1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn sử dụng sơ đồ định hướng giải bài tập vật lý để giải một số bài tập ứng dụng định luật bảo toàn động lượng vật lý 10 thpt nhằm gúp học sinh nắm vững

22 1,4K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 329 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓATRƯỜNG THPT ĐÀO DUY TỪ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM SỬ DỤNG SƠ ĐỒ ĐỊNH HƯỚNG HÀNH ĐỘNG ĐỂ GIẢI MỘT SỐ BÀI TẬP ỨNG DỤNG ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN ĐỘNG LƯỢNG VẬT LÝ 10 T

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG THPT ĐÀO DUY TỪ

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

SỬ DỤNG SƠ ĐỒ ĐỊNH HƯỚNG HÀNH ĐỘNG ĐỂ GIẢI MỘT

SỐ BÀI TẬP ỨNG DỤNG ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN ĐỘNG LƯỢNG VẬT LÝ 10 THPT NHẰM GIÚP HỌC SINH NẮM VỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN, GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN

NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Người thực hiện: Nguyễn Văn Hoan Chức vụ: Giáo viên

Đơn vị công tác:Trường THPT Đào Duy Từ SKKN thuộc môn: Vật lí

Trang 2

Năm học 2012 – 2013

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

Mỗi môn học trong chương trình Vật lý phổ thông đều có vai trò rất

quan trọng trong việc hình thành và phát triển tư duy của học sinh Trong quá trình giảng dạy, người thầy luôn phải đặt ra cái đích đó là giúp học sinh nắm được kiến thức cơ bản, hình thành

phương pháp, kĩ năng, kĩ xảo, tạo thái độ và động cơ học tập đúng đắn

để học sinh có khả năng tiếp cận và chiếm lĩnh những nội dung kiến thức mới theo xu thế phát triển của thời đại

Môn Vật lý là môn khoa học nghiên cứu những sự vật, hiện tượng xảy

ra hàng ngày, có tính ứng dụng thực tiễn cao Học sinh phải có một thái độ học tập nghiêm túc, có tư duy sáng tạo về những vấn đề mới nảy sinh để tìm ra hướng giải quyết phù hợp

Trong phần Cơ học lớp 10, Động lượng là một khái niệm khá

trừu tượng đối với học sinh vì nó chỉ là một đại lượng trung gian để xác định vận tốc hoặc khối lượng của vật Trong các bài toán liên quan đến động lượng học sinh thường gặp khó khăn trong việc xác định hệ là kín theo phương nào, biểu diễn các vectơ động lượng

Mặt khác, động lượng cũng là một đại lượng có tính tương đốinên phụ thuộc vào hệ quy chiếu, học sinh thường quên đặc điểm này nên hay nhầm lẫn khi giải bài toán

Để khắc phục được những khó khăn trên khi dạy học bồi dưỡng bài tập định luật bảo toàn động lượng, nếu Giáo viên lựa chọn

hệ thống bài tập thích hợp và coi trọng việc hướng dẫn học sinh tự lực,tích cực hoạt động tư duy trong quá trình giải bài tâp vật lí thì chất lượng nắm vững kiến thức cơ bản của học sinh được nâng cao, đồng thời góp phần phát triển được năng lực giải quyết vấn đề cho họ

Trang 3

I/ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Động lượng là một khái niệm Vật lý trừu tượng đối với học sinh

Trong các bài toán Vật lý, động lượng chỉ một đại lượng trung gian đểxác định vận tốc hoặc khối lượng của vật

Động lượng có ý nghĩa rất quan trọng đối với học sinh khi giải bài tập Vật lý có áp dụng Định luật bảo toàn (ĐLBT) trong va chạm đàn hồi, va chạm mềm ở lớp 10 và bài toán phản ứng hạt nhân lớp 12 Thực tiễn cho thấy việc giải quyết một bài tập liên quan tới định luật bảo toàn động lượng là một vấn đề khó đối với học sinh ở lớp 10 THPT

Việc đưa ra cho học sinh sơ đồ định hướng (SĐĐH) giải bài tập vật lí, vận dụng SĐĐH giải bài tập vật lí để giải các bài tập định luật bảo toàn động lượng sẽ giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ bản,góp phần nâng cao năng lực giải quyết vấn đề

