Phân tích làm rõ khái niệm, sự cần thiết phải bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ và khái quát sự phát triển các quy định pháp luật về quyền bình đẳng của phụ nữ
Trang 1Tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ
theo Luật hình sự Việt Nam
Phạm Thùy Dương
Khoa Luật Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật hình sự; Mã số: 60 38 40
Người hướng dẫn: TS Phạm Mạnh Hùng
Năm bảo vệ: 2011
Abstract: Phân tích làm rõ khái niệm, sự cần thiết phải bảo vệ quyền bình đẳng của
phụ nữ và khái quát sự phát triển các quy định pháp luật về quyền bình đẳng của phụ
nữ Phân tích làm rõ những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ và phân biệt tội phạm này với một số tội phạm khác có liên quan Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao
hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ
Keywords: Pháp luật Việt Nam; Luật hình sự; Quyền bình đẳng; Phụ nữ
Content
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người là một trong những giá trị nhân bản cao nhất được tất cả các quốc gia trên thế giới đều đề cao và bảo vệ Bảo vệ con người cũng là một nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Mỗi quốc gia đều xây dựng một hệ thống pháp luật riêng cho quốc gia của mình dựa trên các điều kiện chính trị, kinh tế-xã hội và các giá trị truyền thống văn hóa của quốc gia để đảm bảo quyền con người được thực hiện một cách tốt nhất và đầy đủ nhất
Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh - Lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới là người sớm quan tâm đến vai trò, vị thế của người phụ nữ, là một trong những người đi đầu, giương cao tư tưởng chống áp bức và nô dịch phụ nữ Trong suốt quá trình tìm đường cứu nước và lãnh đạo nhân dân đấu tranh cho độc lập, tự do, xây dựng chế đội mới, có một tư tưởng xuyên suốt, có một điều luôn thường trực trong tâm khảm của Người là làm thế nào, làm gì để giải phóng phụ nữ nước ta, để thực hiện nam nữ bình quyền,
để quyền lợi của người phụ nữ thật sự được tôn trọng, thật sự được bảo vệ Đó là cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thực sự cho phụ nữ
Xã hội càng phát triển, bình đẳng nam nữ ngày càng được bảo đảm Đặc biệt trong đời sống pháp luật hiện nay, việc phát huy và bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ đang ngày càng được các cơ quan bảo vệ pháp luật quan tâm và đề cao Bộ luật hình sự 1999 đã quy định tại Điều 130 tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ; đồng thời cụ thể hóa các chế tài nhằm đảm bảo quyền con người cơ bản cho phụ nữ Tuy nhiên, quyền bình đẳng của phụ nữ là vấn
Trang 2đề mà giữa pháp luật và thực tiễn còn khoảng cách rất lớn Làm thế nào để đạt được sự bình đẳng thực sự giữa nam và nữ trong xã hội ngày nay vẫn gặp nhiều khó khăn, thử thách Ở một
số nơi vẫn còn tình trạng vi phạm pháp luật, đối xử không bình đẳng nam nữ, tình trạng ngược đãi, hành hạ phụ nữ, tình trạng bạo lực gia đình… vẫn diễn ra với nhiều hình thức và thủ đoạn khác nhau Pháp luật Việt Nam, trong đó có pháp luật hình sự, đã quy định nhiều chế tài xử lý những hành vi xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ, song trên thực tế, số vụ án được xử lý bằng các biện pháp hình sự trong những năm gần đây hầu như ít được thực hiện Việc nghiên cứu một số vấn đề lý luận về tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ, các dấu hiệu pháp lý của tội phạm, thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, tìm ra những nguyên nhân để
đề ra những giải pháp khắc phục trong việc xử lý các hành vi phạm tội xâm phạm quyền bình
đẳng của phụ nữ là việc làm cần thiết Đó là lý do tác giả lựa chọn nội dung " Tội xâm phạm
quyền bình đẳng của phụ nữ theo Luật hình sự Việt Nam" làm đề tài nghiên cứu luận văn
thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu
