Khái quát về cơ sở phát triển mối quan hệ hợp tác du lịch giữa Việt Nam và các nước ASEAN nói chung và một lát cắt cụ thể về hợp tác du lịch giữa Việt Nam và một số nước ASEAN nói riêng
Trang 1Hợp tác phát triển du lịch giữa Việt Nam và một
số nước ASEAN
Phan Đăng Hồng Ánh
Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Luận văn ThS ngành: Quan hệ quốc tế; Mã số: 60 31 40
Người hướng dẫn: TS Lê Anh Tuấn
Năm bảo vệ: 2010
Abstract: Khái quát về cơ sở phát triển mối quan hệ hợp tác du lịch giữa Việt
Nam và các nước ASEAN nói chung và một lát cắt cụ thể về hợp tác du lịch giữa Việt Nam và một số nước ASEAN nói riêng Đánh giá tổng quát về thực trạng hợp tác phát triển du lịch giữa Việt Nam và ASEAN qua những thuận lợi, khó khăn và triển vọng hợp tác phát triển trong tương lai giữa Việt Nam và ASEAN trong lĩnh vực du lịch Từ đó đề xuất giải pháp nhằm phát triển mối quan hệ hợp tác với các nước ASEAN để khai thác tiềm năng phát triển du lịch Việt Nam một cách hiệu quả và bền vững
Keywords: Du lịch; Việt Nam; ASEAN; Quan hệ quốc tế
Content
1 Lý do nghiên cứu
Là một quốc gia đang trên đà phát triển, Việt Nam có định hướng cởi mở và đa dạng hóa các mối quan hệ quốc tế Lịch sử của dân tộc Việt Nam cho thấy rằng các Triều đại phong kiến đã nhận thức được sâu sắc tầm quan trọng của việc mở rộng các mối quan hệ quốc tế với các quốc gia khác, vừa mở cửa, vừa giữ vững chủ quyền và lợi ích dân tộc, đẩy mạnh thương mại, quản lý thuế quan và thông thương với nước ngoài Ngược lại, “Bế quan tỏa cảng” sẽ không đem lại lợi ích nào cho quốc gia
Trong giai đoạn hiện nay, định hướng này vẫn được quan tâm triển khai và là chủ trương quan trọng trong chính sách của Đảng và Nhà nước ta Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định việc nhất quán thực hiện: “Đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ quốc
Trang 2tế Việt Nam sẵn sàng là bạn là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” [61, tr 19]
Ở Việt Nam, du lịch chính là sự kết nối giao lưu kinh tế có quan hệ chặt chẽ với chính sách mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước Phát triển du lịch quốc tế gắn liền với thu hút khách quốc tế, trong đó quan tâm đến thị trường của khách có mục đích thương mại Từ đó du lịch thúc đẩy đầu tư, buôn bán và giao lưu quốc tế,… Bản thân hoạt động kinh doanh du lịch phải phát triển theo hướng quốc tế hoá Đồng thời, các hình thức liên doanh, liên kết ở phạm vi quốc tế trong kinh doanh du lịch là phương thức kinh doanh đem lại lợi nhuận kinh tế cao và đến lượt nó lại kích thích đầu tư nước ngoài vào du lịch và tăng cường chính sách mở cửa Điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế đặc biệt là xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng về các ngành dịch vụ đã mở ra một
cơ hội phát triển thuận lợi cho ngành du lịch đất nước
Việc hội nhập quốc tế của Du lịch Việt Nam, một mặt là do chính bản chất của ngành - lĩnh vực kinh tế quốc tế đòi hỏi, mặt khác, là do đường lối phát triển xã hội của Việt Nam quyết định Bởi du lịch vốn là một ngành dịch vụ đặc biệt, mang chuẩn mực quốc tế cao, nên
nó phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như: chính trị ổn định, môi trường trong sạch, cơ sở vật chất hấp dẫn, chính sách nhập cảnh đơn giản, thuận lợi,…
Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á, có tiềm năng về du lịch rất lớn - giàu tài nguyên du lịch cả về tự nhiên và nhân văn, nằm ở vị trí địa lý thuận lợi, có môi trường chính trị xã hội ổn định, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch được quan tâm phát triển,
