Nội dung khảo sát Với phạm vi và nội dung nghiên cứu của đề tài, chúng tôi giới hạn xác định khảo sát trên một số chỉ tiêu cơ bản sau đây: + Nhận thức của giáo viên về tác dụng của phư
Trang 1BẢO VỆ LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC (bậc Tiểu học)
Người thực hiện: KiÒu Quý Hîp Người hướng dẫn: TS chu thÞ hµ thanh Đề tài: Sử dụng trò chơi häc tËp trong dạy
Học vÇn ë tiÓu häc
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chúng ta đang đứng trước một thời đại mới - thời đại đòi hỏi đất nước phải có những người lao động trình độ cao Thực tiễn đó đòi hỏi ngành giáo dục và đào tạo phải không ngừng đổi mới nhằm góp phần hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam với tư cách là mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế xã hội Đổi mới trong giáo dục, phải được hiểu là sự đổi mới toàn diện, đổi mới từ mục tiêu, nội dung đến phương pháp dạy học đang được coi là vấn đề nóng bỏng, vấn đề có tính chất thời đại thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà quản lí giáo dục cũng như các giáo viên trực tiếp đứng lớp…
Lớp 1 chứa đựng những thử thách quan trọng đầu tiên của cuộc đời Người giáo viên tiểu học cần giúp trẻ thích nghi dần với cuộc sống mới bằng nghệ thuật sư phạm và những
phương pháp dạy học thích hợp để “mỗi ngày đến trường là một ngày vui”, trao cho trẻ sự
hứng thú với mỗi bài học, mỗi hoạt động học tập và cảm giác mong đợi từng tiết học.
Khổng Tử đã từng dạy học trò của mình rằng “biết mà học không bằng thích mà học, thích mà học không bằng vui say mà học” Vì vậy một trong những giải pháp đảm bảo sự
thành công trong dạy học cho học sinh lớp 1 nói chung và phân môn Học vần nói riêng là tạo được sự hứng thú nhận thức cho các em.
Trong thực tế, phân môn Học vần lớp 1 người giáo viên tiểu học phần lớn mới chỉ chú ý đến việc bằng mọi cách cung cấp hết kiến thức trong sách giáo khoa, mà ít quan tâm đến thái
độ, cảm xúc của trẻ Chính vì vậy nhiều tiết Học vần trở thành tiết học nặng nề, mệt mỏi đối với học sinh Nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi mà áp lực do đòi hỏi từ phía xã hội, gia đình, nhà trường lên đứa trẻ ngày càng lớn, thì ngày càng xuất hiện những học sinh sợ mà học chứ không phải thích mà học.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Sử dụng trò chơi học tập trong dạy Học
vần ở tiểu học”.
Trang 32 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng sử dụng trò chơi học tập trong dạy Học vần nói riêng, trong dạy học Tiếng Việt nói chung
3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học phân môn Học vần ở tiểu học
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Sử dụng trò chơi học tập trong dạy Học vần ở tiểu học
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu xác định đúng cơ sở lí luận, làm rõ thực trạng sử dụng trò chơi trong dạy Học vần ở tiểu học thì sẽ đề xuất được một số biện pháp hợp lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn này
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy Học vần tiểu học
5.2 Nghiên cứu thực trạng sử dụng trò chơi học tập trong Học vần ở tiểu học
5.3 Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng sử dụng trò chơi học tập vào dạy Học vần
5.4 Thử nghiệm sư phạm
Trang 46 GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU
Luận văn tập trung nghiên cứu việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học phân môn Học vần ở một số trường tiểu học trên địa bàn thị xã Hồng Lĩnh và huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh
7 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Phân tích, so sánh, hệ thống hoá, các quan điểm lí luận từ các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát
