát cháo hành” mà nhân vật thị Nở mang cho Chí Phèo (Chí Phèo – Nam Cao) và chi tiết “ấm nước đầy và nước hãy còn ấm” mà nhân vật Từ dành sẵn cho
Hộ (Đời Thừa – Nam Cao).
+ Đề thi Tuyển sinh đại học khối D năm 2012: Truyện ngắn Chí Phèo của Nam
Cao kết thúc bằng hình ảnh:
Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa,
và vắng người lại qua…
(Ngữ văn 11, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.155) Truyện
ngắn Vợ nhặt của Kim Lân kết thúc bằng hình ảnh:
Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới…
(Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.32)
Cảm nhận của anh/chị về ý nghĩa của những kết thúc trên
2 Các đề thi trong khoảng 5 năm trở lại đây xuất hiện với mật độ dày nhưvậy, chúng tôi chưa tính đến thực tế trong các trường phổ thông nhiều bài viếtthường xuyên và định kì giáo viên cũng ra dạng đề này Đặc biệt trong sách giáokhoa của lớp 11 và lớp 12 cũng xuất hiện các đề so sánh yêu cầu giáo viên và họcsinh tìm hiểu, điển hình như:
Trang 9Bài viết số 2 Nghị luận văn học lớp 11, SGK giới thiệu đề thuộc so sánh văn học
Hình ảnh người phụ nữ Việt nam thời xưa qua các bài Bánh trôi nước, Tự tình(II) của Hồ Xuân Hương và Thương Vợ của Trần Tế Xương.
Bài Ôn tập phần văn học lớp 12 học kì I đưa ra hệ thống câu hỏi trong đó có 3 câu
hỏi với kiểu đề so sánh để thầy cô và các em tìm hướng giải quyết
Câu 8: Phân tích vẻ đẹp của hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng, so sánh với hình tượng người lính trong bài thơ Đồng chí của Chính
Hữu
Câu 9: Những khám phá riêng của mỗi nhà thơ về đất nước quê hương qua bài thơ
Đất nước (Nguyễn Đình Thi) và đoạn trích Đất Nước trong trường ca Mặt đường khát vọng (Nguyễn Khoa Điềm)
Câu 12: So sánh Chữ người tử tù (Ngữ văn 11, tập một) với Người lái đò Sông Đà,
nhận xét những điểm thống nhất và khác biệt của phong cách nghệ thuật NguyễnTuân trước và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945)
Bài viết số 6 trong SGK Ngữ văn 12 cũng có đề so sánh về hai bài thơ của NguyễnĐình Thi và Nguyễn Khoa Điềm
3 Thực trạng đề thi có dạng so sánh xuất hiện phong phú như vậy nhưngtrong chương trình sách giáo khoa môn Ngữ văn của trung học phổ thông lại không
có một kiểu bài dạy riêng để hướng dẫn cho thầy cô giáo cũng như các em học sinhnắm được phương pháp làm dạng đề nay một cách hiệu quả nhất Chính vì vậy mànhư đã trình bày ở phần lí do chọn đề tài nhiều em học sinh tỏ ra rất lúng túng khiđứng trước đề bài so sánh văn học, còn không ít thầy cô thì băn khoăn về phươngpháp làm bài Đứng trước thực trạng đó, bằng kinh nghiệm của bản thân qua nhữngnăm dạy đội tuyển học sinh giỏi, dạy chuyên đề đại học cũng như trao đổi với đồngnghiệp, tôi đề xuất cách làm dạng đề so sánh này
Trang 10III ĐỀ XUẤT CÁCH LÀM DẠNG ĐỀ SO SÁNH VĂN HỌC
1.Xác đ ịnh các loại đề so sánh v ă n học th ư ờng gặp
Thực tế cho thấy dạng bài so sánh văn học có rất nhiều loại nhỏ Bằng sựtrải nghiệm của bản thân và dựa vào tổng kết các đề thi của những năm gần đây,tôi thống kê và khái quát lại thành những cấp bậc đề so sánh văn học cơ bản và đưa
ra một vài ví dụ mang tính chất minh họa cho mỗi loại nhỏ:
- So sánh hai chi tiết trong hai tác phẩm văn học:
Ví dụ 1: Đề khối D 2010: So sánh chi tiết ấm nước đầy và còn ấm mà Từ dành chăm sóc Hộ và chi tiết bát cháo hành của Thị Nở dành cho Chí Phèo
Ví dụ 2: Cảm nhận của anh/chị về chi tiết “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá!”