có nguồn nhân lực trẻ, dồi dào dễ thích nghi với điều kiện mới, đã và đang tạo lập được
vị thế vững chắc và uy tín và trong quan hệ quốc tế Ngoài ra, sau hơn 20 năm thực hiện
chính sách đổi mới, mở cửa hội nhập, hình ảnh về một “Việt Nam - chiến tranh” dần dần được thay thế bằng một “Việt Nam - đổi mới kinh tế” Đây là những điều kiện rất quan
trọng để Việt Nam phát triển ngành Du lịch Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX xác
định “Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn” [15, tr.178] Như vậy phát
triển du lịch đã trở thành quốc sách của Đảng và Nhà nước để xây dựng và phát triển sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mà Việt Nam đang tập trung nhiều nguồn lực để đảm bảo thực hiện mục tiêu này Với chủ trương chính sách đúng đắn, trong những năm qua ngành Du lịch đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ: cơ sở vật chất
Trang 3kỹ thuật không ngừng được phát triển, nâng cấp, tài nguyên du lịch được quan tâm khai thác và phát triển, đặc biệt là lượng khách hàng năm tăng đều từ những năm 90 của thế
kỷ trước đến nay
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Du lịch, năm 1990 Việt Nam mới đón được khoảng 250.000 lượt khách quốc tế, đến năm 2009 con số này đạt 3,8 triệu lượt, tăng trên
15 lần; du lịch nội địa đạt 25 triệu lượt, tăng trên 20 lần Sau 50 năm nhìn lại Du lịch Việt
Nam hiện đã có vị thế xứng đáng trong nền kinh tế quốc dân, được khẳng định là một ngành kinh tế chủ đạo; từ chỗ chưa được thế giới biết đến, nay đã nằm trong top 5 các nước ASEAN, thu hút nhiều du khách quốc tế
Tuy nhiên, thực tế cho thấy sự phát triển này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng
du lịch to lớn của Việt Nam, lượng khách quốc tế hàng năm đến Việt Nam còn thấp và còn giữ khoảng cách khá xa so với một số nước trong khu vực như Thái Lan, Singapore, Malaysia Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc phát triển Du lịch Việt Nam còn hạn chế
Cụ thể việc phát triển du lịch vẫn chưa thực sự được quan tâm đầu tư tương xứng với vị trí của ngành trong nền kinh tế Một số địa phương chưa thực sự coi trọng và tạo điều kiện cho du lịch phát triển Kết cấu hạ tầng nhìn chung còn lạc hậu, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển du lịch Nhân lực cho du lịch còn yếu về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ,…
Đặc biệt, hoạt động hợp tác phát triển du lịch giữa Việt Nam với các quốc gia thành viên trong khu vực ASEAN, là cơ sở để thu hút khách quốc tế còn nhiều vấn đề cần phải cải thiện Với dân số hơn 500 triệu người, thị trường khách du lịch từ khu vực ASEAN là một thị trường lớn đầy tiềm năng đối với du lịch Việt Nam Tuy nhiên lượng khách du lịch ASEAN hàng năm chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 11% - 16% so với khách du lịch vào Việt Nam Có thể thấy rằng một trong nguyên nhân khiến cho lượng khách ASEAN vào Việt Nam vẫn chưa nhiều là do quan hệ hợp tác quốc tế giữa du lịch Việt Nam và du lịch của các quốc gia thành viên ASEAN còn nhiều hạn chế Điều này là không thể cho phép, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế toàn diện và ngày càng sâu rộng như hiện nay, đặc biệt là từ khi Việt Nam đã trở thành thành viên của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN)
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để Việt Nam có thể hợp tác với các quốc gia ASEAN thành viên một cách hiệu quả nhằm phát triển Du lịch nước nhà thực sự trở thành ngành
Trang 4công nghiệp không khói, đóng góp tích cực cho nền kinh tế đất nước, có khả năng cạnh tranh cao trong khu vực và trên thế giới?
