1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các chính sách phát triển ngoại thương nhằm thực hiện kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo xu thế hội nhập ở Việt Nam.doc.DOC

36 800 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Chính Sách Phát Triển Ngoại Thương Nhằm Thực Hiện Kế Hoạch Chuyển Dịch Cơ Cấu Kinh Tế Theo Xu Thế Hội Nhập Ở Việt Nam
Người hướng dẫn GS. PTS Vũ Thị Ngọc Phùng, TS Ngô Thắng Lợi
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Ngoại Thương
Thể loại Đề Án
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 224,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các chính sách phát triển ngoại thương nhằm thực hiện kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo xu thế hội nhập ở Việt Nam

Trang 1

Lời mở đầuXây dựng một đất nớc Xã hội chủ nghĩa trong điều kiện bị bao vây kinh tế mà

sự “dòm ngó” của các nớc T bản chủ nghĩa điều đó hoàn toàn không phải là dễdàng với bất cứ một quốc gia nào nói chung và Việt nam nói riêng Việc phát triểnkinh tế song đồng thời lại phải gắn liền với đảm bảo an ninh quốc phòng lại càngtrở nên khó khăn đối với một nớc nh Việt Nam chúng ta Trong xu thế quốc tế hoá

nh hiện nay, buộc các nớc phải hoà mình vào một thế giới hoà bình và ổn định, và

để có đợc nh vậy bản thân mỗi quốc gia phải có trách nhiệm hội nhập vì chính lợiích của bản thân mình và cũng vì lợi ích của thế giới Song một thực tế đã chứngminh, một quốc gia muốn phát triển lại đòi hỏi quốc gia đó phải có một cơ cấu kinh

tế nội thân hợp lý Tức bố trí các ngành sản xuất một cách khoa học và đạt hiệu quả

cao nhất Nh một nhà kinh tế đã nói “Ngoại thơng là chìa khoá cho sự phát triển của một quốc gia” và điều đó đã đợc thực tế xác nhận trong quá trình phát triển của

các quốc gia phát triển Việc xây dựng một chính sách ngoại thơng phù hợp là vôcùng cần thiết trong xu thế hội nhập và sự biến đổi liên tục của tình hình thế giới.Ngoại thơng phát triển thúc đẩy nền kinh tế gia tăng từ đó xác định một cơ cấukinh tế phù hợp với sự phát triển Chính vì vai trò to lớn của hoạt động ngoại thơng

nh vậy mà tôi lựa chọn đề tài: “Các chính sách phát triển ngoại thơng nhằm thực

hiện kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo xu thế hội nhập ở Việt Nam” để

nghiên cứu cho đề án môn chuyên ngành Kết cấu bài viết gồm ba phần:

Phần I: Việt Nam với xu thế hội nhập quốc tế.

Phần II: Cơ cấu kinh tế Việt Nam trong tiến trình hội nhập

Phần III: Chính sách ngoại thơng Việt Nam trong tiến trình hội nhập.

Vì điều kiện thời gian và vốn hiểu biết có hạn nên trong bài viết còn nhiều saisót và không sát thực xin đợc góp ý của thầy cô giáo và các bạn Xin chân thành

cảm ơn GS PTS Vũ Thị Ngọc Phùng; TS Ngô Thắng Lợi đã giúp em hoàn thành

bài viết này

phần I

việt nam với xu thế hội nhập quốc tế

Trang 2

I-/ Việt Nam - ASEAN (The Association of Southest Asian Nation - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á)

1 Việt Nam - ASEAN: Quá trình hội nhập và ý nghĩa của việc Việt Nam tham gia ASEAN.

1.1 Quá trình hội nhập:

Trong xu thế hội nhập quốc tế kể từ sau khi chiến tranh thế giới lần thứ II kếtthúc, sự phát triển kinh tế của các quốc gia - xu hớng bảo đảm an ninh chính trịngày càng trở thành nhiệm vụ bức thiết cho tất cả các quốc gia trên thế giới nóichung và các nớc Đông Nam á nói riêng Chính điều đó đã thúc đẩy sự liên minh,liên kết về kinh tế và chính trị xã hội giữa các quốc gia trong khu vực Nh chúng ta

đã biết, sau khi giành đợc độc lập, các quốc gia Đông Nam á bớc vào giai đoạnphục hồi phát triển đất nớc Các nớc này với chế độ xã hội vốn là thuộc địa, nửathuộc địa, nửa phong kiến, trình độ sản xuất còn thấp Theo ớc tính của Cục Thống

kê Liên Hợp Quốc thì thu nhập quốc dân tính theo bình quân đầu ngời ở khu vựcnày vào khoảng từ 37 đến 71 USD, cơ cấu sản phẩm nông nghiệp trong sản xuấtchiếm 72%, dân số tập trung vào các vùng Đồng Bằng, thị trờng nội địa nhỏ bé, bịchia cắt; phơng tiện thanh toán cha đợc phát triển,

a Sự phát triển kinh tế thế giới sau chiến tranh thế giới II và thực tế đất nớc,

các nớc Đông Nam á đề ra đờng lối công nghiệp hoá vào đầu những năm của thập

kỷ 60 với chính sách thay thế nhập khẩu và sau đó chuyển sang chính sách khuyếnkhích xuất khẩu, tự do hoá mậu dịch, tận dụng vốn kỹ thuật của nớc ngoài Chínhvì vậy đã thúc đẩy nền kinh tế phát triển không ngừng với tốc độ 5% vào nhữngnăm 50, 6% vào những năm 60 và đạt 7,2% vào những năm 70 Chính những thànhquả về kinh tế này đã liên tục cải thiện đời sống nhân dân, hệ thống giáo dục, y tế

có những bớc phát triển mới, Trên cơ sở của sự phát triển năng động về kinh tế,quan hệ giao lu hàng hoá giữa các nớc trong khu vực đã đợc thiết lập với quan điểmchung là hỗ trợ nhau cùng phát triển

Hoàn cảnh lịch sử đã tạo những điều kiện khách quan, chủ quan và sự tác

động qua lại giữa các quốc gia trong khu vực Đông Nam á, là nhân tố quan trọngthúc đẩy sự ra đời của tổ chức ASEAN

Nh chúng ta đã biết, năm 1967 là năm đánh dấu sự ra đời của đứa con tinhthần - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á và ngày nay ASEAN ngày càng có vaitrò to lớn không chỉ ở Đông Nam á, khu vực Châu á mà cả khu vực Châu á - TháiBình Dơng và thế giới Tuy rằng, sự ra đời ASEAN khởi đầu không đợc suôn xẻcho lắm, các nớc trong ASEAN đều có những tham vọng riêng của họ: Indonexiakhông giấu giếm tham vọng vị trí lãnh đạo Malaixia muốn lợi dụng ASEAN nhcông cụ đối phó với xung đột chủng tộc trong nớc và tranh chấp lãnh thổ với cácquốc gia lân bang Philipin lo ngại xung đột với Malaixia xung quanh vấn đềSabah Thái Lan hoảng sợ “hội chứng cộng sản” lan toả từ Đông Dơng Singaporetìm cách khắc phục thế bị cô lập, thù ghét trong khu vực Chính vì những thamvọng riêng này vào thời điểm bấy giờ mà ASEAN không thể trở thành một tổ chứcchỉ đạo thống nhất siêu quốc gia, mà chỉ là cơ quan phối hợp hoạt động dung hoàquyền lợi, chế ớc quyền lực giữa các quốc gia thành viên Và đặc điểm này đã chiphối quá trình hợp tác an ninh - chính trị của ASEAN Để thực hiện mục tiêu hợptác an ninh - chính trị, ASEAN áp dụng hai biện pháp:

Trang 3

+ Một là: Thúc đẩy quan hệ hữu nghị, tìm kiếm con đờng thơng lợng để giải

quyết các mâu thuẫn, tranh chấp giữa các hội viên

+ Hai là: Phối hợp chính sách ngoại giao với nhau để có chiến sách lợc thống

nhất, nhằm ngăn chặn nguy cơ xâm lợc, lật đổ, can thiệp từ bên ngoài; chống thamvọng bá quyền của các nớc lớn đồng thời lợi dụng mâu thuẫn của các nớc lớn: chủ