7.2.2 Phương pháp điều tra.
7.2.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
7.2.4 Phương pháp đàm thoại
7.2.5 Phương pháp thử nghiệm
7.3 Phương pháp thống kê toán học
8 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
- Đưa ra được thực trạng tổ chức trò chơi dạy Học vần
- Đề xuất hệ thống biện pháp sử dụng trò chơi dạy Học vần
Trang 59 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, phụ lục nghiên cứu thì luận văn được bố trí 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng sử dụng trò chơi học tập trong dạy Học vần ở tiểu học
Chương 3: Một số biện pháp nâng cao chất lượng sử dụng trò chơi học tập trong dạy Học vần ở tiểu học
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1 Lịch sử của vấn đề nghiên cứu:
Vấn đề lí luận về trò chơi học tập và tổ chức cho trẻ chơi loại trò chơi này được các nhà sư phạm trên thế giới cũng như ở nước ta quan tâm và
được xem xét nghiên cứu theo một số khuynh hướng khác nhau
* Khuynh hướng thứ nhất: Nghiên cứu và sử dụng trò chơi học tập
vào
mục đích giáo dục – phát triển toàn diện cho trẻ em
* Khuynh hướng thứ 2: Nghiên cứu và sử dụng trò chơi học tập bó hẹp trong
mục đích dạy học, coi trò chơi học tập như một phương tiện dạy học
* Khuynh hướng thứ ba: Nghiên cứu và sử dụng trò chơi học tập vào
mục đích giáo dục và phát triển một số năng lực, phẩm chất trí tuệ cho học
sinh
Trang 6Ở nước ta, việc tổ chức trò chơi trong dạy học ở tiểu học đã được quan tâm Đối
với môn Toán có “112 trò chơi toán lớp 1 và 2” của nhà giáo Phạm Đình Thực [16] Trong dạy học Tự nhiên và xã hội có “Trò chơi học tập môn Tự nhiên và xã hội lớp
1,2,3” do tác giả Bùi Phương Nga chủ biên Cuốn “Học mà vui, vui mà học” của tác
giả Vũ Xuân Đĩnh
Trong dạy học môn Đạo đức có “Trò chơi học tập môn Đạo đức ở tiểu học” của tác
giả Lưu Thu Thuỷ [17]
Đối với môn học Tiếng việt có “Dạy và học môn Tiếng Việt ở tiểu học theo chương
trình mới” [16], cuốn “Vui học Tiếng Việt” [9], “Trò chơi thực hành Tiếng Việt 1” [17],
…
Một số tài liệu tham khảo đã xây dựng, giới thiệu hệ thống trò chơi Học vần như
“Trò chơi học âm vần Tiếng Việt”[12], “Trò chơi với chữ cái và phát triển ngôn
ngữ”[13]… những tài liệu nói trên mới chỉ chú ý đến việc nghiên cứu về cơ sở lí
luận chung của trò chơi, các trò chơi dạy Học vần đã được giới thiệu chưa phong phú mới chỉ dừng lại ở một số trò chơi quen thuộc, việc hướng dẫn chơi còn sơ sài,
có nhiều hạn chế Vì vậy, xây dựng biện pháp tổ chức trò chơi Học vần có ý nghĩa
cả về mặt lí luận cả về mặt thực tiễn đối với việc tổ chức trò chơi dạy Học vần ở tiểu học hiện nay
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Trò chơi.
Trang 71.2.1.1 Khái niệm
Hiện nay có một số định nghĩa và khái niệm về trò chơi
Theo Từ điển Tiếng Việt thì trò chơi là "Hoạt động bày ra để vui chơi,
giải trí"
Chúng tôi cho rằng, trò chơi là hoạt động vui chơi mang một chủ đề,
một nội dung nhất định, có tổ chức của nhiều ng ười tham gia (từ 2 ng ười trở lên)
và có những quy định, những luật lệ buộc ngư ời tham gia phải tuân theo.