Với bối cảnh như vậy, ngoài việc định ra những chính sách, chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam cho từng giai đoạn mới phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ và chiến lược đặt ra, vấn đề đổi mới tư duy trong chiến lược hợp tác quốc tế về du lịch của ngành nhằm chủ động hợp tác với các quốc gia phát triển mạnh về du lịch trong nội khối ASEAN tạo ra các sản phẩm du lịch chất lượng cao, thu hút đầu tư vào du lịch, nâng cao trình độ, kỹ năng của nhân lực du lịch, kết hợp quảng bá xúc tiến với các quốc gia này, từ đó thu hút khách du lịch tiềm năng từ thị trường ASEAN và các thị trường khác là rất cần thiết để đạt được mục tiêu, chiến lược mà ngành đã đặt ra
Đây là vấn đề lớn đòi hỏi các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực du lịch phải quan tâm nghiên cứu để cải thiện tình hình Ngoài ra, thực tế đòi hỏi phải có những công trình nghiên cứu một cách tổng thể và khoa học về mối quan hệ hợp tác du lịch giữa Việt Nam và ASEAN nhằm phát triển Du lịch Việt Nam một cách tối ưu để hướng tới mục tiêu phát triển du lịch nhanh, hiệu quả, bền vững, thực hiện tốt “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020, tầm nhìn 2030”, góp phần đưa ngành Du lịch Việt Nam phát triển mạnh mẽ hơn, xứng đáng với vai trò, vị trí mà Đảng
và Nhà nước đã xác định
Từ những lý do trên đây, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài “Hợp tác phát triển du lịch giữa Việt Nam và một số nước ASEAN” cho luận văn tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Việc hợp tác phát triển du lịch giữa Việt Nam và các nước thuộc khối ASEAN chủ yếu được bắt đầu từ khi Việt Nam tham gia vào tổ chức khu vực ASEAN năm 1995, và sau khi Việt Nam trở thành thành viên của Hiệp hội du lịch ASEAN
Rất nhiều kênh thông tin như truyền thanh, truyền hình, báo chí và website thường đưa tin về mối quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng phát triển tốt đẹp giữa Việt Nam và các nước ASEAN Gần đây, khi Việt Nam được công nhận là một thành viên rất tích cực và
có trách nhiệm, đóng góp nhiều trong việc phát triển một ASEAN vững mạnh và phồn thịnh thì những tài liệu chuyên khảo về ASEAN đã được các nhà nghiên cứu ưu tiên đề cập đến thường xuyên Ngoài ra, trong các hội thảo về ASEAN được tổ chức tại Việt Nam để kỷ niệm sau năm năm, mười năm và mười lăm năm Việt Nam gia nhập Hiệp hội,
Trang 5luôn đánh giá các thành tựu đạt được từ mối quan hệ này, cũng như những hạn chế và xu hướng, triển vọng cho Hiệp hội trong tương lai Mới đây, ngày 27/7/2010, tại Hà Nội, Học viện Ngoại giao đã tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề: “Việt Nam - ASEAN: Quá khứ - Hiện tại - Tương lai” Hội thảo là mô ̣t hoa ̣t đô ̣ng nh ằm kỷ niệm 15 năm Viê ̣t Nam gia nhâ ̣p ASEAN , trong đó đánh giá quá trình nhận thức và thay đổi nhận thức của Việt Nam về hợp tác ASEAN trước và sau khi gia nhập tổ chức này; những thành tựu và hạn chế của hợp tác ASEAN 15 năm qua và triển vọng, vai trò và xu hướng phát triển của ASEAN trong những năm tới