động tạo lập thế cân bằng an ninh chiến lợc trong khu vực

Mục tiêu và quan điểm của ASEAN là rộng mở và liên kết toàn khu vực “Hiệphội mở cửa cho tất cả các nớc trong khu vực Đông Nam á tán thành các mục đích,nguyên tắc và mục tiêu” đã nêu trong tuyên bố Băng Cốc 8/8/1967: Thúc đẩy tăngtrởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hoá, thông qua từ nỗ lực chung trêntinh thần bình đẳng và hợp tác, thúc đẩy hoà bình và ổn định khu vực; tôn trọngcông lý, nguyên tắc pháp luật và hiến chơng Liên Hợp Quốc Đồng thời tuyên bốcũng xác định mối quan hệ hợp tác giữa các nớc trong khu vực trên tất cả các mặtcơ bản nh thúc đẩy sự hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau trong các lĩnh vực kinh tế xã hội,văn hoá, khoa học và kỹ thuật, hành chính và đoà tạo,

b Vì một Đông Nam á hùng mạnh, với vai trò là thành viên trong khu vựcViệt Nam nhất thiết phải tham gia Hiệp hội vì mục đích và vì chính ngay nhu cầuhội nhập quốc tế trong tơng lai Chúng ta trở thành quan sát viên của tổ chứcASEAN 7 - 1992 đã là một sự cố gắng không mệt mỏi với tinh thần “Khép lại quákhứ, hớng tới tơng lai” Song việc Việt Nam tham gia ASEAN cũng có những quan

điểm khác nhau trong các nớc thành viên Malaixia và Indonexia ủng hộ Việt Namtham gia, song Singapore và Thái Lan không tán thành Malaixia và Indonexia chorằng: Việc Việt Nam nói riêng và các nớc Đông Dơng nói chung tham gia ASEAN

sẽ có tác dụng chủ yếu trong lĩnh vực hoà bình, an ninh khu vực, bởi n ớc ta là nớclớn thứ hai trong khu vực, là nớc láng giềng của Trung Quốc, có tiềm lực quốcphòng mạnh, đã từng chiến thắng nhiều nớc đến xâm lợc, và nớc ta sẽ là “nớc

đệm” giữa các nớc trong khu vực và các nớc ngoài khu vực Trong khi đó Thái Lan

và Singapore xem Việt Nam là cơ hội tốt để buôn bán kinh doanh, đầu t, khi trởthành thành viên đầy đủ của ASEAN

Tuy nhiên, việc Việt Nam gia nhập ASEAN không phải là hoàn toàn dễ dàng

nh chúng ta đã tởng do những chính sách đối ngoại của ta trớc đó cản trở: Năm

1978, Việt Nam đa quân vào Campuchia giải phóng nhân dân Campuchia khỏi hoạdiệt chủng Pônpốt và ở lại đó 10 năm là vi phạm nguyên tắc “Bất khả xâm phạmlãnh thổ” của tổ chức ASEAN Hơn thế nữa, sau những biến cố biên giới Việt Nam

- Trung Quốc năm 1979 cũng khiến cho ASEAN băn khoăn trong việc kết nạpthêm Việt Nam vào ASEAN bởi lẽ “ASEAN không muốn trở thành một số nớcchống Trung Quốc”

Sau một loạt những thay đổi trong chính sách đối ngoại của Việt Nam, với ờng lối đối ngoại đa dạng hoá, đa phơng hoá và bày tỏ quan điểm “muốn làm bạnvới tất cả các nớc” đã tác động tích cực tới quan hệ Việt Nam - ASEAN

đ-Hội nghị ngoại trởng thờng kỳ lần thứ 27 (Từ 22 - 27/7/1994) tại Băng Cốc đã

đánh dấu bớc ngoặt lớn trong quan hệ Việt Nam - ASEAN, cả 6 nớc thành viên tánthành đón nhận Việt Nam tham gia ASEAN và mong muốn Việt Nam tham giacàng sớm càng tốt Ông Gôchoctông thủ tớng Singapore nói: “Có đợc một ASEANvới toàn thể 10 nớc thành viên khu vực Đông Nam á là một hãnh diện” “ASEANphải vơn tới đội hình lớn để giành lấy sự kính trọng của thế giới”

Trang 4

Và nh mong muốn năm 1999 lần lợt các nớc Mianma - Lào - Campuchia lànhững thành viên cuối cùng tham gia vào một ASEAN 10 quốc gia độc lập.

Sau khi là quan sát viên của ASEAN (7/1992), Việt Nam đã tích cực tham giacác lĩnh vực chuyên ngành trên các lĩnh vực: khoa học kỹ thuật, y tế, văn hoá, môitrờng và du lịch, dần dần quan hệ Việt Nam - ASEAN đợc hoàn thiện vào năm

1994 Và để đánh dấu, đặt nền móng cho sự phát triển trong quan hệ Việt Nam ASEAN là việc Việt Nam chính thức là thành viên thứ 7 của ASEAN vào ngày28/7/1995

-1.2 ý nghĩa việc Việt Nam gia nhập ASEAN.

Quan hệ kinh tế ngày càng mở rộng giữa các quốc gia đó là yếu tố thúc đẩyquá trình hoà nhập của Việt Nam vào thị trờng khu vực và thế giới Điều này có ýnghĩa chính trị xã hội không chỉ với Việt Nam mà cả khu vực Đại sứ các nớcASEAN tại Việt Nam khi nhận định về ý nghĩa quan trọng của Việt Nam gia nhậpASEAN viết: “ Việt Nam gia nhập ASEAN sẽ góp phần to lớn cho việc xây dựngcộng đồng Đông Nam á đã đợc đề cập đến trong bản tuyên ngôn thành lập ASEANtại Băng Cốc Có Việt Nam ở ASEAN, viễn cảnh về một Đông Nam á thống nhấtrất có thể trở thành hiện thực trong một tơng lai không xa

Việc kết nạp Việt Nam vào khối ASEAN sẽ đem lại lợi ích cho cả ViệtNam, sẽ là một thành viên hữu ích chỉ trong việc thúc đẩy hợp tác và hợp nhất kinh

tế giữa các nớc ASEAN mà còn góp phần quan trọng trong việc duy trì hoà bình vàthịnh vợng trong khu vực Với t cách là nớc thành viên ASEAN Việt Nam sẽ giữvững đợc mức tăng trởng kinh tế nhờ buôn bán và đầu t nớc ngoài vào nhiều hơn.Việt Nam gia nhập ASEAN cũng sẽ mang lại sự năng động hơn cho nền kinh tếcủa các nớc trong khu vực vì nguồn tài nguyên của Việt Nam phần lớn còn rấtnhiều”

Ngoài ra thông qua hội nhập ASEAN Việt Nam sẽ học hỏi đợc rất nhiều ở cácnớc thành viên, nh kinh nghiệm của Thái Lan - Philipin về nông nghiệp và côngnghiệp chế biến nông sản, kinh nghiệm của Singapore về tổ chức thị trờng vốn.Kinh nghiệm của Malaixia và Indonexia về chế biến và xuất khẩu khoáng sản,

2 Thách thức đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập ASEAN

Trớc tiên, phải nói rằng sự tụt hậu về công nghệ là yếu tố đầu tiên gây trở ngạicho Việt Nam trong quá trình hội nhập, với 60% công nghệ đã đi vào quá trình thảihồi thì trái lại vẫn tồn tại trong những cơ sở sản xuất ở Việt Nam Chúng ta đi sau

họ từ 20 đến 25 năm, điều đó gây trở ngại rất lớn đến vấn đề sản phẩm xuất khẩucủa ta vào thị trờng khu vực Vào những năm đầu thập kỷ 70, các nớc ASEAN đãchuyển hớng chiến lợc kinh tế hớng về xuất khẩu rất sớm và trên cơ sở đó các nớcASEAN đạt đợc tốc độ tăng trởng cao 7% đến 98%, tỉ lệ tiết kiệm cũng tăng lên t-

ơng xứng với tốc độ phát triển (tiết kiệm của họ chiếm trung bình 40% GDP, trongkhi đó Việt Nam hiện nay tiết kiệm cho đầu t chỉ chiếm 28% GDP và chiến lợc chonăm 2005 lợng tiết kiệm cho đầu t tăng lên 35% GDP) <Dự thảo kế hoạch 5 năm

2000 - 2005>, cùng với sự tăng trởng của nền kinh tế, mức thu nhập bình quân đầungời cao, nhìn chung cơ sở hạ tầng và kỹ thuật công nghệ, kinh nghiệm quản lý,Marketing của các nớc ASEAN hơn hẳn Việt Nam

Xét về cơ cấu kinh tế, mà ta tập chung vào cơ cấu ngoại thơng Việt Nam vàASEAN có nhiều điểm tơng đồng Trong giai đoạn hiện nay khi mà các nớcASEAN đang khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm xuất khẩu truyền thống và