II/ MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

Áp dụng (SĐĐH) giải bài tập vật lí để giải một số bài tập vật lí ĐLBTđộng lượng ở lớp 10 THPT Nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức

cơ bản, góp phần phát triển năng lực giải quyết vấn đề

III/ THỜI GIAN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

Thực hiện trong chương trình bồi dưỡng kiến thức sau khi học bài định luật bảo toàn động lượng lớp 10 THPT năm học 2009 -2010

Trang 4

PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I Mối quan hệ nắm vững kiến thức và giải bài tập vật lí(BTVL) I.1 Khái niệm về kiến thức, kĩ năng , kĩ xảo.

Theo lí luận dạy học, kiến thức được hiểu là kết quả của quá

trình nhận thức bao gồm “một tập hợp nhiều mặt về số lượng của các biểu tượng mà khái niệm lĩnh hội được, được giữ lại trong trí nhớ và được tái tạo khi có những đòi hỏi tương ứng”

Những kiến thức được nắm vững một cách tự giác, sâu sắc phần lớn do có tích lũy thêm kĩ năng, kĩ xảo sẽ chở thành công cụ của

tư duy học sinh

Kĩ năng là khả năng của con người biết sử dụng có mục đích

và sáng tạo những kiến thức và kĩ xảo của mình trong quá trình hoạt động lí thuyết cũng như thực tiễn Kĩ năng bao giờ cũng xuất phát từ kiến thức, dựa trên kiến thức Kĩ năng chính là kiến thước trong hành động Còn kĩ xảo là hành động mà những phần hợp thành của nó do luyện tập mà trở thành tự động hóa Kĩ xảo là mức độ cao của nắm vững kĩ năng Kĩ xảo là hành động đã được tự động hóa, các thao tác được thực hiện rất nhanh, như một tổng thể, dễ dàng mau lẹ

Những kiến thức vật lí có thể được chia thành các nhóm: Kháiniệm (hiện tượng ,đại lượng vật lí); Định luật, nguyên lí; Thuyết ; Phương pháp nghiên cứu; ứng dụng trong sản xuất đời sống

Những kĩ năng cơ bản vật lí được chia thành các nhóm sau: Quan sát, đo lường, sử dụng các dụng cụ và các máy đo phổ biến, thực

Trang 5

hiện những thí nghiệm đơn giản; Giải BTVL; Vận dụng các kiến thức vật lí để giải thích những hiện tượng đơn giản, những ứng dụng của vật lí trong đời sống và sản xuất; Sử dụng các thao tác tư duy lôgic và các phương pháp nhận thức vật lí.

Những kĩ xảo chủ yếu đối với vật lí chia làm hai nhóm: Kĩ xảo thực nghiệm, kĩ xảo áp dụng các phương pháp toán học và các phương tiện phụ trợ

I.2.2 Các mức độ nắm vững kiến thức.

Sự nắm vững kiến thức có thể được phân biệt ở ba mức độ sau:biết, hiểu , vận dụng được

Biết một kiến thức nào đó là nhận ra được nó, phân biệt được

nó với các kiến thức khác, kể lại được nội hàm của nó một cách chính xác Đây là mức độ tối thiểu học sinh cần đạt được trong học tập

Hiểu một kiến kiến thức nào đó là gắn được kiến thức ấy vào các kiến thức đã biết, đưa được nó vào trong hệ thống vốn kiến thức của bản thân Nói cách khác hiểu một kiến thức nào đó là hiểu đúng nội hàm, ngoại diên của kiến thức đó, xác lập được mối quan hệ giữa

nó với hệ thống kiến thức khác vận dụng được trực tiếp kiến thức ấy vào tình huống quen thuộc dẩn đến có khả năng vận dụng nó một cáchlinh hoạt sáng tạo

Vận dụng được kiến thức vào việc giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn là tìm được kiến thức thích hợp trong vốn kiến thức đã có để giải quyết một nhiệm vụ mới Nhờ vận dụng mà kiến thức được nắm vững một cách thực sự Chính trong lúc vận dụng kiến thức quá trình nắm nó thêm sâu sắc, càng làm cho những nét bản chất mới của kiến thứcđược bộc lộ Ngoài ra trong khi vận dụng kiến thức những thao tác tư duy được trau dồi, cũng cố và một số kĩ năng, kĩ xảo được hình thành, hứng thú học tập của học sinh được nâng cao