Đặc biệt, Tổng cục Du lịch, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch tổ chức cuộc hội thảo ngày 27/3/2010, tại thành phố Đà Nẵng, với chủ đề “Liên kết phát triển du lịch trong ASEAN” nhằm đẩy mạnh liên kết hợp tác khu vực, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch Đây thực sự được coi là một trong những hướng ưu tiên phát triển của ngành du lịch mỗi nước ASEAN, cũng như được thể hiện trong cam kết chung cấp nhà nước như Hiệp định du lịch ASEAN, Chiến lược hội nhập du lịch ASEAN, Thoả thuận công nhận lẫn nhau
Tuy nhiên chưa có một đề tài khoa học hay tài liệu khảo cứu nào đi sâu vào mảng
đề tài Hợp tác phát triển Du lịch giữa Việt Nam và các nước ASEAN, kể cả ở các cơ quan nghiên cứu chuyên sâu của Việt Nam như Viện nghiên cứu Đông Nam Á (Viện Khoa học Xã hội Việt Nam), Viện nghiên cứu phát triển Du lịch (Tổng cục Du lịch) hay Viện nghiên cứu chiến lược (Bộ ngoại giao).Vì vậy khi nghiên cứu đề tài, tác giả đã gặp một số khó khăn do hạn chế về mặt tư liệu Theo kết quả điều tra và thống kê thì cả trên thế giới và tại Việt Nam chưa có một cuốn sách hay giáo trình chuyên ngành nào nghiên cứu về vấn đề này
Tác giả Paul J Davidson (2002) đã cho xuất bản cuốn sách với tựa đề ASEAN:
The evolving legal framework for economic cooperation (Tạm dịch: ASEAN: tiến triển
khung pháp lý cho hợp tác kinh tế) Cuốn sách này xem xét các bước khác nhau mà ASEAN đã hướng tới hợp tác kinh tế trong khu vực và xem xét chúng trong bối cảnh phát triển khung pháp lý như bị ảnh hưởng bởi sự phát triển kinh tế và chính trị Các cơ chế khác nhau để giải quyết tranh chấp có sẵn trong quan hệ kinh tế nội khối ASEAN cũng được xử lý
Trong luật pháp quốc tế, một hệ thống các khuôn khổ pháp lý tồn tại, và các khuôn khổ phải phù hợp với khu vực rộng hơn, các khuôn khổ đa phương, trong đó các thành viên
Trang 6cũng được tham gia Cuốn sách này xem xét làm thế nào phù hợp với thương mại và đầu
tư ASEAN trong khuôn khổ đa phương quốc tế hiện hành Thêm vào đó trên một mặt, tác giả phân tích vai trò của tam giác tăng trưởng tiểu khu vực trong khuôn khổ pháp lý mới nổi, và mặt khác, các phong trào hướng tới hợp tác kinh tế rộng lớn hơn trong khu vực lớn hơn, như đề nghị cho diễn đàn Kinh tế Đông Á Caucus (EAEC) và cho hợp tác kinh tế châu Á Thái Bình Dương (APEC)
Các nhà nghiên cứu hàng đầu về Đông Nam Á của Việt Nam như GS Trần Khánh,
GS Vũ Dương Ninh, GS Phạm Đức Thành, GS Nguyễn Duy Quý, TS Nguyễn Trần Quế, TS Nguyễn Thu Mỹ, … đã cống hiến rất nhiều tác phẩm nghiên cứu về ASEAN Tuy vậy chủ yếu các tác giả thường tập trung vào các chủ đề như: Sự thành lập, quá trình phát triển của ASEAN; Vai trò của ASEAN trong việc hình thành cộng đồng Đông Nam Á; Quan hệ Việt Nam - ASEAN; Cơ hội và thách thức của Việt Nam khi giai nhập ASEAN và AFTA; Những thành tựu lớn của ASEAN trên các lĩnh vực chính trị, an ninh, kinh tế, văn hóa, xã hội; Vị thế của ASEAN trong cộng đồng quốc tế,…
Lấy ví dụ cuốn sách Việt Nam trong ASEAN: nhìn lại và hướng tới của các giáo