Trang 5

hàng công nghiệp chế biến do chính sách bảo hộ mậu dịch và bảo hộ công nghiệpcủa Mỹ, Nhật Bản - EU ngày càng chặt chẽ, giảm khối lợng buôn bán với các nớcASEAN, thì Việt Nam chúng ta cũng cần tiêu thụ những sản phẩm tơng tự Hơn thếnữa, khi trình độ công nghệ của ta lạc hậu hơn so với quốc tế nói chung và các nớcASEAN nói riêng thì chính chúng ta lại phải chịu sức ép từ chính các quốc giaASEAN khi họ muốn chuyển giao công nghệ kỹ thuật lạc hậu vào Đông Dơng làmhạn chế đối với nhu cầu hiện đại hoá, công nghiệp hoá của chúng ta Chính những

điều này nó đòi hỏi bản thân chúng ta khi tham gia chuyển giao phải có những cơquan thẩm định, xét duyệt trình độ công nghệ một cách khoa học và khắt khe, cơchế quản lý của chúng ta cũng phải nghiêm ngặt hơn trong việc đánh giá đúng tuổi

và trình độ công nghệ

Quan hệ mậu dịch Việt Nam - ASEAN cha thoát khỏi cơ cấu giản đơn, cáncân thơng mại còn mất cân đối lớn, tỉ lệ xuất khẩu của Việt Nam đến thị trờngASEAN mới chỉ chiếm gần 30% giá trị xuất khẩu của Việt Nam, trong khi đó hàngnhập khẩu từ các nớc ASEAN chiếm hơn 45% giá trị nhập khẩu của Việt Nam Tr-

ớc tình hình này, đòi hỏi chính bản thân chúng ta phải khắc phục và xác định cơcấu ngành hàng xuất khẩu của mình ra làm sao tránh tình trạng mất cân đối

Trong điều kiện hiện nay, khi đã là thành viên đầy đủ của ASEAN Việt Namphải tuân thủ theo các “luật chơi” mà tổ chức đề ra Chúng ta nhất thiết phải thamgia tổ chức mậu dịch tự do AFTA mà phải tuân thủ các qui chế Hiệp định u đãithuế quan có hiệu lực chung (CEPT) Đây là cơ hội và cũng đồng thời là khó khăncho chúng ta trong quá trình hội nhập vào mạng lới mậu dịch rộng lớn của các nớcASEAN Chúng ta đặt mục tiêu vào năm 2008 tỉ lệ trao đổi nội bộ ASEAN tăng từ18% giá trị ngoại thơng lên 50% giá trị ngoại thơng của ASEAN Sự hội nhập, xâmnhập thị trờng quốc tế theo cả hai chiều sẽ đặt Việt Nam vào thế cạnh tranh gay gắt

đặc biệt họ lại là những nớc có kinh nghiệm Và một điều khiến chúng ta phải longhĩ là liệu Việt Nam có thể trở thành nơi cung cấp lao động và nguyên liệu thuầntuý cho các nớc ASEAN

Một thiệt thòi nữa mà Việt Nam cũng phải gánh chịu đó là trong qui định củaCEPT không giảm thuế quan cho các sản phẩm nông nghiệp Trong khi hàng nôngsản lại là sản phẩm chủ lực trong cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam hiện nay

Điều này đòi hỏi các nhà lãnh đạo Việt Nam trong thơng lợng nội bộ ASEAN sẽcân nhắc trong những lần họp tới

3 Thuận lợi và khó khăn khi Việt Nam tham gia AFTA

3.1 Hiệp định thuế quan có hiệu lực chung CEPT để thành lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN - AFTA.

Hiệp định thuế quan CEPT thực chất là cơ sở để ASEAN áp dụng và hìnhthành khối mậu dịch tự do Đông Nam á Vì vậy để nắm vững “luật chơi” khi thựchiện AFTA chúng ta phải xem xét những nội dung mà CEPT đã thực hiện

* Những vấn đề đ ợc đề cập trong CEPT.

- Mọi thành viên sẽ tham gia vào CEPT

- Sử dụng mã HS 6 số để mã hoá các sản phẩm

- Đợc phép loại trừ một số sản phẩm cụ thể theo mã cấp 8/9 nếu các nớc thànhviên nào tạm thời sẵn sàng đa những sản phẩm ấy vào CEPT

Trang 6

- Đợc phép loại trừ đối với những sản phẩm nhạy cảm ra khỏi CEPT đồng thờikhông đợc đòi hỏi những u đãi miễn trừ dành cho sản phẩm ấy mà Hiệp định qui

định

Đồng thời trong Hiệp định cũng qui định:

- Một sản phẩm đợc xem là có xuất xứ từ các nớc ASEAN nếu thành phầnnguyên liệu cấu thành sản phẩm có 40% là có xuất xứ từ ASEAN

- Những nớc thành viên đã cắt giảm thuế cho những sản phẩm đợc thoả mãn ở

đây từ 20% và dới 20% giảm xuống 0-5% buôn bán theo kế hoạch CEPT

- Cho phép các nớc thành viên tìm thêm các biện pháp cho lĩnh vực hợp tácbiên giới và không biên giới để hỗ trợ cho mục tiêu tự do hoá mậu dịch

- Duy trì chế độ u đãi giữa các nớc thành viên Các nớc thành viên cam kếtkhông áp dụng các biện pháp tính giá trị thu thuế của hải quan, thu các loại phí mớihoặc các biện pháp hạn chế thơng mại nhằm vô hiệu hoá những u đãi miễn trừ

3.2 Hiệp định khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA).

3.2.1 Hiệp định khung về đẩy mạnh hợp tác kinh tế ASEAN (Frame work Agreement on Enhancing ASEAN Economic Coporation).

a Lĩnh vực hợp tác:

* Trong thơng mại:

- Tất cả các nớc thành viên ASEAN thoả thuận thành lập và tham gia khu vựcmậu dịch tự do AFTA trong 15 năm dới sự giám sát, kiểm tra, điều phối của mộthội đồng ở cấp Bộ trởng

- AFTA hoạt động theo Hiệp định CEPT, đối với những sản phẩm không cótrong CEPT áp dụng thoả thuận u đãi thơng mại ASEAN PTA (The ASEANPefezential Trading Arrangement)

- Cho phép các nớc thành viên giảm hoặc huỷ bỏ hàng rào phi quan thuế trongxuất nhập khẩu các sản phẩm đã đợc thoả thuận trong các chơng trình hiện có hoặccác chơng trình khác sẽ phát sinh trong quá trình hoạt động

- Các nớc thành viên tìm kiếm thêm các biện pháp cho các lĩnh vực hợp tácchung biên giới hoặc không chung biên giới để hỗ trợ cho tự do hoá thơng mại

Trang 7

+ Tiến hành giảm mức thuế xuất xuống còn 20% trong thời gian từ 5-8 năm

và các nớc thành viên sẽ thực hiện giảm thuế hàng năm theo công thức:

(X - 20)% / 5X: Mức thuế xuất hiện đang áp dụng của mỗi nớc thành viên

+ Tiếp tục giảm mức thuế xuất từ 20% hoặc dới 20% trong thời gian 5 năm

Và mức giảm tối thiểu là 5% lợng đợc giảm

+ Đối với những sản phẩm hiện đang có thuế xuất 20% hoặc dới 20% (vàothời điểm 1/1/1993) thì các nớc thành viên sẽ quyết định chơng trình giảm thuếriêng và giữa các nớc đợc phép thoả thuận giảm thuế xuống còn 0-5% đối với từngloại sản phẩm

+ Các sản phẩm hiện đang có mức thuế xuất 20% hoặc dới 20% vẫn đợc hởng

- Các nớc thành viên sẽ có ngoại lệ trong chế độ hạn chế ngoại hối của mình

có liên quan đến thanh toán các sản phẩm

* Hợp tác về viễn thông

Không chỉ dừng ở đó ASEAN còn tăng cờng hợp tác giữa các nớc thành viêntrong lĩnh vực nghiên cứu, chuyển giao kỹ thuật, du lịch, phát triển nguồn nhân lực,khuyến khích quan hệ tay đôi giữa các nớc thành viên với các nớc ngoài khối, chophép kinh tế t nhân tự do hoạt động cả trong và ngoài khối

3.2.2 Tuyên bố Singapore 1992 (Singapore Declaration 1992).

Sau 25 năm thành lập, tại Hội nghị thợng đỉnh ASEAN lần thứ IV tạiSingapore đã mở ra một thời kỳ mới cho sự hợp tác giữa các nớc trong khối, ở đótuyên bố Singapore đã nêu rõ quan điểm, lập trờng, phơng hớng hợp tác, đối ngoạicủa ASEAN

- Tăng cờng đầu t trong lĩnh vực công nghiệp

- Hợp tác tài chính, tạo điều kiện tự do chu chuyển vốn và các nguồn tài chínhkhác