Trong những năm qua ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực xã hội học, tội phạm học Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu hoàn thiện về tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ với góc độ khoa học pháp lý cụ thể để từ đó đề xuất những vấn đề liên quan đến cải cách pháp lý nhằm đảm bảo các quyền bình đẳng của nam và nữ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, khoa học, văn hóa, xã hội Tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ hầu hết được đề cập và phân tích trong một số công trình nghiên cứu trong đó có đề cập riêng đến "Tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ"
tại Điều 130 Bộ luật hình sự năm 1999 Như: Luật Hình sự Việt Nam phần các tội phạm, của Thạc sĩ Phạm Văn Beo - Đại học Cần Thơ - 2008; Về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ
của công dân trong Luật Hình sự Cộng hòa Liên bang Nga, Trung Quốc và Thụy Điển, của
Tiến sĩ Trịnh Tiến Việt, Trần Thị Quỳnh - Khoa Luật Đại học Quốc Gia Hà Nội (đăng trên Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, số 26, 2010 Ngoài ra, "Tội xâm phạm quyền
bình đẳng của phụ nữ" còn được phân tích trong các giáo trình và sách tham khảo như: Giáo
trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003 của
tập thể tác giả do TSKH.Lê Cảm chủ biên; Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, (tập II) của tập
thể tác giả do PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, Nxb Công an nhân dân, 2006
3 Phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ trong luật hình sự Việt Nam Đề tài giải quyết một số nhiệm vụ sau:
- Phân tích làm rõ khái niệm, sự cần thiết phải bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ và khái quát sự phát triển các quy định pháp luật về quyền bình đẳng của phụ nữ
- Phân tích làm rõ những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ và phân biệt tội phạm này với một số tội phạm khác có liên quan
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, trên cơ sở phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: phương pháp so sánh, phân tích tài liệu, nghiên cứu lịch sử và phương pháp tổng hợp, đánh giá những vấn đề lý luận và thực tiễn
về tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ trong các công trình nghiên cứu
Trang 35 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương với kết cấu như sau:
Chương 1: Một số vấn đề chung về quyền bình đẳng và bảo vệ quyền bình đẳng của phụ
nữ
Chương 2: Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội xâm phạm quyền bình đẳng
của phụ nữ và thực trạng xử lý loại tội phạm này
Chương 3: Hoàn thiện quy định pháp luật hình sự và một số giải pháp nâng cao hiệu quả
đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG
VÀ BẢO VỆ QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA PHỤ NỮ
1.1 Khái niệm quyền bình đẳng của phụ nữ
Quyền bình đẳng giới là quyền của nam và nữ có vị trí, vai trò xã hội ngang nhau, được
hưởng lợi ích và gánh chịu nghĩa vụ xã hội như nhau Do đó, quyền bình đẳng của phụ nữ là
quyền phụ nữ có vị trí ngang bằng với nam giới, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành
quả của sự phát triển đó
"Bình đẳng giới" là một khái niệm được đề cập đến trong hầu hết các lĩnh vực đời sống xã
hội Mục tiêu bình đẳng giới là xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam
và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình Xã hội chúng ta đang ngày càng hướng đến sự công bằng giữa nam và nữ trong mọi lĩnh vực của cuộc sống Như vậy, quyền bình đẳng của phụ
nữ thực chất là một mặt trong công cuộc đấu tranh chung của quyền con người Vì vậy, quyền bình đẳng của phụ nữ được xác định là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ đối với cuộc sống và sự phát triển của phụ nữ mà còn đối với sự phát triển của mỗi quốc gia và toàn nhân loại
1.2 Sự cần thiết phải bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ
Trong một xã hội văn minh, người phụ nữ đóng vai trò đặc biệt quan trọng Phụ nữ không chỉ giỏi trong công việc nhà mà còn tích cực tham gia và gặt hái nhiều thành công rực rỡ trong các lĩnh vực xã hội Trong buổi tiếp các trưởng đoàn dự cuộc họp mạng lưới lãnh đạo