sư Phạm Đức Thành và Trần Khánh chủ biên, xuất bản năm 2006 bao gồm 4 phần, có nội dung chính như sau: 1) Thành tựu, đóng góp, cơ hội, thách thức, triển vọng, vai trò, ý nghĩa
và dấu ấn hội nhập của Việt Nam sau 10 năm gia nhập ASEAN; 2) Hợp tác chính trị - an ninh và quan hệ đối ngoại: Việt Nam – ASEAN (1995 -2005); 3) Hợp tác và liên kết kinh tế: Hiện trạng và vấn đề của Đông Nam Á, triển vọng cộng đồng kinh tế ASEAN và tác động đối với Việt Nam, 4) Hợp tác chuyên ngành và các vấn đề văn hoá - xã hội: Nghiên cứu việc hợp tác khoa học công nghệ Việt Nam - ASEAN trong thời gian qua; , Trong đó
ở Phần 3 từ trang 366 – 389 có đề cập đến sự tham gia của Vệt Nam trong chương trình hợp tác kinh tế tiểu vùng sông Mê Công mở rộng (Chương trình GMS) với mục tiêu dài hạn là nhằm thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi cho sự hợp tác phát triển kinh tế cùng có lợi giữa các nước trong tiểu vùng, đưa tiểu vùng Mê Công mở rộng nhanh chóng trở thành vùng phát triển nhanh và thịnh vượng ở Đông Nam Á Ở đây có đề cập một đến phát triển
du lịch, đặc biệt ở Chương trình ưu tiên số 11: Phát triển du lịch trong GMS với mục đích
là 1) Xúc tiến và tăng cường hợp tác khu vực và phát triển du lịch trong các nước GMS; 2) Xúc tiến du lịch trong GMS nhằm tăng cường nguồn thu ngoại tệ, giảm đói nghèo, giảm sự
Trang 7xuống cấp về môi trường từ các hoạt động phát triển không bền vững và không có kế hoạch, phát triển nguồn nhân lực trong tiểu vùng
Tuy nhiên, một đề tài tổng hợp có tính hệ thống và khoa học, đi sâu nghiên cứu về
Sự hợp tác phát triển du lịch giữa Việt Nam và một số nước ASEAN, với các khía cạnh
tập trung vào quan hệ hợp tác du lịch giữa Việt Nam và một số nước ASEAN, tiềm năng hợp tác du lịch, những phương hướng cùng những giải pháp để ngành Du lịch Việt Nam đạt được những kết quả ngày càng khả quan hơn trong quá trình hợp tác kinh tế quốc tế là chưa được đề cập đến Những thông tin về đề tài chỉ tản mạn ở một số báo, tạp chí chuyên ngành hay một số website liên quan Đây là một thử thách nhưng cũng là một động cơ thúc đẩy tác giả nghiên cứu đề tài này
3 Mục đích nghiên cứu
Luận văn khái quát một hệ thống lý luận tổng thể về cơ sở phát triển mối quan hệ hợp tác du lịch giữa Việt Nam và các nước ASEAN nói chung và một lát cắt cụ thể về hợp tác du lịch giữa Việt Nam và một số nước ASEAN nói riêng, và đánh giá tổng quát
về thực trạng hợp tác phát triển du lịch giữa Việt Nam và ASEAN, các thuận lợi, khó khăn và triển vọng hợp tác phát triển trong tương lai giữa Việt Nam và ASEAN trong lĩnh vực du lịch Từ đó, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm tranh thủ tốt nhất mối quan
hệ hợp tác với các nước ASEAN để khai thác tiềm năng phát triển du lịch Việt Nam một cách hiệu quả và bền vững
4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
Ý nghĩa khoa học: Đề tài nghiên cứu về Hợp tác phát triển du lịch giữa Việt Nam