- Đẩy mạnh hợp tác khu vực, xây dựng cơ sở hạ tầng, nâng cao và cải tiến hệthống bu điện, viễn thông với chất lợng cao, giá thấp

Trang 8

- Lấy việc hợp tác giữa các nớc trong ASEAN và ngoài ASEAN làm nhiệm vụ

bổ trợ cho việc phát triển thị trờng của ASEAN

- Tăng cờng và thiết lập hợp tác với các nớc khác, tổ chức kinh tế khác: APEC

- EAEC (East Asia Economic Caucus)

- Đẩy mạnh hợp tác trong các lĩnh vực có liên quan đến kinh tế: khoa học,chuyển giao kỹ thuật và phát triển nguồn nhân lực

- Tăng cờng hợp tác đối thoại quốc tế nhằm mở rộng thị trờng

- Tập chung hợp tác trong lĩnh vực bảo toàn nguồn năng lợng, không ngừngnghiên cứu nhiên liệu thay thế

- Tôn trọng và phát huy nguyên tắc thơng mại rộng mở tự do của GATT

3.3 Thuận lợi khó khăn khi Việt Nam tham gia AFTA.

Với tinh thần chung của Hiệp định khung AFTA trên nguyên tắc hoạt độngcủa CEPT để thấy rõ thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện AFTA ta sẽ nghiêncứu những lợi thế so sánh của Việt Nam với các nớc ASEAN

Khó khăn: Đầu tiên ta phải kể đến những hậu quả nặng nề của quá khứ đem

lại Điều này cũng có nghĩa dẫn đến sự khác nhau về thể chế kinh tế và cơ chế quản

lý, chuyển đổi từ nền kinh tế tập chung sang nền kinh tế thị trờng trong điều kiệncác quan hệ thị trờng cha thực sự trởng thành

- Thứ đến, đó là khoảng cách về trình độ công nghệ phát triển kinh tế giữaViệt Nam và các nớc ASEAN Đó là bất lợi và mối lo ngại lớn trong quá trình hoànhập

- Cạnh tranh gay gắt trong thị trờng đầu t do sản phẩm xuất nhập khẩu củaViệt Nam và các nớc ASEAN tơng đối giống nhau mà trình độ công nghệ của ViệtNam lại đi sau các nớc ASEAN khác từ 15 đến 20 năm

- Vấn đề con ngời đối với Việt Nam lại là vấn đề đáng lo ngại nhất kể cả vềtrình độ quản lý kinh tế của cán bộ quản lý, cha đáp ứng đợc yêu cầu đặt ra củatình hình mới

Thuận lợi: Việt Nam và các nớc ASEAN là những láng giềng lâu đời trong

giao lu kinh tế, văn hoá và chúng ta tơng đối hiểu biết lẫn nhau vì vậy chúng ta sẽ

có những lợi thế cụ thể trong việc buôn bán thơng mại

- Có điều kiện thu hút đợc nhiều vốn đầu t từ những nớc thừa vốn, có hàm ợng kỹ thuật cao: Singapore - Thái Lan,

l Sử dụng lao động rẻ trong nớc bằng cách tham gia chuyển giao những côngnghệ thâm dụng lao động từ các nớc trong khối

- Tận dụng lao động rẻ có hàm lợng chất xám cao để đẩy mạnh xuất khẩuhàng hoá Việt Nam sang các nớc khu vực

- Sử dụng vốn và kỹ thuật cao của các nớc trong khu vực nhằm khai thác tàinguyên và xây dựng cơ sở hạ tầng

- Khi tham gia thực hiện AFTA chúng ta sẽ đợc hởng qui chế hệ thống u đãithuế quan phổ cập (GSP) của Mỹ là: “Trợ giá nguyên liệu cho phép nhập để sảnxuất hàng hoá đó phải dới 65% của toàn bộ giá trị của sản phẩm đó khi vào lãnhthổ hải quan Mỹ” và “Giá trị một sản phẩm đợc chế tạo ở hai hoặc trên hai nớc là

Trang 9

hội viên của một hiệp hội kinh tế, liên minh thuế quan, khu vực mậu dịch tự do thìcoi nh là sản phẩm của một nớc” Vì vậy ta có điều kiện khi nhập nguyên liệu củacác nớc ASEAN khác để sản xuất mà sản phẩm đó vẫn đợc hởng GSP.

4 AFTA với thơng mại và sản xuất trong nớc của Việt Nam

Thực chất của vấn đề này là chúng ta xem xét khả năng cạnh tranh của hànghoá Việt Nam so với hàng hoá các nớc ASEAN khác trên thị trờng trong nớc, thị tr-ờng ASEAN và ngoài ASEAN Song ta thấy, khả năng cạnh tranh của một hànghoá phụ thuộc vào giá cả - chủng loại, mẫu mã và khả năng thâm nhập thị trờng.Việc thực hiện AFTA sẽ dẫn đến xoá bỏ thuế nhập khẩu trong nội bộ các nớcASEAN, nhng giữ nguyên thuế nhập khẩu với thế giới bên ngoài điều này dẫn đến

ba hiệu quả: - Phân bố lại các luồng buôn bán giữa các nớc ASEAN; - Sự thay đổitrong buôn bán với các nớc ngoài khu vực và làm thay đổi luồng đầu t, hình thànhquá trình chuyên môn hoá sản xuất đồng thời tạo sự kiểm soát và phụ thuộc lẫnnhau giữa các nớc AFTA trong buôn bán nội bộ và tơng quan với bên ngoài

Cùng với việc hình thành khu vực mậu dịch tự do FTA là sự tăng lên trongtính cạnh tranh của hàng hoá, đòi hỏi các nớc phải có kế hoạch chuyên môn hoásản phẩm cao hơn Sự vận động của thị trờng là chuyển các cơ sở sản xuất từ nơigiá thành cao đến nơi giá thành thấp Mức chênh lệch giá thành càng lớn thì luồng

di chuyển sản xuất sẽ càng mạnh Cụ thể đối với Việt Nam sẽ có tác động:

* Đối với xuất khẩu: Mức thuế quan thấp, việc thâm nhập thị trờng và chuyển

hàng hoá vào các nớc khác hoàn toàn dễ dàng, điều này chứng tỏ AFTA tạo điềukiện cho xuất khẩu hàng hoá vào thị trờng ASEAN Một thị trờng rộng lớn với 10thành viên (500 triệu dân) Điều này giúp huy động tiềm năng lao động và tàinguyên dồi dào của Việt Nam vào phát triển xuất khẩu

Trong những năm qua, tốc độ tăng kim ngạch buôn bán của Việt Nam với thịtrờng ASEAN tăng 27%, với doanh số buôn bán 1/3 kim ngạch ngoại thơng nớcnhà, điều này có đợc là do:

Thứ nhất: Về cán cân buôn bán nớc ta vẫn đang ở thế nhập siêu với thị trờng

ASEAN, song xuất khẩu có xu hớng gia tăng do việc chúng ta xuất khẩu dầu thôsang Singapore tăng lên (năm 1999 ta xuất đợc 14.300 nghìn tấn), triển vọng xuấtkhẩu của Việt Nam sang thị trờng ASEAN cha có nhiều hứa hẹn thay đổi mạnh, docơ cấu mặt hàng xuất khẩu <Thời báo Tài chính Việt Nam - Số 130/2000>

Thứ hai: Do cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của ta sang thị trờng ASEAN chủ yếu

là những mặt hàng nông sản sơ chế thuộc loại nhạy cảm và nhạy cảm cao làmchậm quá trình giảm thuế

Số các mặt hàng nông sản đợc bổ xung thêm vào AFTA chỉ chiếm một tỉtrọng nhỏ mà số lợng của ta lại rất lớn, đó là một thiệt thòi của chúng ta Đối tợngchủ yếu của CEPT là các sản phẩm công nghiệp chế biến, vì vậy trớc tình trạngcông nghiệp hiện tại chúng ta phải đối đầu không cân xứng với các nớc ASEAN có

kỹ thuật cao nh Singapore, Malaixia

Nh vậy, với cơ cấu xuất khẩu nh hiện nay, lợi ích mà chúng ta thu đợc từAFTA không đáng kể, do sức cạnh tranh và u đãi với hàng hoá xuất khẩu của tacòn thấp kém so với khu vực Đối diện với thực tế và tơng lai thì chúng ta chỉ có thểcạnh tranh trên thị trờng ASEAN những sản phẩm mang tính độc đáo của bản sắcViệt Nam