nữ lần thứ 11 (WLN) của diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) diễn ra vào tháng 9-2006 tại Hà Nội, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết khẳng định, Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam nhận thức rõ về vai trò của phụ nữ trong phát triển và hội nhập quốc tế
Chủ tịch nêu rõ: "Ở Việt Nam, vai trò của phụ nữ rất quan trọng Trong cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc, phụ nữ tham gia rất tích cực trong nhiều hoạt động Trong thời kỳ hòa bình và xây dựng đất nước, phụ nữ giữ cương vị lãnh đạo ở mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học -
kỹ thuật Vai trò của phụ nữ hoàn toàn xứng đáng với tám chữ vàng mà Ðảng, Nhà nước và nhân dân dành tặng: Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang"
Thật khó có thể kể hết những gì mà phụ nữ đóng góp cho gia đình và xã hội Trước hết chúng ta phải thừa nhận vị trí hết sức quan trọng của phụ nữ trong gia đình Họ có ảnh hưởng
to lớn tới hạnh phúc và sự ổn định của gia đình Không chỉ chăm sóc, giúp đỡ chồng tại gia
Trang 4đình, người vợ còn đưa ra những lời khuyên thiết thực giúp chồng trong công việc, đóng góp vào thành công trong sự nghiệp của chồng Là những người mẹ hết lòng vì con cái, họ thực sự
là những tấm gương cho con cái noi theo Người mẹ luôn sẵn sàng hy sinh những lợi ích của bản thân với ước nguyện cho con cái trưởng thành và thành công trong cuộc sống Trong cuộc sống thường nhật đầy khó khăn, chúng ta tìm thấy ở những người phụ nữ, những người vợ, người mẹ sự yên tĩnh trong tâm hồn và sự cân bằng bình yên trong cuộc sống Chính họ đã tiếp sức cho chúng ta vượt qua những khó khăn để sống một cuộc sống hữu ích
Ở Việt Nam, các quyền cơ bản của phụ nữ đã và đang được thực hiện trên thực tế và được Hiến pháp, pháp luật Nhà nước bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã và đang làm tất cả những gì có thể làm được nhằm thực hiện ngày càng tốt hơn dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, đồng thời góp phần tích cực vào việc giải quyết các vấn đề dân chủ, nhân quyền trên thế giới Những năm qua, cùng với sự phát triển không ngừng về mọi mặt của đất nước, các quyền cơ bản của phụ nữ cũng ngày càng được hoàn thiện cả về mặt pháp lý, nội dung và điều kiện thực hiện Xem xét một cách tổng quát nội dung hệ thống pháp luật nước ta, có thể nói rằng, qua từng giai đoạn phát triển của đất nước, căn cứ vào những điều kiện cụ thể về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, trình độ dân trí của nhân dân, Nhà nước Việt Nam luôn luôn tôn trọng những nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc và các công ước quốc tế về quyền con người nói chung và các quyền cơ bản của phụ nữ nói riêng
1.3 Khái quát sự phát triển các quy định của pháp luật về quyền bình đẳng của phụ
nữ
Trên thế giới, quan điểm giới có nguồn gốc từ các lý thuyết nữ quyền xuất hiện và phát triển rất sôi động ở các xã hội phương Tây, bắt đầu từ giữa thế kỷ XX Lý thuyết nữ quyền tạo nên các phong trào xã hội mạnh mẽ, đấu tranh chống lại sự thống trị của nam giới, phê phán quyết liệt chế độ áp bức phụ nữ, đòi quyền lợi cho phụ nữ, tạo lập bình đẳng giới Mặc dù có chung mục đích là vì sự phát triển của phụ nữ chống lại chế độ nam trị, nhưng lý thuyết nữ quyền có nhiều trường phái khác nhau; thậm chí, có những trường phái mâu thuẫn nhau gay gắt Có thể nêu một số lý thuyết nữ quyền có ảnh hưởng mạnh đến xã hội phương Tây thời gian qua là: Nữ quyền tự do, Nữ quyền mác-xit, Nữ quyền xã hội chủ nghĩa, Nữ quyền phúc lợi, Nữ quyền triệt để, Nữ quyền hiện sinh, Nữ quyền phân tâm; và gần đây xuất hiện một
số lý thuyết nữ quyền mới, như: Nữ quyền hậu hiện đại, Nữ quyền da đen, Nữ quyền phụ nữ thế giới thứ ba
Cùng với quá trình giao lưu và hội nhập, vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX, bằng nhiều con đường khác nhau, quan điểm giới được nhanh chóng du nhập và truyền bá vào Việt Nam Sự xuất hiện cách tiếp cận giới chính là bước đột phá quyết định sự phát triển mạnh mẽ