1.2.1.2 Cấu trúc của trò chơi
Trò chơi được cấu trúc từ những yếu tố: Cốt trò, Đề trò, Luật trò,
Trang 81.2.1.3 Phõn loại trũ chơi học tập
Trò chơi học tập có thể phân loại theo số ng ời tham gia hoặc phân loại theo các môn học Trong các môn học lại đ ợc phân ra theo các mạch kiến thức, phân loại theo chủ đề học tập
* Trũ chơi với đồ vật (hay trũ chơi xõy dựng)
Trẻ thường chơi với những vật thể đơn giản
Loại trũ chơi này sẽ được trỡnh bày một cỏch cụ thể ở phần tiếp sau
Trờn đõy là 5 loại trũ chơi cơ bản Tuy nhiờn sự phõn loại này chỉ cú tớnh tương đối Trờn thực tế cú những loại trũ chơi hỗn hợp, tổng hợp của hai hoặc nhiều loại trũ chơi trờn
Trang 91.2.1.4 Ý nghĩa của trò chơi
Có thể nói rằng, trò chơi có hiệu quả kép… chơi làm thoả mãn nhu cầu của trẻ Trò chơi phát triển các chức năng tâm lí và hình thành nên nhân cách
Trò chơi nếu được tổ chức hợp lí thì sẽ kích thích sự phát triển trí tuệ của trẻ
Trong khi chơi, trẻ phát triển tri giác nhanh, phát triển trí nhớ, phát triển các thao tác tư duy, phát triển tưởng tượng và phát triển ngôn ngữ
Từ chổ ý thức của trẻ hướng tới bản thân thao tác chơi chuyển dần sang mục đích, nội dung và yêu cầu khách quan của trò chơi, hành động chơi được hình thành ở trẻ Từ đó hình thành động cơ học tập
Trước hết, tính chủ động của các quá trình tâm lí được hình thành
và phát triển trong lòng hành động chơi Bởi lẽ chính nội dung chơi, luật chơi đòi hỏi đứa trẻ phải tập trung chú ý và ghi nhớ có chủ định Qua chơi, một mặt giúp trẻ tích luỷ được những biểu tượng làm cơ sở cho hoạt động tư duy Trò chơi còn ảnh hưởng lớn đến sự phát triển ngôn ngữ, tình cảm của trẻ
Khi chơi là dịp tốt nhất để trẻ phát hiện thăm dò thế giới xung
quanh, qua đó mà kích thích tính tò mò, óc quan sát, năng lực phán đoán, trí tưởng tượng… Chính vì vậy mà nhiều nhà giáo dục đã gọi trò chơi là trường học của cuộc sống trẻ em Chơi là phương tiện để giáo dục toàn diện cho trẻ Chính vì thế cần giáo dục trẻ trong trò chơi với phương thức là “Học mà chơi, chơi mà học”
Trang 101.2.2 Trũ chơi học tập
1.2.2.1 Khỏi niệm
Trò chơi học tập là loại trò chơi có chứa nội dung dạy học, đ ợc bày ra để thông qua việc chơi mà học.
A.I Xụrụkina đó đưa ra một luận điểm vụ cựng quan trọng về đặc thự của trũ chơi học
tập: “Trũ chơi học tập là một quỏ trỡnh phức tạp, nú là hỡnh thức dạy học và đồng thời
nú vẫn là trũ chơi…Khi cỏc mối quan hệ chơi bị xúa bỏ, ngay lập tức trũ chơi biến mất
và khi ấy, trũ chơi biến thành tiết học, đụi khi biến thành sự luyện tập.”
1.2.2.2 Đặc điểm trũ chơi học tập
Trũ chơi học tập hường được dựng vào mục đớch giỏo dục và dạy học
Trũ chơi học tập khỏc với cỏc loại trũ chơi khỏc là ở chỗ, nhiệm vụ nhận
thức và luật chơi
Trờn thực tế hiện nay nhiều giỏo viờn khụng nắm rừ được bản chất, đặc
trưng của trũ chơi học tập và thường nhầm lẫn với bài tập Họ cho rằng cứ lấy một bài tập rồi tổ chức cho trẻ thi đua giải bài tập đú xem ai nhanh nhất, ai đỳng nhất thỡ đú là chơi Đõy là một quan niệm sai lầm
1.2.2.3 Cấu trỳc của trũ chơi học tập
Trang 11- Hành động chơi
Chính là những tác động trẻ phải làm trong lúc chơi và nó cũng là thành phần quan trọng của trò chơi học tập “Các hành động chơi là thành phần chính của trò chơi học tập, thiếu chúng thì không còn là trò chơi nữa
- Luật chơi
Đó là những quy định có sẵn mà nhất thiết trẻ phải tuân thủ trong khi chơi Luật chơi quyết định trò chơi và nếu phá vỡ chúng thì trò chơi học tập cũng bị phá vỡ theo
- Kết quả
Trò chơi học tập bao giờ cũng có một kết quả nhất định Kết quả của trò chơi học tập thường làm thoả mãn nhu cầu nhận thức cũng như nhu cầu chơi ở các em