Trang 10

Thứ 3: Với 2/3 doanh số buôn bán của Việt Nam với ASEAN đợc vận chuyển

và lấy Singapore làm thị trờng trung gian, điều đó cũng gây tổn thất rất nhiều chocác doanh nghiệp Việt Nam tham gia xuất khẩu Còn với các nớc khác: Malaixia -Thái Lan, Philipin hàng Việt Nam chủ yếu là nông sản cha chế biến và đều thuộcloại hàng nhạy cảm vì vậy không đợc hởng quyền lợi cắt giảm thuế

Nói tóm lại, CEPT cha cải thiện đợc thị trờng xuất khẩu của Việt Nam vào thịtrờng ASEAN mà chỉ có tác dụng sang thị trờng khác do việc hạ đợc chi phí sảnxuất do nhập nguyên liệu của các nớc ASEAN

* Đối với nhập khẩu:

Với 857 mặt hàng Việt Nam nhập khẩu đã có trong qui chế cắt giảm thuế củaCEPT từ 1/1996, điều này gây cho các doanh nghiệp Việt Nam sớm phải cạnhtranh trên thị trờng quốc tế trong điều kiện tụt hậu về công nghệ hiện tại, hàng ViệtNam thua về chất lợng, chủng loại và số lợng Vì vậy Việt Nam đang phải chịu sức

ép về khả năng chiếm lĩnh thị phần trên chính thị trờng nội địa Hàng hoá nhập trànngập thị trờng nội địa gây khó khăn cho các cơ sở sản xuất trong nớc: dệt, giầy dép,hàng cơ khí,

Vấn đề đặt ra với Việt Nam là phải cơ cấu mặt hàng xuất khẩu nh thế nào để

đủ sức cạnh tranh với hàng hoá trong khu vực và thế giới, liệu chúng ta có nên bảo

hộ tiếp tục đối với một số hàng hoá Theo tôi, để đảm bảo cạnh tranh, nhà nớc nênchỉ xác định một số sản phẩm trớc mắt cha có trong CEPT song sẽ có mặt trong đó

để bảo hộ và qui định thời gian cụ thể cho từng mặt hàng nhằm đuổi kịp và vợt cácnớc ASEAN trong tơng lai (khoảng từ 5-8 năm) nếu không sẽ bị thải loại Đây làthách thức mà AFTA đặt ra cho các nhà sản xuất Việt Nam

Việc tham gia AFTA sẽ tăng nguồn FDI vào Việt Nam từ các nớc trongASEAN và ngoài ASEAN Song vấn đề với chúng ta là làm sao sử dụng FDI cóhiệu quả vì thực tế FDI chỉ có tác dụng tăng trởng kinh tế chứ không nâng cao khảnăng cạnh tranh

Đó là những vấn đề mà AFTA đem đến cho sản xuất và đầu t trong nớc củaViệt Nam Lý thuyết “Đàn nhạn bay” lúc này chắc chắn phát huy tác dụng

II-/ Việt Nam trong quá trình hội nhập WTO

1 Đàm phán và Việt Nam gia nhập WTO.

Trong xu thế hội nhập quốc tế thúc đẩy, đòi hỏi các quốc gia trên thế giới phải

có những bớc thay đổi nhất định cùng hoà mình vào cộng đồng nhằm phát triển nỗlực hoà bình và kinh tế quốc gia Không chỉ dừng lại ở những quan hệ lân bang khuvực mà trái lại chúng ta phải chủ động hoà mình vào thế giới tham gia hoà nhậpvào các tổ chức quốc tế: Liên Hợp Quốc (UMDF); Hiệp hội các quốc gia Châu á

Thái Bình Dơng APEC; Tổ chức các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) và WTO.Song vấn đề với chúng ta là phải làm sao để đợc hởng những tối huệ quốc mà WTO

đem lại cho việc rộng mở của chúng ta Vấn đề đầu tiên để tham gia là làm sao

đàm phán nhằm thoả thuận và đợc sự đáp ứng của các quốc gia trong việc ViệtNam gia nhập WTO Thực chất của vấn đề đàm phán Việt Nam WTO là vấn đềlàm sao cho Mỹ chấp nhận sự có mặt của chúng ta trong WTO, bởi lỹ Mỹ đóng vaitrò “lãnh đạo” trong các vấn đề của WTO: Xét về phơng diện thị trờng thì Mỹ là thịtrờng hấp dẫn nhất mà tất cả các nớc đều tìm kiếm để nâng cao lợi ích kinh tế củamình Việc đàm phán mở cửa thị trờng của Việt Nam - WTO thực chất là đàm phán

Trang 11

Việt - Mỹ nhằm đạt đợc những sự nhợng bộ của Mỹ với Việt Nam trên cơ sở có đi

có lại Hơn thế nữa, nếu chúng ta có là thành viên của WTO đi nữa mà không đạt

đợc một sự thoả thuận nào với Mỹ thì cũng không đợc hởng qui chế MFN và GSP

Do vậy đàm phán song phơng Việt - Mỹ có tính độc lập và then chốt với việc gianhập WTO <Hiện nay, việc Việt Nam gửi đơn gia nhập WTO thì Mỹ vẫn là nớcgây trở ngại nhất: 327 câu hỏi chiếm 52.7% so với EU là 243 câu chiếm 34.46%tổng số câu hỏi mà Việt Nam phải trả lời> Không chỉ dừng ở đó, trở ngại còn đếnViệt Nam trên con đờng gia nhập WTO là Luật Jackson - Vanik, luật chống bánphá giá và đối kháng của Mỹ (AD & CVD law) liên quan đến cơ chế quản lý giá cả

và sự can thiệp của Nhà nớc vào công nghiệp và các doanh nghiệp Nhà nớc (SOEs)vì vậy việc xem xét lại chính sách công nghiệp và các SOEs là điều quan trọng màchúng ta phải làm Vì vậy điều cơ bản với chúng ta là phải làm sao thoả hiệp nhằm

đạt đợc những u đãi trong MFN và GSP của Mỹ trớc khi là thành viên chính thứccủa WTO

2 WTO - cơ chế mang lại sự tin cậy của quốc tế vào chính sách của mỗi quốc gia.

Thành lập vào tháng 1/1995, WTO nhằm quản lý các hiệp ớc thơng mại đabiên đợc thơng lợng bởi các thành viên của tổ chức này Khi hiểu về WTO ta cũng

có thể có hai cách hiểu:

Thứ nhất: WTO là một cơ quan đợc gắn với hàng loạt các qui định và luật

pháp về việc sử dụng các chính sách thơng mại tác động đến luồng mậu dịch quốctế

Thứ hai: WTO là một thị trờng mà ở đó các nớc thành viên trao đổi “hàng

hoá” là các sự nhợng bộ thâm nhập thị trờng lẫn nhau và chấp nhận những nguyêntắc của luật chơi

Với vai trò và nguyên tắc hoạt động nh vậy, WTO đòi hỏi các thành viên của

nó phải đảm bảo các chính sách thơng mại trên cơ sở không phân biệt đối xử,nguyên tắc thực thi phải rõ ràng WTO cung cấp nguyên tắc pháp lí cho các nớc đểthực hiện nghiêm chỉnh các cam kết, cải tiến các thủ tục giải quyết tranh chấp.Hơn nữa, với vai trò và vị trí quan trọng của WTO, các quốc gia bé có thể lấylại sự công bằng từ các cờng quốc kinh tế về thơng mại và các lãnh thổ liên hiệpthuế quan trên cơ sở khiếu nại, đòi hỏi các quốc gia cờng quốc trả lại quyền lợi với

sự bênh vực của quốc tế Với vai trò và lợi ích to lớn nh vậy, tởng rằng WTO sẽngày càng trở thành một tổ chức lớn mạnh về cả thành viên và vai trò dung hoàquyền lợi, dần xoá bỏ các khoản thuế quan và phi thuế quan với các hàng hoá vàdịch vụ vì một thế giới hoà bình và thống nhất “Nghiên cứu KT số 264 - 5/2000trang 70 - Nguyễn Trờng Sơn”

3 Một số chính sách cho Việt Nam trong quá trình hội nhập.

Đối diện với thực tế và xu thế hội nhập quốc tế của Việt Nam - AFTA, APEC

và WTO - vào nền kinh tế thế giới Theo tác giả Nguyễn Trờng Sơn, Việt Nam cần

áp dụng 5 biện pháp chính sau:

1 Thiết lập một uỷ an chính sách kinh tế và thơng mại quốc tế thờng trực của

thủ tớng chính phủ, đợc uỷ quyền chịu trách nhiệm về kế hoạch và giám sát thựcthi chính sách kinh tế nói chung, là ngời thơng lợng thơng mại quốc tế cũng nh làcơ quan thuộc về hành pháp chịu trách nhiệm trớc quốc hội