mà nhân vật Chí Phèo cảm nhận được sau đêm gặp thị Nở (Chí Phèo - Nam Cao, Ngữ văn 11) và chi tiết “Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi” mà nhân vật
Mị nghe được trong đêm tình mùa xuân (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài, Ngữ văn 12)
- So sánh hai đoạn thơ
Ví dụ 1: Đề khối C 2008 (diễn tả nỗi nhớ) trong hai bài: Tây Tiến của Quang Dũng
và Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên
Ví dụ 2: Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất;
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi
(Vội vàng– Xuân Diệu, Ngữ văn 11,
Tập 2, NXB Giáo dục 2011)
Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Để tình trang trải với trăm nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ
Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời
(Từ ấy– Tố Hữu, Ngữ văn 11,
Trang 11Tập 2, NXB Giáo dục 2011)
- So sánh hai đoạn văn
Ví dụ 1: Đề khối C 2010 (khắc họa vẻ đẹp hai dòng sông) trong hai bài kí: Người
lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ
Ngọc Tường
Ví dụ 2: Cảm nhận về hai đoạn văn sau: “Ngày tết, Mị cũng uống rượu Mị nén lấy
hũ rượu cứ uống ừng ựng từng bát Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn mọi người nhảy đồng, người hát, nhưng lòng Mị thì đang sống về ngày trước Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng ” (Vợ chồng APhủ - Tô Hoài)
“ Phải uống thêm chai nữa Và hắn uống Nhưng tức quá, càng uống lại càng tỉnh
ra Tỉnh ra chao ôi buồn! Hơi rượu không sặc sụa, hắn cứ thoang thoảng thấy hơi cháo hành Hắn ôm mặt khóc rưng rức ” ( Chí Phèo –Nam Cao)
- So sánh hai nhân vật
Ví dụ 1: Đề thi đại hoc –khối C 2009 Vẻ đẹp khuất lấp của: người vợ nhặt trong Vợ
nhặt của Kim Lân và người đàn bà hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa của
Nguyễn Minh Châu
Ví dụ 2: So sánh nhân vật Đan Thiềm trong trích đoạn Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài của Nguyễn Huy Tưởng và viên quản ngục trong Chữ Người tử tù của Nguyễn
Tuân
Ví dụ 3: Bi kịch của Vũ Như Tô (Vũ Như Tô – Nguyễn Huy Tưởng) và Hộ (Đời
thừa – Nam Cao)
- So sánh cách kết thúc hai tác phẩm:
Ví dụ 1: Đề thi đại học 2012: So sánh kết thúc tác phẩm truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao và kết thúc tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân
Ví dụ 2: So sánh cách kết thúc hai tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam và Chí
Phèo của Nam Cao
- So sánh phong cách tác giả:
Trang 12Ví dụ: So sánh Chữ người tử tù (Ngữ văn 11, tập một) với Người lái đò Sông Đà,
nhận xét những điểm thống nhất và khác biệt của phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân trước và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945
- So sánh, đánh giá hai lời nhận định về một tác phẩm
Đề thi đại học khối C năm 2013 cũng có thể xem là một dạng của so sánh: Về hìnhtượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng có ý kiến cho rằng:
người lính ở đây có dáng dấp của tráng sĩ thuở trước; ý kiến khác thì nhấn mạnh: hình tượng người lính mang đậm vẻ đẹp của người lính thời kì kháng chiến chống Pháp.Từ cảm nhận của mình về hình tượng này, anh chị hãy bình luận những ý
kiến trên
Đề thi đại học 2013 yêu cầu người viết hiểu đúng, hiểu sâu nhưng quan trọng là tựbày tỏ hiểu biết tùy theo năng lực nhận thức, không lệ thuộc tài liệu hay bài giảngcủa thầy cô Đáp án chấp nhận cả quan điểm khác hướng dẫn chấm nhằm khuyếnkhích thí sinh mạnh dạn viết về vấn đề với cảm nhận từ nhiều điểm nhìn khác nhau,trình độ khác nhau Vấn đề quan trọng quyết định đánh giá chất lượng bài thi vănlại chính là kỹ năng phân tích, so sánh, bình luận làm rõ vấn đề của học sinh
2 Các cách làm bài dạng đề so sánh v ă n học
- Đứng trước một đề văn thường có rất nhiều cách triển khai, giải quyết vấn