1.2.2.4 Vai trò của trò chơi học tập đối với sự phát triển trí tuệ của học sinh.
- Gúp lĩnh hội tri thức, vốn sống kinh nghiệm xã hội nhẹ nhàng, tự nhiên
không gò bó, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí ở học sinh
Qua trò chơi học tập học sinh tiếp thu, lĩnh hội và khắc sâu được nhiều tri
thức, nhiều khái niệm và hình thành được những biểu tượng rõ rệt về các sự vật, hịên tượng xung quanh
Trò chơi học tập còn là phương tiện rất tốt để khắc phục những mặt khó khăn trong hoạt động tư duy của học sinh
Trò chơi học tập có ảnh hưởng giáo dục sâu sắc tới học sinh
Các nhà tâm lí học lớp 1 coi trò chơi học tập là một phương tiện quan trọng trong quá trình dạy học tiểu học
Trang 121.2.2.5 Phân loại trò chơi học tập
Về phương diện phát triển các chức năng tâm lí của học sinh, trò chơi học tập cũng có nhiều loại khác nhau:
Trò chơi học tập nhằm phát triển các giác quan
Trò chơi học tập nhằm phát triển các thao tác tư duy
Trò chơi học tập nhằm phát triển óc tưởng tượng
Trò chơi học tập phát triển trí nhớ
Trò chơi học tập giúp cho sự phát triển, chú ý, ngôn ngữ… của học sinh
Sự phân loại trên chỉ có tính tương đối Trong thực tế nhiều trò chơi học tập có ý nghĩa tổng hợp
1.2.2.6 Trò chơi học tập trong môn Học vần ở tiểu học
Theo chúng tôi: Trò chơi học tập trong môn Học vần là các trò chơi trong
đó có chứa các nội dung kiến thức của phân môn Học vần
1.3 SỬ DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC VẦN Ở TIỂU HỌC
1.3.1 Mục tiêu của dạy Học vần
Coi trọng sự hình thành rèn luyện cả 4 kĩ năng: nghe, đọc, nói, viết trong
đó kĩ năng đọc và kĩ năng viết vẫn được đặt ở vị trí hàng đầu trong đó chú ý nhiều hơn đến kĩ năng viết
Ngoài ra, thông qua việc dạy chữ, dạy âm, Học vần còn phải phát triển vốn từ của các em và tạo cho các em sự ham thích thơ văn Đây là điều kiện
chuẩn bị để các em học tốt hơn môn Tiếng Việt ở các lớp trên
Trang 131.3.2 Chương trình, nội dung Học vần
* Các bài học giới thiệu âm, chữ ghi âm và thanh điệu
* Các bài học giới thiệu vần.
1.3.3 Các loại trò chơi học tập thường sử dụng trong dạy Học vần
Việc phân loại trò chơi học tập hiện nay đang có nhiều ý kiến Tuy nhiên mỗi một môn học lại có những loại trò chơi khác nhau Đối với phân môn Học vần cũng có nhiều cách phân loại khác nhau: phân loại theo hình thức vận động của người chơi; phân loại theo nhóm bài (làm quen với âm và chữ; dạy âm vần mới; ôn tập âm, vần), phân loại theo mục đích củng cố kiến thức và rèn luyện kĩ năng của phần Học vần)
1.3.4 Một số hạn chế khi sử dụng trò chơi học tập
Giáo viên phải có sự chuẩn bị và đầu tư cho từng trò chơi, nên nhiều giáo viên ngại sử dụng
Dễ làm mất thời gian và lớp học thường ồn ào dẫn đến học sinh mất trật tự, làm ảnh hưởng ít nhiều đến lớp khác
Diện tích phòng học, cách sắp sếp bàn ghế cũng gây khó khăn cho việc tổ chức trò chơi
Đòi hỏi người giáo viên phải có óc tổ chức, biết kích thích sự tham gia của học sinh
Trang 141.4 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TÂM LÍ CỦA HỌC SINH ĐẦU BẬC TIỂU HỌC CÓ LIÊN QUAN VIỆC SỬ DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC VẦN
1.4.1 Đặc điểm nhận thức của học sinh c¸c líp ®Çu bậc tiÓu häc
Ngôn ngữ của học sinh được hình thành thông qua giao tiếp và hoạt động
1.4.2 Đặc điểm nhân cách của học sinh c¸c líp ®Çu bậc tiÓu häc
1.4.2.1 Nhu cầu
Theo nghiên cứu của tác giả Trịnh Quốc Thái về “nhu cầu của học sinh lớp
1 những ngày đầu đi học” thì “nhu cầu vui chơi của trẻ vẫn còn chiếm ưu thế (90%) trong khi nhu cầu nhận thức lại ở vị trí thấp hơn (63%) trong hệ thống các nhu cầu”
Trang 151.4.2.6 Mối quan hệ liên nhân cách
Trong quan hệ với bạn bè: Đối với học sinh lớp 1, mối quan hệ giữa các em phần lớn được giải quyết bởi giáo viên thông qua việc tổ chức các hoạt động cho các
em
Trong quan hệ với cô giáo: Đối với học sinh lớp 1, sự mến phục và uy quyền của giáo viên là tất cả cuộc sống của trẻ và của tập thể lớp Mọi học sinh đều cố gắng thiết lập được mối quan hệ thiện cảm từ phía cô giáo
Trang 16CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG TRÒ CHƠI häc tËp TRONG DẠY HỌC VẦN Ở TIỂU HỌC
2.1 KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG
2.1.1 Mục đích khảo sát
Nhằm đánh giá toàn diện thực trạng sử dung trò chơi trong dạy Học vần ở trường tiểu học và đề xuất biện pháp sử dụng trò chơi trong dạy Học vần ở tiểu học 2.1.2 Đối tượng nghiên cứu, khảo sát.