và ấn tượng của khoa học nghiên cứu về phụ nữ và cùng với nó là sự biến đổi nhanh chóng quan niệm, thái độ, hành vi của xã hội và thực tiễn tạo lập bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực của xã hội Việt Nam thời kỳ đổi mới
Sau gần hai chục năm du nhập vào Việt Nam, quan điểm giới đã nhanh chóng được tiếp nhận và triển khai sâu rộng trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Thực tế, vấn đề giới đã trở thành mối quan tâm chung của xã hội và trở thành phong trào thực tiễn sâu rộng của phụ
nữ Việt Nam Mặc dù đã có sự chuyển biến tích cực trong quan hệ giới, địa vị, đời sống của người phụ nữ Việt Nam đã từng bước được nâng cao, cải thiện cùng với những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới nhưng sự nghiệp giải phóng phụ nữ và tạo lập bình đẳng giới ở
Trang 5Việt Nam vẫn là những vấn đề bức xúc, cần nhiều nỗ lực hơn nữa của cả hai giới và của cả xã hội
Công ước CEDAW là văn bản pháp lý quốc tế về quyền con người nêu ra vấn đề quyền sinh sản của phụ nữ, vấn đề văn hóa và truyền thống có ảnh hưởng đến việc hình thành vai trò
về giới và vấn đề phụ nữ có quyền nhập, giữ hoặc thay đổi quốc tịch của họ và con cái nếu họ muốn Việc thực hiện CEDAW trong 30 năm qua đã tạo ra những chuyển biến tích cực, đạt được một số thành tựu đáng kể trong nhận thức và thực tiễn, góp phần quan trọng vào việc cải thiện vai trò của phụ nữ tại nhiều nước trên thế giới Bên cạnh Công ước CEDAW, Cương lĩnh hành động Bắc Kinh ra đời năm 1995 đóng vai trò như một khuôn khổ định hướng cho việc đảm bảo bình đẳng giới và tăng quyền năng cho phụ nữ ở cả trên các lĩnh vực công và tư, với các cơ quan nhà nước và ngoài nhà nước Có thể xem sự ra đời của Công ước CEDAW là kết quả hơn 30 năm đấu tranh của Ủy ban về địa vị phụ nữ Liên hợp quốc (CSW) Ủy ban được thành lập năm 1946 nhằm giám sát địa vị và nâng cao quyền lợi của phụ nữ Hoạt động của Ủy ban đã góp phần thúc đẩy bình đẳng giới ở những nơi mà phụ nữ chưa được bình quyền như nam giới Kết quả của những nỗ lực vì sự tiến bộ của phụ nữ là sự ra đời một số tuyên bố và điều ước quốc tế, trong đó CEDAW là văn kiện quan trọng và toàn diện nhất về quyền bình đẳng của phụ nữ
Là sản phẩm của thời kỳ đổi mới, Hiến pháp năm 1992 đạt tới sự phát triển cao trong việc hoàn thiện các quyền xã hội cơ bản của công dân Hiến pháp năm 1992, một mặt, tiếp tục ghi nhận những quyền xã hội mà Hiến pháp năm 1980 quy định; mặt khác, sửa đổi, bổ sung nội dung các quyền đó cho phù hợp với khả năng và điều kiện của đất nước Từ đó cũng làm xuất hiện một số quyền xã hội mới Điều 63 quy định quyền bình đẳng nam, nữ và bổ sung:
"Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ" Việc
bổ sung này là cần thiết nhằm phòng ngừa và chống lại những hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, đánh đập, hành hạ, mua bán phụ nữ, sử dụng phụ nữ như là một công cụ để làm giầu phi pháp
Bên cạnh Điều 130 tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ, Bộ luật hình sự năm 1999 còn có các điều luật khác đề cập đến vấn đề giới như: Tội mua bán phụ nữ (Điều 119); Tội phá thai trái phép (Điều 243) Quy định của Bộ luật hình sự đã chú trọng tới việc thực hiện chính sách trong việc bảo vệ và hỗ trợ người mẹ; hoặc đã thể hiện tính nhân đạo, cân nhắc tới các đặc điểm về giới tính dẫn đến hành vi phạm tội như trong điểm h, khoản 1 Điều 48; điểm
b khoản 1 Điều 93; điểm d, khoản 1 Điều 104; điểm a, điểm g khoản 2 Điều 110; điểm g khoản 2 Điều 111; điểm b, khoản 2 112, điểm đ khoản 2 Điều 113…Quy định của Bộ luật hình sự đã chú ý tới đặc điểm sinh học của phụ nữ khi mang thai; thể hiện tính nhân đạo của pháp luật như trong điểm h, khoản 1 Điều 48, Điều 35, Điều 94
Chương 2
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VỀ TỘI XÂM PHẠM QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA PHỤ NỮ
VÀ THỰC TRẠNG XỬ LÝ LOẠI TỘI PHẠM NÀY
2.1 Những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ
2.1.1 Khái niệm tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ
Trang 6Quyền bình đẳng của phụ nữ là một khái niệm đề cập đến quyền và nghĩa vụ của người phụ nữ sống, học tập, làm việc, hưởng thụ trong khuôn khổ cai trị của nhà nước trong đó có xem xét yếu tố về tâm sinh lý giới tính, thuần phong mỹ tục, văn hóa của dân tộc Quyền bình đẳng của phụ nữ là một khái niệm mới nói về quyền bình đẳng giữa người nam và người
nữ trong xã hội ngày nay
Xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ là hành vi "bằng hành động" về thực chất được
hiểu là sự ứng xử bằng vũ lực như đánh đập, ép buộc quan hệ tình dục, nhục mạ, xúc
phạm…phụ nữ của người vi phạm và "không hành động" là sự ứng xử không bằng vũ lực
(hay còn gọi là hình thức bạo lực về tinh thần) được biểu hiện bằng hàng loạt các hành vi như
sự ruồng rẫy, lạnh lùng, vô cảm, không quan tâm, chia sẻ… Như vậy, có thể đưa ra khái
niệm: Xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ là hành vi dùng vũ lực hoặc hành vi nghiêm
trọng khác cản trở phụ nữ tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hóa, xã hội
2.1.2 Dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ
• Khách thể của tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ
Khách thể của tội phạm nói chung là các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ nhằm tránh bị các hành vi xâm hại đến Do đó khách thể của tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ quy định tại Điều 130 Bộ luật hình sự năm 1999 là quyền bình đẳng của phụ nữ trong các lĩnh vực hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hóa, xã hội mà pháp luật hình sự bảo vệ Tội phạm này xâm phạm đến quyền bình đẳng của phụ nữ
Đối tượng tác động của tội phạm này là hành vi của người phụ nữ khi tham gia vào các hoạt động trong các các lĩnh vực kinh tế, chính trị, khoa học, văn hóa, xã hội…
• Mặt khách quan của tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ
Hậu quả của hành vi phạm tội này là những hậu quả về tinh thần hoặc vật chất Hậu quả của tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ, xét về phương diện các yếu tố cấu thành tội phạm thì không phải dấu hiệu bắt buộc tức là, dù hậu quả chưa xảy ra nhưng hành vi vẫn cấu thành tội phạm
Mặt khách quan của tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ được thực hiện dưới nhiều thủ đoạn bạo lực khác nhau như: bạo lực về thể chất; bạo lực về tình dục và bạo lực về tinh thần
Đối với loại hình bạo lực về thể chất: là những hành vi đánh đập, chửi mắng của người
thực hiện hành vi phạm tội đối với phụ nữ, ví dụ như: hành vi của người chồng đối với vợ, cha mẹ đối với con gái Nạn nhân - những người phụ nữ là những người vợ, người mẹ trong gia đình phải chịu bao uất ức, tủi hờn cả về thể xác lẫn tinh thần bởi đủ mọi lý do từ phía các ông chồng của họ, song rất nhiều trường hợp người vợ thường im lặng, cam chịu
Đáng lo ngại là bạo lực tinh thần không chỉ gây tổn thương cho người vợ hoặc chồng, mà còn ảnh hưởng đến các thành viên khác trong gia đình, đặc biệt là trẻ em Những tiểu xảo trong bạo lực tinh thần có thể làm không khí gia đình trở lên căng thẳng hơn và sẽ khiến tâm lý trẻ không ổn định, gây lệch lạc về nhận thức cũng như sự phát triển về thể chất
• Chủ thể của tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ
Chủ thể của tội phạm xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ là bất kỳ người nào có đủ
độ tuổi theo luật định và có năng lực trách nhiệm hình sự Trong thực tế thì chủ thể của tội phạm này là người có quan hệ nhất định với người phụ nữ về mặt gia đình (như bố, mẹ, con, chị anh) hoặc về mặt xã hội (như thủ trưởng với nhân viên dưới quyền) Vì đây là tội ít
Trang 7nghiêm trọng nên chỉ có người từ đủ 16 tuổi trở lên mới chịu trách nhiệm hình sự theo Điều
130 Bộ luật hình sự
• Mặt chủ quan của tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ
Tội phạm thực hiện hành vi xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ với lỗi cố ý (trực tiếp hoặc gián tiếp) Người phạm tội luôn nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra; không có trường hợp xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ nào được thực hiện do vô ý, vì người phạm tội bao giờ cũng mong muốn xâm phạm đến các quyền hợp pháp của người phụ nữ Hơn ai hết, bản thân người thực hiện tội phạm, ngay từ khi ý định phạm tội đã nhận thức được rõ ràng, cụ thể những thiệt hại về vật chất và tinh thần mà mình có thể gây nên đồng thời, ở cương vị của mình, họ cũng hoàn toàn có đủ khả năng để hiểu rằng họ đang trực tiếp xâm phạm hoạt động đúng đắn Họ nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng họ vẫn thực hiện Mục đích và động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này
2.1.3 Phân biệt tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ với một số tội phạm khác
2.1.3.1 Phân biệt tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ với tội hành hạ người khác (Điều 110 Bộ luật hình sự)
Về mặt khách quan của hai tội đều có thể biểu hiện bằng hành vi bạo lực về thể chất hoặc tinh thần
Chủ thể của các tội này có ảnh hưởng hoặc quyền hành với người bị hại Chủ thể xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ thông thường là người có quan hệ nhất định hoặc có quyền hành nhất định đối với người phụ nữ Chủ thể của tội hành hạ người khác là người mà người bị hại lệ thuộc
Hình thức lỗi trong cả hai tội đều là lỗi cố ý
Bên cạnh những điểm giống nhau, giữa hai tội danh này còn tồn tại những điểm khác biệt
Về mặt khách thể, nếu như tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ xâm phạm quyền tham gia hoạt động trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, gia đình một cách bình đẳng với nam giới thì tội hành hạ người khác xâm phạm quyền được bảo hộ về sức khỏe, tự
do, danh dự của con người
Về mặt khách quan, tội hành hạ người khác luôn biểu hiện bằng hành vi bạo lực thể xác hoặc tinh thần Tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ ngoài việc thể hiện qua các hành
vi bạo lực còn có thể biểu hiện bằng các thủ đoạn khác như: không tuyển dụng phụ nữ, không cho phụ nữ tham gia tổ chức hay hoạt động nào đó, tuyên truyền để cản trở phụ nữ thực hiện quyền bình đẳng của mình v.v
Về chủ thể của tội phạm, chủ thể của tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ có thể được thực hiện hiện bởi bất kỳ người nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ 16 tuổi trở lên
Chủ thể của tội hành hạ người khác là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ 16 tuổi trở lên và có quan hệ lệ thuộc với nạn nhân Trong mối quan hệ đó nạn nhân là người bị
lệ thuộc
2.1.3.2 Phân biệt tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ với tội làm nhục người khác (Điều 121 Bộ luật hình sự)
Trang 8Điểm giống nhau giữa tội làm nhục người khác và tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ được thể hiện như sau:
Tội làm nhục người khác và tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ đều là những tội
ít nghiêm trọng: tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ có mức cao nhất của khung hình phạt đến 1 năm tù; tội làm nhục người khác có mức khung hình phạt cao nhất đến 3 năm tù (nếu phạm tội một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 121 Bộ luật hình sự) Chủ thể của tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ và tội làm nhục người khác đều
có thể được thực hiện bởi bất kỳ người nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ 16 tuổi trở lên
Hình thức lỗi trong cả hai tội đều là lỗi cố ý
Sự khác biệt giữa tội làm nhục người khác và tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ được thể hiện cụ thể:
Về mặt khách thể, tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ xâm phạm vào quyền bình đẳng của phụ nữ đối với nam giới Trong khi đó, tội phạm của tội làm nhục người khác lại xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người
Về mặt khách quan của tội phạm, tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ thể hiện ở hành vi cản trở không cho phụ nữ tham gia vào hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hóa, xã hội