Trang 12

2 Xây dựng một chính sách công nghiệp đợc dựa trên định hớng thơng mại.

3. Một chơng trình trợ giúp điều chỉnh thơng mại cần đợc xây dựng nhanh

chóng để giảm bớt khó khăn cho khu vực bị ảnh hởng bởi quá trình hội nhập

4 Tính toán đầy đủ chi phí về tổ chức và vận hành các Hiệp định quốc tế nh

AFTA - APEC và WTO

5 Xây dựng chính sách song phơng quốc gia thống nhất nh một công ty trong

cạnh tranh toàn cầu trong một thị trờng quốc tế cạnh tranh cha hoàn hảo

Đó là ý kiến riêng của tác giả Nguyễn Hải Trờng, song thiết nghĩ trong điềukiện hiện tại của Việt Nam thì việc chịu trách nhiệm và tiến hành đi sâu, đi sát thực

tế là yếu tố cơ bản và cần thiết Có đi sâu, trực tiếp chịu trách nhiệm về nhữngquyết định của mình thì ngời thực thi mới toàn tâm, toàn lực, Từ đó nâng cao tínhcộng đồng trong quản lý, tránh những quyết định chủ quan duy ý chí vì t lợi riêngcủa cá nhân mà thiệt hại cho xã hội, nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội

Trang 13

phần II

cơ cấu kinh tế Việt Nam trong

tiến trình hội nhậpI-/ Vai nét về cơ cấu kinh tế Việt Nam những năm qua.

* Đứng trên góc độ duy vật biện chứng và lý thuyết hệ thống có thể hiểu: Cơ

cấu kinh tế là một tổng thể hợp thành bởi nhiều yếu tố kinh tế của nền kinh tế quốcdân, giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ nhng tơng tác qua lại cả về số lợng và chấtlợng, trong những không gian và điều kiện kinh tế xã hội cụ thể, chúng vận động h-ớng vào những mục tiêu nhất định

* Một cách tiếp cận khác cho rằng: Cơ cấu kinh tế là tổng hợp các bộ phận

hợp thành tổng thể nền kinh tế quốc dân và mối quan hệ của các bộ phận đó vớinhau biểu hiện bằng tỉ trọng của mỗi bộ phận và vị trí của nó trong tổng thể nềnkinh tế

<Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong xu thế hội nhập - Lê Du Phong - NXBChính trị Quốc gia - 2000>

Tuỳ thuộc vào mỗi cách tiếp cận và nghiên cứu mục đích khác nhau mà chúng

ta có những dạng cơ cấu kinh tế khác nhau:

+ Đứng trên góc độ phân công lao động xã hội: Chúng ta có cơ cấu các ngành

kinh tế ở đó nó biểu hiện sự phát triển của phân công lao động xã hội cùng với sựtiến bộ của khoa học công nghệ

+ Tính chất xã hội hoá của sản xuất: Chúng ta có cơ cấu kinh tế theo thành

phần sở hữu (Kinh tế Nhà nớc, Kinh tế tập thể, Kinh tế t nhân, Kinh tế cá thể, )

+ Căn cứ vào tính chất của tổ chức sản xuất theo lãnh thổ: Ta có cơ cấu các

vùng kinh tế (vùng kinh tế trọng điểm - vùng kinh tế hỗ trợ - ) và cơ sở để đánhgiá phân loại cơ cấu vùng kinh tế này là dựa trên những điều kiện lịch sử - kinh tế -xã hội của mỗi vùng

+ Trên giác độ mở cửa nền kinh tế: Cơ cấu ngoại thơng.

Trong phạm vi bài viết này để tiện nghiên cứu, tôi chỉ xin tập chung vào cơcấu các ngành kinh tế của Việt Nam những năm gần đây, dới sự tác động của ngoạithơng tới sự chuyển dịch các ngành kinh tế

2 Thực trạng cơ cấu kinh tế Việt Nam những năm gần đây.

Trớc tiên, khi nghiên cứu cơ cấu ngành kinh tế chúng ta xem qua bảng tỉ trọngcác ngành kinh tế biểu hiện cơ cấu ngành kinh tế những năm gần đây

Trang 14

Nguồn: - Tổng cục thống kê Trích chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong xu

thế hội nhập - Lê Du Phong - NXB Chính trị Quốc gia - 2000

- Kế hoạch <Dự thảo kế hoạch 5 năm 2001 - 2005)

Nh vậy, theo bảng trên chúng ta có thể thấy rằng, xu hớng và thực tế chuyểndịch cơ cấu ngành kinh tế của chúng ta hoàn toàn tích cực, có đợc nh vậy là donhững năm qua Nhà nớc ta có nhiều chủ trơng, chính sách phù hợp để thực hiện đ-ờng lối đổi mới của Đảng Có đợc sự thành công này là do sự tiến bộ của một sốngành rất rõ rệt trong những năm gần đây, tốc độ tăng trởng bình quân của nhómngành lớn của nền kinh tế cũng khác nhau, tăng trởng nhanh nhất thuộc về nhómngành công nghiệp, sau đến dịch vụ và tiếp đến là nông nghiệp Tốc độ tăng trởngGDP bình quân 7 năm từ 1991 - 1997 đạt 3,4%, trong khi công nghiệp 13,5% vàdịch vụ là 9,3% Đặc biệt nớc ta kể từ sau khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Nam

á, chúng ta vẫn luôn duy trì đợc tốc độ tăng trởng GDP khá cao: Năm 1998 là 5,8%trong đó có sự đóng góp của công nghiệp 10,5%, nông nghiệp 2,7% và dịch vụ là4,2% Đến năm 1999, trong khi các nớc Đông Nam á vẫn cố gắng khắc phục mứctăng trởng âm của nền kinh tế thì chúng ta vẫn đạt tốc độ tăng trởng 4,8% (Côngnghiệp 7,7%, nông nghiệp 5,2% và dịch vụ 2,3%) Trong sự phát triển đó có sự

đóng góp không nhỏ của ngành ngoại thơng Việt Nam Năm 1998 với kim ngạchxuất khẩu 8,9 tỉ USD, tởng rằng con số 10 tỉ USD đối với ta năm 1999 là hoàn toànkhó khăn song chúng ta vẫn đạt đợc với con số 11,5 tỉ USD tăng 23% so với năm

1998, đặc biệt trong sự tăng trởng này các sản phẩm nông sản tăng mạnh: gạo tănghơn 20%, cao su 38%, cà phê 27%, hồ tiên tăng 2,3 lần, chè 13% và dầu thô tăngtrên 20% Cũng trong năm nay, nhập siêu tăng 5,2% mức nhập siêu năm 1998 - bộichi ngân sách thấp hơn 5% Đó là biểu hiện hoàn toàn sáng sủa đối với nền kinh tếViệt Nam, thúc đẩy sự phát triển của chúng ta trong tơng lai (Thời báo kinh tế ViệtNam - Số 15, 16, 17, 18 - 04/02/2000 - 11/02/2000)

Xu thế biến đổi cơ cấu kinh tế của chúng ta là hoàn toàn phù hợp với xu thếchuyển dịch của thế giới trong điều kiện hội nhập trên con đờng vơn lên một nớccông nghiệp hùng mạnh trong tơng lai

II Định hớng chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2001 - 2005

1 Vai trò ngoại thơng trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hoá.

Thực chất của vấn đề ngoại thơng đó là quan hệ trao đổi buôn bán trong nội

bộ vùng đất nớc, khu vực và mối quan hệ đối ngoại với thế giới bên ngoài Khai

Trang 15

thác và sử dụng triệt để mối quan hệ bên ngoài nhằm phát huy lợi thế của vùng quốc gia đó là mong muốn của các nhà lãnh đạo, xuất khẩu sản phẩm có lợi thế sosánh và nhập khẩu những sản phẩm không có lợi thế so sánh để tăng tích cực hiệuquả của nền kinh tế Tham gia vấn đề chuyển giao công nghệ với khu vực - thế giới