I.3 Mối quan hệ giữa nắm vững kiến thức và giải BTVL

Trang 6

Để đảm bảo cho học sinh nắm vững kiến thức vật lí một cách

chắc chắn ,cần hình thành cho họ kĩ năng, kĩ xảo không chỉ bằng vận dụng kiến thức mà chiếm lĩnh nó còn thức qua nhiều hình thức tập luyện khác nhau Trong số đó việc giải nhiều bài tập, nhiều loại bài tập được sắp xếp có hệ thống từ dễ đến khó là hình thức luyện tập được tiến hành nhiều nhất, do đó có tác dụng hình thành kĩ năng, kĩ xảo vận dụng kiến thức vật lí của học sinh

Chất lượng nắm vững kiến thức bước đầu thể hiện ở việc giải các bài tập cơ bản về kiến thức ấy về mức độ ghi nhớ và hiểu Còn chất lượng giải hệ thống bài tập phát hiện về một đề tài, chương, phần của chương trình phản ánh chất lượng nắm vững kiến thức và các mối quan hệ của chúng trong đề tài,chương, phần đó với nhau và vận dụngchúng trong những tình huống phức tạp, mới

II Phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong hoạt động giải bài tập của học sinh

II.1 Khái niệm về năng lực

Năng lực là những thuộc tính riêng lẻ của cá nhân, nhờ những thuộc tính ấy mà con người hoàn thành tốt đẹp một hoạt động nào đó

mà mặc dù bỏ ra ít sức lao động nhưng kết quả vẩn cao

Năng lực còn chi phối quá trình tiếp thu kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hành động nhất định

Khi xem xét bản chất của năng lực cần chú ý tới ba dấu hiệu chủyếu của nó: Sự khác biệt các thuộc tính tâm lí cá nhân, làm cho người này khác người kia; Chỉ là sự khác biệt có liên quan tới hiệu quả thực hiện một hoạt động nào đó; Được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động của cá nhân

Năng lực được chia làm ba mức độ phát triển: Năng lực; Tài năng ; Thiên tài Trong đó năng lực là danh từ chỉ mức độ hoàn thành

có kết quả một hoạt động nào đó

II.2 Mối quan hệ giữa phát triển năng lực và nắm vững kiến thức,

kĩ năng , kĩ xảo

Giữa phát triển năng lực và nắm vững kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo

có một mối quan hệ bền chặt Mức độ phát triển năng lực phụ thuộc vào mức độ nắm vững kiến thức, kĩ năng , kĩ xảo Muốn phát triển năng lực cần nắm vững và vận dụng một cách sáng tạo những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo đã tích lũy được về một lĩnh vực hoạt động nhất định: Mặt khác năng lực giúp cho việc nắm vững kiến thức, kĩ năng,

kĩ xảo một cách nhanh chóng hơn

Trang 7

Tuy nhiên không nên quy tất cả việc phát triển năng lực vào việc cung cấp kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo Năng lực khác kĩ năng, kĩ xảo ở chổ kĩ năng, kĩ xảo rèn luyện được còn năng lực ngoài việc rèn luyện học tập phải có tư chất.

II.3 Tiêu chuẩn phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong giải BTVL

Giải bài tập là một hình thức tự lực giải quyết một vấn đề nào

đó nêu ra trong đầu bài Ở trình độ thấp là là nhận biết những điều kiện để áp dụng một giải pháp đã biết vào một tình huống tương tự các tình huống đã biết Ở trình độ cao hơn phải thực hiện một loạt những phân tích và biến đổi để có thể áp dụng những giải pháp cơ bản

đã biết

III.Thực trạng học sinh các khóa trước khi tiến hành đề tài.