và một số nước ASEAN là một đề tài khoa học mới mà từ trước đến nay các công trình nghiên cứu chưa nhiều Luận văn hệ thống hoá quá trình phát triển mối quan hệ hợp tác quốc tế giữa Việt Nam và một số nước ASEAN, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch; đưa ra một góc nhìn mới với hệ thống lý luận mới về mối quan hệ hợp tác phát triển trong lĩnh vực du lịch giữa Việt Nam và một số nước ASEAN cùng những giải pháp để ngành Du lịch Việt Nam đạt được những kết quả ngày càng khả quan hơn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam và đây chính là một sự đóng góp mới cho ngành khoa học quan hệ quốc tế
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ đóng góp cho việc phát triển mối quan hệ giữa Việt Nam và một số nước thành viên ASEAN trong lĩnh vực du
Trang 8lịch; trở thành một tài liệu thiết thực và hữu ích cho các cơ quan quản lý cấp Nhà nước tham khảo và khai thác, xúc tiến hợp tác và quản lý về du lịch cấp quốc gia và quốc tế, nhằm đưa ra một định hướng đúng đắn và những giải pháp cụ thể cho tất cả các đối tượng tham gia nhằm hướng đến sự phát triển mối quan hệ hợp tác quốc tế bền vững trong lĩnh vực du lịch, góp phần thực hiện mục tiêu đưa du lịch thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam, xứng đáng với tiềm năng sẵn có của Ngành
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực du lịch
Lĩnh vực: quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế
5.2 Phạm vi nghiên cứu:
Nội dung nghiên cứu: Hợp tác phát triển trong lĩnh vực du lịch giữa Việt Nam và một số nước ASEAN
Không gian nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu mối quan hệ hợp tác phát triển
du lịch giữa Việt Nam với một số nước ASEAN Đó là Xingapo, Thái Lan, Malaixia, Lào
và Campuchia, trong đó chủ yếu là Xingapo, Thái Lan và Malaixia
Thời gian nghiên cứu: Tài liệu, số liệu thu thập từ năm 2000 cho đến nay
6 Phương pháp và tiến trình nghiên cứu
6.1 Thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp
Thu thập các thông tin, dữ liệu cơ bản từ các nguồn nghiên cứu chính thống trước
đó về ASEAN, về hoạt động du lịch ở Việt Nam và ASEAN, về việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực du lịch giữa Việt Nam và một số nước ASEAN Tất cả những thông tin này được thu thập từ năm 2007 đến hết tháng 8/2010 và là tài liệu tham khảo qúy giá phục vụ cho việc hoàn thành Luận văn
6.2 Phương pháp phân tích và tổng hợp
Phương pháp phân tích và tổng hợp là việc lựa chọn, sắp xếp các dữ liệu, thông tin
từ các nguồn thứ cấp nhằm định lượng chính xác và đầy đủ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, từ đó tổng hợp thành các nhận định, báo cáo hoàn chỉnh nhằm đưa ra một cái nhìn tổng thể về đối tượng nghiên cứu
6.3 Phương pháp khác
Trang 9Phương pháp tham chiếu, phương pháp dự báo,… cũng được sử dụng trong quá trình hoàn thành luận văn
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, Luận văn bao gồm 3 chương, với bố cục như sau:
Chương 1: Cơ sở phát triển mối quan hệ hợp tác du lịch giữa Việt Nam và các nước ASEAN
Chương 2: Thực trạng của hoạt động hợp tác phát triển du lịch giữa Việt Nam và các nước ASEAN