-đó là xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế quốc tế Nâng cao năng suất lao động, sửdụng có hiệu quả các nhân tố sản xuất, thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật trongsản xuất nhằm nâng cao tính cơ động của vốn đầu t Từng bớc thực hiện côngnghiệp hoá trong các vùng kinh tế - ngành kinh tế, công nghiệp hoá trong côngnghiệp - công nghiệp hoá trong nông nghiệp và cả trong lĩnh vực dịch vụ nhằm tạomôi trờng thông thoáng trong sản xuất Việc hiện đại hoá công nghệ trong côngnghiệp làm tiền đề thúc đẩy sản xuất trong các lĩnh vực khác: nông, lâm, ngnghiệp, giao thông vận tải và dịch vụ, Ngoại thơng phát triển từ đó tạo môi trờngthông thoáng cho việc tiêu thụ sản phẩm sản xuất ra, cơ hội và thời cơ cho sản xuất

từ đó cũng đợc mở rộng, vấn đề tiêu thụ và thu hồi vốn nhanh hơn thúc đẩy mộtchu trình sản xuất ngắn hạn từ đó tạo đà cho phát triển sản phẩm Vì vậy vấn đềphát triển ngoại thơng thực tế là công nghiệp hoá trong sản xuất

Công nghiệp phát triển, từ đó thúc đẩy các ngành sản xuất khác: nông, lâm,

ng nghiệp, tạo ra nhiều loại sản phẩm, hàng hoá khác nhau, đáp ứng đợc nhu cầutiêu dùng trong nớc và thị trờng xuất khẩu Nói riêng giá trị sản xuất của ngànhcông nghiệp năm 1997 là 134.076 tỉ đồng (giá so sánh năm 1994), đến năm 1998mặc dù ảnh hởng của khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Nam á, song giá trị sảnxuất công nghiệp vẫn tăng 10.5% với tổng giá trị 148.154 tỉ đồng và đến năm 1999giá trị đó vẫn tiếp tục tăng với 159.562 tỉ VNĐ (tăng 7,7%) Kim ngạch hàng xuấtkhẩu công nghiệp nói riêng cũng tăng lên tơng ứng và chiếm tỉ trọng lớn trong tổngkim ngạch hàng xuất khẩu Một dấu hiệu đáng mừng là đến năm 1999 giá trị hàngxuất khẩu qua chế biến của Việt Nam tăng lên 18% góp phần đa tỉ trọng của nhómhàng này từ 53% tổng giá trị xuất khẩu lên 59% năm 1999 (con số - sự kiện bớc

đột phá trong hoạt động xuất khẩu của Việt Nam năm 1999 Đức Trung số 1,2/2000)

Một số mặt hàng công nghiệp nớc ta đã dần chiếm vị trí và đứng vững trên thịtrờng thế giới: Dầu thô, thiếc, hàng may mặc, hàng dệt kim (năm 1997 chúng taxuất 9.416 nghìn tấn dầu thô - đến năm 1999 mức xuất dầu thô của ta đã đạt 14.742nghìn tấn; 1.349 triệu USD của hàng may mặc năm 1997 - đến 1999 con số này là1.682 triệu USD Và đặc biệt, nhằm mục tiêu khuyến khích xuất khẩu trong ngànhdệt may, năm 1999 vừa qua Tổng công ty dệt may đã chi 4,6 tỉ VNĐ để thởng chocác công ty dệt may về những thành tựu đạt đợc Tỉ trọng 4 nhóm hàng: dệt may,giầy dép, sản phẩm gỗ tinh chế và điện tử trong kim ngạch xuất khẩu tăng từ 27,8%lên 31% trong 2 năm 97 và 98 Nhóm nguyên liệu thô và sản phẩm sơ chế chủ lựcbao gồm dầu thô, gạo, thuỷ sản, cà phê, cao su và điều nhân chiếm 45% kim ngạchxuất khẩu năm 1998 và đến năm 1999, 5 mặt hàng chủ lực: dầu thô, dệt may, gạo,thuỷ sản và than đá đã chiếm tới 64,5% tổng giá trị xuất khẩu cả nớc (Thời báoKinh tế số 86 - 27/10/1999 - Con số và sự kiện, số 1,2/2000)

Đứng trớc xu thế cùng hợp tác phát triển và chính sách kinh tế mở, cùng vớinhững thành tựu của khoa học, kỹ thuật đã tác động tích cực đến xu thế quốc tếhoá, đó là xu thế phân công lao động, hợp tác phát triển theo chiều sâu, phân chiathị trờng quốc tế Việt Nam là thành viên chính thức của ASEAN 5/1997 và là thànhviên của APEC tháng 11/1998 và trong tơng lai sẽ là thành viên của WTO, một thịtrờng rộng lớn sẽ đón chào những sản phẩm của Việt Nam trong điều kiện cạnh

Trang 16

tranh hoàn toàn tự do với mức lãi suất u đãi liệu chúng ta có khai thác đợc nhữnglợi thế này, điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào mỗi doanh nghiệp vào chính sáchkhuyến khích của Đảng và Nhà nớc Nhất thiết trong điều kiện hội nhập này, Nhànớc ta phải có chiến lợc công nghiệp hoá thích hợp (xin lu ý, đối với các tổ chứcsản phẩm đợc hởng u đãi thuế quan chỉ bao hàm những sản phẩm công nghiệp chếbiến và một số sản phẩm nông sản, nớc ta sản phẩm xuất khẩu là hàng nông sản làchủ yếu) Nói một cách tổng quát, là chúng ta lựa chọn chiến lợc công nghiệp hoánào cho phù hợp: chiến lợc hớng ngoại hay hớng nội? Công nghiệp hoá hớng vềxuất khẩu là tận dụng lợi thế so sánh của nớc ta so với các nớc khác Tranh thủ sứcmua trên thị trờng thế giới để tích luỹ vốn nhằm nhanh chóng mở rộng qui mô sảnxuất, tạo khả năng nhập vật t thiết bị, sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hoá, dịch vụ

có giá trị lớn hơn, chất lợng cao hơn đủ sức cạnh tranh trên thị trờng quốc tế.Không chỉ dừng ở đó, chiến lợc xuất khẩu sẽ tạo ra nhiều việc làm và thu nhập chocác tầng lớp dân c Đứng trớc thực tế xuất khẩu của ta hiện nay, chúng ta thực sự lolắng và phải chịu nhiều thiệt thòi trong việc xuất khẩu sản phẩm thô Thực tế xu thếthế giới hiện nay, giá trị của sản phẩm đã qua chế biến thờng cao hơn rất nhiều sovới giá của sản phẩm thô Lấy ví dụ hiện nay, giá một thùng dầu thô là 117USD/thùng thì giá cũng một lít dầu qua chế biến khoảng 0,28 USD/lít Sự thiệt hạinày là vô cùng to lớn cho các nớc đang phát triển trong việc xuất khẩu sản phẩmthô

Đối với nớc ta hiện nay, với 77 triệu dân, nớc lớn thứ hai ở Đông Nam á (sauIndonexia) thì thị trờng nội địa cũng không thể bỏ qua, bởi lẽ các nớc khác: TháiLan, Đài Loan, Hàn Quốc, cả Mỹ và EU cũng đang có những tham vọng xâmchiếm thị trờng này Vì vậy chúng ta có thể khẳng định rằng, công nghiệp hoá hớngnội là yêu cầu khách quan, chúng ta có lợi thế hơn họ trên thị trờng này là chúng tanắm rõ sở thích, thói quen, sự đòi hỏi thị hiếu của ngời tiêu dùng Dân số 77 triệu,tốc độ tăng trởng kinh tế mấy năm gần đây tăng liên tục (Năm 98: 5,8%, năm 1999

là 4,8% và dự kiến năm 2000 này khoảng 6,8%) và trong tơng lai những năm tớicòn cao hơn nữa Vì vậy nhu cầu tiêu dùng của nhân dân là rất lớn (Thời báo Kinh

tế - số 15,18 - 2/2000)

Ngoại thơng, góp phần vào việc hoạch định các chiến lợc nhập khẩu phù hợpvới sản xuất trong từng thời kỳ, đồng thời tìm kiếm những nguồn hàng mới với chấtlợng cao hơn và rẻ hơn, chính điều đó giúp công nghiệp nớc ta phát triển, sản xuất

ra các hàng hoá thay thế đợc hàng hoá nhập khẩu Kinh nghiệm của các nớc NICscho thấy, chiến lợc phát triển công nghiệp đợc chia ra làm nhiều giai đoạn: Thời kỳ

đầu thập kỷ 60 tập chung vào công nghiệp sử dụng nhiều lao động, thập kỷ 70 làphát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn tạo sức bật cho nền kinh tế có tốc độtăng trởng cao: Điện tử, vi tính, phần mềm, Và bài học với Việt Nam là tronggiai đoạn đầu chúng ta có thể đi theo con đờng của các nớc NICs và một số nớcASEAN đã đi Chúng ta có thể sử dụng số lợng lao động dồi dào, giá rẻ để sản xuất

ra nhiều loại hàng hoá xuất khẩu Tăng cờng phát triển các ngành công nghiệp chếbiến để thay đổi cán cân thơng mại, đẩy nhanh tốc độ tăng trởng Trong những giai