Các giáo viên dạy lớp 1 ở một số trường thuộc thị xã Hồng Lĩnh và huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh (Trong đó có 51 giáo viên thuộc địa bàn thị xã Hồng Lĩnh, 56 giáo viên thuộc địa bàn huyện Đức Thọ)
2.1.3 Nội dung khảo sát
Với phạm vi và nội dung nghiên cứu của đề tài, chúng tôi giới hạn xác định khảo sát trên một số chỉ tiêu cơ bản sau đây:
+ Nhận thức của giáo viên về tác dụng của phương pháp trò chơi học tập trong dạy Học vần ở lớp 1
+ Mức độ sử dụng các phương pháp dạy học trong quá trình dạy học phân môn Học vần lớp 1
+ Thời gian giáo viên tổ chức trò chơi học tập
+ Các nguồn trò chơi của giáo viên
+ Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng năng lực tổ chức trò chơi dạy Học vần + Những khó khăn khi tổ chức trò chơi dạy Học vần lớp 1
+ Sử dụng trò chơi học tập trong dạy Học vần ở Tiểu học
Trang 172.1.4 Các phương pháp điều tra, khảo sát
+ Điều tra bằng Anket
Ngẫu nhiên mang tính chất điển hình đại diện cho các khu vực, loại hình trường
+ Các trường thuộc khu vực đồng bằng, miền núi huyện Đức Thọ
+ Các trường thuộc khu vực thị xã Hồng Lĩnh
2.1.6 Địa điểm, thời gian khảo sát
Tiến hành điều tra, khảo sát một số trường tiểu học trên địa bàn 2 đơn vị
huyện Đức Thọ và thị xã Hồng Lĩnh trong năm 2009
2.2 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG
2.2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên về tác dụng của phương
pháp trò chơi học tập trong dạy Học vần ở lớp 1
Qua kết quả điều tra chúng tôi thấy 107/107 giáo viên khi được hỏi đều khẳng định đây là phương pháp có tác dụng tốt đối với hoạt động học tập của học sinh Như vậy tất cả các giáo viên được điều tra đều có nhận thức đúng về vai trò, tác dụng của phương pháp này trong dạy học Tiếng Việt nói chung và Học vần nói riêng
Trang 18
Mặt khác qua quan sát 4 tiết Học vần chúng tôi nhận thấy tất cả các giáo viên đều
sử dụng phương pháp này khi dạy học Như vậy từ nhận thức đến thực tiễn giảng dạy, giáo viên được tiến hành điều tra đều có nhận thức đúng đắn và tổ chức tương đối thành công phương pháp này
2.2.2 Thực trạng bồi dưỡng năng lực tổ chức trò chơi dạy Học vần của giáo viên
Qua kết quả điều tra cho thấy hầu hết các giáo viên đều tự tổ chức trò chơi theo
kinh nghiệm cá nhân hoặc học tập từ đồng nghiệp mà rất ít giáo viên được bồi
dưỡng đào tạo một cách bài bản theo trường lớp
2.2.3 Thực trạng về mức độ sử dụng các phương pháp dạy học trong quá
trình dạy học phân môn Học vần lớp 1
Trong các trường tiểu học hiện nay, giáo viên lớp 1 đã sử dụng phong phú các PPDH khác nhau trong quá trình dạy Học vần
Phần lớn giáo viên sử dụng các PPDH như PPDH rèn luyện theo mẫu,
PPDH thực hành hay PPDH dùng lời và một số giáo viên đã cố gắng sử dụng
phương trò chơi Song phần lớn các câu hỏi, lệnh học tập, cách chơi nặng về hình thức, chưa thực sự tác động, kích thích tư duy và tạo được hứng thú cho học sinh 2.2.4 Thực trạng về nguồn trò chơi của giáo viên
Kết quả điều tra cho thấy hầu hết các giáo viên đều sử dụng các trò chơi
đã được thiết kế sẵn trong sách giáo viên hoặc sách thiết kế bài giảng, tỉ lệ giáo viên