Để tìm hiểu thực trạng nắm vững kiến thức và giải bài tập phần ĐLBT động lượng của học sinh lớp 10, chúng tôi đã tiến hành điều tratrong năm học 2008-2009, 2010-2011

Đối tượng là học sinh lớp 10 của trường THPT Đào Duy Từ

(Thành phố Thanh Hóa)

Chất lượng nắm vững kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo giải bài tập phần ĐLBT động lượng chủ yếu đánh giá qua chất lượng của 9 bài kiểm traviết (6 bài một tiết,3 bài 15 phút)

Kết quả điều tra cụ thể như sau:

Giỏi Tỷ lệ

% Khá Tỷ lệ% TB Tỷ lệ% Yếu Tỷ lệ% Kém Tỷ lệ%

IV Sơ đồ định hướng giải BTVL

Giải bài tập vật lí là một quá trình phức tạp.Việc học sinh không giảiđược hoặc giải sai bài tập chưa đủ cơ sở kết luận học sinh không hiểu biết gì về vật lí, việc không giải được do nhiều nguyên nhân.Trong số

đó chủ yếu là do: Không hiểu điều kiện bài tập: Hiểu điều kiện bài tập nhưng không biết vận dụng kiến thức vật lí nào

Cho nên, để rèn luyện kĩ năng giải bài tâp vật lí, một biện pháp quan trọng là dạy cho các em phương pháp giải bài tập vật lí

Trang 8

V Sơ đồ định hướng giải BTVL

Sơ đồ định hướng khái quát gồm các giai đoạn hành động sau:

Bước1: Nghiên cứu đầu bài :

Đọc kĩ đầu bài

Mã hóa đầu bài bằng kí hiệu quen dùng

Đổi đơn vị của các đại lượng trong cùng một hệ thống thống nhất

vẽ hình hoặc sơ đồ

Bước2: Phân tích hiện tượng và lập kế hoạch giải.

Mô tả hiện tượng, quá trình vật lí xảy trong các tình huống nêu lên trong đầu bài

Vạch ra các quy tắc, định luật chi phối hiện tượng, quá trình ấy

Dự kiến những lập luận, biến đổi toán học cần thiết nhằm xác lập được mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm

Bước3: Trình bài lời giải.

Viết các phương trình của các định luật và giải hệ hệ phương trình có được để tìm ẩn số dưới dạng tổng quát, biểu diển các đại lượng cần tìm qua các đại lượng đã cho

Thay giá trị bằng số của các đại lượng đã cho để tìm ẩn số, thực hiện các phép tính có độ chính xác cho phép

Bước4: Kiểm tra và biện luận kết quả

Cần tạo cho học sinh thói quen giải các bài tập vật lí theo sơ đồ định hướng này

Điều này có thể tiến hành tùy thuộc vào từng bài tập cụ thể Mà trước hết phải ghi nhớ được các bước hành động ( mặc dù không phải bài tập nào cũng áp dụng tất cả các bước của SĐĐH giải bài tập vật lí)

VI.Tác dụng của giải bài tập vật lí theo SĐĐH giải BTVL

Sử dụng SĐĐH thấy rõ lợi ích khi đưa vào dạy học trong việc rèn kĩ năng, kĩ xảo giải bài tập vật lí cho học sinh Tuy nhiên trong thực tiễn dạy học có rất nhiều học sinh không nắm được ngay cả các hành động, thao tác giải những bài tập mẫu đơn giản, phổ biến

Tác dụng của SĐĐH được thể hiện ở chổ:

Đa số các SĐĐH trong dạy học vật lí là SĐĐH hành

động.Trong loại này những chỉ dẫn chỉ là những phương hướng chungtìm kiếm lời giải bài tập, và tạo cho học sinh thói quen xác định

phương hứơng và cách thức hành động trước khi bắt tay vào hành động cụ thể

Giải bài tập theo SĐĐH làm bớt khó khăn trong quá trình nắm vững kỹ năng giải bài tâp và cho phép dạy mọi đối tượng học sinh

Trang 9

giải bài tập theo SĐĐH tạo cho học sinh thói quen lập luận và hành động chặt chẽ, chính xác.