đoạn tiếp theo, với u thế của những nớc đi sau, cùng với sự phát triển của khoa họccông nghệ ngày càng tiên tiến, phải chăng chúng ta nên đi thẳng vào lĩnh vực côngnghệ, tận dụng tối đa sự phát triển của công nghệ, óc tinh hoa sáng tạo của ngờiViệt Nam Không phải ngẫu nhiên, mà trong năm 1997 vừa qua kim ngạch xuấtkhẩu phần mềm của Việt Nam đạt 2,5 triệu USD và kế hoạch đặt ra trong năm

2000 là 3,5 triệu USD (Báo Hà Tây - Tìm hiểu vấn đề phát triển công nghệ thôngtin 14 - 11 - 2000) Điều đó đã chứng tỏ sự thành công trên con đờng phát triển của

Trang 17

nền công nghiệp Việt Nam nói riêng và ngoại thơng Việt Nam nói chung Trongnhững năm qua, chúng ta đã thấm nhuần quan điểm, sản xuất là gốc, sản xuấtquyết định phân phối lu thông Chuyển sang nền kinh tế thị trờng yếu tố quyết địnhsản xuất của các đơn vị - doanh nghiệp là sức mua Chu kỳ sống của sản phẩmngày càng bị rút ngắn, tác động của khoa học kỹ thuật làm thay đổi cả về mẫu mã

và chất lợng sản phẩm hàng hoá rất mau lẹ Điều này đã kìm hãm sự phát triển sảnxuất của nớc ta, nếu chúng ta vẫn quyết định chiến lợc xuất khẩu và lấy việc khaithác sản phẩm thô và các sản phẩm mang tính chất truyền thống là chủ chốt

Nhất thiết phát huy vai trò ngoại thơng trong việc chuyển dịch cơ cấu từ thuầnnông sang cơ cấu nông - công nghiệp và dịch vụ với sản phẩm đa dạng cho phéplựa chọn sản phẩm với chất lợng cao Đứng trớc khó khăn thực tế, kinh tế nông -lâm - ng nghiệp còn mang nặng tính độc canh lao động chủ yếu tập chung trongnông nghiệp (71% lao động nông thôn) Sản xuất của ngời nông dân cha trực tiếp

đối mặt với thị trờng Chính vì những yếu tố này, mà các cơ quan thơng nghiệp của

ta cần phải hỗ trợ ngời sản xuất, định hớng tổ chức lại thị trờng, định hớng sảnphẩm và cách tiêu thụ sản phẩm làm ra Kinh nghiệm thực tế khi áp dụng tại một số

địa phơng cho thấy, khi chuyển hớng cơ cấu kinh tế, việc chuyển hớng không thoát

ly khỏi bối cảnh thị trờng trong nớc và thị trờng thế giới Chuyển hớng cơ cấu kinh

tế cũng không tách rời việc tổ chức lại mạng lới thơng mại và dịch vụ của Nhà nớc,

để nó đóng vai trò nòng cốt trong việc tiêu thụ sản phẩm của nông dân làm ra Chỉ

có những tổ chức thơng mại lớn mới có khả năng hỗ trợ ngời sản xuất cạnh tranhtrên thị trờng

Phát huy vai trò thơng mại đối với các ngành sản xuất để hình thành chiến lợcsản phẩm, phát huy lợi thế so sánh chứ không phải chỉ đơn thuần dựa vào sản xuất

là điều kiện cốt yếu và vô cùng cần thiết trong tiến trình hội nhập Căn cứ vào mặthàng sản xuất, điều kiện tự nhiên của từng vùng để có kế sách hợp lý trong sảnxuất, tránh tình trạng nơi có nguyên liệu thì không có ngời sản xuất và nơi sản xuấtlại thiếu thốn nguyên vật liệu, giảm tối đa chi phí giao dịch, từ đó giảm giá thànhsản xuất Không phải ngẫu nhiên, chúng ta đứng thứ 3 thế giới về kim ngạch xuấtkhẩu gạo (liên tục tăng trong những năm gần đây: năm 1997: 3,553 triệu tấn - năm

1998 là 3,8 triệu tấn và năm 1999 vừa qua là 4 triệu tấn (Thời báo kinh tế Việt Nam

- Kinh tế 1999 - 2000), song giá gạo của chúng ta vẫn thấp hơn giá gạo của các nớctrong khu vực: Thái Lan, Indonexia, ) Điều đó là do chất lợng gạo của chúng tacòn thấp hơn so với chất lợng gạo của họ Điều này đặt ra vấn đề cho chúng ta làphải tìm cách tăng chất lợng gạo lên bằng cách chuyên canh vùng trồng lúa và tìmgiống lúa gạo mới có chất lợng cao hơn Thiết nghĩ chỉ có bằng cách đó chúng tamới có lợi thế về giá gạo xuất khẩu

Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, áp dụng những thành quả của công nghệ sinhhọc nhằm tăng năng suất cây trồng và vật nuôi, tập chung đợc số lợng lớn để xuấtkhẩu Quản lý chặt chẽ việc khai thác bừa bãi nguồn tài nguyên rừng và biển, hìnhthành những tổ chức khai thác có kế hoạch và đúng yêu cầu đảm bảo môi trờngsinh thái bền vững, tránh tình trạng khai thác bừa bãi, vô tổ chức, và phân tán.Nhằm đảm bảo an toàn cho nguồn tài nguyên rừng và biển

Đó là vai trò của ngoại thơng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong điềukiện hội nhập Ngày càng xa rời cơ cấu thuần nông nghiệp mà nớc ta đã mang suốt

55 năm qua

Trang 18

2 Định hớng cơ cấu kinh tế Việt Nam giai đoạn 2001 - 2005.

Trớc khi xem xét và vạch ra con đờng cho cơ cấu kinh tế trong tơng lai, chúng

ta phải xuất phát từ những quan điểm chỉ đạo trong việc định hớng

2.1 Quan điểm chuyển dịch trong điều kiện hội nhập.

* Thực hiện bớc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế với tốc độ nhanh theo xuthế công nghiệp hoá và hiện đại hoá Tăng đáng kể tỉ trọng các ngành công nghiệp

và dịch vụ trong cơ cấu ngành, đồng thời giảm tỉ trọng ngành nông nghiệp Chủ

tr-ơng tăng ngành công nghiệp sử dụng hàm lợng vốn cao

* Chuyển dịch cơ cấu ngành theo xu thế hội nhập quốc tế, thực hiện các bớcchuyển dịch theo các điều khoản cam kết với các tổ chức quốc tế: AFTA, APEC,WTO, đến năm 2006 và 2010, đồng thời tìm ra hớng đi và tiến hành phân ngànhkinh tế

* Đảm bảo xu thế phát triển bền vững bằng cách gắn liền với các ngành có lợithế về nguồn lực Không trú trọng, tập chung vào những ngành “không chân” -ngành do nớc ngoài đầu t Từ đó xác định các ngành đầu t kéo theo (Tức các ngành

bổ trợ)

* Chuyển dịch cơ cấu ngành theo quan điểm hiệu quả kinh tế xã hội Đó chính

là vấn đề về giải quyết lao động d thừa

2.2 Con số chỉ tiêu trong định hớng chuyển dịch.

Trên cơ sở những quan điểm chuyển dịch trên, chúng ta vạch ra dạng cơ cấungành, xác định cơ cấu trong điều kiện trớc mắt là: công nghiệp - nông nghiệp -dịch vụ Từ đó tạo đà cho cơ cấu: công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp trong tơnglai Trong thời gian đầu 2001 - 2005, Đảng và Nhà nớc đã đặt ra chỉ tiêu:

Cơ cấu ngành kinh tế giai đoạn 2001 - 2005

Nguồn: Dự thảo chiến lợc 2001 - 2005 - Bộ KH - ĐT

2.3 Biện pháp thực hiện cơ cấu kinh tế.

Từ những chỉ tiêu đặt ra trong bản dự thảo chiến lợc, Bộ Kế hoạch - Đầu t đãnêu ra biện pháp tổ chức thực hiện đối với từng nhóm ngành trong ba ngành kinh tếlớn

+ Nhóm ngành có khả năng cạnh tranh hiện tại: Đây chủ yếu là những ngành

có lợi thế về tài nguyên và lao động

Bao gồm: Khoáng sản, nông sản, thuỷ sản, các loại cây công nghiệp và dệtmay Chúng ta nhận định hiện nay các ngành này còn nhiều song giá trị gia tăngthấp do chi phí cao, đồng thời các ngành này có biểu hiện về việc giảm lợi thế

Ngày đăng: 10/09/2012, 09:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w