tự thiết kế trò chơi cho học sinh là rất ít Điều đó cho thấy sự thụ động của giáo viên tiểu học hiện nay trong việc sưu tầm các trò chơi
Trang 192.2.5 Thực trạng về thời gian giáo viên thường tổ chức trò chơi dạy Học vần
Hầu hết giáo viên thường tổ chức trò chơi Học vần vào các tiết học buổi
chiều Có rất ít người tổ chức trò chơi Học vần vào tiết học buổi sáng đặc biệt giáo viên chỉ tổ chức cho học sinh chơi trò chơi Học vần trong giờ học chứ không có giáo viên nào tổ chức cho các em chơi trong giờ ra chơi hoặc thời gian ở nhà Trên thực tế
đó mới là thời gian thuận tiện nhất để các em chơi
2.2.6 Thực trạng về những khó khăn khi tổ chức trò chơi dạy Học vần
Nhiều giáo viên thấy khó khăn về hạn chế kỹ năng tổ chức trò chơi Những khó khăn về thời gian, phương tiện vật chất cũng là những trở ngại lớn trong việc tổ chức trò chơi Học vần cho học sinh lớp 1 Tuy nhiên những khó khăn này không như nhau ở các địa phương
2.2.7 Thực trạng sử dụng trò chơi học tập trong dạy Học vần ở tiểu học
2.2.7.1 Thực trạng cách thức tiến hành
Đại đa số giáo viên chọn cách thức chơi theo nhóm Rất ít giáo viện chọn cách thức
tổ chức cho cá nhân đại diện thi đấu và hoạt động cả lớp
Ngoài ra có nhiều giáo viên cho rằng: Thực ra khó mà lựa chọn được cách nào là ưu việt hơn cách nào vì có khi thì chọn cách này cho một trò chơi nào đó, tới trò chơi khác thì lại chọn cách thực hiện khác
60 % những giáo viên được điều tra đã lựa chọn cách tiến hành theo nhóm, còn lại hơn 40 % chọn tất cả các cách trên” Điều đó chứng tỏ rằng đại đa số giáo viên đều nhận thức rõ phải làm như thế nào để trò chơi học tập thực sự có hiệu quả Cách
thức tổ chức hoạt động vui chơi theo nhóm được lựa chọn nhiều hơn cũng chứng tỏ tiến hành trò chơi theo cách này là tốt nhất
Trang 202.2.7.2 Thực trạng về cách thức chọn thời điểm tổ chức trò chơi học tập
trong dạy Học vần ở tiểu học
Qua kết quả điều tra nhận thấy gần 70% giáo viên được hỏi đã lựa chọn thời điểm tổ chức trò chơi vào cuối tiết học
Tuy nhiên cũng có ý kiến chọn cách tổ chức trò chơi giữa tiết học và có một bộ phận nhỏ khác chọn cách tổ chức vào đầu tiết
2.2.7.3 Thực trạng về cách thức phổ biến luật chơi
Qua trò chuyện và quan sát chúng tôi nhận thấy một điều rằng đại đa số giáo viên đều phổ biến luật chơi bằng lời Nhưng không phải giáo viên nào cũng có cách phổ biến luật chơi tốt và hiệu quả Điều quan trọng là mục đích trò chơi phải được thực hiện nhưng muốn thực hiện được mục đích đã đề ra thì mọi khâu tổ
chức phải thật tốt, mà một trong những khâu quan trọng đó là phổ biến luật chơi
2.2.7.4 Thực trạng về cách thức tổ chức đánh giá sau khi kết thúc trò chơi
Có một số trò chơi không cần lời đánh giá, nhận xét vẫn phân biệt được đội thắng, đội thua Nhưng có nhiều trò chơi sau khi các em chơi xong phải kiểm tra kết quả chơi Có ý kiến thì cho là thường sau khi học sinh chơi xong, giáo viên tự mình đánh giá, nhận xét và công bố kết quả Nhưng cũng có ý kiến khác: Thường cho học sinh nhận xét, chữa lại nếu thấy kết quả đó là không đúng Sau đó giáo viên mới đánh giá tổng kết lại và đưa ra kết quả chung cuộc Bên cạnh đó cũng có