Hành vi khách quan để cản trở phụ nữ thực hiện quyền bình đẳng của mình theo mô tả
trong điều luật là "dùng vũ lực hoặc hành vi nghiêm trọng khác"
2.1.3.3 Phân biệt tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ với tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ (Điều 146 Bộ luật hình sự)
Về mặt khách quan của hai tội đều có thể biểu hiện bằng hành vi bạo lực về thể chất hoặc tinh thần
Chủ thể của tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ và tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ đều được thực hiện bởi bất kỳ người nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ 16 tuổi trở lên Tuy nhiên, để thực hiện được những hành vi cản trở phụ nữ tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đòi hỏi chủ thể của hành vi phải có những quyền năng nhất định đối với những người phụ nữ cụ thể đó
Hình thức lỗi trong cả hai tội đều là lỗi cố ý
Sự khác nhau cơ bản giữa hai tội này được thể hiện ở mặt khách thể của tội phạm Khách thể của tội phạm quy định tại Điều 146 Bộ luật hình sự là một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, đó là nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ Trong khi đó, khách thể của tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ xâm phạm vào quyền bình đẳng của phụ nữ đối với nam giới
Mặt khách quan của tội cưỡng ép kết hôn đòi hỏi phải có hành vi cưỡng ép kết hôn Mặt khách quan của tội cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ đòi hỏi phải có hành vi cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ
Những hành vi nói trên phải được thực hiện bằng một trong những thủ đoạn như hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc thủ đoạn khác
Trang 92.1.3.4 Phân biệt tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ với tội ngược đãi hoặc hành
hạ ông bà, cha mẹ, vợ, chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình (Điều 151 Bộ luật hình sự)
Tội phạm được quy định tại Điều 151 Bộ luật hình sự trên và tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ đều là những tội ít nghiêm trọng: tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ
có mức cao nhất của khung hình phạt đến một năm tù; tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha
mẹ, vợ, chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình có mức khung hình phạt cao nhất đến ba năm tù
Mặt khách quan của hai tội đều có thể biểu hiện bằng hành vi bạo lực về thể chất và tinh thần
Chủ thể của các tội này đều được thực hiện bởi bất kỳ người nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ 16 tuổi trở lên và đều có ảnh hưởng hoặc quyền hành với người bị hại Chủ thể của tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ thông thường là người có quan hệ nhất định hoặc có quyền hành nhất định đối với người phụ nữ Chủ thể của tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ, chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng là những người thân thích trong gia đình như cha mẹ đối với con cái, con cái đối với cha mẹ, ông bà đối với cháu, cháu đối với ông bà, hoặc những người được người khác nuôi dưỡng, có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ 16 tuổi trở lên
Hình thức lỗi trong cả hai tội đều là lỗi cố ý
Về mặt khách quan của tội phạm, hành vi khách quan của tội ngược đãi ông bà, cha mẹ,
vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình là hành vi ngược đãi
2.2 Thực trạng xử lý các hành vi xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ
Ở Việt Nam, rất ít con số thống kê về vấn đề bất bình đẳng giới Tác giả đã nghiên cứu,
tìm hiểu về số vụ án đã được đưa ra truy tố, xét xử hình sự của những đơn vị có trách nhiệm thống kê như thực tiễn tổng kết của Tòa án nhân dân tối, Vụ thống kê hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì thấy chưa có vụ án nào vi phạm Điều 130 Bộ luật hình sự 1999 được đưa ra xét xử Điều đó cho thấy, nội dung quy định trong Điều 130 Bộ luật hình sự chưa thực