đề, song đối với kiểu đề so sánh văn học dù là ở dạng so sánh hai chi tiết , hai đoạnthơ, hai đoạnh văn, hay hai nhân vật phương pháp làm bài văn dạng này thôngthường có hai cách:
Nối tiếp : Lần lượt phân tích hai văn bản rồi chỉ ra điểm giống và khác nhau Song song : Tìm ra các luận điểm giống và khác nhau rồi lần lượt phân tích
từng luận điểm kết hợp với việc lấy song song dẫn chứng của cả hai văn bản minhhọa
* Cách 1: Phân tích theo kiểu nối tiếp Đây là cách làm bài phổ biến của học sinh
khi tiếp cận với dạng đề này, cũng là cách mà Bộ giáo dục và đào tạo định hướngtrong đáp án đề thi đại học - cao đẳng Bước một lần lượt phân tích từng đối tượng
Trang 13so sánh cả về phương diện nội dung và nghệ thuật, sau đó chỉ ra điểm giống vàkhác nhau Cách này học sinh dễ dàng triển khai các luận điểm trong bài viết Bàiviết rõ ràng, không rối kiến thức nhưng cũng có cái khó là đến phần nhận xét điểmgiống và khác nhau học sinh không thành thạo kĩ năng, nắm chắc kiến thức sẽ viếtlặp lại những gì đã phân tích ở trên hoặc suy diễn một cách tùy tiện Mô hình kháiquát của kiểu bài này như sau:
Mở bài:
- Dẫn dắt (mở bài trực tiếp không cần bước này)
- Giới thiệu khái quát về các đối tượng so sánh
+ Lý giải sự khác biệt: Thực hiện thao tác này cần dựa vào các bình diện: bối cảnh
xã hội, văn hóa mà từng đối tượng tồn tại; phong cách nhà văn; đặc trưng thi phápcủa thời kì văn học…(bước này vận nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thaotác lập luận phân tích)
Kết bài:
- Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu
- Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân
*Cách 2: Phân tích song song được hiểu song hành so sánh trên mọi bình diệncủa hai đối tượng Cách này hay nhưng khó, đòi hỏi khả năng tư duy chặt chẽ,
Trang 14lôgic, sự tinh nhạy trong phát hiện vấn đề học sinh mới tìm được luận diểm của bàiviết và lựa chọn những dẫn chứng tiêu biểu phù hợp của cả hai văn bản để chứng
minh cho luận điểm đó Ví dụ, khi so sánh hai bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi và trích đoạn Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm Ứng dụng cách viết này học
sinh không phân tích lần lượt từng tác phẩm như cách một mà phân tích so sánhsong song trên các bình diện: Xuất xứ - cảm hứng - hình tượng - chất liệu và giọngđiệu trữ tình, mô hình khái quát của kiểu bài này như sau:
Mở bài:
- Dẫn dắt (mở bài trực tiếp không cần bước này)
- Giới thiệu khái quát về các đối tượng so sánh
Thân bài:
- Điểm giống nhau
+ Luận điểm 1 (lấy dẫn chứng cả hai văn bản)
+ Luận điểm 1 (lấy dẫn chứng cả hai văn bản)
+ Luận điểm
- Điểm khác nhau
+ Luận điểm 1 (lấy dẫn chứng cả hai văn bản)
+ Luận điểm 1 (lấy dẫn chứng cả hai văn bản)
+ Luận điểm
Kết bài
- Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu
- Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân
* Hai cách làm bài của kiểu đề so sánh văn học là vậy, mỗi cách làm đều
có mặt mạnh, mặt yếu khác nhau Trong thực tế không phải đề nào chúng ta cũng
có thể áp dụng theo đúng khuôn mẫu cách làm như đã trình bày ở trên Phải tùythuộc vào cách hỏi trong mỗi đề cụ thể mà ta áp dụng theo cách nào và áp dụng saocho linh hoạt, phù hợp Cũng có khi vận dụng đầy đủ các ý của phần thân bài, cũng
Trang 15có khi phải cắt bỏ một phần cho hợp với yêu cầu trọng tâm của đề, hay dụng ý củangười viết
3 Hướng dẫn thực nghiệm
Để minh họa cho các bước làm một đề so sánh văn học tôi đưa ra hai ví dụ
để ứng dụng Ví dụ 1 sẽ được làm theo cách làm bài số 1 – Phân tích nối tiếp; ví dụ
2 sẽ được làm theo cách làm bài số 2 – Phân tích song song Hai ví dụ được vậndụng xuyên xuốt trong phần thực nghiệm để chúng ta kiểm chứng lại lí thuyết vềcách làm bài và tiện đối chiếu mặt mạnh, mặt yếu của từng cách làm
* Ví dụ 1: Sự tương phản giữa ánh sáng và bóng tối trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam và Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân.