Chương 3: Phương hướng hợp tác phát triển du lịch giữa Việt Nam và các nước ASEAN - Các giải pháp và kiến nghị
References
TIẾNG VIỆT
1 Hoàng Tuấn Anh (2007), “Du lịch Viê ̣t Nam – Thành tựu và phát triển” , Quản lý Nhà nước, số 133/2007, tr.18 – 21
2 Bảo Anh (2010), « Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực du lịch », www.baodulich.net.vn/Story/vn/kinhtedulich/kinhtexahoi/2010/7/5771.html
3 Ngọc Anh (2009), « Hội nghị Bộ trưởng du lịch tiểu vùng Mê kông mở rộng thông qua Tuyên bố chung về hợp tác du lịch »,
www.monre.gov.vn/MONRENET/default.aspx?tabid=213&ItemID=58189
4 Mộng Bình (2009), «Ngành du lịch Thái Lan đặt mục tiêu mới từ Việt Nam», www.dulichthailan.vn/tin-tuc/thong-tin-du-lich-thai-lan/133-nganh-du-lich-thai-lan-dat-muc-tieu-moi-tu-viet-nam.html
5 Phùng Đăng Bách, Nguyễn Văn Huê, Phan Xuân Hà (B.s) (2007), Vai trò của Việt Nam trong ASEAN, Nxb Thông tấn, Hà Nội
6 Nguyễn Lê Bách (2010), "Du lịch Việt Nam hôm nay", Du lịch Việt Nam, số
7/2010, tr 12
7 Thái Bình (2002), "Du lịch Việt Nam một năm tiếp tục chủ động hội nhập quốc
tế”, Du lịch Việt Nam, số 1/2002, tr 14
8 Bộ ngoại giao (2002), Việt Nam hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hoá - Vấn
đề và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
Trang 109 Mai Ngọc Chừ (1999), Văn hóa Đông Nam Á, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà
Nội
10 Phạm Mạnh Cường (2008), Luận văn Thạc sĩ “Hoạt động xúc tiến của ngành Du lịch Việt Nam ở khu vực ASEAN”, ĐH Thương Mại Hà Nội
11 Nguyễn Mạnh Cường (2010), « Du lịch góp phần nâng cao vị thế và uy tín của
www.vietnamtourism.gov.vn/index.php?cat=1010&itemid=8058
12 Trần Kim Dung (2002), “Phát triển du li ̣ch Viê ̣t Nam trong xu thế hô ̣i nhâ ̣p” , Văn hoá – Nghê ̣ thuật, số 9/2002, tr 3 – 6
13 Vũ Cao Đàm (2005), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học và
kỹ thuật, Hà Nội
14 Nguyễn Văn Đính, Nguyễn Anh Tuấn, (2006), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của
du lịch Việt Nam”, Du lịch Việt Nam, số 1/2006, tr 65 - 67
15 Nguyễn Văn Đính (2003), “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế”, Du lịch Việt Nam, số 2/2003, tr 20
16 Nguyễn Văn Ðính, Trần Thị Minh Hòa (đồng ch.biên) (2004), Giáo trình kinh tế
Du lịch, Nxb Lao động – Xã hội, Hà Nội
17 Đại hội đại biểu lần thứ X của Đảng, Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX ngày 10 tháng 4 năm 2006 về phương hướng, nhiệm vụ phát triển
www.hanhchinh.com.vn/forum/showthread.php?t=6685
18 Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng Cộng Sản Việt Nam (2001), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
19 Nguyễn Hoàng Giáp, Mai Hoài Anh (2008), “Quan điểm và đối sách của Viê ̣t Nam về hành lang kinh tế Đông - Tây”, Nghiên cứu Đông Nam Á , tháng 11/2008, tr 13
- 20
20 Mạnh Hà, Hải Ninh (2010), « Phát triển du lịch Việt Nam trong bối cảnh tích cực,
www.baodulich.net.vn/Story/vn/50namthanhlapnganhdulich/50namthanhlapnganh dulich/2010/7/5769.html