ý kiến cho là nên cùng với học sinh đánh giá, nhận xét tức là kết hợp cả hai cùng một lúc
Trang 212.2.7.5 Thực trạng về mức độ thực hiện trũ chơi của học sinh
ại đa số học sinh đều thực hiện khá tốt các trò chơi học tập mà giáo viên đ a ra n u ếu giáo viên lựa chọn trò chơi phù hợp với đối tượng học sinh, phù hợp với nội dung tiết i t ợng học sinh, phù hợp với nội dung tiết học và tổ chức chơi khéo léo Cách thức phổ biến luật chơi rõ ràng ngắn gọn, động lệnh, dự lệnh dứt khoát Điều đó giúp giáo viên không mất nhiều thời gian để tổ chức
và học sinh thực hiện đ ợc một cách dễ dàng Kể cả những học sinh nhút nhát cũng
có thể tham gia chơi khá tốt
Tóm lại, qua thực tế dự giờ chúng tôi có thể đi đến kết luận là không phải trò chơi
nào học sinh cũng thực hiện tốt và có hiệu quả cao Điều quan trọng là mục đích trò chơi phải đ ợc thực hiện nh ng muốn thực hiện đ ợc mục đích đã đề ra thì tr ớc hết giáo viên phải lựa chọn trò chơi phù hợp với học sinh và phải phổ biến luật chơi một cách
Như vậy cú thể khẳng định giờ Học vần ở tiểu học nếu cú tổ chức trũ chơi học tập thỡ thực sự thu hỳt học sinh tham gia, tạo hứng thỳ cho cỏc em học tập được tốt hơn
vỡ cỏc em rất thớch vui chơi rất thớch được tham gia vào trũ chơi
Trang 222.2.7.7 Tìm hiểu thực trạng về hiệu quả của trò chơi đối với giờ học Học vần
ở tiểu học.
Qua điều tra cho thấy, trò chơi thực sự giúp cho giờ học đạt hiệu quả, học sinh
nắm được bài đồng thời tạo cho các em không cảm thấy căng thẳng, mệt mỏi sau một tiết học và tạo tâm thế để các em bước vào giờ học sau tốt hơn
Từ thực trạng đó chúng tôi đi đến kết luận: sử dụng trò chơi là thực sự cần thiết trong dạy học Tiếng Việt ở tiểu học Bởi đây là một trong những phương pháp thực
sự phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo trong học tập của học sinh
2.2.8 Chất lượng học tập môn Học vần của học sinh lớp 1
Nhìn chung chất lượng học tập phân môn Học vần lớp 1 chưa cao Qua 2 đơn vị kiểm tra với số lượng 213 học sinh lớp 1 cho thấy điểm trung bình cả 2 đơn vị: Giỏi 42,5 %; Khá 53,0%; Trung bình 4,5% ; Yếu 0,0%
Qua dự giờ chúng tôi nhận thấy giờ học chỉ sinh động hơn, học sinh học tập tích cực hơn khi giáo viên sử dụng trò chơi để các em tiến hành hoạt động Những giờ
mà giáo viên không tổ chức cho học sinh tiến hành trò chơi thường rất nặng nề uể oải, học sinh mệt mỏi, kém hào hứng dẫn đến hay nói chuyện riêng, làm việc riêng trong lớp
Từ sự phân tích trên, chúng tôi rút ra những nhận xét sau:
Trước tiên về thực trạng dạy Học vần hiện nay Mặc dù phần lớn giáo viên tiểu học được điều tra đánh giá rất cao vai trò của việc tổ chức trò chơi cho học sinh trong giờ Học vần là góp phần nâng cao hiệu quả giờ dạy Tuy nhiên từ việc nhận thức đúng đến việc làm đúng là một vấn đề đòi hỏi sự nỗ lực cố gắng của mỗi giáo viên
Trang 23Chất lượng học tập phân môn Học vần còn hạn chế, học sinh học tập chưa tích cực và hứng thú, giáo viên chủ yếu là giảng giải và thuyết trình, học sinh lĩnh hội kiến thức còn thụ động áp đặt.