sự mang tính khả thi, chưa đi vào thực tiễn thông qua kết quả thống kê chưa có vụ án nào được xử lý hình sự theo quy định của Điều luật này Một vấn đề được đặt ra cho các nhà lập pháp là cần nghiên cứu, sửa đổi sao cho Điều 130 được áp dụng trong thực tiễn cuộc sống, góp phần quan trọng trong việc bảo vệ các quyền cơ bản của công dân Mặt khác, công tác thống kê số liệu về những tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ chưa được các cơ quan,
tổ chức quan tâm đúng mức, kể cả đối với cơ quan thống kê Điều này đã hạn chế việc phân tích giới và lồng ghép vấn đề bình đẳng giới vào trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật cũng như các chương trình phát triển kinh tế - xã hội khác
Tại sao thực tiễn hành vi xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ đang ngày càng gia tăng trong đời sống mà vẫn chưa có vụ án nào xét xử về hành vi này Hình thức xử lý thông thường chỉ là cảnh cáo, nhắc nhở và xử phạt vi phạm hành chính đơn thuần Như vậy, có đủ sức răn đe mạnh mẽ để tội phạm này ngày càng giảm và tiến tới loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội hay không? Đó chính là câu hỏi lớn cần nhận được câu trả lời từ phía các cơ quan chức năng
Như vậy, có nghĩa là tội phạm xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ là một dạng tội phạm ẩn Thực tiễn đang diễn ra trong xã hội nhưng không hề có số liệu thống kê, thực tiễn
Trang 10xét xử cụ thể Một số vụ án được đưa ra xét xử khi phân tích có các dấu hiệu của tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ nhưng thường được xét xử với các tội danh khác như tội hành hạ người khác (Điều 110 Bộ luật hình sự), tội làm nhục người khác (Điều 121 Bộ luật hình sự), tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ (Điều 146 Bộ luật hình sự), tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con cái, người có công nuôi dưỡng mình…
Một số vụ án điển hình minh chứng cho hành vi dùng vũ lực xâm phạm thô bạo đến quyền và lợi ích hợp pháp của người phụ nữ được pháp luật hình sự bảo vệ được thể hiện dưới các hình thức xâm phạm khác nhau như:
- Đối với loại hình bạo lực về thể chất
- Đối với loại hình về bạo lực về tình dục
- Đối với loại hình bạo lực tinh thần
Ở Việt Nam, bạo lực vẫn đang diễn ra tại nhiều gia đình và chưa có chiều hướng suy giảm; đặc biệt là khi bạo lực về thể chất bắt đầu được các nạn nhân lên tiếng, thì các hình thức bạo lực về tinh thần và tình dục vẫn còn là những vấn đề nằm trong im lặng và khó nhận biết Trong bối cảnh hiện nay, bất bình đẳng giới vẫn được coi là nguyên nhân chính của bạo lực gia đình Tình trạng này là tương đối phổ biến không chỉ ở các vùng nông thôn hẻo lánh, mà còn xảy ra ở cả các vùng thuộc đô thị lớn trong đó có thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh Không giống như các tệ nạn xã hội khác, bạo lực gia đình rất khó thống kê được một con số đầy đủ bởi trong xã hội vẫn còn rất nhiều người mơ hồ về khái niệm bạo lực trong gia đình
- Trong lĩnh vực hôn nhân gia đình
- Trong lĩnh vực kinh tế - chính trị
- Trong lĩnh vực xã hội
- Trong lĩnh vực lao động
Chương 3
HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG
TỘI XÂM PHẠM QUYỀN BÌNH ĐẲNG
CỦA PHỤ NỮ 3.1 Hoàn thiện pháp luật
Theo tác giả, cần sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 130 Bộ luật hình sự cho thống nhất với Luật bình đẳng giới năm 2006, tránh tình trạng không thống nhất giữa các văn bản pháp luật của nhà nước vì quy định này chưa thể chế hóa nội dung của Luật bình đẳng giới Hơn nữa, theo các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới thì việc quy định riêng cho phụ nữ như điều luật này là không cần thiết Vì vậy, quy định này nên được sửa đổi theo hướng sửa đổi tội danh tại Điều 130 thành tội "xâm phạm quyền bình đẳng giới" Theo đó, nội dung của
quy định về tội này có thể được xây dựng như sau: "Người nào vì định kiến giới, dùng vũ
lực hoặc có hành vi nghiêm trọng khác cản trở người khác tham gia hoạt động chính trị,