* Ví dụ 2: Hình tượng người lính trong thời kì kháng chiến chống Pháp qua
hai bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng và Đồng chí của Chính Hữu.
3.1 Hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề
- Thông thường giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề qua ba ý
mà học sinh chịu khó tìm hiểu, suy nghĩ mới có thể đáp ứng được yêu cầu Chính vìvậy mà ngay bước khởi đầu này giáo viên cần lưu ý các em phải biết cách nhận
thức đề cho đúng và trúng – nghĩa là tìm cho đúng trọng tâm yêu cầu đề
Trang 16- Thường đề hỏi theo hai cách: dạng hỏi có định hướng (có luận điểm sẵntrong đề như ví dụ 1) và dạng hỏi không có định hướng (không có sẵn luận điểmtrong đề mà mà học sinh phải tự đi tìm như ví dụ 2) Nếu xác định không trúng
trọng tâm yêu cầu đề thi bài viết sẽ lạc hướng và ngược lại nếu xác định đúng và
trúng thì bài viết sẽ bám sát yêu cầu đề và đem lại hiệu quả cao hơn
Ví dụ 1: Sự tương phản giữa ánh sáng và bóng tối trong truyện ngắn Hai đứa trẻ
của Thạch Lam và Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân.
Đây là dạng đề có định hướng: tìm hiểu ánh sáng và bóng tối trong hai
tác phẩm, kiểu đề so sánh hai chi tiết trong tác phẩm Tuy nhiên nếu học sinh
không nghiền ngẫm đề sẽ chỉ lao vào phân tích ánh sáng và bóng tối của hai tác
phẩm rồi tìm ra điểm giống và khác nhau Nhưng đề không đơn thuần là như vậy,
các em học sinh cần hiểu yêu cầu đề nhấn mạnh đến sự tương phản giữa ánh sáng
và bóng tối Nghĩa là dụng ý của người ra đề còn muốn nhấn mạnh đến mục đích
của các nhà văn khi khi xây dựng sự tương phản giữa hai loại ánh sáng đó Từ đótìm ra nét tương đồng và khác biệt của từng tác phẩm Nếu hiểu được đúng yêu cầu
đề như vậy bài viết chắc sẽ tốt hơn
Ví dụ 2: Hình tượng người lính trong thời kì kháng chiến chống Pháp qua hai bài
thơ Tây Tiến của Quang Dũng và Đồng chí của Chính Hữu.
Giáo viên cần xác định cho học sinh đây là dạng hỏi không có định hướnghay nói một cách khác là một dạng của đề mở Với đề bài này người viết tự tìm raluận điểm sao cho phù hợp, dù luận điểm xác định như nào thì nhất thiết người đọccũng phải thấy được nét tương đồng và khác biệt trong hai tác phẩm Đề này có thểthấy điểm giống nhau trên các bình diện: thời đại, hình tượng, lí tưởng điểm khácnhau về bút pháp, nguồn gốc xuất thân
3.2 H ư ớng dẫn học sinh lập dàn ý chi tiết
- Trước một đề văn, phân tích tìm hiểu đề cho kĩ càng đã khó, xây dựng
được một dàn ý cho tương đối hoàn chỉnh và đúng đắn lại càng khó hơn Bởi trướcmột vấn đề của văn chương không ít cách tiếp cận Trước một câu hỏi văn chương