Các trò chơi mà giáo viên sử dụng trong giờ dạy thường rất đơn điệu, cách thức tổ chức còn thiếu tính khoa học, giáo viên chưa chịu khó sưu tầm các loại trò chơi nên không kích thích được sự hứng thú của học sinh Học sinh chán học, giờ học nhàm chán
không khí học buồn tẻ, tiết học đơn điệu
Trong các tiết dạy có sử dụng trò chơi cho học sinh thì việc tổ chức trò chơi cho học
sinh còn tiến hành một cách gò bó, gượng ép hoặc tiến hành một cách lộn xộn chưa theo quy trình nhất định hiệu quả giờ học chưa cao
Theo chúng tôi, những tồn tại trên đây chủ yếu do những nguyên nhân:
- Nhiều giáo viên chưa nắm vững lý luận dạy học phân môn Học vần, còn thiếu kiến
thức về lĩnh vực âm - vần Bên cạnh đó trình độ năng lực sư phạm của một bộ phận
không nhỏ giáo viên tiểu học còn rất hạn chế khi tiếp cận với phương pháp, hình thức dạy học mới họ thường lúng túng
- Hiện nay còn có một bộ phận giáo viên tiểu học còn coi nhẹ phân môn Học vần, chưa đầu tư thích đáng cho môn học này Giáo viên lên lớp chủ yếu truyền đạt cho học sinh những kiến thức đã quy định trong chương trình, mà ít đầu tư thời gian cho các em hoạt động để tự chiếm lĩnh tri thức của bài học Thậm chí nhiều giáo viên còn cắt xén
chương trình, nhất là những phần khó hiểu đối với học sinh và bản thân giáo viên chưa nắm vững
Trang 24- Đồ dùng dạy học phân môn Học vần ở trường tiểu học còn thiếu và giáo viên còn yếu về kĩ năng khai thác, sử dụng đồ dùng Nhiều giáo viên lên lớp còn dạy chay, ít chịu khó sưu tầm và làm đồ dùng dạy học.
Những nguyên nhân trên đây đủ ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng dạy học phân môn Học vần ở bậc tiểu học
Tóm lại: Trong chương 2, chúng tôi đã phân tích cơ sở thực tế của vấn đề
nghiên cứu Từ việc phân tích các vấn đề lý luận và khảo sát thực trạng phương pháp dạy học của giáo viên cho thấy cần phải tăng cường triển khai các phương pháp dạy học mới một cách sâu rộng, đồng bộ Hơn nữa, để không ngừng nâng cao chất lượng học tập phân môn Học vần, việc nghiên cứu sử dụng phương pháp trò chơi trong quá trình dạy Học vần là hết sức cần thiết
Trang 25Ch ơng 3:
một số bI N pháp nâng cao chất l ợng sử dụng trò chơI học tập ỆN pháp nâng cao chất lượng sử dụng trò chơI học tập
trong dạy học vần 3.1 MỘT SỐ NGUYấN TẮC CHUNG KHI ĐỀ XUẤT BIậ́N PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG SỬ DỤNG TRề CHƠI TRONG DẠY HỌC VẦN
3.1.1 Cỏc nguyờn tắc lựa chọn và tổ chức trũ chơi dạy Học vần
3.1.1.1 Nguyờn tắc lựa chọn trũ chơi
Nguyờn tắc 1: Trũ chơi đảm bảo tớnh giỏo dục
Nguyờn tắc 2: Nguyờn tắc đảm bảo tớnh mục tiờu.
Nguyờn tắc 3: Trũ chơi đảm bảo tớnh vừa sức
Nguyờn tắc 4: Trũ chơi đảm bảo tớnh khả thi.
Nguyờn tắc 5: Đảm bảo tớnh hiệu quả.
Nguyờn tắc 6: Đảm bảo tớnh khoa học và sư phạm.
3.1.1.2 Nguyờn tắc tổ chức trũ chơi
- Nguyờn tắc thứ nhất: Đảm bảo cho học sinh hiểu rừ yờu cầu, nội dung và cỏch
thức tổ chức trũ chơi
sỏng tạo của học sinh trong quỏ trỡnh tổ chức trũ chơi
- Nguyờn tắc thứ ba: Đảm bảo tổ chức trũ chơi một cỏch tự nhiờn khụng
gũ ộp Học sinh phải tự nguyện tham gia chơi và chơi một cỏch thoải mỏi
- Nguyờn tắc thứ tư: Đảm bảo luõn phiờn, thay đổi cỏc trũ chơi một cỏch
hợp lý