Giải bài tập theo SĐĐH là chuẩn bị cho giải bài tập sáng tạo Bởi lẽ trong quá trình giải bài tập mẫu theo nó, những thao tác tư duy

và kĩ năng giải bài tập của học sinh được hình thành, đồng thời họ sẽ thực hiện các thao tác ở mức độ tự động hóa khi chuyển sang giải bài tập sáng tạo

Tuy nhiên không thể coi giải bài tập vật lí bằng SĐĐH là vạn năng, mà chỉ là bước đầu tiên hình thành kĩ năng giải bài tập vật lí nói chung để dần chuyển sang giải bài tập sáng tạo

VII Sử dụng SĐĐH giải bài tập vật lí để giải một số bài tập ĐLBT động lượng lớp 10 THPT

Bài tập I (5/129/SGK)

Tìm tổng động lượng (hướng và độ lớn) của hệ hai vật có khối lượng bằng nhau m1 = m2 = 1kg Vận tốc của vật 1 có độ lớn v1 = 1m/s và có hướng không đổi Vận tốc của vật 2 có độ lớn v2 = 2m/s và:

a) Cùng hướng với vật 1

b) Cùng phương, ngược chiều

c) Có hướng nghiêng góc 600 so với v1

P

Trong đó: P1 = m1v1 = 1.1 = 1 (kgms-1)

P2 = m2v2 = 1.2 = 2 (kgms-1)

a) Khi v 2 v1  P 2 P1

 P = P1 + P2 = 3 (kgms-1)b) Khi v 2 v1  P 2 P1

Trang 10

cos

2 1 2

2 2

2 1

) cos(

2 1 2

2 2

2

P P P P

7 120 cos 2 1 2 2

1 2  2  0 

Bước2

+ Biểu diễn được các vectơ động học

+ Xác định được vectơ tổng trong mỗi

2 2 ' 1 1 2 2 1

+ Giả sử sau va chạm 2 xe cùng chuyển động theo chiều dương của

3 5 4 3

1

' 2 2 1 1 '

m

v m v m v

Trang 11

Bài tập 3: (4.13 SBT)

Một súng đại bác tự hành có khối lượng M = 800kg và đặt trên mặt đất nằm ngang bắn một viên đạn khối lượng m = 20kg theo phương làm với đường nằm ngang một góc α = 600 Vận tốc của đạn là v = 400m/s Tính vận tốc giật lùi của súng

Trang 12

1 400 800

20 cos

Một tên lửa có khối lượng tổng cộng 100T đang bay với vật tốc 200m/

s đối với Trái đất thì phụt ra (tức thời) 20T khí với tốc độ 500m/s đối với tên lửa Tính vận tốc của tên lửa sau khi phụt khí trong hai trường hợp

a) Phụt ra phía sau (ngược chiều bay)

b) Phụt ra phía trước (bỏ qua sức cản của trái đất)

Trang 13

- Gọi V V 'là vận tốc của tên lửa sovới trái đất ngay trước và ngay sau khi phụt khí có khối lượng m

v là vận tốc lượng khí phụt ra so với tên lửa

 Vận tốc của lượng khí phụt ra sovới Trái đất là:

v m M

m V

m M

v V m MV

 V

v (*): MV = (M – m).V’ + m(V + v)

v m M

m V

m M

v V m MV

Học sinh không tưởng tượng

được ra quá trình tăng tốc và

giảm tốc của tên lửa nhờ khí

Trang 14

lên với vận tốc 250m/s theo phương lệch góc 600 so với đường thẳng đứng.

2 1

1 1 2 500 ) cos 1 ( 2

P P m v v (m/s)

 ∆OAB đều  = 600.Vậy sau khi đạn nổ mảnh thứ hai bay lên với vận tốc v2 = 500m/s tạovới phương thẳng đứng một góc =

600

Bước4

Kiểm tra kết quả

Bài toán 6: (Nâng cao 26.32 GTVL 10 II)

Một lựu đạn được ném từ mặt đất với vận tốc v0 = 20m/s theo hướng lệch với phương ngang góc α = 300 Lên tới đỉnh cao nhất nó nổ thành mảnh có khối lượng bằng nhau Mảnh I rơi thẳng đứng với vận tốc v1

= 20m/s

a) Tìm hướng và độ lớn vận tốc của mảnh II

b) Mảnh II lên tới độ cao cực đại cách mặt đất bao nhiêu?

2

P

P

Ngày đăng: 17/07/2014, 16:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w